2023
Đức Thánh Cha tham dự hội nghị của “Sáng kiến toàn cầu Clinton 2023”
Mở đầu bài phát biểu tại cuộc gặp gỡ “Tiếp tục tiến bước” của Sáng kiến Toàn cầu Clinton qua cuộc gọi video trực tiếp, Đức Thánh Cha kêu gọi một nền văn hóa gặp gỡ và đối thoại, đồng thời khẳng định tầm quan trọng của trách nhiệm chung trong việc giải quyết những thách đố toàn cầu ngày nay.
Đức Thánh Cha nhấn mạnh sự cần thiết không để ai bị bỏ lại phía sau, đặc biệt những trẻ em dễ bị tổn thương. Ngài đặt câu hỏi liệu nhân loại có thể cùng nhau vượt qua những thách thức này một cách mạnh mẽ hơn hay không, và than phiền về “sự thờ ơ mang tính toàn cầu”.
Đức Thánh Cha cám ơn cựu Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton vì đã đề cập đến các vấn đề cấp bách như biến đổi khí hậu, khủng hoảng nhân đạo và mối đe dọa chiến tranh, đồng thời khích lệ mọi người hoán cải cá nhân và tìm hiểu để biết rằng tất cả chúng ta đều có mối liên hệ với nhau, vì thế cần phải cùng nhau vượt qua thử thách.
Với suy nghĩ này, Đức Thánh Cha kêu gọi chấm dứt chiến tranh, ủng hộ con đường ngoại giao và đối thoại, cùng nhau làm việc để ngăn chặn thảm họa sinh thái và giải quyết các trường hợp khẩn cấp về di cư.
Tiếp đến Đức Thánh Cha nhấn mạnh hoạt động của Bệnh viện Nhi đồng Bambino Gesù của Toà Thánh và ca ngợi cam kết của trung tâm y tế này trong việc kết hợp nghiên cứu khoa học với lòng hiếu khách để điều trị cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn. Ngài nhận xét bệnh viện không thể giải quyết các vấn đề của tất cả trẻ em trên thế giới, nhưng luôn tìm cách cho thấy rằng mặc dù có nhiều khó khăn, nhưng có thể tập hợp các nghiên cứu khoa học quan trọng hướng tới việc chăm sóc trẻ em và đón tiếp những ai cần giúp đỡ.
2023
“Giáo hội có thể ngăn chặn chiến tranh không?”
Công lý, tình liên đới, việc chăm sóc trái đất, sự bao gồm, hay tình huynh đệ nói chung, là thông điệp hòa bình của Giáo hội, được thực hiện với sự kiên quyết mạnh mẽ bởi ĐTC Phanxicô và những vị tiền nhiệm của ngài. Một sự dấn thân đặc biệt đã khiến nhà báo Piero Damosso đặt câu hỏi: Liệu Giáo hội có thể ngăn chặn chiến tranh không?
Nội dung “cuốn sách đối thoại” này gồm hơn 50 cuộc phỏng vấn, là một cuộc điều tra của nhà báo Piero Damosso, được thực hiện sau sáu mươi năm thông điệp Pacem in terris – Hòa bình dưới thế.
Đặc biệt tập trung vào cuộc chiến đang diễn ra ở Ucraina, tác giả đặt câu hỏi cho hơn 50 người đối thoại và đi đến nhận thức rằng “điều đó là có thể”, được viện dẫn bởi rất nhiều lý do, trong đó đi từ chính cuộc đối thoại đến thẩm quyền của các bên tham gia, đặc biệt là Đức Thánh Cha Phanxicô, người có vai trò được nhiều nhà lãnh đạo tôn giáo và chính trị công nhận.
Trong một cuộc phỏng vấn với Radio Vatican – Vatican News, nhà báo Damosso khẳng định: “Ngày nay, Giáo hội là ảnh hưởng duy nhất trên thế giới thực sự có khả năng ngăn chặn cuộc xung đột ở Ucraina. Đối mặt với sự bế tắc của cuộc chiến này, Giáo hội có thể kiến tạo các mối quan hệ ngoại giao, có thể biến nó thành một điểm quy chiếu thực sự, cũng bởi vì đây là cuộc chiến giữa các Kitô hữu”.
Đối thoại và đại kết
Tác giả nhấn mạnh rằng con đường đối thoại giữa các tôn giáo và phong trào đại kết đã được Đức Gioan XXIII đón nhận trước, được bắt đầu bởi Công đồng Vatican II, được Đức Phaolô VI đón nhận (hãy nghĩ đến cuộc gặp gỡ với Đức Thượng phụ Athenagoras) và được mở rộng bởi Đức Gioan Phaolô II và từ tinh thần của Assisi, được Đức Biển Đức XVI tiếp tục và được Đức Phanxicô phát triển hơn nữa. Đại kết khi đó trở thành “ngoại giao kiến tạo hòa bình” và đối thoại là mấu chốt của nó.
Ký giả Damosso nói: “Đối thoại là tiền đề cơ bản và bắt đầu từ sự công nhận lẫn nhau. Chúng ta phải có khả năng hoán cải, nếu chúng ta muốn cứu nhân loại, trước một câu hỏi rất đơn giản: người kia có phải là một người anh em hay không? Đây là sự cấp bách mà Đức Phanxicô thúc giục chúng ta với thông điệp Fratelli tutti”, và ông cảnh báo trước thực tế rằng “chúng ta đang quên đi nỗi kinh hoàng của chiến tranh”.
Cầu nguyện cũng đóng một vai trò trung tâm. Nhà báo Damosso nói: “Tôi nhắc lại, đây là cuộc chiến giữa các Kitô hữu. Đối với tất cả các Kitô hữu, việc cầu nguyện là rất quan trọng, nó thay đổi cuộc sống. Chúng ta có một truyền thống yêu kính Đức Mẹ cách đặc biệt, cả ở Nga và Ucraina. Nếu chúng ta tin tưởng hướng về Mẹ Maria, Nữ vương Hòa bình, tôi tin rằng chúng ta sẽ tìm kiếm những con đường hòa bình với quyết tâm cao hơn.
Tính hiện thực của Thông điệp Pacem in terris
Chương đầu tiên của cuốn sách của nhà báo Damosso nói về thông điệp Pacem in terris – Hòa bình dưới thế -, được Đức Gioan XXIII ban hành cách đây 60 năm. Nó được định nghĩa là “Sao Bắc Đẩu” vì tính chất trỗi vượt của các chủ đề được đề cập, trong một văn bản được viết không chỉ cho các tín hữu mà còn cho tất cả những người có thiện chí. Một khái niệm, trong số nhiều khái niệm được nêu bật, mang tính thời sự cao, đó là giải trừ quân bị toàn diện. “Thông điệp kỳ diệu này làm cho chúng ta hiểu rằng chúng ta không thể ở trong thế giới mà không có những giới hạn, và quan điểm giải trừ quân bị toàn diện này là cụ thể, đã dẫn đến sự tiến bộ trong nhiều thập kỷ. Tuy nhiên, ngày nay – tác giả thừa nhận – có vẻ như chúng ta đang đầu hàng khi đối mặt với thực tế khủng khiếp của chiến tranh. ĐTC Phanxicô đang chỉ cho chúng ta thấy Thông điệp Pacem in terris và cách đây 8 năm, khi phát biểu tại Đại hội đồng Liên Hiệp quốc vào năm 2015, ngài đã cảnh báo nhân loại về việc không thể tôn trọng những giới hạn nhất định. Ngài đã phát biểu trong dịp đó về những giới hạn của quyền lực như một ý tưởng hàm chứa khái niệm về quyền”.
Đề án hòa bình và tinh thần của Helsinki
Sau khi nhấn mạnh tầm quan trọng vai trò của châu Âu đối với một tương lai hòa bình ở mức độ toàn cầu, bằng cách phân tích chủ nghĩa dân tộc hiếu chiến của Putin và công việc cần thiết để đạt được một nền hòa bình công bằng và lâu dài, chương thứ tư nói về việc quản trị thế giới, bắt đầu từ tinh thần Helsinki. Tài liệu tham khảo là các thỏa thuận Helsinki năm 1975, giữa cuộc Chiến tranh Lạnh, sau hai năm hoạt động nỗ lực ngoại giao, Vatican được nhìn thấy là một trong những nhân vật chính và mở ra cánh cửa cho kỷ nguyên tan băng trên khắp lục địa châu Âu giữa Tây và Đông. Từ đó Tổ chức An ninh và Hòa bình ở Châu Âu (OSCE) ra đời. Ngày nay OSCE có 57 quốc gia thành viên và liên quan đến hơn một tỷ công dân.
Nhà báo Damosso kết luận: “Ngày nay, châu Âu có thể nói cùng một tiếng nói và hàng trăm ngàn người trẻ châu Âu tại Đại hội Giới trẻ Thế giới ở Lisbon cho chúng ta thấy một trong những gương mặt đẹp nhất của lục địa, của những người làm việc vì một tương lai hòa bình”. Trong cuốn sách, tác giả nói rằng các kế hoạch hòa bình “là một vấn đề cấp bách”.
Ba người phụ nữ đối thoại
Cuốn sách cũng trình bày về ba đóng góp của những người nữ: Paola Severino, cựu bộ trưởng Cộng hòa Ý; Edith Bruck, nhà văn, người sống sót trong các trại tập trung của Đức Quốc xã và Dacia Maraini, nhà văn. Piero Damosso đã thực hiện ba cuộc phỏng vấn sâu rộng, đặt nhiều câu hỏi khác nhau, bao gồm cả câu hỏi đặt tên cho cuốn sách. “Ba người phụ nữ trong cuộc đối thoại” là tiêu đề của chương cuối.
Bà Severino nói: “Tôi nghĩ rằng Giáo hội của Giáo hoàng Phanxicô có thể làm rất nhiều để ngăn chặn chiến tranh” và nhấn mạnh cách “Giáo hoàng thể hiện lòng dũng cảm phi thường” và “chúng ta phải lấy cảm hứng từ ý chí mạnh mẽ thúc đẩy hòa bình của ngài”. Đối với bà Bruck, “Đức Thánh Cha Phanxicô đang làm những gì tốt nhất có thể, ngài đang cử người đến để tạo hòa bình”, nhưng “chúng ta thấy rằng một Giáo hoàng không đủ để tạo hòa bình”. Cuối cùng, đối với bà Maraini, “Giáo hội của Đức Thánh Cha Phanxicô đang cố gắng, nhưng phải đối mặt với sức nặng của một số quốc gia” nên sự thành công của nỗ lực này “sẽ rất khó khăn”.
Hòa bình và các thỏa thuận có thể
Trong số rất nhiều nhân vật được phỏng vấn còn có nhà kinh tế học Stefano Zamagni, người đề xuất một thỏa thuận 7 điểm có thể có giữa Nga và Ucraina, hy vọng có một sự huy động của xã hội để thành lập “Liên minh vì hòa bình”, và nhà tâm lý học Franco Vaccari, chủ tịch của tổ chức quốc tế Rondine-Cittadella della pace, người có phương pháp làm việc dựa trên xác tín rằng để xây dựng các mối quan hệ, người ta không thể bỏ qua những căng thảng, là điều không bao giờ đồng nghĩa với chiến tranh. Ông Vaccari nói: “Những căng thẳng thể hiện sự khác biệt, từ đó nảy sinh sự gặp gỡ để lắng nghe và hiểu nhau, giống như các sinh viên làm ở Rondine”, một ngôi làng ở tỉnh Arezzo, nơi ngày nay có cả người trẻ Ucraina và Nga, Israel và Palestin sống cùng nhau. Đại sứ Pasquale Ferrara cũng đang đề xuất một thỏa thuận hòa bình, kêu gọi phương Tây, châu Âu xây dựng “một hệ thống cùng tồn tại mới giữa các quốc gia”. Ông Andrea Riccardi, người sáng lập Cộng đồng Sant’Egidio, nhận định: “Từ ngữ ‘hòa bình’ đã bị xóa khỏi từ vựng nhưng không bị xoá khỏi mong đợi của con người”. Ông nói thêm: “Hòa bình là mục tiêu của mọi chính sách và mọi xung đột, nhưng ngày nay chúng ta có nguy cơ đánh mất chân trời này”.
2023
Trước ngưỡng cửa chuyến viếng thăm của Đức Thánh Cha tại Marseille
Bế mạc cuộc gặp gỡ Địa Trung Hải
Đức Thánh Cha đến thành phố Marseille cổ nhất của Pháp có từ 600 năm trước công nguyên, và là thành phố đông dân nhất tại nước này sau thủ đô Paris, nhưng lý do chính thức của chuyến đi không phải là để viếng thăm nước Pháp, như chính ngài đã tuyên bố, nhưng là để bế mạc các cuộc Gặp gỡ Địa Trung Hải.
Các cuộc Gặp gỡ này do sáng kiến của Hội Đồng Giám Mục Ý đề ra và lần trước đây có sự hiện diện của Đức Thánh Cha trong buổi bế mạc là cuộc gặp gỡ tại thành phố cảng Bari nam Ý, hồi năm 2020. Cuộc gặp gỡ năm ngoái, 2022, tại thành phố Firenze, trung Ý, dự kiến có sự hiện diện của ngài, nhưng vào phút chót ngài không thực hiện được.
Quan tâm của Đức Thánh Cha
Tuy nhiên, mối quan tâm của Đức Thánh Cha đối với miền Địa Trung Hải đã có từ lâu, như Đức Hồng Y Jean-Marc Aveline, Tổng Giám Mục Marseille, đã tuyên bố với đài Vatican hôm 14/9/2023 rằng:
“Khi đến Marseille, Đức Giáo Hoàng Phanxicô tiếp tục cuộc lữ hành Địa Trung Hải. Chúng tôi cử hành 10 năm cuộc tông du đầu tiên của ngài tại đảo Lampedusa, cực nam nước Ý, hồi tháng 7/2013, chỉ vài tháng sau khi được bầu làm Giáo Hoàng. Từ sau đó, ngài cũng đã tới Tirana, bên Albani, Sarajevo ở Bosni, đảo Lesbos bên Hy Lạp, Cairo Ai Cập, Giêrusalem, đảo Síp, Rabat bên Marốc, Napoli, Malta, v.v. Trong tư cách là Mục tử Giáo Hội hoàn vũ, cũng như là Giám Mục Roma, qua các cuộc viếng thăm đó, Đức Giáo Hoàng muốn biểu lộ quan tâm đặc biệt đối với các dân tộc Địa Trung Hải. Vì thế, ngài đến Marseille không phải để thu hút cái nhìn về bản thân ngài, nhưng đúng hơn để cùng với ngài, chúng ta nhìn về Địa Trung Hải, những thách đố vùng này đang gặp phải, những tài nguyên của nó và sứ mạng của các Kitô hữu thuộc miền này”.
Cuộc gặp gỡ tại Marseille
Tham dự các cuộc gặp gỡ tại Marseille sẽ có 120 bạn trẻ thuộc mọi hệ phái Kitô và tôn giáo, cùng với khoảng 70 Giám mục đến từ 30 nước ven Địa Trung Hải. Đây cũng là một lễ hội văn hóa Địa Trung Hải được mở cho tất cả mọi người và là “một ngôi làng” của các cộng đoàn ven biển này, các hiệp hội liên đới hoặc văn hóa, các phong trào dấn thân trong lãnh vực sinh thái và đối thoại.
Các cuộc gặp gỡ sẽ bắt đầu từ ngày 17/9 và kéo dài tới Chúa Nhật 24/9. Các sinh hoạt này ví như một bức tranh khảm các dân tộc, văn hóa, tôn giáo cấu thành Địa Trung Hải, kiến tạo và chia sẻ cùng một niềm hy vọng.
Nhìn lại cuộc viếng thăm của Đức Thánh Cha tại Bari
Để hiểu rõ quan tâm của Đức Thánh Cha khi đến bế mạc các cuộc gỡ, cũng nên nhìn lại lần ngài đến thành phố cảng Bari sáng Chúa Nhật 23/2/2020 để kết thúc cuộc gặp gỡ Địa Trung Hải do Hội Đồng Giám mục Ý tổ chức với chủ đề “Địa Trung Hải, biên cương hòa bình”. Dịp đó có 58 Giám mục từ 20 nước tham dự. Các vị đã suy tư và trao đổi về ơn gọi và vận mệnh của Địa Trung Hải, về việc thông truyền đức tin và thăng tiến hòa bình.
Hoạt động đầu tiên của Đức Thánh Cha khi đến Bari là gặp gỡ các Giám mục Địa Trung Hải tại Vương Cung thánh đường thánh Nicola lúc 8 giờ sáng. Sau lời chào mừng của Đức Hồng Y Gualtiero Bassetti, Chủ tịch Hội Đồng Giám mục Ý, đã có bài tham luận của Đức Hồng Y Vinko Puljic, Tổng Giám mục Sarajevo, Chủ tịch Hội Đồng Giám mục Bosni Erzegovine, và Đức Tổng Giám mục Pierbattista Pizzaballa, Giám quản Tông Tòa-Tòa Thượng Phụ Công Giáo Latinh Giêrusalem.
Diễn từ của Đức Thánh Cha
Lên tiếng trong dịp này, sau khi nhắc lại tầm quan trọng của miền Địa Trung Hải ngày nay về nhiều phương diện, Đức Thánh Cha nhận xét rằng: “Cũng như xưa kia, Chúa Giêsu đã hoạt động trong một bối cảnh đa tạp về văn hóa và tín ngưỡng, ngày nay chúng ta cũng ở trong một bối cảnh đa diện và nhiều hình thái, bị xâu xé vì những chia rẽ và chênh lệch, làm gia tăng sự bất ổn. Chính trong bối cảnh đó, chúng ta được kêu gọi làm chứng về hiệp nhất và hòa bình. Chúng ta thi hành sứ mạng này, đi từ niềm tin và với tư cách là thành phần Giáo Hội. Chúng ta tự hỏi, như những môn đệ của Chúa, chúng ta có thể đóng góp gì cho tất cả mọi người nam nữ vùng Địa Trung Hải”.
Đức Thánh Cha nhắc đến những gia sản phong phú mà các cộng đồng Kitô tại miền này sở hữu, về phương diện tín ngưỡng, cũng như gia sản nghệ thuật, văn hóa, đồng thời ngài nhắc đến bối cảnh của miền Địa Trung Hải ngày nay đang bị vây bủa vì bao nhiêu cái lò bất an và chiến tranh, ở Trung Đông cũng như tại các nước Bắc Phi, giữa các nhóm chủng tộc và văn hóa khác nhau, không kể cuộc xung đột chưa được giải quyết giữa người Israel và Palestine.
Lên án chiến tranh
Trong bối cảnh này, Đức Thánh Cha đặc biệt lên án chiến tranh đang hút mất bao nhiêu tài nguyên lẽ ra phải được sử dụng để nâng đỡ gia đình, đáp ứng các nhu cầu y tế và giáo dục. Ngài nói: “Thật là một sự điên rồ, vì chiến tranh tàn phá nhà cửa, cầu cống, công xưởng, nhà thương, giết hại bao nhiêu người, tiêu diệt các nguồn tài nguyên, thay vì kiến tạo những tương quan nhân bản và kinh tế. Nhưng chúng ta không thể cam chịu sự điên rồ ấy. Không có con đường nào khác ngoài việc xây dựng hòa bình…”
Điều kiện tiên quyết: công lý
“Việc xây dựng hòa bình mà Giáo Hội và mọi tổ chức dân sự đều luôn phải cảm thấy như một ưu tiên có một điều kiện tiên quyết không thể thiếu được, đó là công lý. Công lý bị chà đạp tại nơi mà những nhu cầu của con người bị cố tình không biết đến, và khi những lợi lộc kinh tế phe phái trổi vượt trên các quyền lợi của cá nhân và cộng đoàn. Ngoài ra, công lý bị cản trở vì thứ văn hóa gạt bỏ, coi con người như đồ vật, tạo nên và gia tăng sự chênh lệch…”
Quan tâm đến người nghèo và yếu thế
Đức Thánh Cha cũng nêu câu hỏi: “Một xã hội ngày càng đạt được những thành quả mới về kỹ thuật có ích gì nếu người ta ngày càng thiếu liên đới đối với những người túng thiếu? Qua việc loan báo Tin Mừng, chúng ta thông truyền tiêu chuẩn hành động mới, theo đó không có những người rốt cùng và chúng ta cố gắng để Giáo Hội là dấu chỉ mối quan tâm ưu tiên dành cho những người bé nhỏ, nghèo khó, vì “những chi thể dường như yếu nhất, là cần thiết nhất” (1Cr 12,22), và “nếu một chi thể đau, thì toàn thể các chi thể cùng chịu đau” (1Cr 12,26).
Người di dân và tị nạn
Đức Thánh Cha đặc biệt mời gọi quan tâm đến những người di dân và tị nạn ở vùng Địa Trung Hải, trốn chạy chiến tranh hoặc bỏ quê hương để tìm kiếm một cuộc sống xứng đáng với con người… “Số người này gia tăng vì sự gia tăng các cuộc xung đột và những điều kiện khí hậu, môi trường bi thảm hơn tại nhiều vùng rộng lớn hơn”… Ngài cảnh giác chống lại “thái độ dửng dưng, và thậm chí phủ nhận đối với những người di dân và tị nạn, thái độ này đã bị lên án trong nhiều dụ ngôn của Tin Mừng, thái độ của những người khép kín trong sự giàu sang và tự mãn của mình, không nhận thấy những người đang kêu cầu được giúp đỡ trong tình trạng túng thiếu của họ”.
Chống bách hại tôn giáo
Sau cùng, Đức Thánh Cha mời gọi các vị lãnh đạo tôn giáo lên tiếng thỉnh cầu các chính phủ bảo vệ các nhóm dân thiểu số và bênh vực tự do tôn giáo. Ngài nói: “Sự bách hại mà nhiều cộng đoàn Kitô và những người khác phải chịu là một vết thương xâu xé tâm hồn chúng ta và không thể để cho chúng ta dửng dưng”.
Sau cuộc gặp gỡ đó, Đức Thánh Cha đã cử hành Thánh lễ cho 40 ngàn tín hữu.
Viếng thăm tại Marseille
Chưa biết Đức Thánh Cha sẽ đề cập đến những vấn đề gì trong diễn văn của ngài khi kết thúc cuộc gặp gỡ Địa Trung Hải sắp tới tại Marseille, nhưng hồi cuối tháng 7 năm nay, Phòng báo chí Tòa Thánh đã công bố một số chi tiết của ngài trong cuộc viếng thăm, được kéo dài hơn so với dự án ban đầu.
Đức Thánh Cha sẽ rời Roma lúc quá 2 giờ rưỡi chiều thứ Sáu 22/9 và đến Marseille 1 giờ 45 phút sau đó. Ngài sẽ được Tổng thống Pháp đón tiếp và 1 giờ sau đó, ngài sẽ chủ sự buổi cầu nguyện kính Đức Mẹ với hàng giáo sĩ địa phương, tại Vương cung Thánh đường “Đức Mẹ Canh Giữ”.
Lúc 6 giờ chiều, Đức Thánh Cha gặp gỡ các vị lãnh đạo tôn giáo tại Đài kỷ niệm các thủy thủ và di dân mất tích trong biển cả.
Sáng thứ Bảy 23/9, lúc gần 9 giờ, tại tòa Tổng Giám mục Marseille, ngài sẽ gặp riêng một vài người túng thiếu, trước khi tham dự khóa họp kết thúc “Các cuộc gặp gỡ Địa Trung Hải” tại dinh “Hải Đăng” vào lúc 10 giờ.
Sau đó lúc 11 giờ rưỡi, Đức Thánh Cha sẽ gặp Tổng thống Pháp Emmanuel Macron cũng tại dinh thự này.
Lúc 4 giờ 15 phút chiều, Đức Thánh Cha sẽ cử hành Thánh lễ cho các tín hữu tại Sân Bóng đá Vélodrome. Sau Thánh lễ, ngài sẽ giã từ Marseille lúc 7 giờ 15 phút chiều để bay trở về Roma, dự kiến sẽ đến nơi lúc gần 9 giờ tối.
Thánh lễ
Tuy cuộc gặp gỡ Địa Trung Hải là lý do chính của chuyến viếng thăm, nhưng điều thu hút quan tâm nhiều nhất của các tín hữu là Thánh lễ ngài sẽ cử hành. Thực vậy, chỉ trong vài ngày, khi tòa Tổng Giám mục Marseille bắt đầu cho đăng ký dự lễ, hàng chục ngàn người đã xin vé tham dự Thánh lễ với Đức Thánh Cha tại sân Vận động có 67 ngàn chỗ.
Sự phấn khởi đối với Thánh lễ do Đức Thánh Cha chủ sự cũng đề ra một thách thức đối với Tổng giáo phận Marseille vì giáo phận này cũng muốn dành một số chỗ cho các giáo phận lân cận. Một hệ thống đăng ký đã được thiết lập tại các giáo xứ. Tuy nhiên, có nhiều người tỏ ra thất vọng vì họ bị xếp vào danh sách những người chờ đợi. Đối với những người không được vé dự lễ tại Sân Velodrome, họ có thể tham dự qua màn hình khổng lồ đặt tại các khu vực khác trong thành phố Marseille.
2023
Phát hiện thánh tích bên trong nhà thờ cổ Iraq
Phát hiện thánh tích bên trong nhà thờ cổ Iraq
Ðội ngũ trùng tu nhà thờ Thánh Tôma ở Mosul (Iraq) bất ngờ phát hiện nhiều thánh tích cổ và những mảnh giấy da từng thuộc về một số vị thánh Công giáo.
Cũng như TP Mosul, nhà thờ Thánh Tôma trải qua chiến tranh và sự hủy hoại xuyên suốt lịch sử tồn tại. Lần gần nhất, thành phố miền bắc Iraq và ngôi thánh đường đã hứng chịu sự tàn phá là trong giai đoạn tổ chức Nhà nước Hồi giáo tự xưng (IS) chiếm đóng nơi này từ tháng 6.2014 đến tháng 7.2017.
Ngược dòng lịch sử
Có niên đại từ thế kỷ thứ 7, nhà thờ Thánh Tôma được xây dựng để vinh danh thánh Tôma, một trong 12 tông đồ của Chúa Giêsu. Tương truyền, nhà thờ được xây dựng bên trên vị trí ngôi nhà mà thánh nhân đã cư ngụ trong thời gian ở Mosul. Nhà thờ ban đầu đã bị hư hại trong thời gian Hoàng đế Ba Tư Shahanshah Nader Shah chiếm đóng Mosul khi chiến tranh Ottoman – Ba Tư nổ ra từ năm 1743 – 1746. Năm 1744, nhà thờ với cấu trúc như hiện tại đã được chính quyền thời đó của thành phố Mosul xây dựng nhằm tri ân những Kitô hữu đã giúp bảo vệ thành phố này. Nhà thờ một lần nữa được trùng tu vào năm 1848.
Trong quá trình trùng tu năm 1964, các chuyên gia đã tìm thấy một xương ngón tay được cho là thuộc về thánh Tôma. Ngày 23.12.2009, một quả bom rơi xuống phạm vi nhà thờ, khiến 2 người thiệt mạng và làm 5 người khác bị thương. Nhà thờ vẫn tiếp tục hoạt động cho đến năm 2014, thời điểm Mosul thất thủ và rơi vào tay IS. Thánh tích của thánh Tôma được đưa khỏi nơi này và chuyển về tu viện Thánh Mátthêu ở phía bắc Mosul. Còn nhà thờ cổ ở Mosul bị các tay súng IS biến thành nhà tù cho đến khi thành phố một lần nữa được giải phóng năm 2017.
Phát hiện mới trong lúc trùng tu
Theo hãng tin PIME AsiaNews, đội ngũ tham gia quá trình trùng tu đã tìm được 6 cái rương bằng đá, bên trên khắc những ký tự bằng ngôn ngữ Aram và một số bản thảo bằng tiếng Syriac và Aram cũng được tìm thấy. Trong đó, tiếng Aram còn được cho là ngôn ngữ mẹ đẻ của Chúa Giêsu.
Một cái rương có dòng chữ liên quan thánh Theodore, một người lính La Mã sinh ra ở tỉnh Corum (Thổ Nhĩ Kỳ) vào thế kỷ thứ ba và bị hành quyết vì cải đạo. Những cái rương khác có sự liên hệ với thánh tông đồ Simon “Người nhiệt thành”; thánh Gabriel vùng Beth Qustan – Giám mục Tur Abdin, miền đông nam Thổ Nhĩ Kỳ từ năm 593 đến 668; thánh tích được cho của thánh tông đồ Gioan; thánh tích của thánh Simêon “Người công chính” trong thế kỷ thứ nhất, là người đã đón mừng Chúa Hài Đồng khi Chúa Giêsu được Đức Mẹ và thánh Giuse đưa lên đền thờ Giêrusalem.
Những mảnh giấy da viết bằng tiếng Syriac, Armenia và Ả Rập, được bọc lại và bảo vệ bên trong những chai thủy tinh, cũng được tìm thấy bên trong tàn tích của nhà thờ.
Vẫn chưa rõ vị trí khai quật được các thánh tích và những mảnh giấy da, cũng như người đã giấu chúng. Cũng có khả năng trước khi rời đi vào thời điểm các tay súng IS ập đến, các tu sĩ coi sóc nhà thờ đã tìm cách giấu đi những thánh tích để tránh rơi vào tay bọn khủng bố. Trong giai đoạn chiếm đóng, các tay súng IS đã phá hủy vô số di sản văn hóa quý giá và các địa điểm khảo cổ học lâu đời của Iraq. Và Nhà thờ thánh Tôma đã bị phá hoại nghiêm trọng trong cuộc chiến Mosul giai đoạn 2016-2017.
Được khởi động vào năm 2021, dự án trùng tu kéo dài 1 năm và có ngân sách hoạt động 328.000 USD. Tổ chức thực hiện là Liên minh quốc tế bảo vệ di sản trong các khu vực xung đột (ALIPH – trụ sở Geneva, Thụy Sĩ) phối hợp với Cơ quan Cổ vật và Di sản Nhà nước Iraq (SBAH).
Trong một báo cáo, Tổ chức ICC (chuyên ghi nhận về thưc trạng của Kitô giáo trên thế giới, trụ sở Washington D.C, Mỹ) lưu ý rằng những phát hiện mới về các thánh tích được cất giấu lâu nay là một diễn biến đầy khích lệ cho nỗ lực lớn hơn nhằm trùng tu và bảo vệ các di sản văn hóa Kitô giáo ở Iraq sau khi IS gây ra tổn thất nặng nề cho đất nước này.
LING LANG
