2021
ĐTC dâng Thánh lễ tại Đại học Công giáo Thánh Tâm
Sáng thứ Sáu 05/11/2021, Đức Thánh Cha chủ sự Thánh lễ tại Đại học Công giáo Thánh Tâm ở Roma, nhân kỷ niệm 60 năm khánh thành khoa Y và Phẫu thuật của Đại học. Đức Thánh Cha đã quảng diễn về ba cụm từ có liên hệ đến Thánh Tâm Chúa Giêsu: tưởng nhớ, khổ nạn và an ủi.
Ðại học Công giáo Thánh Tâm đã do linh mục Agostino Gemelli thành lập năm 1921, tại Milano, và nhiều chi nhánh khác trên khắp nước Ý. Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã nhiều lần được điều trị tại bệnh viện này. Và Đức Thánh Cha Phanxicô đã ở bệnh viện này trong 10 ngày để phẫu thuật đại tràng và điều trị hậu phẫu vào mùa hè vừa qua (04/7 đến 14/7/2021).
Trong bài giảng, Đức Thánh Cha nói trường đại học được mang tên Thánh Tâm, và hôm nay ngày thứ Sáu đầu tháng là ngày tôn kính đặc biệt Thánh Tâm Chúa Kitô, vì vậy, ngài mời gọi mọi người cùng suy niệm về ba cụm từ liên hệ đến Thánh Tâm: tưởng nhớ, khổ nạn và an ủi.
Thứ nhất tưởng nhớ: Đức Thánh Cha giải thích rằng, tưởng nhớ có nghĩa là trở về với con tim. Thánh Tâm chỉ cho chúng ta thấy Chúa Giêsu là Đấng tự hiến. Cuộc sống ngày nay làm cho con người phải vội vã, lo lắng liên tục, làm cho chúng ta dễ đánh mất khả năng cảm thương, đánh mất việc trở về với con tim, với ký ức.
Không có ký ức chúng ta mất cội nguồn và không có cội nguồn thì chúng ta không thể lớn lên. Việc nuôi dưỡng ký ức đối với những ai đã yêu thương và chăm sóc chúng ta là một điều tốt. Ở điều này, Đức Thánh Cha muốn bày tỏ lòng biết ơn vì sự quan tâm và tình cảm ngài đã nhận được nơi đây.
Theo Đức Thánh Cha, ký ức hoạt động khi chúng ta nhớ đến người nào đã chạm đến con tim chúng ta, khi nó được liên kết với một tình cảm cụ thể. Ở điểm này, Thánh Tâm Chúa chữa lành ký ức chúng ta để đưa ký ức trở lại tình cảm ban đầu, đó là việc cảm nhận được chúng ta là những thụ tạo được yêu thương.
Đức Thánh Cha giải thích tiếp về cụm từ khổ nạn: “Thánh Tâm Chúa là hình ảnh của cuộc khổ nạn, chỉ cho chúng ta thấy tình yêu dịu dàng của Thiên Chúa. Và trong sự dịu dàng đau đớn đó, Thánh Tâm bày tỏ tình yêu Thiên Chúa dành cho con người. Điều này gợi lên rằng, nếu chúng ta thực sự yêu mến Thiên Chúa, chúng ta phải say mê con người, đặc biệt những người bị ruồng bỏ và khước từ”.
Về cụm từ cuối cùng: an ủi, Đức Thánh Cha nhấn mạnh rằng: “An ủi cho thấy sức mạnh không đến từ chúng ta, nhưng đến từ người ở với chúng ta. Đó là Chúa Giêsu, Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Chính Thánh Tâm Chúa ban cho chúng ta can đảm trong lúc gặp khó khăn”. Ngài nói thêm rằng, mặc dù y học đã tiến bộ nhiều nhưng vẫn còn nhiều căn bệnh không chữa trị được. Chính vì vậy, chúng ta cần sự an ủi nơi Chúa.
Đức Thánh Cha kết thúc bài giảng với lời khích lệ: “Chúng ta hãy cầu xin Thánh Tâm ân sủng để chúng ta cũng biết an ủi người khác. Chúng ta cần phải xin ơn này, để khi dấn thân với lòng can đảm, chúng ta có thể mở lòng, giúp người khác, và mang gánh nặng cho nhau. Điều này cũng áp dụng cho tương lai ngành y, đặc biệt y tế ‘Công giáo’. Đó là sự chia sẻ, nâng đỡ, và cùng nhau tiến bước”.
Nguồn: vaticannews.va/vi/
2021
Niềm vui phục vụ các trẻ em khốn khổ của nữ tu truyền giáo María
Nhân Ngày Thế giới Truyền giáo năm 2021, các Hiệp hội Truyền giáo Giáo hoàng đã chia sẻ chứng từ của sơ María José Pasqual, một nhà truyền giáo người Tây Ban Nha, thuộc dòng Nữ tử Bác ái, hoạt động giáo dục và trợ giúp trẻ em đường phố ở Bolivia từ nhiều năm.
Sơ María José kể lại ơn gọi của mình: “Từ khi còn rất nhỏ, từ năm 13 tuổi, tôi đã cảm nhận được ơn gọi truyền giáo nảy sinh trong tôi sau một thời gian tĩnh tâm ở trường, và dần dần nó lớn lên qua cầu nguyện”. Sơ nhớ lại: “Đặc sủng của dòng Nữ tử Bác ái là ‘phục vụ Chúa Kitô trong người nghèo’ và tôi cảm thấy rằng, Thiên Chúa đã kêu gọi tôi phục vụ Chúa trong con người của những người nghèo. Đối với tôi, đó là món quà đẹp nhất mà Chúa đã ban tặng cho tôi, là công cụ Người dùng để giúp đỡ những người bị thiệt thòi trong xã hội này”.
Sơ María José đã hoạt động trong nhiều sứ vụ khác nhau. Sơ đã làm việc 8 năm ở El Alto, Bolivia, hoạt động trong lĩnh vực xóa mù chữ cho những người Aymara di cư từ nông thôn lên thành phố. Sau đó, sơ đến Châu Phi, đến Algeria, vào thời điểm quốc gia này vừa kết thúc cuộc nội chiến và tình trạng nghèo đói rất rõ rệt. Sơ cho biết: “Ở đó, tôi đã làm việc với những phụ nữ Hồi giáo, những người rất thiệt thòi trong xã hội, và tôi đã giúp đỡ những trẻ em mắc bệnh nan y trong bệnh viện; tôi cũng hỗ trợ những trẻ em của trại trẻ mồ côi Tenes, những người dễ bị tổn thương nhất và không có khả năng tự vệ”.
Kinh nghiệm truyền giáo để lại dấu ấn trong tâm hồn sơ: “Với công việc này, tình yêu của tôi đối với Giáo hội được củng cố, vì cộng đồng Công giáo của chúng tôi rất nhỏ bé, nhưng chúng tôi cảm thấy được hỗ trợ bởi lời cầu nguyện của tất cả mọi người”.
Sau bốn năm truyền giáo tại Phi châu, sơ María José trở lại Bolivia. Hiện nay, sơ hoạt động trong lĩnh vực giáo dục ở tổ chức Đức tin và Niềm vui, để quảng bá cho phụ nữ Aymara và trẻ em bị suy dinh dưỡng, và trong “Chương trình Mặt trời mọc”, là chương trình chào đón và phục hồi chức năng cho trẻ em, thanh thiếu niên và những người trẻ sống trong hoàn cảnh nguy hiểm, những người sống và ngủ trên đường phố, nghiện clefa, một loại ma túy dạng hít. Họ thường kiếm sống bằng cách trộm cắp hoặc hành nghề mại dâm để tồn tại. Đó là những đứa trẻ bỏ nhà ra đi vì bị gia đình bạo hành, hành hạ về thể xác và tình dục, về tâm lý… Các em thiếu thốn tình cảm và sự thấu hiểu của gia đình”.
Sơ María José nói: “Chúa đã kêu gọi tôi đồng hành với những người trẻ này, những người cần tình yêu thương và cảm thấy rằng Chúa yêu thương họ.
Sơ gửi một lá thư cho trẻ em Tây Ban Nha và thư này có thể được gửi đến tất cả mọi trẻ em trên thế giới. Sơ viết: “Sơ xin các em đừng ngừng cầu nguyện với Chúa Giêsu. Có rất nhiều trẻ em bị bắt bớ, bị phân biệt đối xử, đang sống cảnh nghèo khổ, không có thức ăn, và chúng ta có thể giúp họ bằng lời cầu nguyện của mình. Chúa Giêsu lắng nghe lời cầu nguyện của các trẻ em”.
Sơ viết thêm: “Từ Bolivia, sơ chúc các em cảm thấy Chúa Giêsu là người bạn tốt nhất của mình; sơ chúc các em là những nhà truyền giáo nhỏ bé đang loan báo về Chúa Giêsu cho bạn bè của các em và cố gắng liên đới với những trẻ em thiếu thốn nhất. Và hãy tiếp tục hỗ trợ những nhà truyền giáo bằng những lời cầu nguyện của các em để chúng tôi có thể tiếp tục phục vụ những trẻ em khốn khổ nhất. Tôi rất vui khi được giúp đỡ họ, và tôi muốn tiếp tục, miễn là Chúa muốn”.
“Cảm ơn các em rất nhiều vì đã hỗ trợ, và cầu xin Chúa sẽ trả công cho các em vì lòng quảng đại của các em”.
Nguồn: vaticannews.va/vi/
2021
ĐTC cầu nguyện cho những người bị ảnh hưởng bởi lũ lụt tại Việt Nam
Trong buổi đọc Kinh Truyền Tin trưa Chúa Nhật 31/10, sau khi đọc kinh, Đức Thánh Cha hướng đến và cầu nguyện cho người dân Việt Nam, đặc biệt là những người đang phải chịu đựng trận lũ lụt trong những ngày này.
Đức Thánh Cha hướng đến người dân Việt Nam với những lời sau: “Anh chị em thân mến, ở nhiều vùng của Việt Nam, những trận mưa lớn kéo dài trong những tuần gần đây đã gây ra lũ lụt trên diện rộng với hàng ngàn người phải sơ tán. Tôi cầu nguyện và nghĩ đến nhiều gia đình đang đau khổ. Tôi cũng khích lệ những người, từ chính quyền cũng như Giáo hội địa phương, đang nỗ lực để ứng phó với tình huống khẩn cấp này”.
Cũng sau Kinh Truyền Tin, Đức Thánh Cha hướng đến Haiti, ngài nói: “Anh chị em thân mến, tôi nghĩ đến người dân Haiti, đang phải sống trong điều kiện giới hạn. Tôi kêu gọi những vị đứng đầu các quốc gia hỗ trợ đất nước này, đừng để họ đơn độc. Khi trở về nhà, anh chị em hãy tìm tin tức về Haiti, và cầu nguyện nhiều cho họ. Cha Massimo Miraglio, nhà truyền giáo Camillian ở Haiti đã nói với chúng ta về nhiều đau khổ ở vùng đất này. Xin đừng bỏ rơi họ”.
Tiếp đến, Đức Thánh Cha nhắc đến Lễ phong Chân Phước hôm 29/10 ở Tây Ban Nha cho các linh mục Francisco Cástor Sojo López, Millán Garde Serrano, Manuel Galcerá Videllet và Aquilino Pastor, bị giết vì sự thù hận đức tin. Các ngài là những vị mục tử nhiệt thành và quảng đại. Trong cuộc bách hại tôn giáo vào những năm ba mươi, các ngài vẫn trung thành với thừa tác vụ mặc dù tính mạng gặp nguy hiểm. Đức Thánh Cha cầu mong chứng tá của các vị Tử Đạo là mẫu gương đặc biệt cho các linh mục.
Đức Thánh Cha mời gọi mọi người cầu nguyện cho Hội nghị Thượng đỉnh về biến đổi khí hậu của Liên Hiệp Quốc COP 26, bắt đầu hôm nay (Chúa nhật 31/10) tại Glasgow, Scotland. Ngài nói: “Chúng ta hãy cầu nguyện để tiếng kêu của trái đất và của người nghèo được lắng nghe. Ước mong cuộc gặp gỡ này có thể đưa ra những đáp ứng hiệu quả, mang đến hy vọng cụ thể cho các thế hệ tương lai”.
Nguồn: vaticannews.va/vi/
2021
Bruno Raffara, người cha, người ông và linh mục
Bruno Raffara, người cha, người ông và linh mục
Làm thế nào để nhìn bàn tay của Chúa trong thử thách của cảnh góa bụa? Làm thế nào ơn gọi linh mục có thể phát sinh khi một người đã làm chồng và làm cha? Những câu hỏi này, cha Bruno Raffara, 57 tuổi, đã mất một thời gian để có câu trả lời.
Người cha, góa vợ, người ông, bây giờ ông Bruno Raffara là linh mục giáo phận Angers từ năm 2020. Một hành trình đặc biệt
Cha vừa cười vừa nói: “Tôi gom lại mọi thứ và chỉ nối kết chúng lại hôm nay.” Các dấu hiệu? Ông từ tốn nói, ông thích dùng từ “dấu chỉ” hơn: “Mọi người có thể tin hay không tin.” Và có rất nhiều dấu chỉ trong đời của cha Bruno, cha chịu chức ở giáo phận Angers ngày 28 tháng 6 năm 2020.
Hai ông bà Claire và Bruno gặp nhau năm 1984 trong một buổi họp của những tình nguyện viên ở Lộ Đức khi họ chưa đầy 20 tuổi. Họ cùng có đức tin, một nền tảng vững chắc nâng đỡ họ cho đến cùng. Ngày 26 tháng 7 năm 1986, hfai người kết hôn tại Cholet, quê quán của bà Claire. Bà là giáo viên và ông Bruno dạy kinh tế. Hai người sinh hoạt với cộng đoàn “Lời Sự Sống” thoát thân từ phong trào Canh Tân Đặc Sủng, họ sống sáu năm ở Corrèze trước khi dọn về Sarthe, nơi họ có cuộc sống gia đình, việc làm và sinh hoạt giáo xứ là nhịp sống hàng ngày của họ.
Tôi cảm thấy như tôi đã mất đi thiên chức của mình. Tôi không còn phải chăm sóc Claire nữa, Claire đã ở thiên đàng. Bỗng nhiên tôi trắng tay.
Năm 1999, gia đình dọn về Saumur. Nhưng bệnh của Claire phát. Bạn bè, các cộng đoàn ở bên cạnh hai vợ chồng, họ được bảo bọc, ông Bruno cho biết, “sau này tôi biết có rất nhiều người đã cầu nguyện cho vợ tôi.” Giám mục Bruguès, giáo phận Angers đã đến thăm bà một tuần trước khi bà qua đời và ngài vẫn còn nhớ cuộc viếng thăm này. Bà Claire qua đời ngày 25 tháng 1 năm 2002. Họ có ba người con 13, 11 và 7 tuổi.
Mang một nỗi buồn vô biên, ông Bruno phải xoay xở với cuộc sống hàng ngày của ba đứa con. Nhưng nhanh chóng, ông mang một tâm trạng mới: “Tôi cảm thấy như tôi đã mất đi thiên chức của mình. Tôi không còn phải chăm sóc Claire nữa, Claire đã ở thiên đàng. Bỗng nhiên tôi trắng tay.” Người cha gia đình quay sang Chúa: “Con phải làm gì bây giờ?” Dĩ nhiên trách nhiệm với con cái là chuyện trước mắt.
Một cuộc gọi từ giám mục
Chín tháng sau khi bà Claire qua đời – “một giai đoạn mang tính biểu tượng” – ý tưởng về chức linh mục bắt đầu chín muồi. Một thời gian sau, sau khi làm lễ, giám mục Bruguès gọi cho ông Bruno: “Ông có bao giờ nghĩ ông sẽ phục vụ cho Giáo hội không?” Làm việc ở giáo xứ, người cha gia đình đã làm. Giám mục nói đến chức phó tế. Ngay lập tức, ông Bruno Raffara trả lời, ông đã nghĩ đến chức linh mục. Tuy nhiên, vào lúc đó vấn đề tái hôn vẫn còn bỏ ngỏ. Giám mục kết luận: “Khi ông chắc chắn không nghĩ đến chuyện tái hôn thì ông đến gặp tôi.” Ngài khuyên ông nên đi cùng người linh hướng để phân định. Những “dấu chỉ” như những nháy mắt của Chúa là những dấu chỉ đầu tiên của một loạt dấu chỉ.
Một mùa hè nọ, trong lễ hội gia đình ở Sainte-Anne-d´Auray, ông Bruno Raffara tình cờ đọc một đoạn trong sách Samuel: “Ta sẽ cho xuất hiện một tư tế trung kiên để phục vụ Ta, nó sẽ hành động theo lòng Ta và ý muốn của Ta”. Làm sao để không nhìn thấy đây là một dấu chỉ? Ông Bruno thắc mắc. Đặc biệt đó là ngày lễ Thánh Annà, ngày 26 tháng 7, ngày cưới của hai người.
Năm tháng trôi qua, các con lớn lên. Trong trái tim của ông Bruno Raffara, phân định rõ dần. Tháng 12 năm 2013, ông xin gặp giám mục Delmas, giáo phận Angers, ngài vừa về giáo phận vài năm trước đó. Giám mục nói với ông: “Nếu ông không đến, tôi cũng sẽ nói với ông điều này”.
Ngày 11 tháng hai, lễ Đức Mẹ Lộ Đức, giám mục đề nghị ông vào chủng viện tháng chín. Khi đó con gái út của ông đang là sinh viên. Làm sao để dung hòa chủng viện và việc làm? Mỗi người suy nghĩ phần của mình. “Tất cả đã được giải tỏa trong vòng 8 ngày. Tôi gặp người trách nhiệm ở sở của tôi ngày 18 tháng hai, ngày lễ Thánh Bernadette. Tôi được nghỉ việc và được hưởng chế độ đảm bảo công việc.”
Sự khôn ngoan của Giáo hội
Tháng 9 năm 2015, ông là chủng sinh. Nhưng, thay vì theo học chương trình cổ điển ở chủng viện Nantes, ông vào phân khoa thần học của giáo phận Angers với dấn thân làm việc lâu dài cho giáo xứ. Về phần giám mục, ngài đồng hành, nhưng “không quá sát”. “Đó là thước khôn ngoan để chủng sinh được tự do. Việc phân định được giao cho những người khác.”
Mới đầu các con của ông cảm thấy không thoải mái khi thấy cha mình là người của quần chúng. Nhưng với thời gian chúng quen dần. Ông Raffara chịu chức ngày 28 tháng 6 năm 2020, bây giờ ông là cha xứ một giáo xứ gần Cholet. Giáo dân vui với sự hiện diện của cha và cha cũng vui: “Tôi cũng sống như họ. Họ nhắc tôi nên đi nghỉ hè, nên nghỉ ngơi, nên về thăm con cái.”
Bây giờ khi nghĩ lại các linh mục trẻ đã mời cha đi Lộ Đức, nghĩ đến nghề giảng dạy đã làm cho cha nói chuyện thoải mái trước công chúng, cha Raffara cảm tạ vì sự tế nhị của Thiên Chúa đối với ơn gọi bất ngờ này, cha tin chắc: “Ngài đã chuẩn bị cho tôi.”
Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch
