2021
Chúng tôi, ông bà, chúng tôi làm chứng bằng đời sống của mình!
Chúng tôi, ông bà, chúng tôi làm chứng bằng đời sống của mình!
Đức Phanxicô sẽ cử hành thánh lễ nhân Ngày Thế giới Ông bà vào chúa nhật thứ tư của tháng 7, trước lễ Thánh Anna và Gioakim. Bà Sylvie Bethmont-Gallerand nói lên vai trò của tổ tiên trong việc trao truyền đức tin.
Tin giờ chót: Vì lý do sức khỏe, Đức Phanxicô sẽ không cử hành thánh lễ Ngày Thế giới Ông bà như dự kiến ban đầu, Tổng Giám mục Rino Fisichella, chủ tịch Hội đồng Giáo hoàng đặc trách Phúc Âm hóa sẽ cử hành thánh lễ.
lavie.fr, Stéphanie Combe, 2021-07-22
Một trong những niềm vui to lớn của ông bà là niềm vui được trao truyền.

Bà Sylvie Bethmont-Gallerand, chuyên về lịch sử nghệ thuật thời trung cổ, bà dạy tại Viện Bernardins. Bà vừa xuất bản quyển Sách cầu nguyện của Ông bà (Livre de prière des grands-parents, nxb. Mame).
Chúng ta có thể truyền lại đức tin không?
Bà Sylvie Bethmont-Gallerand: Đức tin là ơn của Chúa. Tất cả vấn đề là ở: tôi phải làm gì với ơn thiêng liêng này? Tôi có bốn người con nay đã trưởng thành, và giữ đạo trong âm thầm, tất cả các cháu của tôi đều được rửa tội.
Các cháu biết tôi tin ở Chúa, một ngày nọ, một cháu trai xin tôi cầu nguyện ban phước lành, điều mà chính tôi cũng không thường làm! Đúng là chúng ta không mong chờ để thấy các hạt mầm phát triển một cách huyền ẩn như vậy.
Chúng tôi đã truyền cho con cái các giá trị, và dần dần các giá trị này được thấm nhuần, đó là những giá trị như tôn trọng người khác, tôn trọng tạo vật kể cả con kiến mà chúng ta cẩn thận không dí nó chết, tính giản dị, đoàn kết, v.v.
Các ông bà nội ngoại làm chứng như thế nào?
Tôi rất thích thuật ngữ “nhân chứng” khi chạy tiếp sức, người chạy trước chuyền cho người chạy sau. Trước hết chúng tôi làm chứng bằng chính đời sống chúng tôi.
Khi các cháu đến chơi, chúng tôi bỏ các việc khác để lúc nào cũng ở bên cạnh các cháu. Dù đã có quy tắc, nhưng chúng tôi không tạo áp lực buộc phải làm cho chuẩn, chúng tôi có những phá cách. Các ông bà nội ngoại là niềm vui lớn cho các cháu.
Ông bà cũng là người an ủi các cháu, các cháu thường tâm sự nhỏ to với ông bà, những lo lắng nhỏ cũng như nỗi buồn nặng trĩu của chúng. Thêm nữa, ở tuổi chúng tôi, chúng tôi còn có những mệt mỏi, những lo lắng sức khỏe do tuổi tác, những chuyện này dạy cho trẻ em biết tôn trọng sự mong manh của người lớn tuổi.
Khi còn nhỏ, trẻ em có một giai đoạn thuận lợi để tiếp thu. Làm thế nào để tận dụng giai đoạn này?
Các em còn nhỏ rất thích nghe chuyện và đi tìm ý nghĩa trong các chuyện này. Cháu gái 8 tuổi của tôi đột ngột hỏi tôi: “Bà ơi, vì sao người dữ lại có thể sống lại?” Những lời bộc phát này luôn thoáng qua, vì thế phải luôn sẵn sàng để hứng lấy! Tôi nói với cháu, dưới mắt Chúa, không ai là xấu 100%.
Các em lớn hơn cũng thích hỏi. Chúng tôi đưa cháu lớn nhất, 13 tuổi đến Viện Kiến trúc ở Paris. Trong số các kỳ quan, Viện trưng bày các khuôn giấy nổi tiếng, chẳng hạn như bức Phán xét cuối cùng của nhà thờ Autun hay của nhà thờ Saint-Michel-d’Entraygues, lấy cảm hứng từ Ngày tận thế, khi con rồng bị thiên thần giết. Các tác phẩm điêu khắc này là những bài giáo lý. Cháu tôi mê các “câu chuyện” này và cháu bộc phát xin tôi kể cho cháu nghe.
Bà phản ứng như thế nào trước sự thờ ơ của con cái với đức tin, thậm chí chúng còn tỏ ra thù nghịch?
Thánh Phaolô đã trả lời: “Tôi tìm cách nắm bắt Chúa, nhưng chính Ngài đã nắm bắt tôi.” (trong thư Philipphê). Với chúng tôi, Chúa Kitô là thiết yếu, Ngài mang lại ý nghĩa cho cuộc sống chúng ta. Chúng tôi cố gắng truyền hạnh phúc khi gặp Ngài, nhưng chúng tôi tôn trọng sự lựa chọn của người khác. Và chúng tôi mong họ tôn trọng chúng tôi.
Trước tình trạng con cái xa Giáo hội, chúng ta phải tránh những căng thẳng không cần thiết, không nên có những lo lắng hay thất vọng, nhưng tin tưởng và trau dồi lòng nhân từ. Với người con rể hơi khiêu khích của tôi, tôi thường trả lời: “Mẹ sẽ không chứng minh làm sao Chúa Giêsu sống lại, nhưng Kinh thánh là một kho tàng của tình yêu, của khôn ngoan, của lòng kiên nhẫn và thật đáng tiếc nếu mình không biết Kinh Thánh.”
Vì sao bà dùng con đường nghệ thuật?
Nghệ thuật dưới bất cứ hình thức nào, âm nhạc, thơ ca, hội họa, điêu khắc, bài hát, v.v. đều mang đến sự kỳ diệu. Từ năm 11 tuổi, tôi đã học khắc trổ, tôi phác họa và vẽ, gia đình chúng tôi có cây đàn dương cầm. Bất hoặc mình trau dồi một nghệ thuật nào hay xem một tác phẩm nào, cốt yếu là quan sát, học trong thinh lặng giúp chúng ta tiếp nhận nghệ thuật tự chính nó.
Có cách nào khác để hướng nội với những người có ít kỹ năng nghệ thuật không?
Thiên nhiên mang tính tiếp thu rất cao, chúng ta lắng nghe trong thinh lặng. Vẻ đẹp thiên nhiên dấy lên lòng ngưỡng mộ, vui sướng; lời khen ngợi đến một cách tự nhiên trên môi. Tuần trước cô cháu gái của chúng tôi đã ngưng ngang bữa ăn tối để đưa ông bà đi ngắm mặt trời lặn ở thôn quê.
Chúng tôi cũng cố gắng thu xếp để nói chuyện với từng cháu. Những giây phút cùng sáng tạo bên nhau, làm vườn hay đi dạo trong rừng, những sinh hoạt phát triển thói quen cho các quan hệ cá nhân. Cầu nguyện không gì khác hơn là thời gian đặc biệt dành cho Chúa.
Đức tin sống theo nhịp điệu của phụng vụ: một cách mang lại màu sắc cho cuộc sống, trẻ em có nhạy cảm với việc này không?
Giờ phụng vụ tạo nhịp điệu cho cuộc sống và dạy chúng ta chờ đợi: trước lễ Giáng sinh, niềm vui Phục Sinh, Chúa Thánh Thần hiện xuống… Trẻ em thích những khoảng thời gian chuẩn bị này, cũng như chúng rất thích mỗi đứa có một con cừu nhỏ riêng của mình trong máng cỏ. Được sự đồng ý của cha mẹ, chúng tôi đưa các cháu đi lễ.
Phụng vụ tự nó là cách cảm nhận Chúa qua năm giác quan. Trong thánh lễ, chúng ta nghe câu chuyện Thánh Kinh qua các bài đọc. Qua lời cầu nguyện giáo dân, chúng ta cầu nguyện cho người khác. Và khi rước lễ, chúng ta nói lên lời cám ơn. Trẻ em sẽ tự nguyện đi theo các bước khác nhau này.
Thánh Anna và Gioakim là mẫu gương như thế nào cho ông bà?
Chúng ta gần như không biết gì về hai thánh, nhưng như thế lại tốt và Kinh thánh không chỉ ca tụng các vị vua vĩ đại, các nhà tiên tri, các anh hùng thuộc mọi loại. Hai ông bà Anna và Gioakim là những người bình thường, họ trải qua nỗi đau vô sinh. Vì thế họ không phải là mẫu ông bà hoàn hảo, nhưng chắc chắn họ là chứng từ của đức tin và lòng kiên trì trong lời cầu nguyện.
Hannah trong tiếng do thái có nghĩa là “ân sủng”. Hình tượng được cảm hứng từ các phúc âm ngụy thư, mô tả Thánh Anna dạy Sách Thánh cho Mẹ Maria. Trong bức tranh nổi tiếng của danh họa Leonardo da Vinci, Thánh Anna bồng Mẹ Maria, Mẹ Maria bồng Chúa Giêsu và Chúa Giêsu nâng một con chiên. Ông bà Anna và Gioakim là sợi dây kết nối Cựu ước và Tân ước, họ là hiện thân của sự trao truyền chuẩn bị cho lời Xin vâng của Đức Mẹ.
Thánh Anna, Đức Mẹ và Chúa Giêsu, Leonardo da Vinci (vẽ trong khoảng 1503-1519)

Marta An Nguyễn dịch
2021
Đức Phanxicô sẽ không cử hành thánh lễ Ngày Thế Giới Ông Bà
Đức Phanxicô sẽ không cử hành thánh lễ Ngày Thế Giới Ông Bà

Đức Phanxicô sẽ không cử hành thánh lễ Ngày Thế Giới Ông Bà, chúa nhật 25 tháng 7, ngày do chính ngài thiết lập vào tháng 1 năm 2021. Hồng y Rino Fisichella, chủ tịch Hội đồng Giáo hoàng đặc trách Phúc Âm hóa sẽ cử hành thánh lễ thay thế ngài. Ông Matteo Bruni, giám đốc Văn phòng Báo chí của Tòa thánh cho biết, sau cuộc phẫu thuật ngày chúa nhật 4 tháng 7, Đức Phanxicô vẫn cần phải nghỉ ngơi.
Được thành lập vào tháng 1 đầu năm, Đức Phanxicô muốn nói lên sự phong phú của người lớn tuổi và ngày này sẽ được cử hành hàng năm vào một ngày trước ngày lễ Thánh Anna và Gioakim, ông bà của Chúa Giêsu. Trong lần công bố đầu tiên, Bộ Giáo dân, Gia đình và Đời sống cho biết, Đức Phanxicô sẽ cử hành thánh lễ ở Đền thờ thánh Phêrô.
Đức Phanxicô tiếp tục dưỡng bệnh
Ngày chúa nhật 4 tháng 7, Đức Phanxicô mổ đại tràng vì bị hẹp túi thừa. Vatican dự trù Đức Phanxicô ở bệnh viện bảy ngày nhưng cuối cùng ngài đã ở lại bệnh viện Gemelli mười ngày.
Ông Matteo Bruni cho biết, Đức Phanxicô đi bộ được nhưng lúc này ngài không đi bộ được một quãng xa. Một nguồn tin ở Vatican nói với hãng tin I. Media: “Chúng ta không nên lo lắng, ngài đang tiếp tục tiến trình hồi phục bình thường của ngài.”
Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch
2021
Thư Đức Phanxicô gửi các giám mục trên thế giới về Tự sắc Traditionis Custodes
Thư Đức Phanxicô gửi các giám mục trên thế giới về Tự sắc Traditionis Custodes
Giống vị Tiền nhiệm của tôi là Đức Bênêđíctô XVI đã làm với Tự sắc Summorum Pontificum, tôi muốn đính kèm Tự sắc Traditionis một lá thư giải thích các động cơ thúc đẩy quyết định của tôi. Tôi hướng đến qúy huynh đệ với niềm tín thác và mạnh dạn, nhân danh “sự lo lắng chung đối với toàn thể Giáo hội, góp phần tối cao vào lợi ích của Giáo hội Hoàn vũ” như Công đồng Vatican II đã nhắc nhở chúng ta.
Rôma, ngày 16 tháng 7 năm 2021
Qúy huynh đệ trong hàng Giám mục thân mến,
Giống vị Tiền nhiệm của tôi là Đức Bênêđíctô XVI đã làm với Tự sắc Summorum Pontificum, tôi muốn đính kèm Tự sắc Traditionis một lá thư giải thích các động cơ thúc đẩy quyết định của tôi. Tôi hướng đến qúy huynh đệ với niềm tín thác và mạnh dạn, nhân danh “sự lo lắng chung đối với toàn thể Giáo hội, góp phần tối cao vào lợi ích của Giáo hội Hoàn vũ” như Công đồng Vatican II đã nhắc nhở chúng ta.[1]
Hầu hết mọi người đều hiểu các động cơ từng thúc đẩy Thánh Gioan Phaolô II và đức Bênêđictô XVI cho phép sử dụng Sách lễ Rôma, do Thánh Piô V ban hành và Thánh Gioan XXIII hiệu đính năm 1962, cho Hy tế Thánh Thể. Năng quyền – được cấp bởi đặc miễn (indult) của Thánh bộ Phụng thờ Thiên Chúa vào năm 1984 [2] và được Thánh Gioan Phaolô II xác nhận trong Tự sắc Ecclesia Dei năm 1988 [3] – trước hết được thúc đẩy bởi mong muốn cổ vũ việc hàn gắn cuộc ly giáo với phong trào của Đức Cha Lefebvre. Với ý định nhằm khôi phục sự hiệp nhất Giáo hội, do đó, các Giám mục được yêu cầu rộng lượng chấp nhận “nguyện vọng chính đáng” của các tín hữu đã yêu cầu sử dụng Sách lễ đó.
Nhiều người trong Giáo hội coi năng quyền này là cơ hội để tự do tiếp nhận Sách lễ Rôma do Thánh Piô V ban hành và sử dụng nó theo cách song song với Sách lễ Rôma do Thánh Phaolô VI ban hành. Để điều chỉnh tình trạng này trong khoảng thời gian nhiều năm, Đức Bênêđíctô XVI đã can thiệp để giải quyết tình trạng sự việc này trong Giáo hội. Nhiều linh mục và cộng đoàn đã “sử dụng với lòng biết ơn khả thể được cung cấp bởi Tự sắc” của Thánh Gioan Phaolô II. Nhấn mạnh rằng sự phát triển này không thể lường trước được vào năm 1988, Tự sắc Summorum năm 2007 dự định đưa ra “một quy định pháp lý rõ ràng hơn” trong lĩnh vực này [4]. Để cho phép những người, kể cả những người trẻ tuổi, những người khi “khám phá ra hình thức phụng vụ này, cảm thấy được lôi cuốn và tìm thấy trong đó một hình thức, đặc biệt phù hợp với họ, để gặp gỡ mầu nhiệm Thánh Thể cực thánh” được tiếp cận nó[5], Đức Bênêđíctô XVI tuyên bố “Sách lễ do Thánh Piô V ban hành và mới được Chân phước Gioan XXIII hiệu đính, là một cách diễn đạt ngoại thường của cùng một luật cầu nguyện [lex orandi]”, và ban “khả thể rộng rãi hơn cho việc sử dụng Sách lễ năm 1962” [6].
Khi đưa ra quyết định của mình, các ngài tin tưởng rằng một dự liệu như vậy sẽ không gây nghi ngờ cho một trong những biện pháp quan trọng của Công đồng Vatican II hoặc giảm thiểu thẩm quyền của nó bằng cách này: Tự sắc công nhận rằng, theo đúng quyền của nó, “Sách lễ ban hành bởi Đức Phaolô VI là cách diễn đạt thông thường của luật cầu nguyện của Giáo Hội Công Giáo theo nghi lễ Latinh ” [7]. Việc công nhận Sách lễ do Thánh Piô V ban hành “như một cách diễn đạt ngoại thường của cùng một luật cầu nguyện”, bất cứ cách nào, cũng không hề hạ giá việc cải cách phụng vụ, nhưng được ra sắc lệnh với mong muốn thừa nhận “những lời cầu nguyện khẩn thiết của các tín hữu này,” cho phép họ “cử hành Hy tế Thánh lễ theo tiêu bản [editio typica] của Sách lễ Rôma do Chân phước Gioan XXIII ban hành năm 1962 và không bao giờ bị bãi bỏ, như là hình thức ngoại thường của Phụng vụ Giáo hội”[8]. Điều an ủi Đức Bênêđíctô XVI trong sự phân định của ngài là nhiều người mong muốn “tìm thấy hình thức Phụng vụ thánh thân thiết với họ”, “rõ ràng chấp nhận đặc tính ràng buộc của Công đồng Vatican II và trung thành với Đức Giáo Hoàng và các Giám mục” [9]. Hơn nữa, ngài tuyên bố là vô căn cứ việc sợ có sự chia rẽ trong các cộng đồng giáo xứ, bởi vì “hai hình thức sử dụng Nghi lễ Rôma sẽ làm giàu lẫn cho nhau” [10]. Vì vậy, ngài mời gọi các Giám mục gạt bỏ những nghi ngờ và sợ hãi của họ, và hoan nghênh các quy tắc, “lưu tâm để mọi điều tiến hành trong hòa bình và thanh thản,” với lời hứa rằng “sẽ có thể tìm được các giải pháp” trong trường hợp “các khó khăn nghiêm trọng được đưa ra ánh sáng” trong việc thực hiện các tiêu chuẩn “một khi Tự sắc có hiệu lực” [11].
Với mười ba năm trôi qua, tôi đã chỉ thị cho Bộ Giáo lý Đức tin phân phối một bảng câu hỏi cho các Giám mục về việc thực thi Tự sắc Summorum Pontificum. Các câu trả lời tiết lộ một tình huống khiến tôi bận tâm và buồn phiền, đồng thời thuyết phục tôi về sự cần thiết phải can thiệp.
Thật đáng tiếc, mục tiêu mục vụ của các vị Tiền nhiệm của tôi, những vị vốn có ý định “làm mọi điều có thể để bảo đảm rằng tất cả những người thực sự khát vọng hiệp nhất sẽ thấy họ có thể duy trì sự hiệp nhất này hoặc tái khám phá nó” [12], thường bị coi thường một cách trầm trọng. Một cơ hội được Thánh Gioan Phaolô II và, một cách rộng lượng hơn, được Bênêđíctô XVI cung ứng, nhằm khôi phục sự hợp nhất của cơ thể Giáo hội với những nhạy cảm phụng vụ đa dạng, đã bị khai thác để mở rộng thêm hố phân cách, tăng cường các khác biệt và khuyến khích các bất đồng gây tổn hại cho Giáo hội, chặn đường đi của Giáo Hội, và khiến Giáo Hội phải đối đầu với nguy cơ chia rẽ.
Đồng thời, tôi đau buồn về các lạm dụng trong việc cử hành phụng vụ ở mọi phía. Cùng với Bênêđíctô XVI, tôi lấy làm tiếc sự kiện này là “ở nhiều nơi, các quy định của Sách Lễ mới không được tuân thủ trong việc cử hành, nhưng thực sự còn bị hiểu như một sự cho phép hoặc thậm chí như một đòi hỏi của óc sáng tạo, dẫn đến những bóp méo gần như không thể chịu đựng được” [13]. Nhưng tôi vẫn thấy buồn vì việc sử dụng Sách Lễ Rôma năm 1962 như một công cụ thường có đặc điểm ở chỗ bác bỏ không những cuộc cải tổ phụng vụ, mà cả chính Công đồng Vatican II, vì cho rằng nó đã phản bội Truyền thống và “Giáo hội đích thực”, với những khẳng định vô căn cứ và không thể được chống đỡ. Con đường của Giáo hội phải được nhìn trong tính năng động của Truyền thống “bắt nguồn từ các Tông đồ và tiến diễn trong Giáo hội với sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần” (DV 8). Giai đoạn gần đây của tính năng động này đã được Công đồng Vatican II thiết lập trong đó hàng giám mục Công Giáo đến với nhau để lắng nghe và phân định con đường cho Giáo hội được Chúa Thánh Thần chỉ định. Nghi ngờ Công đồng là nghi ngờ ý định của chính những Nghị phụ đã thực thi quyền lực hợp đoàn của các ngài một cách long trọng cum Petro et sub Petro [cùng với Phêrô và dưới Phêrô] trong một công đồng chung[14], và, nếu phân tích cho cùng, nghi ngờ chính Chúa Thánh Thần, Đấng hướng dẫn Giáo Hội.
Mục tiêu sửa đổi việc cho phép do các Vị tiền nhiệm của tôi ban cấp được chính Công đồng Vatican II nêu bật. Từ việc các phiếu bầu của các Giám mục đệ trình ở đó, ta thấy các ngài nhấn mạnh rất nhiều đến việc tham gia trọn vẹn, có ý thức và tích cực của toàn thể dân Chúa vào phụng vụ[15], phù hợp với các đường hướng đã được Đức Piô XII chỉ ra trong Thông điệp Mediator Dei [Đấng Trung gian của Thiên Chúa] về việc canh tân phụng vụ[16]. Hiến chế Sacrosanctum Concilium đã xác nhận lời kêu gọi này, bằng cách tìm kiếm “sự đổi mới và thăng tiến phụng vụ”[17], và bằng cách chỉ ra các nguyên tắc nên hướng dẫn cuộc cải tổ[18]. Đặc biệt, nó xác định rằng các nguyên tắc này liên quan đến Nghi lễ Rôma, và các nghi lễ hợp pháp khác nếu có thể áp dụng, và yêu cầu “các nghi lễ được duyệt xét cẩn thận dưới ánh sáng truyền thống lành mạnh, và chúng được cung cấp sức sống mới để đáp ứng các hoàn cảnh và nhu cầu thời nay ”[19]. Trên cơ sở những nguyên tắc này, một cuộc cải tổ phụng vụ đã được thực hiện, với biểu thức cao nhất của nó trong Sách Lễ Rôma, được Thánh Phaolô VI công bố trong tiêu bản [20] và được Thánh Gioan Phaolô II sửa đổi [21]. Do đó, cần phải cho rằng Nghi lễ Rôma, được thích ứng nhiều lần trong suốt nhiều thế kỷ theo nhu cầu của thời đại, không những phải được bảo tồn mà còn được đổi mới “trong sự tuân thủ trung thành đối với Truyền thống”[22]. Bất cứ ai muốn cử hành với lòng sùng kính theo các hình thức trước đây của phụng vụ có thể tìm thấy trong Sách lễ Rôma được cải cách theo Công đồng Vatican II tất cả các yếu tố của Nghi lễ Rôma, đặc biệt là Lễ qui Rôma [Roman Canon] vốn tạo thành một trong những yếu tố khác biệt hơn của nó.
Lý do cuối cùng cho quyết định của tôi là thế này: Càng rõ ràng hơn trong lời nói và thái độ của nhiều người là mối liên hệ chặt chẽ giữa việc lựa chọn cử hành theo các sách phụng vụ trước Công đồng Vatican II và việc bác bỏ Giáo hội và các định chế của Giáo hội nhân danh điều được gọi là “Giáo hội đích thực”. Ở đây, người ta đang đương đầu với một tác phong mâu thuẫn với sự hiệp thông và nuôi dưỡng khuynh hướng chia rẽ – “Tôi thuộc về Phaolô; Thay vào đó tôi thuộc về Apollo; Tôi thuộc về Cephas; Tôi thuộc về Đấng Kitô ”- điều mà Thánh Tông đồ Phaolô đã phản đối một cách mạnh mẽ [23]. Để bảo vệ sự hợp nhất của Thân thể Chúa Kitô, tôi buộc phải thu hồi năng quyền được các vị Tiền nhiệm của tôi ban cấp. Việc sử dụng đầy xuyên tạc đã được thực hiện cho năng quyền này là trái với các ý định dẫn đến việc cho phép tự do cử hành Thánh lễ với Sách Lễ Rôma [Missale Romanum] năm 1962. Vì “các cử hành phụng vụ không phải là các hành động riêng tư, nhưng là các cử hành của Giáo hội, là bí tích hiệp nhất ” [24], chúng phải được thực hiện trong sự hiệp thông với Giáo hội. Công đồng Vatican II, trong khi tái xác nhận các mối ràng buộc bên ngoài của việc tháp nhập vào Giáo hội – tuyên xưng đức tin, các bí tích, sự hiệp thông – đã khẳng định với Thánh Augustinô rằng việc ở lại trong Giáo hội không chỉ “bằng thân xác” mà còn “bằng tâm hồn” là điều kiện để được cứu rỗi [25].
Qúy huynh đệ thân mến trong hàng Giám mục, Sacrosanctum Concilium giải thích rằng Giáo hội, “bí tích hiệp nhất”, là như vậy vì là “Dân thánh được quy tụ và cai quản dưới thẩm quyền của các Giám mục”[26]. Hiến chế Lumen gentium, trong khi nhắc lại rằng Giám mục Rôma là “nguyên tắc vĩnh viễn và hữu hình và là nền tảng của sự hiệp nhất của cả các giám mục lẫn của vô số các tín hữu”, nói rằng quý huynh đệ Giám mục là “nguyên tắc hữu hình và nền tảng của sự hiệp nhất của các Giáo hội địa phương của qúy vị, trong đó và qua đó hiện hữu một Giáo Hội Công Giáo duy nhất ”[27].
Đáp ứng yêu cầu của qúy huynh đệ, tôi cương nghị quyết định bãi bỏ tất cả các quy tắc, huấn thị, giấy phép và phong tục có trước Tự sắc này, và tuyên bố rằng các sách phụng vụ được ban hành bởi các Đức Giáo Hoàng Phaolô VI và Gioan Phaolô II, phù hợp với các sắc lệnh của Công đồng Vatican II, tạo thành biểu thức độc nhất của luật cầu nguyện của Nghi lễ Rôma. Trong quyết định này, tôi tìm an ủi ở sự kiện này là sau Công đồng Trent, Thánh Piô V cũng bãi bỏ tất cả các nghi lễ không được chứng mình là có tính cổ xưa, và đã thiết lập cho toàn thể Giáo hội Latinh một Sách lễ Rôma duy nhất. Trong bốn thế kỷ, Sách lễ Rôma, do Thánh Piô V ban hành, do đó, là biểu thức chính của luật cầu nguyện của Nghi thức Rôma, và có chức năng duy trì sự thống nhất của Giáo hội. Không phủ nhận phẩm giá và sự cao cả của Nghi lễ này, các Giám mục tập hợp trong công đồng chung yêu cầu nó được cải tổ; ý định của các ngài là “các tín hữu sẽ không tham dự như những người xa lạ và những khán giả im lặng vào mầu nhiệm đức tin, nhưng, với sự hiểu biết đầy đủ về các nghi thức và lời cầu nguyện, sẽ tham dự vào hành động thánh thiêng một cách có ý thức, sốt sắng và tích cực” [28]. Thánh Phaolô VI, khi nhắc lại rằng công việc sửa đổi Sách Lễ Rôma đã được Đức Piô XII khởi xướng, đã tuyên bố rằng việc sửa đổi Sách Lễ Rôma, được thực hiện dưới ánh sáng của các nguồn phụng vụ cổ xưa, có mục đích cho phép Giáo Hội dâng lên, bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau, “một lời cầu nguyện duy nhất và đồng nhất” nói lên sự hiệp nhất của Giáo Hội [29]. Sự hiệp nhất này tôi dự tính sẽ tái lập trong toàn bộ Giáo hội của Nghi lễ Rôma.
Công đồng Vatican II, khi mô tả tính Công Giáo của dân Chúa, đã nhắc lại rằng “trong sự hiệp thông Giáo hội”, hiện hữu nhiều Giáo hội đặc thù hưởng thụ các truyền thống riêng của mình, không gây hại đến quyền tối thượng của Tòa Phêrô, là tòa chủ trì tình hiệp thông bác ái hoàn vũ, đã bảo đảm tính đa dạng hợp pháp và cùng nhau bảo đảm rằng cái đặc thù không những không làm tổn hại đến cái phổ quát mà trên hết còn phải phục vụ nó” [30]. Trong việc thi hành thừa tác vụ của mình để phục vụ sự hiệp nhất, trong khi tôi đưa ra quyết định đình chỉ năng quyền do các vị Tiền nhiệm của tôi ban cấp, tôi yêu cầu qúy huynh đệ chia sẻ với tôi gánh nặng này như một hình thức tham gia vào viêc lo lắng cho toàn thể Giáo hội vốn là trách nhiệm của các Giám mục. Trong Tự sắc, tôi muốn khẳng định điều này: tùy thuộc vị Giám mục ra qui định cho các việc cử hành phụng vụ, vì ngài vốn là người phối trí, cổ vũ và bảo vệ đời sống phụng vụ của Giáo hội mà ngài là nguyên tắc hiệp nhất. Trong tư cách các bản quyền địa phương, Qúy huynh đệ có quyền cho phép tại các Giáo Hội của qúy vị việc sử dụng Sách Lễ Rôma năm 1962, trong khi áp dụng các tiêu chuẩn của Tự sắc này. Qúy vị có thể tiến hành một cách nào đó để trở lại hình thức cử hành nhất thể [unitary], và xác định từng trường hợp thực tại của các nhóm cử hành với Sách Lễ Rôma này.
Các chỉ dẫn về cách tiến hành trong giáo phận của qúy vị chủ yếu được quy định bởi hai nguyên tắc: một mặt, cung cấp lợi ích cho những người đã bén rễ vào hình thức cử hành trước đây và cần phải kịp thời trở lại với Nghi lễ Rôma do Các Thánh Phaolô VI và Gioan Phaolô II ban hành, và mặt khác, việc ngừng thiết lập các giáo xứ tòng nhân mới gắn liền với mong muốn và ước nguyện của cá nhân linh mục hơn là nhu cầu thực sự của “Dân thánh Thiên Chúa”. Đồng thời, tôi yêu cầu qúy huynh đệ hãy thận trọng trong việc bảo đảm rằng mọi phụng vụ phải được cử hành trang trọng và trung thành với các sách phụng vụ được ban hành sau Công đồng Vatican II, không có những hành vi lập dị dễ trở thành lạm dụng. Các chủng sinh và tân linh mục nên được đào tạo về việc trung thành tuân giữ các quy định của Sách Lễ và các sách phụng vụ, trong đó phản ánh ý chí cải tổ phụng vụ của Công đồng Vatican II.
Tôi cầu xin Thần Khí của Chúa Phục Sinh xuống trên qúy huynh đệ, xin Người làm cho qúy huynh đệ trở nên mạnh mẽ và cương nghị trong việc phục vụ dân Chúa mà Chúa đã giao phó cho qúy huynh đệ, để sự quan tâm và cảnh giác của qúy huynh đệ thể hiện sự hiệp thông ngay cả trong sự thống nhất của một Nghi lễ duy nhất, trong đó sự phong phú tuyệt vời của truyền thống phụng vụ Rôma được bảo tồn. Tôi cầu nguyện cho qúy huynh đệ. Xin qúy huynh đệ cầu nguyện cho tôi.
Phanxicô
[1] Xem Công đồng chung Vatican II, Hiến chế tín lý về Giáo hội “Lumen Gentium”, ngày 21 tháng 11 năm 1964, số. 23 AAS 57 (1965) 27.
[2] Xem Bộ Phụng tự, Thư gửi các Chủ tịch các Hội đồng Giám mục “Quattuor abhinc annos”, ngày 3 tháng 10 năm 1984: AAS 76 (1984) 1088-1089.
[3] Đức Gioan Phaolô II, Tông thư dưới dạng Tự sắc “Ecclesia Dei”, ngày 2 tháng 7 năm 1988: AAS 80 (1998) 1495-1498.
[4] Đức Bênêđíctô XVI, Thư gửi các Giám mục nhân dịp công bố Tông thư “Dưới dạng Tự sắc” Summorum Pontificum về việc sử dụng Phụng vụ Rôma trước cuộc cải tổ năm 1970, ngày 7 tháng 7 năm 2007: AAS 99 (2007 ) 796.
[5] Đức Bênêđíctô XVI, Thư gửi các Giám mục nhân dịp công bố Tông thư “Dưới dạng Tự sắc” Summorum Pontificum về việc sử dụng Phụng vụ Rôma trước cuộc cải tổ năm 1970, ngày 7 tháng 7 năm 2007: AAS 99 (2007 ) 796.
[6] Đức Bênêđíctô XVI, Thư gửi các Giám mục nhân dịp công bố Tông thư “Dưới dạng Tự sắc” Summorum Pontificum về việc sử dụng Phụng vụ Rôma trước cuộc cải tổ năm 1970, ngày 7 tháng 7 năm 2007: AAS 99 (2007 ) 797.
[7] Đức Bênêđíctô XVI, Thư gửi các Giám mục nhân dịp công bố Tông thư “Dưới dạng Tự sắc” Summorum Pontificum về việc sử dụng Phụng vụ Rôma trước cuộc cải tổ năm 1970, ngày 7 tháng 7 năm 2007: AAS 99 (2007) 779.
[8] Đức Bênêđíctô XVI, Tông thư dưới dạng Tự sắc“Summorum Pontificum”, ngày 7 tháng 7 năm 2007: AAS 99 (2007) 779.
[9] Đức Bênêđíctô XVI, Thư gửi các Giám mục nhân dịp công bố Tông thư “Dưới dạng Tự sắc” Summorum Pontificum về việc sử dụng Phụng vụ Rôma trước cuộc cải tổ năm 1970, ngày 7 tháng 7 năm 2007: AAS 99 (2007 ) 796.
[10] Đức Bênêđíctô XVI, Thư gửi các Giám mục nhân dịp công bố Tông thư “Dưới dạng Tự sắc” Summorum Pontificum về việc sử dụng Phụng vụ Rôma trước cuộc cải tổ năm 1970, ngày 7 tháng 7 năm 2007: AAS 99 (2007 ) 797.
[11] Đức Bênêđíctô XVI, Thư gửi các Giám mục nhân dịp công bố Tông thư “Dưới dạng Tự sắc” Summorum Pontificum về việc sử dụng Phụng vụ Rôma trước cuộc cải tổ năm 1970, ngày 7 tháng 7 năm 2007: AAS 99 (2007 ) 798.
[12] Đức Bênêđíctô XVI, Thư gửi các Giám mục nhân dịp công bố Tông thư “Dưới dạng Tự sắc” Summorum Pontificum về việc sử dụng Phụng vụ Rôma trước cuộc cải tổ năm 1970, ngày 7 tháng 7 năm 2007: AAS 99 (2007 797-798.
[13] Đức Bênêđíctô XVI, Thư gửi các Giám mục nhân dịp công bố Tông thư “Dưới dạng Tự sắc” Summorum Pontificum về việc sử dụng Phụng vụ Rôma trước cuộc cải tổ năm 1970, ngày 7 tháng 7 năm 2007: AAS 99 (2007 ) 796.
[14] Xem Công đồng chung Vatican II, Hiến chế tín lý về Giáo hội “Lumen Gentium”, ngày 21 tháng 11 năm 1964, n. 23: AAS 57 (1965) 27.
[15] Xem Acta et Documenta Concilio Oecumenico Vaticano II apparando, Series I, Volumen II, 1960.
[16] Đức Piô XII, Thông điệp về phụng vụ thánh “Mediator Dei”, ngày 20 tháng 11 năm 1947: AAS 39 (1949) 521-595.
[17] Xem Công đồng chung Vatican II, Hiến chế về phụng vụ thánh “Sacrosanctum Concilium”, ngày 4 tháng 12 năm 1963, nn. 1, 14: AAS 56 (1964) 97.104.
[18] Xem Công đồng chung Vatican II, Hiến chế về phụng vụ thánh “Sacrosanctum Concilium”, ngày 4 tháng 12 năm 1963, n. 3: AAS 56 (1964) 98.
[19] Xem Công đồng chung Vatican II, Hiến chế về phụng vụ thánh “Sacrosanctum Concilium”, ngày 4 tháng 12 năm 1963, n. 4: AAS 56 (1964) 98.
[20] Missale Romanum ex decto Sacrosancti Oecumenici Concilii Vaticani II instauratum auctoritate Pauli PP. VI Issgatum, editio typica, 1970.
[21] Missale Romanum ex decto Sacrosancti Oecumenici Concilii Vaticani II instauratum auctoritate Pauli PP. VI promulgatum Ioannis Pauli PP. II cura reggnitum, editio typica altera, 1975; editio typica tertia, 2002; (reimpressio emendata 2008).
[22] Xem Công đồng chung Vatican II, Hiến chế về phụng vụ thánh “Sacrosanctum Concilium”, ngày 4 tháng 12 năm 1963, n. 3: AAS 56 (1964) 98.
[23] 1Cr 1,12-13.
[24] Xem Công đồng chung Vatican II, Hiến chế về phụng vụ thánh “Sacrosanctum Concilium”, ngày 4 tháng 12 năm 1963, n. 26: AAS 56 (1964) 107.
[25] Xem Công đồng chung Vatican II, Hiến chế tín lý về Giáo hội “Lumen Gentium”, ngày 21 tháng 11 năm 1964, n. 14: AAS 57 (1965) 19.
[26] Xem Công đồng chung Vatican II, Hiến chế về phụng vụ thánh “Sacrosanctum Concilium”, ngày 4 tháng 12 năm 1963, n. 6: AAS 56 (1964) 100.
[27] Xem Công đồng chung Vatican II, Hiến chế tín lý về Giáo hội “Lumen Gentium”, ngày 21 tháng 11 năm 1964, n. 23: AAS 57 (1965) 27.
[28] Xem Công đồng chung Vatican II, Hiến chế về phụng vụ thánh “Sacrosanctum Concilium”, ngày 4 tháng 12 năm 1963, n. 48: AAS 56 (1964) 113.
[29] Đức Phaolô VI, Tông hiến “Missale Romanum” về Sách lễ Rôma mới, ngày 3 tháng 4 năm 1969, AAS 61 (1969) 222.
[30] Xem Công đồng chung Vatican II, Hiến chế tín lý về Giáo hội “Lumen Gentium”, ngày 21 tháng 11 năm 1964, n. 13: AAS 57 (1965) 18.
Vũ Văn An
2021
Mật nghị bầu giáo hoàng tương lai giữa môi trường hoạt đầu truyền thông xã hội
Mật nghị bầu giáo hoàng tương lai giữa môi trường hoạt đầu truyền thông xã hội
Massimo Faggioli là một sử gia Giáo Hội, giáo sư thần học và tôn giáo học tại Đại Học Villanova, California, và một cây viết của tạp chí Commonweal. Trên tạp chí La Croix International gần đây, ông có bài viết tựa đề là Thấp thoáng Mật nghị, những người theo chủ nghĩa dân túy Công Giáo và “dubia” (The looming conclave, Catholic populists and the “dubia”), đại ý nhấn mạnh việc Đức Giáo Hoàng Phanxicô cần khẩn cấp duyệt lại thể thức bầu vị kế nhiệm ngài.
Theo Giáo sư Faggioli, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã thay đổi đáng kể thành phần cử tri đoàn, thậm chí bằng cách bổ sung vào số lượng của nó những người từ các quốc gia trước đây chưa từng có Hồng Y. Điều này phản ảnh cố gắng của ngài nhằm phi Âu hóa Giáo hội và bộ phận cuối cùng sẽ bầu ra người kế nhiệm ngài.
Đó là một thay đổi định chế rất quan trọng. Nhưng vị giáo hoàng, người sẽ bước sang tuổi 85 vào tháng 12 này, vẫn chưa cập nhật các tiêu chuẩn quy định mật nghị. Ngài cần phải làm như vậy sớm, nếu không có thể có vấn đề nghiêm trọng. Một bài báo gần đây trên tạp chí chính trị Ý Il Mulino của nhà sử học Giáo hội nổi tiếng Alberto Melloni (một trong những tôn sư của Faggioli) nêu ra nhiều vấn đề cấp bách liên quan đến mật nghị sắp tới. Đây là phiên bản sửa đổi và cập nhật của một cuốn sách rất quan trọng mà ông đã viết vào đầu những năm 2000 về lịch sử các cuộc bầu cử giáo hoàng. Trước tiên, nó cung cấp một phân tích ngắn gọn về những thay đổi gần đây nhất trong các quy tắc dành cho mật nghị, đặc biệt là tông hiến Universi Dominici Gregis (Chăn dắt Đoàn chiên Thiên Chúa) của Đức Gioan Phaolô II (1996). Bản văn này đặc biệt ấn định Rôma là nơi duy nhất việc bầu Giáo Hoàng có thể diễn ra, do đó đã loại bỏ qui định cũ theo đó, mật nghị diễn ra ở bất cứ nơi nào vị giáo hoàng qua đời. Sau đó, Melloni đề cập đến sự sửa đổi nhỏ mà Đức Bênêđíctô XVI đã thực hiện đối với Universi Dominici Gregis vào ngày 22 tháng 2 năm 2013, ngay sau khi tuyên bố từ chức giáo hoàng. Dù sao, Đức Bênêđíctô đã khôi phục sự cần thiết của đa số 2/3 đối với việc bầu chọn Giám Mục Rôma, hủy bỏ khả thể bầu cử theo đa số tương đối mà Đức Gioan Phaolô đã đưa ra.
Sự tự do của mật nghị sắp tới đang gặp nguy hiểm
Melloni cho rằng Đức Phanxicô không có nghĩa vụ phải cập nhật các tiêu chuẩn của mật nghị, nhưng ông thúc giục Đức Giáo Hoàng làm như vậy dựa trên hai sự kiện mới. Đầu tiên là việc Đức Phanxicô tạo ra các chuẩn mực đặc biệt mới để chống lại việc lạm dụng tình dục của các giáo sĩ và sự thất bại của các giám mục không chịu hành động, trong một hệ thống đôi khi phải dùng đến hình thức công lý chiếu lệ (summary justice) làm tổn hại đến sự công bằng, do áp lực bên ngoài thường có cái nhìn khắc nghiệt đối với các giáo sĩ vi phạm. Thứ hai là việc Đức Phanxicô khôi phục hệ thống “công lý thế tục” [temporal justice] ở Vatican, hệ thống này có thể khiến các vị Hồng Y bị buộc tội sai lầm (instrumental accusation) có khả năng loại họ khỏi mật nghị hay ít nhất khỏi danh sách có thể được bầu làm Giáo Hoàng (papabili) (những ứng cử viên hàng đầu). Melloni cho biết, những phát triển mới này đã đặt tự do của mật nghị sắp tới vào vòng nguy hiểm.
Ông cảnh báo, “Nếu không có một số sửa đổi trong tông hiến quy định mật nghị, thế kỷ 21 có thể có nghĩa là sự trở lại của một quyền phủ quyết đáng gờm có khả năng thay đổi kết quả của cuộc bầu cử giáo hoàng: một quyền phủ quyết không còn được thực hiện bởi các quân vương Công Giáo, mà là bởi các đế quốc xã hội mới là các phương tiện truyền thông và những người có kỹ thuật để sử dụng chúng hoặc một mối lợi để huy động chúng”.
Bốn thay đổi được đề nghị
Melloni đưa ra bốn đề nghị để cập nhật các quy tắc cho mật nghị. Đề nghị đầu tiên của ông là tăng cường clausura (cấm cửa). Ông nói rằng tất cả các Hồng Y cử tri nên được yêu cầu cư trú tại Cư sở Santa Marta ngay khi các ngài đến Rôma, thay vì được phép đợi cho đến khi mật nghị thực sự bắt đầu. Đề nghị thứ hai của ông là “các phiên họp toàn thể” – tức các phiên họp hàng ngày trước mật nghị gồm tất cả các Hồng Y, kể cả những các vị không có quyền bỏ phiếu, trên 80 tuổi – cũng nên bao gồm các phiên họp trong bầu khí kiểu clausura chỉ dành cho các Hồng Y cử tri. Đề nghị thứ ba của Melloni là thay đổi tần suất các cuộc bỏ phiếu: chỉ một lần bỏ phiếu mỗi ngày trong ba ngày đầu tiên; hai lần bỏ phiếu mỗi ngày trong ba ngày tiếp theo; và bốn lần bỏ phiếu trong ba ngày sau đó. Ông nói điều này sẽ giúp các “bên khác nhau” trong mật nghị có thêm thời gian để thảo luận. Nó cũng sẽ giải phóng các cử tri khỏi áp lực của các phương tiện truyền thông nhằm nhanh chóng có được vị tân giáo hoàng. Đề nghị thứ tư và cuối cùng cũng liên quan đến những rủi ro của một cuộc bầu cử vội vàng. Melloni đề nghị các quy tắc mới nên dành cho vị Hồng Y đã nhận đủ phiếu bầu để trở thành giáo hoàng có nhiều thời gian hơn để cầu nguyện, suy ngẫm và xem xét lại lương tâm của mình. Điều này sẽ giúp ngài xét xem liệu có điều gì trong quá khứ của mình (cũng như khi ngài phải xử lý các trường hợp lạm dụng) có thể khiến cuộc bầu cử giáo hoàng trở thành dubia (nghi vấn).
Đó đều là những đề nghị chu đáo và sáng suốt và những đề nghị khác cũng có thể được bổ sung, nhất là trong bối cảnh các Hồng Y cử tri hiện tại hầu như không biết nhau. Thậm chí còn nghiêm trọng hơn trước đây vẫn tin.
Trong hơn tám năm làm giáo hoàng, Đức Phanxicô chỉ tụ tập tất cả các Hồng Y còn sống lại với nhau có một lần duy nhất (20-21 / 2/2014). Nhưng việc thảo luận tự do rất hạn chế. Hiện nay, những cuộc tụ tập như vậy dường như còn quan trọng hơn bao giờ hết.
Trước nhất, nhóm các Hồng Y hiện nay bao gồm những vị từ các khu vực địa lý mà trước đây chưa từng được đại diện tại một mật nghị. Và thứ hai, các mạng lưới giáo sĩ cũ, trước đây vốn là thành phần của cuộc bầu cử giáo hoàng, nay không có cùng một tầm quan trọng mà họ từng có nữa. Họ đã được thay thế bởi các mạng lưới gây ảnh hưởng khác.
Điều quan trọng cần lưu ý là tình hình có thể còn nghiêm trọng hơn Melloni thừa nhận, vì ít nhất hai lý do. Lý do đầu tiên liên quan đến một tình hình giáo hội đặc thù ở Hoa Kỳ, nơi chúng ta đã thấy những mối đe dọa trực tiếp đến quyền tự do của Đức Giáo Hoàng và mặc nhiên, đối với mật nghị sắp tới. Vụ lạm dụng tình dục của Theodore McCarrick, cựu Hồng Y, và các cuộc tấn công cơ hội chủ nghĩa chống lại Đức Giáo Hoàng Phanxicô của Tổng giám mục Carlo Maria Viganò, cựu sứ thần tại Washington, đã gây ra một làn sóng phẫn nộ trong một số nhóm và mạng lưới Công Giáo. Các ý thức hệ chống Đức Phanxicô đang hoạt động để gây ảnh hưởng đến mật nghị sắp tới.
Điều trên cho thấy khúc ngoặt chống định chế, hư vô chủ nghĩa của phe bảo thủ ngày nay – ngay cả bên trong Giáo Hội Công Giáo. Thí dụ, có một điều gọi là “Báo cáo Mũ đỏ”, lưu giữ các hồ sơ về tất cả các Hồng Y cử tri. Người ta chỉ có thể tưởng tượng điều này sẽ được sử dụng ra sao khi các ngài, một lần nữa, tụ họp ở Rôma, để bầu vị giáo hoàng kế tiếp. Phải nhìn sáng kiến này trong bối cảnh phẫn nộ ý thức hệ chống lại Đức Giáo Hoàng Phanxicô, một điều xem ra khá rõ ràng trong một số giới giáo sĩ, trí thức, tài chính và chính trị ở Hoa Kỳ.
Tất cả họ đều được kết nối tốt với hệ sinh thái truyền thông mới, vốn định hình các bài tường thuật về tình trạng của đạo Công Giáo và nền chính trị của Giáo hội. Sẽ là một sai lầm nghiêm trọng khi đánh giá thấp những gì họ có khả thể làm với tất cả thông tin và ảnh hưởng mà họ đã tích lũy được để định hình kết quả của mật nghị kế tiếp. Trước, trong và sau chiến dịch tranh cử tổng thống năm 2020, nhiều người Công Giáo (kể cả một số giám mục) đã từ chối thừa nhận và chấp nhận rằng Joe Biden đã được bầu một cách hợp pháp. Một kịch bản tương tự cũng có thể xảy ra với cuộc bầu vị giáo hoàng kế tiếp. Viganò và những người ủng hộ ngài đã phá vỡ điều cấm kỵ cuối cùng trong đạo Công Giáo định chế bằng cách yêu cầu Đức Phanxicô từ chức. Nếu một người có thể mưu toan lật đổ một vị giáo hoàng, thì bất cứ điều gì cũng có thể xảy ra. Giáo Hội Công Giáo ở Hoa Kỳ đang ở trong tình trạng ly khai mềm hoặc thực tế (material) giữa hai nhóm khác nhau. Họ bị chia rẽ mạnh mẽ trong triều giáo hoàng của Đức Phanxicô. Mưu toan của Viganò và những người khác nhằm lật đổ giáo hoàng vào tháng 8 năm 2018 tương đương về phương diện giáo hội học với cuộc tấn công ngày 6 tháng 1 vào Đồi Capitol ở Washington của những người ủng hộ Donald Trump. Nhưng tại mật nghị kế tiếp sẽ có một khoảng trống quyền lực ở Rôma, một khoảng trống đã không có vào tháng 8 năm 2018. Tình hình có thể nguy hiểm hơn nhiều so với dự đoán của nhiều người.
Thật là ngây thơ khi cho rằng những người luôn cáo buộc Đức Phanxicô không phải là Công Giáo sẽ hạn chế làm bất cứ điều gì và mọi điều có thể để có được phương cách của họ tại mật nghị sắp tới. Tăng cường bộ máy phao tin đồn.
Lý do thứ hai khiến tình hình bây giờ có thể trở nên nguy hiểm hơn những gì Melloni thừa nhận trong bài báo của ông (xuất bản vào tháng 5) là những gì đã xảy ra vào ngày 4 tháng 7. Đó là buổi tối Đức Phanxicô được phẫu thuật tại bệnh viện Gemelli ở Rôma. Sau mười ngày lưu lại bệnh viện, giờ đây Đức Giáo Hoàng đã trở về nhà tại Cư sở Santa Marta. Không rõ sự hồi phục sẽ như thế nào đối với một người ở tuổi cao nhưng một số người đã bắt đầu suy đoán về khả năng tiếp tục điều hành Giáo hội của ngài. Tin đồn về vị Hồng Y nào có cơ hội tốt nhất để kế vị Đức Phanxicô cũng đã rộ lên. Việc Đức Giáo Hoàng quyết định công bố Tự sắc Traditionis Custodes gần đây bãi bỏ tự sắc Summorum Pontificum là một dấu hiệu cho thấy quyết tâm của ngài. Nhưng một số người đọc nó như truyền tải một cảm thức khẩn cấp vì sức khỏe giảm sút của vị giáo hoàng và việc sắp kết thúc triều giáo hoàng của ngài.
Đức Phanxicô có thể là một nhà lập pháp hữu hiệu và sắc bén, như chúng ta đã thấy trong nhiều lĩnh vực khác. Nhưng đôi khi ngài do dự thay đổi các bộ máy định chế, thay vào đó thích khởi xướng những cải cách tâm linh lâu dài nhằm mục đích biến đổi đường lối của Giáo hội theo thời gian. Nhưng ngài đang chấp nhận rủi ro lớn khi không cập nhật các quy tắc chi phối mật nghị hoặc nghĩ rằng ngài có thể đợi cho đến khi vào chính cuối triều đại giáo hoàng mới làm như vậy. Đây là một vấn đề cấp bách hơn, không thể chờ đợi. Có lẽ sự thay đổi lớn nhất kể từ hai mật nghị cuối cùng – bầu Đức Bênêđíctô năm 2005 và Đức Phanxicô năm 2013 – là quyền lực của những người có ảnh hưởng Công Giáo trên các phương tiện truyền thông chính dòng, truyền thông kỹ thuật số và truyền thông xã hội. Kể từ năm 2013, các nhóm nhỏ những người với những nghị trình cực kỳ đặc trưng (bao gồm một số giáo phẩm sở hữu các phương tiện truyền thông rộng lớn và nhiều người theo dõi mạng xã hội của họ) đã xây dựng một loại trình thuật có tính ý thức hệ về Giáo hội. Họ không thể cưỡng lại cơn cám dỗ tạo nên cơn bão truyền thông khi không tranh thủ được đường lối của mình. Chỉ cần nhìn vào cách một số người trong số họ đã phản ứng với Tự sắc Traditionis Custodes của Đức Phanxicô hạn chế sử dụng Thánh lễ Latinh Cổ. Lúc đó, bạn sẽ có ý niệm về sự tàn phá mà họ có thể gây ra cho mật nghị sắp tới.
Vũ Văn An
