Aenean nec eros. Vestibulum ante ipsum primis in faucibus orci luctus et ultrices posuere cubilia curae. Suspendisse sollicitudin velit sed leo.

Chuyên mục
  • Bài giảng
  • Các loại khác
  • Chia sẻ
  • Chưa phân loại
  • GH Hoàn Vũ
  • GH Việt Nam
  • Giáo dục
  • Hạnh các Thánh
  • HĐGM Việt Nam
  • Kinh Thánh
  • Phim giáo dục
  • Phụng vụ
  • Sách
  • Suy niệm Chúa nhật
  • Suy niệm hàng ngày
  • Tài liệu giáo dục
  • Tài liệu phụng vụ
  • Thần học
  • Thánh ca
  • Thánh lễ
  • Thánh lễ trực tuyến
  • Thư chung
  • Thư viện
  • Tin tức
  • Triết học
  • Tư liệu
  • UBGD Công giáo
  • Video
From Gallery
Stay Connected
UyBanGiaoDucHDGM.net
  • Trang chủ
  • Thư chung
    • HĐGM Việt Nam
    • UBGD Công giáo
  • Tin tức
    • GH Việt Nam
    • GH Hoàn Vũ
  • Phụng vụ
    • Thánh lễ
    • Thánh lễ trực tuyến
    • Suy niệm hàng ngày
    • Suy niệm Chúa nhật
    • Tài liệu phụng vụ
  • Giáo dục
    • Chia sẻ
    • Tài liệu giáo dục
  • Thư viện
    • Sách
      • Kinh Thánh
      • Triết học
      • Thần học
      • Các loại khác
    • Video
      • Bài giảng
      • Thánh ca
      • Phim giáo dục
      • Hạnh các Thánh
      • Tư liệu
  • Liên hệ
Give Online

Danh mục: GH Hoàn Vũ

Home / Tin tức / GH Hoàn Vũ
11Tháng Mười Một
2021

Tìm hiểu Thượng Hội Đồng Giám Mục giai đoạn giáo phận (10/2021 – 08/2022)

11/11/2021
Anmai
GH Hoàn Vũ, Tin tức
0

TÌM HIỂU THƯỢNG HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC
GIAI ĐOẠN GIÁO PHẬN (10/2021 – 08/2022)

Văn phòng thư ký Hội Đồng Giám Mục Việt Nam

  1. Chủ đề của Thượng Hội Đồng Giám Mục lần thứ XVI là gì?

Chủ đề của Thượng Hội Đồng Giám Mục lần thứ XVI là Hướng tới một Hội Thánh hiệp hành: hiệp thông, tham gia, sứ vụ. Vào tháng 4 năm 2021, Đức Thánh Cha Phanxicô đã khởi xướng một cuộc hành trình hiệp hành của toàn thể Dân Chúa, sau đó được khởi sự vào tháng 10 năm 2021 tại mỗi Hội Thánh địa phương và cao điểm là tháng 10 năm 2023 trong Đại hội toàn thể của Thượng Hội Đồng Giám mục.

  1. Hiệp hành là gì?

“Hiệp hành” là “cùng đi với nhau”. “Hội Thánh hiệp hành” là toàn thể Dân Chúa cùng nhau tiến bước, lắng nghe Chúa Thánh Thần và Lời Chúa, hiệp thông với nhau và tham gia vào sứ mạng của Hội Thánh. Con đường đồng hành này là cách hiệu quả nhất để biểu lộ và thực hành bản chất của Hội Thánh với tư cách là Dân Chúa lữ hành và truyền giáo.

  1. Thượng Hội Đồng Giám Mục lần thứ XVI có điều gì khác với những lần trước?

Từ trước đến nay Đại hội Thượng Hội Đồng Giám Mục thường diễn ra như cuộc hội họp các Giám mục cùng với Đức Giáo hoàng và dưới quyền Đức Giáo hoàng, nhưng lần này đây không chỉ đơn thuần là một đại hội của các Giám mục mà còn là hành trình dành cho tất cả các tín hữu, trong đó mỗi Hội Thánh địa phương đảm trách phần vụ không thể thiếu của mình.

Trong khi các Thượng Hội Đồng gần đây đã bàn đến các chủ đề như Tân phúc âm hóa, Gia đình, Giới trẻ, và Amazon, thì Thượng Hội Đồng hiện nay lại tập trung vào chủ đề đặc biệt là tính hiệp hành. Chủ đề này đặt ra cho chúng ta những câu hỏi cốt lõi: Tinh thần hiệp hành đang diễn ra như thế nào ở các cấp độ khác nhau (từ địa phương đến hoàn vũ) để Hội Thánh có thể loan báo Tin Mừng cách hiệu quả? Chúa Thánh Thần đang mời gọi chúng ta thực hiện những bước đi nào để Hội Thánh phát triển như một Hội Thánh hiệp hành?

  1. Thượng Hội Đồng Giám Mục lần thứ XVI diễn tiến thế nào?

Thượng Hội Đồng Giám Mục lần thứ XVI được tiến hành qua ba giai đoạn.

  1. a) Giai đoạn cấp giáo phận (từ tháng 10/2021 – tháng 8/2022)

Trong giai đoạn này, dân Chúa được khuyến khích quy tụ lại, cùng nhau trả lời cho những gợi ý từ các câu hỏi, lắng nghe nhau và đưa ra những phản hồi, ý kiến, phản ứng và đề nghị của cá nhân và tập thể. Tuy nhiên, nếu vì hoàn cảnh (chẳng hạn như những hạn chế do đại dịch) khiến việc tương tác trực tiếp trở nên khó khăn, thì có thể vận dụng những hình thức khác.

Giai đoạn cấp giáo phận này là cơ hội để các giáo xứ và giáo phận gặp gỡ, cảm nghiệm và cùng nhau thực hiện những bước đường hiệp hành, nhờ thế khám phá hoặc phát triển các phương cách và con đường hiệp hành phù hợp nhất với bối cảnh địa phương, và cuối cùng điều này sẽ trở thành phong cách mới của các Hội Thánh địa phương trên con đường hiệp hành. Do đó, Thượng Hội đồng này không chỉ mong đợi những phản hồi góp phần hỗ trợ Đại hội Thượng Hội đồng Giám mục được tổ chức tại Roma vào tháng 10 năm 2023, mà còn mong muốn thúc đẩy các Hội Thánh địa phương sống tinh thần hiệp hành và cảm nghiệm điều đó trong suốt tiến trình này và cả tương lai phía trước.

Kết thúc giai đoạn này, các Giáo phận sẽ làm bản tổng kết và gửi về cho Hội Đồng Giám Mục. Các Hội đồng giám mục sẽ làm bản tổng kết chung và gửi về cho Văn phòng Tổng thư ký Thượng Hội Đồng Giám Mục. Sau đó, những tổng hợp này sẽ là cơ sở cho ấn bản đầu tiên của Tài liệu Làm việc do Văn phòng Tổng Thư ký của Thượng hội đồng Giám mục xuất bản.

  1. b) Giai đoạn tại Châu lục

Tài liệu Làm Việc đầu tiên này sẽ là Tài liệu làm việc cho bảy cuộc họp lục địa: Châu Phi (SECAM); Châu Đại Dương (FCBCO); Châu Á (FABC); Trung Đông (CPCO); Châu Mỹ Latinh (CELAM); Châu Âu (CCEE) và Bắc Mỹ (USCCB và CCCB). Bảy cuộc họp quốc tế này sẽ lần lượt đưa ra bảy Văn kiện cuối cùng làm cơ sở cho ấn bản Tài liệu Làm việc thứ hai và ấn bản này sẽ được sử dụng tại Đại hội Thượng Hội đồng Giám mục vào tháng 10 năm 2023.

  1. c) Đại hội Thượng hội đồng Giám mục (tháng 10/2023)

Các giám mục và quan sát viên sẽ họp với Đức Thánh Cha Phanxicô trong Đại hội Thượng Hội đồng Giám mục ở Rôma vào tháng 10 năm 2023 để phát biểu và lắng nghe nhau dựa trên Tiến trình Thượng Hội Đồng cấp địa phương. Mục đích là để phân định ở mức độ hoàn vũ tiếng nói của Chúa Thánh Thần, Đấng đã và đang nói trong toàn thể Hội Thánh.

  1. Cùng với từ “hiệp hành”, Thượng Hội Đồng Giám Mục nói tới Hiệp thông, Tham gia, Sứ vụ. Điều này có ý nghĩa gì?

Chủ đề của Thượng hội đồng là “Hướng tới một Hội Thánh hiệp hành: Hiệp thông, Tham gia và Sứ vụ.” Đây là ba chiều kích của Hội Thánh, có mối quan hệ mật thiết với nhau, và là những trụ cột quan trọng của một Hội Thánh hiệp hành. Mỗi chiều kích làm phong phú và định hướng cho hai chiều kích kia. Giữa ba chiều kích này tồn tại một mối tương quan năng động, cần phải được hiểu rõ mối tương quan này cùng với cả ba chiều kích của nó.

– Hiệp thông: Cội nguồn sâu xa nhất của sự hiệp thông mà chúng ta cùng chia sẻ phát xuất từ tình yêu và sự hiệp nhất của Thiên Chúa Ba Ngôi. Chính Chúa Kitô là Đấng hòa giải chúng ta với Chúa Cha và liên kết chúng ta với nhau trong Chúa Thánh Thần. Tất cả chúng ta đều có vai trò của mình trong việc phân định và thực hiện lời kêu gọi mà Thiên Chúa dành cho dân Ngài.

– Tham gia: Mọi thành phần Dân Chúa đều được mời gọi lắng nghe nhau cách chân thành và tôn trọng. Việc lắng nghe này tạo ra không gian để chúng ta cùng nhau lắng nghe Chúa Thánh Thần, và dẫn lối cho những khát vọng mà chúng ta có đối với Hội Thánh. Trong Hội Thánh hiệp hành, toàn thể cộng đồng được kêu gọi cùng nhau cầu nguyện, lắng nghe, phân tích, đối thoại, phân định và góp ý về việc đưa ra các quyết định mục vụ phù hợp hết sức có thể với ý muốn của Thiên Chúa.

– Sứ mạng: Hội Thánh hiện hữu để thi hành sứ mạng truyền giáo. Chúng ta không bao giờ được tập trung vào chính mình. Sứ mạng của chúng ta là làm chứng cho tình yêu Thiên Chúa ở giữa toàn thể gia đình nhân loại. Tiến trình Hiệp hành này mang chiều kích truyền giáo, giúp Hội Thánh làm chứng tốt hơn cho Tin Mừng, đặc biệt với những người sống ở vùng ngoại vi trong lãnh vực tâm linh, xã hội, kinh tế, chính trị, địa lý và hiện sinh của thế giới chúng ta.

  1. Đâu là những thái độ cần có khi tham gia tiến trình xây dựng Hội Thánh hiệp hành?

Những thái độ cần có:

– Lắng nghe: tinh thần hiệp hành đòi phải dành thời gian cho việc lắng nghe.

– Chia sẻ: khiêm tốn lắng nghe phải đi đôi với việc can đảm chia sẻ với người khác. Đối thoại giúp chúng ta trở nên phong phú hơn.

– Hoán cải và thay đổi: từ bỏ những thái độ tự mãn và an phận khiến chúng ta đưa ra những quyết định chỉ dựa vào những cách thức hoạt động xưa cũ.

– Phân định: dựa trên niềm xác tín rằng Thiên Chúa vẫn đang hoạt động trong thế giới và chúng ta được kêu gọi để lắng nghe điều Thánh Thần khơi gợi nơi chúng ta.

– Bỏ đi tính tự mãn: để có thể học hỏi lẫn nhau, đồng hành với nhau và phục vụ lẫn nhau, xây những nhịp cầu bắc qua những bức tường đôi khi đe dọa ngăn cách chúng ta, như tuổi tác, giới tính, giàu nghèo, năng lực, giáo dục, v.v…

– Nâng cao niềm hy vọng: chúng ta được kêu gọi trở nên ngọn hải đăng của niềm hy vọng, chứ không phải là người loan báo họa diệt vong.

  1. Đâu là những cám dỗ cần cảnh giác?

Như trên mọi cuộc hành trình, chúng ta cần nhận ra những cạm bẫy có thể có, gây cản trở cho tiến trình của chúng ta trong suốt thời gian hiệp hành này. Phải tránh những cạm bẫy sau đây để tiếp thêm sinh khí và tăng hiệu quả cho tiến trình hiệp hành.

– Cám dỗ muốn tự mình dẫn dắt mình thay vì để Thiên Chúa dẫn dắt. Những nỗ lực khiêm tốn của chúng ta để tổ chức và phối hợp là để phụng sự Thiên Chúa, Đấng hướng dẫn chúng ta trên đường. Chúng ta là đất sét trong bàn tay Thợ gốm là Thiên Chúa (x. Is 64,8).

– Cám dỗ tập trung vào mình và những mối quan tâm tức thời của chúng ta. Tiến trình hiệp hành là cơ hội để mở ra, để thấy từ những góc độ khác, để đi đến những vùng ngoại biên. Việc này đòi chúng ta phải suy nghĩ cho những mục tiêu dài hạn: Kế hoạch của Thiên Chúa cho Hội Thánh ở đây và hiện nay là gì? Làm thế nào chúng ta có thể thực hiện giấc mơ của Thiên Chúa cho Hội Thánh ở tầm mức địa phương?

– Cám dỗ chỉ nhìn thấy những khó khăn, thử thách. Thay vì chỉ chú tâm vào những gì không hay, chúng ta hãy tập nhận ra đâu là nơi Chúa Thánh Thần đang tác sinh sự sống và cách thức chúng ta có thể để cho Thiên Chúa hoạt động nhiều hơn.

– Cám dỗ chỉ chú trọng đến cấu trúc. Tiến trình hiệp hành có thể mời gọi phải đổi mới cấu trúc của Giáo hội ở mọi cấp độ, tuy nhiên việc đổi mới cấu trúc sẽ chỉ xảy ra thông qua quá trình hoán cải và đổi mới của mọi chi thể trong Thân thể Đức Kitô.

– Cám dỗ không nhìn quá những ranh giới hữu hình của Hội Thánh. Khi sống theo Tin Mừng, các tín hữu hành động như men trong thế giới, vì thế phải nhìn thấy bức tranh rộng lớn hơn để hoàn thành sứ mạng của mình trong thế giới này.

– Cám dỗ lơ là các mục tiêu của tiến trình hiệp hành, là phân định cách thức Thiên Chúa kêu gọi chúng ta cùng nhau tiến bước theo cách thức đồng trách nhiệm, biết mở ra đón chào những hoa trái của Thiên Chúa được dần dần tỏ hiện.

– Cám dỗ xung đột và chia rẽ. Những mầm mống chia rẽ sẽ chẳng mang lại hoa trái gì. Thật vô ích khi cố gắng áp đặt ý riêng của mình lên mọi người.

– Cám dỗ coi Thượng hội đồng như một kiểu nghị trường. Hiệp hành không phải là “cuộc tranh luận chính trị”, trong đó để dành quyền quyết định, bên này phải triệt hạ bên kia. Việc gây đối kháng hay cổ vũ những xung đột gây chia rẽ, đe dọa sự hiệp nhất và hiệp thông trong Hội thánh là những điều trái ngược với tinh thần hiệp hành.

– Cám dỗ chỉ lắng nghe những thành phần hoạt động trong Hội Thánh. Việc này có thể làm cho việc sắp xếp tổ chức được dễ dàng hơn, nhưng rốt cuộc lại lơ là một phần đáng kể Dân Chúa.

  1. Thực hiện giai đoạn Giáo phận thế nào?

Văn phòng Tổng thư ký Thượng Hội Đồng Giám Mục xuất bản Tài liệu chuẩn bị và Cẩm nang (Vademecum), tuy nhiên Văn phòng xác định đây không phải là những quy định mà chỉ là những hướng dẫn gợi ý, mỗi Hội Thánh địa phương tùy theo tình hình thực tế để áp dụng. Theo đó có thể quan tâm những nét chính.

– Mục đích của giai đoạn giáo phận, là nhằm cống hiến cho nhiều người, càng nhiều càng tốt, một kinh nghiệm hiệp hành thực sự trong việc lắng nghe nhau và cùng tiến về phía trước theo sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần.

– Tham gia: để được như thế, cần phải nỗ lực vận động để có nhiều người tham gia, và tham gia cách tích cực. Do đó, giai đoạn giáo phận nên bắt đầu bằng việc tìm ra những cách vận động hiệu quả để đạt được sự tham gia rộng rãi nhất có thể.

– Lắng nghe: trọng tâm của kinh nghiệm hiệp hành là lắng nghe Chúa qua việc lắng nghe nhau, nhờ được Lời Chúa soi dẫn. Chúng ta lắng nghe nhau để nghe rõ hơn tiếng Chúa Thánh Thần đang nói trong thế giới hôm nay. Các buổi họp trở thành một trải nghiệm cùng đi với nhau, một trải nghiệm thực sự mang tính hiệp hành.

– Phân định: các phản hồi nhận được xuyên suốt quá trình lắng nghe nên được thu tập và viết thành một bản “tổng hợp”. Mục đích của những tổng hợp này là một hành động phân định để lựa chọn và viết ra những gì sẽ đóng góp cho giai đoạn tiếp theo của Tiến trình Thượng Hội đồng. Những phản hồi nhận được từ các cuộc họp địa phương này sẽ được biên soạn thành một bản tổng hợp cấp giáo phận.

– Đúc kết: bản tổng hợp do mỗi giáo phận soạn thảo khi kết thúc tiến trình lắng nghe và phân định sẽ là một đóng góp cụ thể cho hành trình của toàn thể Dân Chúa. Nó cũng có thể được dùng như một tài liệu hữu ích để xác định các bước tiếp theo trong hành trình của Hội Thánh địa phương trên con đường hiệp hành. Để tạo điều kiện cho các giai đoạn kế tiếp của Tiến trình Thượng Hội đồng, cần phải viết thật súc tích để cô đọng thành quả của việc cầu nguyện và suy tư trong tối đa mười trang giấy.

– Sau đó, bản tổng hợp của mỗi giáo phận sẽ được chuyển đến các Hội đồng giám mục. Các Hội đồng giám mục sẽ soạn thảo bản tổng hợp của riêng mình với cùng một tinh thần phân định như đã nêu trên, dựa trên những tổng hợp đã nhận được từ các giáo phận. Sau đó, các Hội đồng giám mục sẽ đệ trình bản tổng hợp này lên Văn phòng tổng thư ký của Thượng Hội đồng Giám mục, Văn phòng này sẽ soạn ấn bản đầu tiên của Tài liệu Làm việc (Instrumentum Laboris) dựa trên những gì đã được chia sẻ và kinh nghiệm tại cấp địa phương.

  1. Các Giám mục có trách nhiệm gì trong tiến trình hiệp hành ở cấp Giáo phận?

Không tồn tại tính hiệp hành nếu không tồn tại quyền mục tử của Giám mục đoàn, dưới quyền tối thượng của đấng kế vị Thánh Phêrô, cũng như nếu không tồn tại quyền mục tử của mỗi Giám mục Giáo phận nơi Giáo phận được giao phó cho ngài coi sóc. Vì vậy, Giám mục đóng vai trò chính yếu trong Tiến trình Thượng Hội đồng này, bằng cách lắng nghe dân Chúa và tạo điều kiện để toàn thể Dân Chúa góp phần xây dựng một Hội Thánh mang tính hiệp hành hơn. Sự tham gia của Giám mục phải thúc đẩy cuộc đối thoại cởi mở trong sự đa dạng của Dân Chúa.

Giai đoạn cấp giáo phận của Tiến trình Thượng hội đồng nên được khai mạc và kết thúc bằng một cử hành phụng vụ do Giám mục chủ tọa. Ngoài việc tham dự các buổi lắng nghe trên toàn giáo phận, Giám mục có thể mời một nhóm nhỏ họp với ngài, hoặc xem lại các phản hồi được thu thập từ các cuộc thỉnh ý, phân định những gì Chúa Thánh Thần đang nói qua những người được ủy thác cho ngài chăm sóc.

Cuối cùng, Giám mục sẽ triệu tập Hội nghị Tiền-Thượng hội đồng Giáo phận để đi đến đỉnh cao kết thúc giai đoạn giáo phận. Cuộc tập họp này nên có được đại diện của mọi thành phần từ khắp Giáo phận với mục đích cùng nhau cầu nguyện, lắng nghe, suy tư và phân định con đường hiệp hành mà Thần Khí Chúa đang kêu gọi toàn giáo phận đi theo. Sau đó, Giám mục có thể duyệt lại bản tổng hợp của giáo phận trước khi đệ trình lên Hội đồng giám mục.

  1. Đâu là lộ trình cụ thể cho giai đoạn giáo phận?

Lộ trình cụ thể gồm những bước sau:

– Giám mục Giáo phận chỉ định người điều hành chung (linh hoạt viên) tiến trình tham gia của Giáo phận.

– Người điều hành cần có sự cộng tác của một Nhóm hiệp hành của Giáo phận, có thể bao gồm các đại diện từ các giáo xứ, phong trào giáo dân và dòng tu.

– Lập kế hoạch cho tiến trình tham gia: có thể là các cuộc họp cấp giáo xứ, cuộc họp liên giáo xứ, các nhóm liên quan đến học đường, các hiệp hội địa phương, tạo cơ hội cho các nhóm khác nhau lắng nghe nhau.

– Chuẩn bị nhóm điều phối viên cho các cuộc họp trên.

– Hội thảo định hướng cho nhóm hiệp hành giáo phận và các điều phối viên địa phương: cung cấp những định hướng và trang bị những kỹ năng cơ bản cho các tiến trình hiệp hành.

– Truyền thông cho mọi người nhằm gây ý thức và khuyến khích sự tham gia.

– Thực hiện, giám sát và hướng dẫn tiến trình thỉnh ý hiệp hành. Nên ấn định cụ thể ngày gửi các ý kiến phản hồi, có thể tuân theo các hướng dẫn cho việc chuẩn bị bản tổng hợp của giáo phận như được mô tả bên dưới.

 – Hội nghị Tiền-Thượng hội đồng Giáo Phận: Các giáo phận được khuyến nghị nên tổ chức Hội nghị Tiền-Thượng hội đồng cấp Giáo phận bao gồm cả cử hành phụng vụ. Đây là đỉnh cao của tiến trình thỉnh ý trong giáo phận. Các thành viên tham dự cùng nhau cầu nguyện, lắng nghe, suy tư và phân định con đường hiệp hành theo hướng mà Thần Khí Chúa đang kêu gọi toàn Giáo phận thực hiện.

– Chuẩn bị và đệ trình bản tổng hợp của Giáo phận dựa trên tất cả các phản hồi đã được đón nhận từ khắp Giáo phận cũng như dựa trên diễn tiến của Hội nghị Tiền-Thượng hội đồng. Bản tổng hợp này phải được đệ trình lên Hội đồng giám mục vào ngày đã ấn định. Sau khi hoàn thành, bản tổng hợp nên được phổ biến trên toàn giáo phận. Tiến trình Hiệp hành này không phải là kết thúc nhưng là một khởi đầu mới.

Read More
11Tháng Mười Một
2021

Vẻ đẹp của tử đạo Kitô giáo

11/11/2021
Anmai
GH Hoàn Vũ, Tin tức
0

VẺ ĐẸP CỦA TỬ ĐẠO KITÔ GIÁO

Lm. Phaolô Nguyễn Thành Sang

Mục lục

I. TỬ ĐẠO, CHỨNG NHÂN ĐỨC TIN, ĐỨC CẬY VÀ ĐỨC ÁI

      1. Tử đạo là hành động của Đức Tin

      2. Tử đạo là hành động của Đức Cậy

      3. Tử đạo là hành động của Đức Ái

      4. Vẻ đẹp của tử đạo Kitô giáo

II. GIÁO HỘI VIỆT NAM MỪNG NĂM THÁNH CÁC THÁNH TỬ ĐẠO

      1. Ký ức lịch sử: nhớ

      2. Ký ức tâm linh: cử hành

      3. Ký ức luân lý: sống

III. TÌM MỘT LINH ĐẠO TỬ ĐẠO

      1. Nhớ và quên

      2. Tôn vinh các thánh tử đạo

      3. Sống vẻ đẹp của sự tử đạo

TẠM KẾT

Từ vụ tấn công khủng bố kinh hoàng ngày 11-9-2001 nhắm vào nước Mỹ, thế giới phải không ngừng đối diện với những cuộc tấn công khủng bố ở khắp nơi, dưới nhiều hình thức khác nhau. Điều đặc biệt là những cuộc tấn công cảm tử giết người như thế được chính những kẻ thực hiện gọi là hành động “tử vì đạo”, nhân danh đức tin Hồi giáo. Dĩ nhiên, ít nhiều đó là sự lạm dụng tôn giáo của những thành phần cực đoan. Dẫu sao, việc lan truyền thuật ngữ “tử vì đạo” trên các phương tiện truyền thông hiện đại, thường gắn liền với các cuộc tấn công khủng bố cảm tử như thế, dễ gây ngộ nhận về ý nghĩa của thuật ngữ này cho nhiều người, kể cả những người công giáo. Mặt khác, thuật ngữ “tử vì đạo” cũng rất phổ thông trong Kitô giáo. Nhưng ý nghĩa của khái niệm “tử vì đạo” không luôn luôn giống nhau giữa Hồi giáo và Kitô giáo.

Năm 2018, Hội thánh Công giáo Việt Nam mở Năm Thánh kỷ niệm 30 năm ngày tuyên phong hiển thánh của 117 vị Thánh Tử Đạo tại Việt Nam (1998-2018), chúng ta cùng tìm hiểu lại và sống ý nghĩa cũng như vẻ đẹp của tử đạo trong Kitô giáo, “để Năm Thánh mang lại nhiều ơn ích thiêng liêng cho mỗi người, mỗi gia đình, mỗi cộng đoàn và giáo xứ, cũng như cho toàn thể Hội Thánh Việt Nam”[1].

I. TỬ ĐẠO, CHỨNG NHÂN ĐỨC TIN, ĐỨC CẬY VÀ ĐỨC ÁI

Đức Thánh Cha Bê-nê-đic-tô XVI thường được gọi là Giáo hoàng của “những điều cốt yếu”. Và trong “nhiệm kỳ” giáo hoàng của mình, ngài đã muốn hướng dẫn toàn thể Giáo hội trở về với những điều cốt yếu của đời sống Kitô giáo. Điều cốt yếu nhất trong những điều cốt yếu là ba nhân đức đối thần: Đức Tin – Đức Cậy – Đức Ái. Dấu ấn rõ ràng nhất là các thông điệp của ngài: Deus caritas est – Thiên Chúa là Tình Yêu (2005), Spe salvi – Được cứu độ trong hy vọng (2007), và hiểu cách nào đó Lumen fidei – Ánh sáng đức tin (2013)[2]. Điều chúng ta quan tâm là cách giải thích của ngài về ý nghĩa và vẻ đẹp của tử đạo Kitô giáo như hành động của Đức Tin, Đức Cậy và Đức Ái.

1. Tử đạo là hành động của Đức Tin

Tử đạo theo nguyên ngữ Hy Lạp là martus, marturos, có nghĩa là người làm chứng cho niềm tin tôn giáo. Trong Kitô giáo, người tử đạo hiểu là người chịu bách hại đến hy sinh cả mạng sống để làm chứng cho niềm tin vào Đức Giê-su Ki-tô chết và phục sinh.

Nền tảng sức mạnh của hành động tử đạo chính là Đức Kitô. Đọc tiểu sử các vị tử đạo, chúng ta ngạc nhiên vì lòng can đảm, tính kiên trì và sự thanh thản của các ngài khi phải đối diện với đau khổ và sự chết. Sức mạnh ấy không phải là kết quả của những cố gắng phàm nhân. Sức mạnh ấy đến từ chính Đức Kitô, nơi Người họ đặt niềm tin tuyệt đối.

Theo nghĩa này, chúng ta gọi tử đạo là hồng ân đức tin, nghĩa là ơn cao trọng Thiên Chúa ban để làm cho vị tử đạo có khả năng dâng hiến mạng sống mình vì niềm tin vào Đức Kitô phục sinh. Theo thánh Phaolô, đó là sức mạnh của chính Thiên Chúa được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối của những con người biết tín thác vào Ngài (x. 2 Cr 12,9).

Thông điệp Lumen fidei diễn tả cùng một ý nghĩa: “Trong giờ thử thách, đức tin soi sáng chúng ta; trong đau khổ và yếu đuối, chúng ta nhận thấy rõ rằng “chúng tôi không rao giảng chính mình, mà chỉ rao giảng Đức Giê-su Ki-tô là Chúa” (2 Cr 4,5). […] Người Kitô hữu biết rằng đau khổ thì không thể loại bỏ, nhưng có thể mặc lấy một ý nghĩa, trở nên hành động yêu thương, tín thác vào tay Thiên Chúa, Đấng không bỏ rơi chúng ta, và bằng cách này, trở nên một giai đoạn tăng trưởng trong đức tin và tình yêu”[3].

Rõ ràng, tử đạo là hành động của đức tin, nghĩa là chấp nhận cái chết để tuyên xưng niềm tin vào Đức Kitô. Vì thế, thử thách cuối cùng mà các vị tử đạo thường phải chịu là chối bỏ đức tin. Cụ thể là chối bỏ Đức Kitô, chối bỏ thập giá của Đức Kitô, biểu tượng của đức tin Kitô giáo.

Vì tử đạo là hành động của đức tin, nên theo truyền thống Giáo Hội, chúng ta gọi các thánh tử đạo là những chứng nhân của Đức Tin.

2. Tử đạo là hành động của Đức Cậy

Đức Cậy không phải là điều mới lạ trong truyền thống Giáo hội. Tuy nhiên, nét nổi bật trong thông điệp Spe salvi là việc Đức Thánh Cha Bê-nê-đic-tô XVI đã liên kết cách sống động đức tin với niềm hy vọng Kitô giáo, giúp chúng ta hiểu việc tử đạo như là một hành động của Đức Cậy. Thông điệp diễn tả: “Sự cứu chuộc được tặng ban cho chúng ta theo nghĩa là chúng ta đã được ban cho niềm hy vọng, một niềm hy vọng khả tín, nhờ đó chúng ta có thể đương đầu với hiện tại. Dù là một hiện tại khổ nhọc, chúng ta có thể sống và chấp nhận hiện tại, nếu nó dẫn đến một cùng đích, nếu chúng ta có thể chắc chắn về cùng đích này, và nếu cùng đích này cao cả đến mức có thể biện minh cho những cố gắng trên đường đi”[4].

Bí quyết của niềm hy vọng khả tín ấy không gì khác hơn là chính Đức Kitô, Đấng đã nhập thể và mặc lấy mọi nỗi khốn cùng của con người, đã chịu khổ nạn và phục sinh để ban tặng cho con người niềm hy vọng khả tín, có khả năng lướt thắng mọi khổ đau, dù là sự chết. Ngài khẳng định các thánh tử đạo là chứng nhân cho niềm hy vọng khả tín ấy, và trở nên mẫu gương nuôi dưỡng niềm hy vọng của người tín hữu: “Chúng ta cũng cần đến các chứng nhân, những vị tử đạo, những người đã hoàn toàn hiến thân, để có thể chỉ cho chúng ta niềm hy vọng ấy, từ ngày này qua ngày khác”[5].

Ngài minh chứng điều đó bằng nhiều mẫu gương, nhưng chúng ta dừng lại với hai nhân chứng đức tin người Việt Nam, qua hai cách thể hiện Đức Cậy là “cầu nguyện” và “chịu đau khổ”. Trước tiên là mẫu gương cầu nguyện của Đức Hồng y Phan-xi-cô Xa-vi-ê Nguyễn Văn Thuận. Đối với Đức Thánh Cha, trong những hoàn cảnh tuyệt vọng của phàm nhân, người tín hữu vẫn luôn còn niềm hy vọng, thể hiện qua đời sống cầu nguyện: “Khi không còn ai lắng nghe tôi nữa, Chúa vẫn nghe tôi. Khi tôi không còn khả năng tâm sự hay kêu cầu được với ai, tôi luôn luôn có thể thưa với Chúa. Khi không còn ai giúp tôi biết xử sự thế nào trước nhu cầu hay mong đợi vượt quá khả năng hy vọng của con người, Chúa có thể giúp tôi. Dù tôi bị đắm chìm ngập lụt trong cô liêu hoàn toàn… nếu tôi cầu nguyện thì tôi không bao giờ hoàn toàn đơn côi”[6].

Và ngài nhìn Đức Hồng y như một mẫu gương sống Đức Cậy cách phi thường: “Suốt 13 năm bị giam cầm, trong một tình trạng hầu như tuyệt vọng hoàn toàn, việc lắng nghe Thiên Chúa và có thể thưa chuyện với Ngài đã trở nên sức mạnh hy vọng ngày càng gia tăng, niềm hy vọng đã khiến ngài, sau khi được tự do, trở nên một chứng nhân hy vọng cho mọi người trên toàn thế giới, chứng nhân của niềm hy vọng cao cả không tàn lụi, ngay cả trong đêm tối của cô đơn”[7].

Kế đến là mẫu gương chịu đau khổ của thánh Phaolô Lê Bảo Tịnh. Theo Đức Thánh Cha Bê-nê-đic-tô XVI, những nhục hình và đau khổ thật khủng khiếp, và dĩ nhiên sức phàm nhân thì không thể chịu nổi. Nhưng qua lá thư “viết từ hỏa ngục” gởi cho các chủng sinh, thánh Lê Bảo Tịnh đã cho thấy rằng ngài có thể chuyển hóa đau khổ thành niềm vui nhờ sức mạnh của Đức Cậy phát xuất từ Đức Tin, rằng với người sống Đức Cậy thì dù có ở trong bóng tối của hỏa ngục, họ vẫn nhìn thấy ánh sáng cứu độ nơi mầu nhiệm Thập Giá và Phục Sinh của Đức Kitô.

“Tôi là Phao-lô, đang bị xiềng xích vì Đức Kitô, muốn nói cho anh em biết những gian truân tôi đang chịu hằng ngày, để anh em được cháy lửa yêu mến Chúa mà hợp với tôi dâng lời ca ngợi Chúa, bởi vì muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương (Tv 136 [135], 3). Ngục thất này quả là hình ảnh sống động của hỏa ngục đời đời: ngoài gông cùm, xiềng xích, dây thừng, lại còn thêm sự nóng giận, oán thù, nguyền rủa, những lời tục tĩu, những sự gây gổ, những hành vi xấu xa, những lời thề gian, nói hành và cả nỗi chán nản, buồn phiền, cả ruồi muỗi rận rệp. […] Những cực hình này thường làm cho người khác buồn sầu, nhưng nhờ ơn Chúa giúp, tôi vẫn đầy vui sướng hân hoan, bởi vì tôi không chỉ có một mình, nhưng có Đức Ki-tô ở cùng tôi. […] Lạy Chúa, làm sao con sống nổi khi hằng ngày con thấy quan quyền và thuộc hạ của họ nói phạm đến Thánh Danh Chúa, Đấng ngự trên các thần Kê-ru-bim và Xê-ra-phim? (x. Tv 80,1 [79,2]). Kìa thập giá của Chúa bị kẻ ngoại đạo chà đạp dưới chân! Còn đâu là vinh quang Chúa? […] Lạy Chúa, xin tỏ cho con thấy quyền năng của Chúa, xin cứu giúp con, để trong sự yếu đuối của con, sức mạnh của Chúa được biểu lộ và tôn vinh trước mặt thế gian. […] Tôi viết cho anh em những điều này, để chúng ta được hiệp thông với nhau trong đức tin: giữa cơn bão táp này, tôi đã thả một cái neo tận ngai Thiên Chúa; đó là niềm hy vọng luôn sống động trong lòng tôi”[8].

Rõ ràng, như Đức Tin là sức mạnh giúp các vị tử đạo vượt qua những cơn thử thách gian nan, thì Đức Cậy phát xuất từ Đức Tin chính là sức mạnh giúp các ngài lướt thắng những khổ đau phải chịu. Với ý nghĩa này, chúng ta có thể hiểu các thánh tử đạo là những chứng nhân của Đức Cậy.

3. Tử đạo là hành động của Đức Ái

Như chúng ta biết, thông điệp đầu tiên của Đức Thánh Cha Bê- nê-đic-tô XVI mang tựa đề “Deus caritas est – Thiên Chúa là Tình Yêu”. Chúng ta dễ dàng nhận ra nét đặc thù của đời sống Kitô giáo mà ngài muốn làm nổi bật là Đức Ái. Có thể tóm lược lý luận của ngài như sau: chúng ta tin Thiên Chúa là Tình Yêu (x. 1 Ga 4,8), và con người là hình ảnh Thiên Chúa (St 1,27); hình ảnh chỉ rõ đẹp khi phản chiếu đúng nguyên ảnh; vì Thiên Chúa là Tình Yêu nên ơn gọi của con người là sống yêu thương; như thế, vẻ đẹp của đời Kitô hữu chỉ có thể là sống yêu thương.

Vì ơn gọi đời Kitô hữu là sống yêu thương, nên tử đạo là một hành động yêu thương tuyệt đỉnh của đời Kitô hữu. Điều này đã được Đức Thánh Cha khẳng định trong buổi đọc kinh truyền tin ngày 26 tháng 12 năm 2007: “Tử đạo Kitô giáo là một hành động yêu thương tuyệt hảo dành cho Thiên Chúa và cho tha nhân, kể cả những người bách hại”[9].

Rõ ràng, đặc tính làm nên sự khác biệt của tử đạo Ki-tô giáo chính là Đức Ái, tình yêu thần linh được thể hiện trong tình yêu nhân linh. Tình yêu này “làm cho con người đi vào một chiều kích mới, nơi lòng khoan dung và tình yêu thương đối với cả kẻ thù địch có thể làm chứng tá cho sự thắng thế của Thập giá trên mọi yếu đuối và bất hạnh của con người”. Trong trái tim của những vị tử đạo Kitô giáo không hề có chút bóng dáng của lòng thù hận.

Đức Thánh Cha nêu lên hai chứng nhân trong trại tập trung Auschwitz, thánh Maximilian Kolbe và thánh Thérèse Bernadette de la Croix (Edith Stein), để minh họa cho hành động tử đạo vì tình yêu[10]. Nhờ đức tin, các ngài đã biến những đau khổ chết chóc thành tình yêu cứu sống. Ngài diễn tả hành động yêu thương đó như sau: “Vị tử đạo Kitô giáo, như Đức Kitô và nhờ sự kết hợp với Người, tự thẳm sâu tâm hồn mình chấp nhận thập giá, nghĩa là cái chết, và biến đổi sự chết thành hành vi yêu thương. Điều nhìn bên ngoài toàn là bạo lực tàn nhẫn lại trở thành từ nội tâm họ một hành động yêu thương tự hiến trọn vẹn. Như thế, bạo lực được chuyển hóa thành tình yêu và cái chết được chuyển hóa thành sự sống. Vị tử đạo Kitô giáo làm nên cuộc chiến thắng của tình yêu trên lòng thù hận và sự chết”[11].

Với cách giải thích như trên, ngài đã làm mới lại một cách nhìn về việc tử đạo như là hành động của Đức Ái. Và như vậy, chúng ta có thể nói, các thánh tử đạo là những chứng nhân của Đức Ái.

4. Vẻ đẹp của tử đạo Kitô giáo

Ý nghĩa quan trọng nhất của sự tử đạo Kitô giáo là vẻ đẹp tuyệt hảo của tình yêu tự hiến. Vị tử đạo không phải là người tạo ra sự chết, nhưng là người đón nhận cái chết nhân danh lòng Tin-Cậy- Mến. Vị tử đạo không phải là người tự sát, vì các ngài yêu quý hồng ân sự sống của bản thân và tha nhân. Vị tử đạo không phải là siêu nhân muốn lập thành tích anh dũng, vì các ngài luôn sống khiêm hạ trong mắt Chúa. Vị tử đạo chịu đau đớn cách kiên nhẫn mà không bao giờ ước muốn sự dữ và chết chóc cho những kẻ tra tấn mình, những kẻ hành động bởi lòng thù ghét Kitô giáo hay những lý do khác. Vị tử đạo là người biết chuyển hóa nỗi khổ đau chết chóc của thập giá thành hành động yêu thương cứu sống. Đó là vẻ đẹp của tử đạo Kitô giáo.

Mẫu gương cho hành động tử đạo ấy chính là Đức Kitô. Chính Người đã cam chịu những lăng nhục trong thinh lặng, tha thứ cho những kẻ sát nhân (x. Lc 23,34), và hoàn toàn tự do đón nhận cái chết: “Mạng sống của tôi, không ai lấy đi được, nhưng chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình” (Ga 10,18). Vì Người đến trần gian là để “hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mc 10,45). Và theo mẫu gương tình yêu tự hiến cứu độ của Người, Giáo hội từ thời sơ khai cho đến ngày nay, luôn có những người nam, nữ dõi bước chân Người để làm chứng cho tình yêu cứu độ của Người.

Chính công đồng Va-ti-ca-nô II đã xác nhận vẻ đẹp trổi vượt của tình yêu tự hiến cứu độ: “Vì Đức Giêsu, Con Thiên Chúa đã biểu lộ tình yêu của Người bằng cách hy sinh mạng sống vì chúng ta, nên không ai có tình yêu cao cả hơn người hy sinh mạng sống vì Chúa và vì anh chị em (x. 1 Ga 3,16; Ga 15,13). Một số Kitô hữu đã được gọi trong thời sơ khai và sẽ còn được gọi mãi để làm chứng cho tình yêu ấy cách cao cả nhất trước mặt mọi người, nhất là trước mặt những kẻ đang bách hại mình. Vì tử đạo là hành vi làm cho người môn đệ nên giống Thầy mình, Đấng đã tình nguyện chấp nhận cái chết để cứu độ thế giới, và được nên đồng hình đồng dạng với Người trong việc đổ máu, nên Giáo hội coi đó là ơn trổi vượt và là sự xác nhận cao quý nhất về đức ái” (LG 42).

Vì thế, các thánh tử đạo mặc lấy vẻ đẹp tuyệt hảo. Các ngài nên xinh đẹp vì được kết hợp với tình yêu tự hiến của Đức Kitô và phản chiếu trung thực tình yêu ấy bằng chính mạng sống mình. Cũng chính Đức Thánh Cha Bê-nê-đic-tô XVI đã đưa ra một định nghĩa khác về tử đạo, mang tính tổng hợp cả ba nhân đức đối thần, trong đó Đức Ái được tô điểm như vẻ đẹp rực rỡ của tử đạo Kitô giáo, vẻ đẹp của tình yêu thần linh: “Vị tử đạo là một người hoàn toàn tự do, tự do đối với quyền lực, đối với thế giới; một người tự do dâng hiến trọn mạng sống cho Thiên Chúa qua một hành vi duy nhất và quyết định, và phó thác trong tay Đấng Sáng Tạo và Cứu Chuộc đời mình trong thái độ Tin, Cậy, Mến tuyệt đỉnh; vị tử đạo hy sinh mạng sống mình để được kết hợp trọn vẹn với Hy tế của Chúa Kitô trên Thập Giá. Tắt một lời, tử đạo là một cử chỉ yêu thương tuyệt hảo đáp lại tình yêu vô biên của Thiên Chúa”[12].

II. GIÁO HỘI VIỆT NAM MỪNG NĂM THÁNH CÁC THÁNH TỬ ĐẠO

Năm Thánh tôn vinh Các Thánh Tử Đạo Việt Nam là thời gian thuận lợi để chúng ta “nhìn lại quá khứ để tạ ơn Chúa và lắng nghe bài học của lịch sử, nhìn vào hiện tại để nhận diện những thuận lợi và thách đố, nhìn tới tương lai để cùng nhau canh tân đời sống và xây dựng Giáo Hội theo đúng thánh ý Thiên Chúa”[13].

1. Ký ức lịch sử: nhớ

Nói đến lịch sử, chúng ta thường nghĩ ngay đến quá khứ. Mỗi con người, mỗi gia đình, mỗi cộng đồng, mỗi dân tộc đều có quá khứ của mình. Và chúng ta thấy rõ quá khứ là thành phần quan trọng tạo nên căn tính của mỗi người, mỗi gia đình, mỗi cộng đồng, mỗi dân tộc ở hiện tại và cả tương lai. Vì có quá khứ, nên những thời điểm quan trọng thường được nhớ đến: những niềm hạnh phúc, những nỗi xót xa, những hạnh ngộ, những chia lìa, những được mất… Chúng ta gọi đó là ký ức lịch sử. Ký ức lịch sử giúp mỗi người, mỗi gia đình, mỗi cộng đồng, mỗi dân tộc hiểu rõ chính mình hơn ở hiện tại.

Cũng vậy, nói về lịch sử Giáo hội Việt Nam, chúng ta không thể không nhắc đến Các Thánh Tử Đạo tại Việt Nam. Người công giáo Việt Nam rất yêu mến các ngài. Các ngài được tôn kính như một di sản Đức Tin, Đức Cậy và Đức Ái, một căn tính công giáo Việt Nam giữa lòng dân tộc Việt Nam. Nhìn các cộng đoàn công giáo Việt Nam trong nước cũng như hải ngoại sốt sắng tôn vinh các ngài, chúng ta càng thêm xác tín điều đó.

Thật vậy, làm sao chúng ta không nghĩ tới Các Thánh Tử Đạo Việt Nam với niềm cảm mến sâu xa và sự ngưỡng vọng lớn lao về chứng tá anh dũng của các ngài: yêu Chúa và yêu người đến hiến dâng cả mạng sống. Việc Giáo hội Công giáo Việt Nam tưởng nhớ các ngài là rất cần thiết, vì nếu không, Giáo hội sẽ quên đi quá khứ của mình, và như thế sẽ quên đi cả căn tính công giáo của mình, như thể Giáo hội tự mình mà có, không phải mắc nợ đối với ai, cả với giá máu của các thánh tử đạo. Khả năng vô ơn ở đây đồng nghĩa với việc quên đi những chứng tá Đức Tin, Đức Cậy và Đức Ái, đặc biệt là tình yêu đến cùng của các thánh tử đạo, cũng là chứng tá về tình yêu của Thiên Chúa dành cho Giáo hội tại Việt Nam.

2. Ký ức tâm linh: cử hành

Nếu đời sống mỗi con người, mỗi gia đình, mỗi cộng đồng, mỗi dân tộc gắn liền với quá khứ, đời sống ấy cũng không thể thiếu tương lai. Nói đến tương lai là nói đến những khát vọng, những kiếm tìm, những dự tính, những định hướng, những xây đắp, những điều sẽ xảy đến. Những thành tựu lớn thường khởi sự từ những lý tưởng lớn, mục đích cao cả và định hướng rõ ràng. Mỗi con người, mỗi gia đình, mỗi cộng đồng, mỗi dân tộc nếu không có lý tưởng để sống, không có mục đích để đạt đến, không có động lực để phấn đấu, sẽ không có tương lai. Không có tương lai thì rất khó sống ở hiện tại, thậm chí dễ rơi vào tuyệt vọng.

Có thể nói đời người là một chuyến đi về tương lai. Cho nên người Việt Nam chúng ta gọi là đường đời. Đường đời không phải là một con đường vật lý, không gian, nhưng là nẻo đường tâm linh của một kiếp người. Đó là nẻo đường của những chọn lựa nhân bản, lý tưởng sống, niềm tin tôn giao… và là nẻo đường để đi và đến.

Người Việt Nam gọi tôn giáo là đạo. Đạo là đường. Chúa Giêsu nói: ‘“Chính Thầy là con đường…” (Ga 14,6). Nên Kitô giáo chúng

ta cũng là một nẻo đường tâm linh, nẻo đường đi về với Thiên Chúa là Cha. Đường là để đi và để đến. Nhưng không phải lúc nào người ta cũng đi và cũng đến. Vì không nhớ đường làm sao đi, không đi làm sao đến? Có khi lên đường đi rồi nhưng chưa chắc đã đến, vì có thể quên đường, lạc đường, lạc địa chi… Muốn đến bến bờ tâm linh giả thiết người ta phải biết đường tâm linh, biết cùng đích tâm linh và luôn ghi nhớ trong lòng. Chúng ta gọi đó là ký ức tâm linh. Ký ức tâm linh chính là việc cử hành ở hiện tại đời sống tâm linh của mình.

Đời sống của Giáo hội Việt Nam cũng thế. Mỗi người công giáo Việt Nam cần phải có ký ức tâm linh, phải biết và nhớ nẻo đường tâm linh của đời mình. Chiều kích tâm linh của việc tưởng nhớ bắt nguồn trong chính đức tin Kitô giáo. Vì đức tin được nuôi dưỡng và củng cố qua việc tưởng niệm Đức Kitô chết và phục sinh, nghĩa là việc cử hành Thánh Thể. Chẳng bao giờ có đức tin trong thực tiễn mà không có một cộng đoàn những người tin. Chẳng bao giờ có việc thực hành đức tin mà không có một truyền thống sống động của một cộng đoàn dẫn chúng ta đi vào mầu nhiệm đức tin. Đức tin luôn được truyền thụ qua một cộng đoàn trung gian, luôn được sinh ra từ ký ức sống động của một cộng đoàn giáo hội.

Làm sao chúng ta có thể tin Thiên Chúa mà không ý thức về sự cần thiết của ký ức tâm linh về chứng từ Đức Tin, Đức Cậy và Đức Ái nơi các thánh tử đạo? Làm sao chúng ta có thể sống ký ức tâm linh về các ngài mà không cử hành mầu nhiệm Đức Tin, Đức Cậy và Đức Ái? Tuy nhiên, ký ức tâm linh Kitô giáo không thể được coi như một truyền thống đóng kín của một quá khứ xa xôi. Việc tưởng nhớ Đức Kitô chết và phục sinh là ký ức tâm linh, luôn bao hàm một chương trình sống cho hiện tại và một định hướng cho tương lai mãi đến ngày Chúa lại đến: “Lạy Chúa, mỗi lần ăn bánh và uống chén này, chúng con loan truyền Chúa chịu chết, cho tới khi Chúa đến”.

3. Ký ức luân lý: sống

Quá khứ và tương lai là thành phần của đời sống, nhưng sống phải thực tế, đó là đời sống hiện tại. Dù quá khứ có thế nào, dù tương lai có ra sao, vấn đề của chúng ta là sống hiện tại của đời mình. Chúng ta sống những vấn đề của chúng ta hôm nay, chứ không phải những vấn đề của quá khứ xa xôi của tổ tiên, cũng chẳng phải tương lai mơ hồ của những thế hệ chưa đến. Chúng ta phải sống đời sống mình hôm nay, với những thuận lợi và thách đố.

Nhưng không phải là một hiện tại đoạn tuyệt với quá khứ và dửng dưng với tương lai. Mỗi người chúng ta đều thừa hưởng một di sản bản năng và một di sản văn hóa từ tổ tiên. Di sản bản năng hiểu là chính thân xác chúng ta đây: dòng máu đang lưu chuyển trong cơ thể chúng ta, nụ cười, ánh mắt, giọng nói, dáng đi, trí thông minh, các năng khiếu. Tất cả những thứ ấy đều ghi đậm dấu ấn của tổ tiên, điều mà ngày nay chúng ta gọi là gien di truyền.

Di sản văn hóa hiểu là tất cả những giá trị nhân bản, văn hoá, tinh thần và tâm linh mà chúng ta thừa hưởng: ngôn ngữ, nền giáo dục, lối sống đạo đức, lý tưởng trong cuộc đời, niềm tin tôn giáo… Tất cả những điều đó được truyền thụ cho chúng ta từ tổ tiên bằng con đường giáo dục, qua các thế hệ. Qua các thế hệ, nghĩa là chưa phải chấm dứt với thế hệ mà chúng ta đang sống. Chúng ta còn có trách nhiệm phải truyền thụ di sản ấy cho các thế hệ tương lai.

Việc thực hiện ở hiện tại một việc khởi sự từ quá khứ, nhắm tới thành tựu tương lai, chúng ta gọi là ký ức luân lý. Ký ức luân lý hệ tại ở việc hiểu thấu ý nghĩa của những biến cố quá khứ, một ý nghĩa có thể gợi hứng cho những hành vi hiện tại, nhằm thực hiện những định hướng tương lai của cuộc đời. Đó là một hành vi phân định luân lý.

Khi tưởng nhớ các thánh tử đạo, chúng ta nhắc nhớ những sự kiện đã xảy ra trong quá khứ nhằm khám phá giá trị thường hằng của những sự kiện đó, một giá trị mang lại ý nghĩa cho đời sống Kitô giáo hiện tại và tương lai của chúng ta. Điều cốt yếu đối với ký ức luân lý là làm nổi bật giá trị của những cố gắng luân lý, của các nhân đức đối thần trong khi thực hiện việc tưởng nhớ. Đó là cố gắng nhớ lại những bổn phận đã bị lãng quên hay thiếu sót, sửa chữa những lỗi lầm đối với tiền nhân của chúng ta trong đời sống Tin-Cậy-Mến nếu có, gia tăng việc sống vẻ đẹp của tử đạo Kitô giáo mà tiền nhân để lại.

Hơn nữa, kinh nghiệm đau đớn về sự tàn bạo của quá khứ đòi buộc chúng ta phải nhớ đến những nạn nhân của sự dữ tiềm ẩn, và phải phản kháng theo chiều tích cực, nghĩa là bằng mọi cách có thể loại bỏ đi những sự tàn bạo có thể xảy đến cho con người Việt Nam, cho người công giáo Việt Nam, cho Giáo hội Việt Nam, cho dân tộc Việt Nam hôm nay. Ký ức về những khổ đau trải qua, những đàn áp phải chịu, những cố gắng trung kiên của các thánh tử đạo phải làm vang lên nơi tâm trí của mỗi chúng ta lời này: chúng ta đừng bao giờ tàn bạo như thế nữa và hãy đối xử với nhau như đồng bào và đồng loại. Chính ở điểm này mà chúng ta nhận ra sự cần thiết của chiều kích hoán cải là rất quan trọng trong Năm Thánh.

III. TÌM MỘT LINH ĐẠO TỬ ĐẠO

Việc hiểu biết ý nghĩa của ký ức với ba chiều kích quá khứ, hiện tại và tương lai của việc mừng Năm Thánh đòi hỏi chúng ta phải trả lời cho ba câu hỏi căn bản: bài học lịch sử nào phải lắng nghe? Hồng ân nào phải tôn vinh và đền đáp? Thuận lợi và thách đố nào phải đối diện để xây dựng Giáo hội Việt Nam hôm nay theo thánh ý Thiên Chúa?

1. Nhớ và quên

Trong hoạt động ký ức của con người, nhớ và quên thường đi đôi với nhau và đôi khi nhập nhằng. Có những điều đáng nhớ và có những điều đáng quên. Có những điều phải nhớ để đừng quên và có những điều phải quên để đừng nhớ. Chẳng hạn, Đức Tin, Đức Cậy và Đức Ái là điều đáng nhớ và nghi nan, thất vọng, thù oán là điều đáng quên; lòng thương xót của Thiên Chúa là điều đáng nhớ và sự dữ là điều đáng quên; ơn tha thứ là điều đáng nhớ và thái độ kết án là điều đáng quên; biết ơn Các Thánh Tử Đạo Việt Nam là điều đáng nhớ và vô ơn với các ngài là điều đáng quên; kiến tạo hòa bình là điều đáng nhớ và gieo rắc hận thù là điều đáng quên; tình tương thân tương ái giữa người Việt Nam với nhau là điều đáng nhớ và lòng ghen tuông là điều đáng quên; lòng hy sinh quảng đại cho tha nhân là điều đáng nhớ và thói ích kỷ chỉ lo cho bản thân là điều đáng quên…

Trong Kinh Thánh, chúng ta cũng đọc được chuỗi dài những “nhớ và quên” trong ký ức Dân Chúa. Chẳng hạn, khi ý thức về quá khứ tội lụy, con người khấn xin Thiên Chúa quên đi lỗi lầm đã qua: “Xin ngoảnh mặt đừng nhìn bao tội lỗi và xoá bỏ hết mọi lỗi lầm” (Tv 51,11). Nhưng khi cần đến ân sủng cho bước đường hiện tại và tương lai, con người luôn tin tưởng Thiên Chúa sẽ nhớ đến tình yêu thương, lòng thương xót: “Chúa độ trì Ít-ra-en, tôi tớ của Người, như đã hứa cùng cha ông chúng ta, vì Người nhớ lại lòng thương xót dành cho tổ phụ Áp-ra-ham và cho con cháu đến muôn đời” (Lc 1,54).

Thánh Phaolô, trong khi khuyên dạy Dân Chúa cử hành Thánh Thể để tưởng nhớ Đức Kitô chết và phục sinh (x. 1 Cr 11,17-34), cũng thú nhận ý muốn quên đi quá khứ đời mình để hướng tới tương lai tốt đẹp: “Tôi chỉ chú ý đến một điều, là quên đi chặng đường đã qua, để lao mình về phía trước” (Pl 3,13).

Vì thế, để nhớ và để quên, cần phải có sự phân định. Tình cảm tự nhiên con người thường thích tận hưởng những thuận lợi và tránh né những khó khăn hay thách đố. Nên hoạt động ký ức của con người cũng có chọn lọc: nhớ những gì có lợi và quên những gì không có lợi. Một trong những điều dễ quên là bổn phận hay trách nhiệm, vì chúng luôn là những thách đố. Vì thế, khi tưởng nhớ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, chúng ta cần phải tu luyện “linh đạo nhớ và quên”, để biết nhớ và biết quên, để biết đừng quên những gì cần nhớ và đừng nhớ những gì cần quên.

Ký ức Kitô giáo đích thực về quá khứ sẽ dạy chúng ta nhớ đến di sản đức tin trong khi sống những thách đố hiện tại, và quên đi những gì có thể làm chúng ta xa rời nẻo đường Tin Mừng của Đức Giê-su Ki-tô. Tưởng nhớ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam dạy chúng ta nhớ đến nguồn cội và căn tính công giáo của mình giữa lòng dân tộc Việt Nam, và quên đi những lối sống không hợp với người Kitô hữu là những chứng nhân của Tình Yêu Thiên Chúa trước tha nhân. Khả năng phân định của việc nhớ và quên trong ký ức mỗi người Kitô hữu sẽ mở ra nhiều định hướng xây dựng đời sống Kitô giáo của chính mình và xây dựng Giáo hội theo thánh ý Thiên Chúa. Đó là trách nhiệm của mỗi người Kitô hữu Việt Nam hôm nay.

2. Tôn vinh các thánh tử đạo

Người công giáo Việt Nam khắp nơi rất sùng kính Các Thánh Tử Đạo Việt Nam. Chúng ta thường cử hành việc tôn vinh các ngài rất long trọng, như là biểu tượng sức sống đức tin của Giáo hội Việt Nam. Nhưng chúng ta hãnh diện về điều gì khi tôn vinh các ngài? Đâu là hồng ân qua những cực hình tàn bạo, đớn đau và ô nhục trong mắt người đời mà các ngài đã phải cam chịu? Hơn nữa, chúng ta tôn vinh sự “tử đạo” theo nghĩa nào giữa lòng thế giới hôm nay?

Như đã nói ở trên, vẻ đẹp tuyệt hảo của tử đạo trong Kitô giáo là tình yêu, là Đức Ái: yêu Chúa và yêu người. Các thánh tử đạo yêu Chúa “hết lòng, hết sức lực, hết linh hồn và hết trí khôn” và “trên hết mọi sự”, bởi vì các ngài Tin-Cậy-Mến Chúa là chủ tể sự sống và sự chết của các ngài. Và vì tin Chúa là nguồn sự sống, các ngài cũng yêu tha nhân, muốn chia sẻ với anh chị em mình về niềm tin ấy, đến nỗi có thể làm chứng bằng chính mạng sống mình. Các ngài yêu sự sống thật của mình và của tha nhân biết bao, bởi vì các ngài yêu Chúa biết bao!

Chính trong ý nghĩa đó chúng ta phải tu luyện “linh đạo tôn vinh các thánh tử đạo”. Chính trong ý nghĩa đó chúng ta mới có thể cảm nhận được Các Thánh Tử Đạo Việt Nam là hồng ân vô giá cho Giáo hội Việt Nam, mới lắng nghe cách thích đáng bài học của lịch sử tử đạo, mới cảm nhận được sức mạnh của Tình Yêu Thiên Chúa ấp ủ linh hồn và thân xác của các ngài trong cơn khốn quẫn: “Với Đấng ban sức mạnh cho tôi, tôi chịu được hết” (Pl 4,13), nói như thánh Phaolô. Trên hết tất cả, chính Tình Yêu Thiên Chúa được tỏ rạng. Chúng ta tôn vinh Các Thánh Tử Đạo Việt Nam là tôn vinh tình yêu bất diệt trong trái tim của các ngài, và như thế chính là tôn vinh Tình Yêu Thiên Chúa đối với Dân của Ngài, đối với Giáo hội tại Việt Nam, qua cuộc đời của Các Thánh Tử Đạo.

3. Sống vẻ đẹp của sự tử đạo

Vì vẻ đẹp tuyệt hảo của tử đạo Kitô giáo là Đức Ái, tình yêu tự hiến cho Thiên Chúa và tha nhân, nên sống vẻ đẹp của sự tử đạo chính là sống tình yêu tự hiến ấy.

Hành động tự hiến mạng sống là sự đối lập hoàn toàn với hành động sát nhân. Tự hiến là cứu sống tha nhân, sát nhân là giết chết tha nhân. Kẻ sát nhân, vì sự sống và lợi lộc ích kỷ của bản thân, đã tước đoạt mạng sống của tha nhân. Ngược lại, người tự hiến, vì sự sống và sự thiện hảo của tha nhân, đã hiến dâng chính mạng sống mình. Về mặt luân lý, không ai có quyền bắt người khác phải chịu chết. Mọi hành động sát nhân, cưỡng bức chết chóc dưới bất cứ hình thức nào, đều không hợp đạo lý làm người. Ngược lại, việc tự hiến mạng sống cho tha nhân lại là một hành động tuyệt hảo của đạo lý làm người và làm con Chúa.

Theo quy luật cuộc sống, bạo lực kêu đòi bạo lực, giết chóc kêu đòi giết chóc, và như thế vòng bạo lực và giết chóc sẽ bất tận. Hành động trả thù, lấy bạo lực đáp bạo lực và giết chóc đền giết chóc, biến con người, cả kẻ sát nhân lẫn người báo oán, thành ác nhân. Và như thế, đời sống nhân loại sẽ bị thống trị bởi sự ác.

Theo triết gia công giáo Martin Steffens[14], người đầu tiên trong lịch sử Kitô giáo đã bẻ gãy vòng bạo lực và giết chóc là chính Chúa Giê-su. Trong cuộc Thương Khó, sự dữ dồn dập tấn công thân thể Người. Tuy nhiên, mỗi roi đòn bạo lực tung ra mà Người phải hứng trọn, lại làm chứng cho tình yêu cứu độ mà Thiên Chúa muốn bày tỏ cho nhân loại. Bằng việc lấy tình yêu đáp trả cho bạo lực và thù hận, Chúa Giê-su đã tước đi phán quyết chung cuộc của sự ác, và trở thành người đầu tiên đáp trả lại sự ác mà không trở thành ác nhân. Lời chung cuộc giờ đây đã thuộc về Đức Kitô: đó là lời chiến thắng của tình yêu trên lòng thù hận, của sự thiện trên sự ác, của sự thật trên giả trá, của sự sống trên sự chết.

Trong xã hội tôn thờ quyền lợi cá nhân gần như tuyệt đối cũng như lối sống hưởng thụ bất tận, phải chăng sống vẻ đẹp của tình yêu tự hiến Kitô giáo xem ra lạc nhịp? Triết gia khẳng định rằng không. Vì thế giới chỉ tồn tại nhờ vào những hy sinh tế nhị, kín đáo và sâu thẳm mà nhân loại dành cho nhau. Sự tự hiến ấy là nền móng chung trên đó chúng ta đứng vững như đứng trên mặt đất vậy. Và vì đứng trên mặt đất, nên chúng ta ít nhìn mặt đất, nhưng mặt đất luôn tồn tại. Thí dụ, sự tự hiến của một người mẹ mang thai, sinh dưỡng và giáo dục để sự sống của những đứa con được tăng trưởng; sự tự hiến của những nhà khoa học suốt một đời trong phòng thí nghiệm để phát minh những điều hữu ích cho nhân loại; sự tự hiến của ý bác sĩ vì sự sống của bệnh nhân; sự tự hiến của thầy cô giáo vì tri thức của học trò… Tình yêu tự hiến của Các Thánh Tử Đạo Việt Nam theo mẫu gương Đức Kitô là nền móng chung của đời sống Giáo hội Việt Nam, là vùng trời tình yêu và an bình Kitô giáo, là di sản Đức Tin, Đức Cậy và Đức Ái mà tiền nhân để lại.

Nói đến di sản Kitô giáo, có lẽ Giáo hội Việt Nam còn kém xa các Giáo hội tại Âu châu. Âu châu có vô vàn các vị thánh, rất thánh, rất vĩ đại. Âu châu có vô số những thánh đường nguy nga tráng lệ. Âu châu có cả một di sản văn hóa Kitô giáo, cho dù ngày nay có nhiều người không muốn nhìn nhận. Nhưng các Giáo hội tại Âu châu ngày nay không có được sức sống tâm linh như ước nguyện. Có một sự “đứt đoạn” đời sống Kitô giáo tại Âu châu. Bởi vì đời sống đức tin là di sản tinh thần và văn hoá, chỉ có thể thông truyền qua giáo dục, không phải do di truyền.

Chúng ta hiểu tại sao một trong những bận tâm lớn nhất và được lặp lại thường xuyên của Đức Thánh Cha Bê-nê-đic-tô XVI là tầm quan trọng và tính khẩn thiết của việc giáo dục đức tin cho các thế hệ trẻ: “Khác với những điều xảy ra trong lãnh vực kỹ thuật hoặc kinh tế, nơi mà những tiến bộ ngày nay có thể cộng thêm vào cho những tiến bộ của quá khứ, một khả năng tích lũy như thế không thể có trong lĩnh vực giáo dục và tăng trưởng đạo đức của con người, bởi vì tự do của con người thì luôn mới mẻ, và vì thế, mỗi người và mỗi thế hệ lại phải tự mình đưa ra những quyết định. Cho dù là những giá trị cao quý nhất của quá khứ cũng không thể được truyền thụ như một gia tài để lại; thực tế, chúng phải được biến thành của chính chúng ta và được đổi mới qua một chọn lựa cá nhân thường rất nhọc nhằn.”[15]

Làm sao người công giáo Việt Nam hôm nay có thể biết ơn, sống và làm chứng cho Đức Kitô theo gương yêu thương của các tiền nhân, nếu chưa hiểu biết đầy đủ ý nghĩa và vẻ đẹp của tử đạo Kitô giáo? Làm sao người công giáo Việt Nam, đặc biệt là các thế hệ trẻ hôm nay và mai sau, có thể hiểu được ý nghĩa và vẻ đẹp của tử đạo Kitô giáo nếu không được giáo dục? Và làm sao giáo dục nếu chúng ta chưa rõ nội dung phải truyền thụ?

“Linh đạo sống vẻ đẹp của tử đạo” trong Kitô giáo phải soi sáng cho đời sống đức tin hiện tại của chúng ta với những thuận lợi và thách đố. Những thuận lợi và thách đố thì muôn mặt, nó hiện hữu từ trong lòng Giáo hội cũng như từ bên ngoài. Vấn đề là làm thế nào để đối diện với những thuận lợi và thách đố trong đời sống đức tin hôm nay. Bởi vì những thuận lợi thì không khó tận dụng, nhưng những thách đố thì không dễ tìm ra giải pháp. Và dĩ nhiên, việc giáo dục luôn là giải pháp cần thiết. Chúng ta thử đề nghị một số nội dung:

– Giáo dục văn hóa Tin-Cậy-Mến để biết rời xa thái độ vô tín, vô vọng, vô tâm;

– Giáo dục văn hóa sự sống để biết rời xa những hành vi gây ra chết chóc;

– Giáo dục văn hóa kính trọng phẩm giá mọi người để biết rời xa thái độ kỳ thị chủng tộc;

– Giáo dục văn hóa hy sinh cho tha nhân để biết rời xa lối sống ích kỷ cho bản thân;

– Giáo dục văn hóa hành thiện để biết rời xa lối sống gian tà;

– Giáo dục văn hóa đối thoại chân thành để biết rời xa mọi hình thức đối kháng cực đoan;

– Giáo dục văn hóa hòa bình để biết rời xa mọi hành xử bạo lực;

– Giáo dục văn hóa gặp gỡ thân tình để biết rời xa thái độ vứt bỏ nhẫn tâm;

– Giáo dục văn hóa tự do tôn giáo để biết rời xa mọi hình thức cưỡng bức mang tính ý thức hệ…

TẠM KẾT

Những suy tư trên đã giúp chúng ta hiểu ba nhân đức đối thần – Đức Tin, Đức Cậy và Đức Ái – như kim chỉ nam cho cuộc đời của các thánh tử đạo trong suốt dòng lịch sử Giáo hội, và mãi là kim chỉ nam cho đời sống Kitô hữu hôm nay. Và vì Đức Ái là nét đẹp tuyệt hảo của hành động tử đạo trong Kitô giáo, chúng ta cũng hiểu Đức Ái là vẻ đẹp tuyệt hảo của đời sống Kitô hữu giữa lòng thế giới hôm nay.

Một lần nữa, chúng ta lắng nghe lời ngỏ của Đức Thánh Cha Bê-nê-đic-tô XVI: “Tình yêu là ánh sáng, thực tế là ánh sáng duy nhất, không ngừng chiếu sáng thế giới đang trong bóng đêm, và ban tặng chúng ta lòng can đảm để sống và hành động. Tình yêu là điều có thể, và chúng ta đang cố gắng thực hành yêu thương, vì chúng ta vốn được dựng nên giống hình ảnh Chúa. Hãy sống yêu thương, và nhờ yêu thương, làm cho ánh sáng của Thiên Chúa tỏa rạng nơi trần gian”[16].

Khám phá lại vẻ đẹp của Các Thánh Tử Đạo Việt Nam giữa lòng truyền thống đức tin sống động của dân Chúa, chúng ta như nghe được lời gọi: “Hãy sống xứng đáng với các bậc cha ông mà chúng ta đang thừa hưởng công đức của các ngài, và hãy nghĩ đến các thế hệ con cháu mà chúng ta đang chuẩn bị tương lai cho chúng”.

Trích Bản tin Hiệp Thông / HĐGM VN, Số 107 (Tháng 7 & 8 năm 2018)

[1] HĐGMVN, Thư công bố Năm Thánh kỷ niệm 30 năm ngày tuyên phong hiển thánh của 117 vị Thánh Tử Đạo tại Việt Nam (1988 – 2018).

[2] X. ĐGH. Phan-xi-cô, Thông điệp Lumen fidei, số 7.

[3] ĐGH. Phan-xi-cô, Thông điệp Lumen fidei, số 56.

[4] ĐGH. Bê-nê-đic-tô XVI, Thông điệp Spe salvi, số 1.

[5] Ibid., số 39.

[6] Ibid., số 32.

[7] Ibid., số 32.

[8] Ibid., số 37.

[9] ĐGH. Bê-nê-đic-tô XVI, Angelus ngày 26 tháng 12 năm 2007.

[10] X. ĐGH. Bê-nê-đic-tô XVI, Audience ngày 13 tháng 8 năm 2008.

[11] ĐGH. Bê-nê-đic-tô XVI, Angelus ngày 26 tháng 12 năm 2007.

[12] ĐGH. Bê-nê-đic-tô XVI, Audience ngày 11 tháng 8 năm 2010.

[13] HĐGMVN, Thư gửi cộng đồng Dân Chúa công bố Năm Thánh 2010, số 1.

[14] X. https://fr.zenit.org/articles/sacrifice-darnaud-beltrame-reflexion-de-martin- steffens-sur-vatican-news/

[15] ĐGH Bê-nê-đic-tô XVI, Thư gởi cho giáo phận Rôma về bổn phận khẩn cấp phải giáo dục các thế hệ trẻ, ngày 21 tháng 1 năm 2008.

[16] ĐGH Biển Đức XVI, Thông điệp Deus caritas est, số 39.

 

 

Read More
11Tháng Mười Một
2021

Bà Caitlin Abrams, người chăm sóc các ngôi mộ ở nghĩa trang

11/11/2021
Anmai
GH Hoàn Vũ, Tin tức
0

Bà Caitlin Abrams, người chăm sóc các ngôi mộ ở nghĩa trang

 

Bà Caitlin Abrams thích lau chùi, chăm sóc cho các ngôi mộ ở nghĩa trang. Trên mạng xã hội, bà Caitlin Abrams, được biết đến với Manic Pixie Mom trên TikTok đã lan truyền nhanh chóng vì việc làm bác ái và những câu chuyện kể về người đã khuất.

Trong những tháng vừa qua, trên mạng xã hội, bà Caitlin Abrams, được biết đến với Manic Pixie Mom trên TikTok đã lan truyền nhanh chóng. Video của bà không phải là những bài hát, những câu chuyện kỳ dị hoặc những hoạt động nhằm thu hút người theo dõi, nhưng là một công việc đơn sơ, vẫn được mọi người quan tâm và chia sẻ cho người khác, đặc biệt những người có lòng yêu mến các linh hồn, những người quan tâm đến những ai đã ra đi trước.

Nội dung video của bà Abrams đơn giản là việc lau chùi, dọn dẹp các phần mộ cho người qua đời ở các nghĩa trang, cùng kết hợp lời kể về tiểu sử của họ.

Bà cho biết, bà bắt đầu chia sẻ sở thích dọn dẹp các ngôi mộ và kể tiểu sử của người đã khuất vào tháng 5/2021. Và từ đó bà Caitlin Abrams với cái tên Manic Pixie Mom trên TikTok đã lan truyền nhanh chóng trên mạng xã hội. Những chia sẻ của bà đã đạt được hơn 1,6 triệu người theo dõi.

Đoạn video được xem nhiều nhất trên TikTok là video với câu chuyện của Merit Aldrich. Trong video, bà Caitlin Abrams kể: “Hôm nay, tôi đang dọn dẹp phần mộ của Merit Aldrich, qua đời vào năm 1875 khi mới 9 tháng tuổi”.

Cứ như thế, vừa lau chùi phần mộ của gia đình Merit Aldrich, bà Abrams vừa nói về gia đình của người đã khuất cách đây hàng thế kỷ, với những cái tên của người chị là Lizzie và người anh trai là George và toàn gia đình, tất cả đều được chôn cất ở đây.

Bà cho biết, để có thông tin về những người đã chết cách đây hàng thế kỷ, bà đã cố gắng tìm thông tin của gia đình này từ các nguồn khác nhau.

Trong video, bà cũng giải thích cách làm thế nào để có thể lau chùi, dọn dẹp cho phần mộ được tốt nhất. Bà còn giải thích lý do tại sao bà lại làm một công việc đầy tình người này. Bà nói rằng, đây chỉ một sở thích có ý nghĩa đối với một người say mê lịch sử.

Bà Abrams nói về sở thích của mình với một giọng nói bình an, trầm lắng và thể hiện sự quan tâm đến từng phần mộ. Người hâm mộ của bà chắc chắn được thu hút bởi toàn bộ quá trình lau chùi dọn dẹp này, nhưng đặc biệt là phần cuối của đoạn video với những hình ảnh ngôi mộ bằng đá giờ đây đã sạch sẽ, trở nên mới, cùng với tên tuổi rõ ràng của người đã khuất. Mặc dù, bà Abrams khẳng định không có lý do tâm linh cụ thể nào cho sở thích của mình, nhưng có thể dễ dàng nhận thấy tính chất Công giáo trong công việc của bà.

Người Công giáo kính nhớ những người đã ra đi trước với chứng tá đời sống đức tin của họ. Chúng ta cầu nguyện cho ông bà, cha mẹ, những người thân thương trong suốt cả năm, nhưng đặc biệt trong tháng 11.

Chúng ta cũng có những bổn phận rõ ràng đối với tất cả những người đã chết được nêu trong Sách Giáo lý: cầu nguyện cho các linh hồn trong luyện ngục và dĩ nhiên, chôn cất họ với sự kính trọng.

Theo truyền thống Giáo hội Công giáo, qua huấn thị “Để sống lại với Chúa Kitô” năm 2016, Bộ Giáo Lý đức tin đã tái khẳng định lập trường của Giáo Hội cổ võ an táng người chết thay vì hỏa táng. Và trong trường hợp hỏa táng, phải giữ tro cốt người chết tại nghĩa trang hoặc tại nhà thờ và không được rải tro trong thiên nhiên.

Một điều đáng trân trọng khác nơi bà Abrams là bà lau chùi các ngôi mộ không phải của người thân trong gia đình bà. Giáo hội vẫn khuyên các tín hữu xin lễ và cầu nguyện cho các linh hồn, những người không được ai nhớ đến. Với việc làm của bà Abrams, bà nhắc nhở mọi người rằng, yêu mến những người đã khuất cũng được thể hiện qua việc chăm sóc những gì vẫn còn chạm và thấy được, đó là phần mộ. Thật vậy, đức tin Công giáo dạy qua Kinh Tin Kính rằng: “tôi tin xác loài người ngày sau sống lại”. Việc kính trọng và tưởng nhớ tại các phần mộ cũng diễn tả ý hướng này.

Xem bà Abrams nhẹ nhàng tẩy sạch bụi bẩn bám trên các tấm bia mộ 200 năm tuổi và nghe bà xướng lớn tiếng tên của những người đã khuất cũng là một gợi hứng, như thể bà đang nói với khán giả của mình rằng: “Có lẽ ‘chôn cất người chết’ không phải là một sự kiện một lần, nhưng vẫn còn với thời gian”.

Và cũng không có gì ngạc nhiên khi nhiều người hâm mộ của bà quyết định đi dạo trong các nghĩa trang vào những ngày của tháng 11 hoặc bất kỳ ngày nào trong năm, với dụng cụ vệ sinh và làm vườn. Vâng, đây chính là hiệu quả của việc làm bác ái theo tinh thần Kitô của bà Abrams.

Ảnh: Elodie Reed / VPR

Ngọc Yến

Read More
11Tháng Mười Một
2021

Thánh Gioan Phaolô II tin rằng Chân phước Duns Scotus có thể giúp sức trong chống lại chủ nghĩa vô thần

11/11/2021
Anmai
GH Hoàn Vũ, Tin tức
0

Thánh Gioan Phaolô II tin rằng Chân phước Duns Scotus có thể giúp sức trong chống lại chủ nghĩa vô thần

 

Thánh Gioan Phaolô II tin rằng Chân phước triết gia Duns Scotus sở hữu một trí tuệ phi thường có thể giúp chống lại chủ nghĩa vô thần hiện đại.

 

Trong phạm vi triết học thời trung cổ, nhiều người đã quen thuộc với tác phẩm của Chân phước Duns Scotus, một tu sĩ dòng Phanxicô, người được xem là một trong những triết gia có ảnh hưởng nhất trong lịch sử.

Trong suốt nhiều thế kỷ, Chân phước Duns Scotus không chính thức nằm trong danh sách các vị được tuyên thánh, nhưng lòng sùng kính đối với ngài lại rất phổ biến.

Lòng sùng kính bình dân này đã được Thánh Gioan Phaolô II xác nhận vào ngày 20 tháng 3 năm 1993, khi nâng Duns Scotus lên hàng “Chân phước”.

Thánh Gioan Phaolô II đã nhìn thấy nơi Chân phước Dun Scotus một trí tuệ tuyệt vời, nhưng quan trọng hơn là một đời sống thánh thiện.

Trong thời đại chúng ta, mặc dù giàu có về nguồn nhân lực, kỹ thuật và khoa học cách phong phú, nhưng trong đó nhiều người đã đánh mất cảm thức đức tin và sống xa rời Chúa Kitô và Tin Mừng của Người (x. Redemptoris missio, số 33), riêng Chân phước Duns Scotus không chỉ thể hiện chính mình bằng trí tuệ sắc sảo và khả năng phi thường trong việc thâm nhập vào mầu nhiệm Thiên Chúa, mà còn bằng sức thuyết phục từ một đời sống thánh thiện đã làm cho ngài trở thành một Bậc Thầy về tư tưởng và đời sống đối với Giáo Hội và toàn thể nhân loại.

Đặc biệt, Thánh Gioan Phaolô II cùng với Thánh Phaolô VI nghĩ rằng những lời dạy của Chân phước Dun Scotus có thể giúp sức chống lại chủ nghĩa vô thần hiện đại.

Từ đó, học thuyết của ngài, như vị tiền nhiệm đáng kính của tôi là Đức Phaolô VI đã khẳng định, “sẽ có thể rút ra những thứ vũ khí sáng ngời để chiến đấu và xua đuổi đám mây đen của chủ nghĩa vô thần đang che khuất thời đại của chúng ta” (Epist. Apost. Alma Parens: AAS 58 [1966] 612), để phát triển Giáo Hội cách mạnh mẽ, hỗ trợ Giáo Hội trong sứ mệnh cấp bách của mình là tân Phúc Âm hóa cho các mọi dân tộc trên trái đất. Đặc biệt, đối với các Thần học gia, các Linh mục, các vị Mục tử chăn dắt linh hồn, các Tu sĩ, và đặc biệt đối với các tu sĩ dòng Phanxicô, Chân phước Duns Scotus là một tấm gương về lòng trung thành đối với chân lý mặc khải, về hành động sinh hoa kết quả của một linh mục, về đối thoại nghiêm túc trong nghiên cứu… Nguyện xin tinh thần và kỷ niệm về ngài soi sáng cho những đau khổ và hy vọng của xã hội chúng ta bằng chính ánh sáng của Chúa Kitô.

Khi chủ nghĩa vô thần liên tục trổi dậy trong xã hội hiện đại, có thể đây là lúc thích hợp để nhìn đến những lời dạy của Chân phước Duns Scotus và cầu xin ngài nguyện giúp cầu thay để xua đi “đám mây đen” đang che khuất tâm trí của mọi người ở khắp mọi nơi.

Theo Philip Kosloski

Chuyển ngữ: Phil. M. Nguyễn Hoàng Nguyên

Read More

Điều hướng bài viết

  • Previous page
  • Page 1
  • …
  • Page 326
  • Page 327
  • Page 328
  • …
  • Page 626
  • Next page
Bài viết mới nhất
BẮT ĐẦU CUỘC GẶP GỠ GIỚI TRẺ TAIZÉ CHÂU Á TẠI HỒNG KÔNG
04/05/2026
ĐỨC THÁNH CHA TIẾP BAN QUẢN TRỊ VÀ THÀNH VIÊN CỦA "QUỸ GIÁO HOÀNG"
04/05/2026
Chương trình MỤC VỤ HUẤN GIÁO  
04/05/2026
Video nổi bật
https://www.youtube.com/watch?v=Td144YDsaGo
Sự kiện sắp tới

There are no upcoming events at this time.

Ủy ban Giáo dục Công giáo – Trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.

Liên hệ

72/12 Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, TP.HCM Get Directions

Phone: +84 931 436 131

Email: [email protected]

Ban chuyên môn
  • Ban Tài liệu và Truyền thông
  • Ban Giáo chức
  • Ban Kỹ năng và Giá trị sống
  • Ban Khuyến học
  • Ban Học viện Thần học
  • Ban Hội Học sinh – Sinh viên
Chuyên mục
  • Tin tức
  • Thư chung
  • Giáo dục
  • Phụng vụ
  • Thư viện
Bản quyền © 2020 thuộc về Ủy Ban Giáo Dục HĐGM VN. Design by JT.