2022
Giáo hội Chính Thống Copte khen ngợi chính sách xây nhà thờ tại các khu đô thị mới của Ai Cập
Giáo hội Chính Thống Copte khen ngợi chính sách xây nhà thờ tại các khu đô thị mới của Ai Cập
Trong bài giảng Thánh lễ khánh thành một nhà thờ mới được xây dựng ở thành phố El Salam, một khu dân cư và công nghiệp mới được xây dựng trong những năm gần đây ở khu vực của Cairo, Đức Thượng phụ Tawadros II của Chính thống Copte đã cảm ơn và khen ngợi chính sách của Ai Cập cho phép xây nhà thờ và đền thờ Hồi giáo tại mỗi khu dân cư đô thị mới.
Trong chương trình phát triển đô thị cường độ cao được khởi động ở Ai Cập, mỗi khu đô thị mới được xây dựng tuân thủ các hướng dẫn do chính quyền dân sự thành lập cũng sẽ có nhà thờ riêng, phù hợp với quy hoạch của pháp luật.
Các nhà phân tích chính trị Ai Cập báo cáo rằng mục đích tuyên bố của các điều khoản của tổng thống là đảm bảo cho tất cả công dân, người Hồi giáo và Ki-tô hữu, cơ hội tham dự các cử hành, nghi lễ và các hoạt động của cộng đồng tín ngưỡng của riêng họ.
Đức Thượng phụ Tawadros cảm ơn Tổng thống Abdel Fattah al Sisi, lực lượng cảnh sát và tất cả các tổ chức đã giúp xây dựng nơi thờ phượng mới. Ngài nhận xét: “Thật tuyệt vời khi giới lãnh đạo chính trị cam kết đảm bảo sự hiện diện của ít nhất một đền thờ Hồi giáo và một nhà thờ trong mọi khu dân cư đô thị mới”.
Tầm quan trọng của chính sách xây nơi thờ tự ở các khu đô thị mới
Chỉ thị của Tổng thống Ai Cập rất quan trọng khi mà trong quá khứ, việc xây các nhà thờ gặp nhiều khó khăn và xung đột.
Cho đến năm 2016, “10 quy tắc” được thêm vào luật Ottoman đã cản trở việc xây nhà thờ, đặc biệt tại các nơi có Ki-tô hữu, vì trong đó cấm xây dựng nhà thờ mới gần trường học, kênh đào, tòa nhà chính phủ, đường sắt và khu dân cư. Do đó nhiều nhà thờ được xây dựng tại Ai Cập một cách tự phát và không có giấy phép hợp pháp. Ngày nay những nơi này vẫn bị các nhóm quá khích sử dụng làm cớ để kích động bạo lực giáo phái.
Luật mới về địa điểm thờ tự, được Quốc hội Ai Cập phê chuẩn vào tháng 8/2016, giúp bắt đầu quá trình nhằm “hợp pháp hóa” các cơ sở thờ tự của Ki-tô giáo được xây dựng trong quá khứ mà không có giấy phép. (Fides 07/02/2022)
Hồng Thủy
2022
Kinh Truyền Tin (6/2): Chúa lên thuyền cuộc đời chúng ta và mời chúng ta ra khơi
Kinh Truyền Tin (6/2): Chúa lên thuyền cuộc đời chúng ta và mời chúng ta ra khơi
Trưa Chúa Nhật 6/2, như thường lệ, Đức Thánh Cha đã xuất hiện tại cửa sổ Dinh Tông Toà để cùng đọc Kinh Truyền Tin với các tín hữu. Trong bài huấn dụ ngắn trước khi đọc Kinh Truyền Tin, Đức Thánh Cha nhấn mạnh đến hai điểm: Chúa bước lên con thuyền cuộc đời chúng ta và mời chúng ta ra xa hơn, ra chỗ nước sâu để thả lưới.
Bài huấn dụ của Đức Thánh Cha
Anh chị em thân mến, chào anh chị em!
Bài Tin Mừng của Phụng vụ hôm nay đưa chúng ta đến bờ hồ Galilê. Đám đông vây quanh Chúa Giê-su trong khi một số ngư phủ thất vọng, trong đó có Si-môn Phêrô, đang giặt lưới sau một đêm đánh cá thất bại. Và Chúa Giêsu đã vào thuyền của Si-môn; rồi Người mời ông ra chỗ nước sâu và thả lưới lại (x. Lc 5,1-4). Chúng ta hãy dừng lại ở hai hành động này của Chúa Giêsu: trước tiên Người lên thuyền và kế đến, Người mời ra chỗ nước sâu. Dù đã trải qua một đêm chẳng được gì, nhưng Phêrô đã tin tưởng và ra chỗ nước sâu.
Trước hết, Chúa Giê-su lên thuyền của Si-môn. Để làm gì? Để giảng dạy. Người xin lên chiếc thuyền, không phải chiếc thuyền đầy cá mà là chiếc thuyền trở về trống trơn, sau một đêm vất vả và thất vọng. Đó là một hình ảnh đẹp đối với chúng ta. Mỗi ngày, con thuyền cuộc sống của chúng ta cũng rời bờ để ra biển các hoạt động thường ngày; Mỗi ngày chúng ta cố gắng “đánh bắt xa bờ”, nuôi dưỡng ước mơ, thực hiện các dự án, sống tình yêu trong các mối tương quan của chúng ta. Nhưng thường, giống như Phêrô, chúng ta chứng kiến “suốt đêm trắng lưới”, thất vọng vì làm việc chăm chỉ mà không thấy kết quả như mong đợi: “Chúng tôi đã vất vả suốt đêm mà chẳng bắt được gì” (câu 5). Chúng ta thường ở lại với cảm giác thất bại, trong khi tâm hồn thì sinh ra thất vọng và cay đắng; hai nỗi thống khổ hết sức nguy hiểm.
Rồi Chúa làm gì? Người chọn lên thuyền của chúng ta. Từ đó Người muốn loan báo Tin Mừng. Chính chiếc thuyền trống rỗng đó, biểu tượng cho sự bất lực của chúng ta, trở thành “ngai toà” của Chúa Giêsu, thành bục giảng mà từ đó Người công bố Lời. Đây là điều mà Chúa yêu thích làm: Chúa là Chúa của sự ngạc nhiên, của những phép lạ trong sự ngạc nhiên, Chúa bước vào con thuyền của cuộc đời chúng ta khi chúng ta không có gì để dâng Người; bước vào khoảng trống của chúng ta và lấp đầy chúng với sự hiện diện của Người; dùng sự nghèo khó của chúng ta để loan báo sự giàu có của Người, sự khốn khổ của chúng ta để loan báo lòng thương xót của Người. Chúng ta hãy nhớ điều này: Thiên Chúa không muốn một con tàu du lịch, nhưng một con thuyền tồi tàn “ọp ẹp” là đủ cho Người, miễn là chúng ta chào đón Người. Nhưng tôi tự hỏi, liệu chúng ta có để Người bước lên con thuyền cuộc đời mình không? Chúng ta có dành cho Người chút ít chúng ta có không? Đôi khi chúng ta cảm thấy không xứng đáng với Người vì chúng ta là tội nhân. Nhưng đây là một lối biện minh mà Chúa không thích, vì nó đẩy chúng ta ra xa Người! Người là Thiên Chúa của sự gần gũi, của lòng cảm thương, của sự dịu dàng. Người không tìm kiếm chủ nghĩa hoàn hảo, nhưng tìm sự chào đón. Người cũng nói với bạn: “Hãy để Ta bước vào con thuyền cuộc đời của con, như nó là”.
Như vậy Chúa đã xây dựng lại sự tin cậy của Phêrô. Khi đã lên thuyền, sau khi rao giảng, Người nói với ông: “Hãy ra chỗ nước sâu” (câu 4). Đó không phải là thời điểm thích hợp để đánh cá, trời đã sáng, nhưng Phêrô đã tin cậy Chúa Giê-su, điều đó không dựa trên chiến lược của những thợ đánh cá, những điều mà ông biết rõ, nhưng dựa vào sự mới lạ của Chúa Giê-su. Chúng ta cũng vậy: nếu chúng ta đón Chúa vào thuyền của chúng ta, chúng ta có thể ra chỗ nước sâu. Với Chúa Giêsu, chúng ta chèo thuyền trong biển đời mà không sợ hãi, không thất vọng khi không đánh bắt được gì và cũng không đầu hàng vì “không còn làm được gì nữa”. Trong cuộc sống cá nhân cũng như trong đời sống của Giáo hội và xã hội, luôn luôn có một điều gì đó cao đẹp và can đảm còn có thể làm được. Chúng ta luôn có thể bắt đầu lại, Chúa luôn mời gọi chúng ta quay trở lại sân chơi bởi vì Người mở ra những khả thể mới. Vì vậy, chúng ta hãy đón nhận lời mời: chúng ta hãy xua đuổi sự bi quan và ngờ vực, để ra khơi với Chúa Giêsu! Rồi chiếc thuyền nhỏ trống rỗng của chúng ta cũng sẽ chứng kiến một mẻ cá kỳ diệu.
Chúng ta hãy cầu xin với Mẹ Maria: một cách khác biệt, Mẹ đã đón Chúa vào thuyền cuộc đời, xin Mẹ khích lệ chúng ta và cầu bầu cho chúng ta.
(Vatican News 06.02.2022)
2022
Đức Thánh Cha kể hai câu chuyện đẹp
Đức Thánh Cha kể hai câu chuyện đẹp
Cuối buổi đọc Kinh Truyền Tin trưa Chúa Nhật 6/2, Đức Thánh Cha nói rằng ngày nay giữa quá nhiều tin tức xấu lan tràn trên các phương tiện truyền thông, ngài muốn kể hai câu chuyện đẹp vừa xảy ra.
Đức Thánh Cha giới thiệu về hai câu chuyện: “Chúng ta đã quen với việc nhìn và đọc thấy trên các phương tiện truyền thông quá nhiều điều xấu, tin xấu, tai nạn, án mạng … quá nhiều thứ. Nhưng, hôm nay tôi muốn đề cập đến hai điều tuyệt đẹp: thứ nhất là người dân Maroc đã cố gắng để cứu bé Rayan, bị rơi xuống giếng sâu. Tất cả những người ở đó đã làm hết sức để cứu một đứa trẻ! Thật không may là việc cứu không thành công.” Nhưng đây là một chứng tá và ngài cảm ơn về chứng tá của người dân trong nỗ lực giải cứu này.
Và Đức Thánh Cha đề cập đến một chuyện khác đã xảy ra ở Ý, tại Monferrato, về John, một người di cư 25 tuổi từ Ghana. Anh đã phải chịu đựng tất cả những gì mà nhiều người di cư phải chịu, và cuối cùng anh đã định cư tại Monferrato. Anh bắt đầu làm việc tại một hãng rượu để tạo dựng tương lai. Nhưng rồi anh ấy phát hiện bị ung thư: anh ấy sắp chết. Và khi người ta nói cho anh biết sự thật, và hỏi anh muốn làm gì, thì anh trả lời: muốn về nhà để ôm bố của anh trước khi chết. Sắp chết, anh nghĩ về cha mình. Và ngay lập tức, người ta tiêm morphin cho anh và đưa anh lên máy bay, cùng với một người bạn đồng hành, để anh có thể về và chết trong vòng tay của cha mình.
AP Photo/Gregorio Borgia
Đức Thánh Cha kết luận: “điều này cho chúng ta thấy rằng ngày nay, giữa bao nhiêu tin xấu, vẫn có những điều đẹp đẽ, có những vị thánh ở ngay bên.”
Văn Yên, SJ
2022
Anh em là muối cho đời
ANH EM LÀ MUỐI CHO ĐỜI
L.m Montfort Phạm Quốc Huyên O.Cist.
Chúa Giêsu nói với các môn đệ: “Anh em là muối cho đời” (Mt 5, 13). Ở đây, chắc chắn Chúa Giêsu đã dùng thuật ngữ “muối” theo nghĩa tốt, bởi vì trong Kinh Thánh muối mang nhiều ý nghĩa khác nhau. Nó mang ý nghĩa xấu như trong câu chuyện sách Sáng Thế kể lại việc Thiên Chúa phạt một phụ nữ, “Bà vợ ông Lót ngoái lại đằng sau và hoá thành cột muối” (St 19, 26). Như vậy, muối là một dụng cụ trừng phạt. Các vùng đất có muối tức là nhiễm mặn, là đất hoang, “không ai gieo vãi, không chi nảy chồi, không cọng cỏ nào mọc lên, giống như cảnh tàn phá ở Xơ-đôm, Gô-mô-ra, Át-ma và Xơ-vô-gim, những thành mà Đức Chúa đã phá đổ trong cơn thịnh nộ và lôi đình của Người” (Đnl 29,22). Kẻ chiến thắng rắc muối xuống thành phố bại trận để không ai ở đó được như sách Thủ Lãnh thuật lại: “A-vi-me-léc đã chiếm được thành, tàn sát tất cả dân cư, rồi triệt hạ và rắc muối lên thành” (Tl 9, 45).
Phần chúng ta, với tư cách là những người được thánh hiến, những người môn đệ của Chúa Giêsu, chúng ta được mời gọi trở nên “muối cho đời” nghĩa là đem lại lợi ích đến cho mọi người theo các ý nghĩa tốt của muối trong Kinh Thánh. Những ý nghĩa này xuất phát từ các đặc tính và công dụng hữu ích của muối. Nó có vị mặn, có tính hòa tan trong nước, và phải trải qua thanh luyện mới có được màu trắng tinh khiết. Từ các đặc tính này muối được sử dụng để bảo tồn thực phẩm, tạo nên hương vị thơm ngon cho thức ăn, và thanh tẩy chất độc.
Vậy, trong ánh sáng của Lời Chúa, chúng ta tìm hiểu những đặc tính và công dụng này của muối diễn đạt những ý nghĩa tượng trưng nào về đời sống thánh hiến, đời sống của những người bước theo Thầy Chí Thánh Giêsu.
I-TRONG MỐI LIÊN HỆ VỚI THIÊN CHÚA
1-Muối tượng trưng cho sự trung tín trong giao ước với Thiên Chúa
Vì yêu thương, Thiên Chúa muốn ký kết một giao ước tình bạn với con người. Trong Cựu ước, Thiên Chúa đã ký kết một giao ước với Aaron và dòng dõi của ông là các tư tế, những người được thánh hiến để chuyên lo phụng sự Thiên Chúa, và Ngài gọi giao ước này là “giao ước muối muôn đời tồn tại trước nhan Đức Chúa, cho ngươi và dòng dõi ngươi” (Ds 18, 19). Giao ước này bắt nguồn từ câu chuyện về cuộc phản loạn của dân Israel, và Thiên Chúa đã giáng tai họa xuống trên dân. Lúc bấy giờ theo lời ông Môsê, “ông Aaron cầm bình hương, chạy đến giữa công hội, thì này tai hoạ đã bắt đầu hoành hành trong dân. Ông đốt hương và làm nghi thức xá tội cho dân. Ông đứng giữa kẻ chết và người sống, tai hoạ liền chấm dứt” (Ds 17, 12-13). Sau đó theo lời Thiên Chúa phán, Aaron và gia tộc ông “là những người được dâng hiến, thuộc về Đức Chúa, để chuyên lo phục vụ Lều Hội Ngộ” (Ds 18, 6). Ông cùng với các con ông sẽ thi hành chức vụ tư tế trong mọi việc liên quan tới bàn thờ và những gì sau bức màn trướng. Và Thiên Chúa nói: “Ta ban chức tư tế cho các ngươi như dịch vụ và hồng ân” (Ds 18, 7), rồi Thiên Chúa kết luận: “Đó là giao ước muối muôn đời tồn tại trước nhan Đức Chúa, cho ngươi và dòng dõi ngươi” (Ds 18, 19). Từ câu chuyện này, các học giả về văn hóa và tôn giáo Do Thái cho rằng: “Muối là dấu chỉ của sự trung tín trong tình bạn và sự liên đới giữa những người cùng ngồi ăn chung với nhau trong một mối dây liên kết thánh thiêng”.[1]
Trong vùng Palestin, người ta xem chức năng quan trọng nhất của muối là bảo tồn thực phẩm, kế đến nó mới là gia vị.[2] Giao ước mà Thiên Chúa ký kết với các tư tế được gọi là giao ước muối bởi vì nó phải tồn tại vĩnh viễn. Vậy các tư tế có trách nhiệm làm cho Dân Thiên Chúa trung tín trong việc giữ giao ước với Thiên Chúa. Họ phải có sự thánh thiện, chuyên chăm cầu nguyện, tiếp xúc thân mật với Thiên Chúa,luôn sống trong tình bằng hữu với Thiên Chúa, có như thế họ mới có thể trở thành những người trung gian để chuyển cầu cho Dân.
Chúa Giêsu gọi chúng ta, những người được thánh hiến, là “muối” bởi vì Ngài cũng muốn chúng ta đi vào giao ước tình yêu với Ngài, sống thân mật với Ngài, trở nên bạn hữu thân thiết của Ngài.Và nhất là Ngài muốn chúng ta trung thành mãi mãi với những gì chúng ta đã khấn hứa, trở nên những người trung gian có trách nhiệm sống thánh thiện, hy sinh để cầu nguyện cho mọi tín hữu khác cũng sống trung tín với Chúa, giống như bổn phận của các tư tế thời Cựu ước đối với dân Israel, Dân riêng của Thiên Chúa.
2-Muối là dấu chỉ của việc được thánh hiến cho Thiên Chúa, dành riêng cho Thiên Chúa
Muối có tầm quan trọng đặc biệt trong hệ thống các nghi thức dâng hiến lễ phẩm cho Thiên Chúa. Người ta gọi đó là “muối của giao ước với Thiên Chúa”. Trong sách Lêvi, Thiên Chúa đã phán: “Các ngươi phải bỏ muối vào mọi lễ phẩm các ngươi dâng tiến; các ngươi không được để lễ phẩm các ngươi thiếu muối của giao ước của Thiên Chúa các ngươi; các ngươi phải dâng muối cùng với mọi lễ tiến của các ngươi” (Lv 2, 13). Như vậy muối là một phương thế để đóng dấu ấn trên mọi lễ vật dâng cho Thiên Chúa, để nói lên việc chúng thuộc về Thiên Chúa.
Trong nghi thức dâng hương, việc bỏ muối vào hương đã làm cho hương trở thành hương thánh hiến dành riêng cho Thiên Chúa, như lời Đức Chúa đã phán với ông Môsê: “Ngươi hãy lấy các thứ hương chất: tô hợp hương, hương loa, phong tử hương, các hương chất và nhũ hương nguyên chất; số lượng mỗi thứ sẽ đồng đều. Ngươi sẽ lấy các thứ hương chất đó chế thành hương để đốt: hợp chất các hương này sẽ là sản phẩm của thợ làm hương; hương đó sẽ là hương pha muối, nguyên chất, và là hương thánh. Đối với các ngươi, đó sẽ là một vật rất thánh. Các ngươi sẽ không được chế hương theo kiểu ấy mà dùng: đối với ngươi, đó sẽ là một vật thánh, dành riêng cho Đức Chúa ” (Xh 30, 34-37).
Cũng theo ý nghĩa này, mà ngôn sứ Êdêkien nói đến việc xát muối cho trẻ sơ sinh Do Thái là một nghi thức nhằm nói lên đứa trẻ được Thiên Chúa yêu thương và chăm sóc (Ed 16, 4). Trong nghi thức làm phép nước thánh của Giáo hội vào các thánh lễ ngày Chúa Nhật cũng có việc linh mục bỏ muối vào nước. Vị linh mục đọc lời nguyện: “Lạy Thiên Chúa toàn năng, xin đoái thương nhận lời chúng con cầu khẩn mà thánh hóa muối này do chính Chúa dựng nên. Xưa kia Chúa đã truyền cho ngôn sứ Êlia bỏ muối vào nước, để nước nên trong lành. Giờ đây, khi chúng con rảy nước đã pha muối nơi nào, xin Chúa xua đuổi ma quỷ ra khỏi nơi ấy, và sai Thánh Thần đến ngự trị, để Người gìn giữ chúng con luôn mãi” (Sách Lễ Rôma trang 1053).
Chúa Giêsu gọi chúng ta là “muối”, vì Ngài cũng muốn chúng ta được thánh hiến trọn vẹn cho Thiên Chúa. Cuộc đời của chúng ta phải thuộc về Thiên Chúa một cách trọn vẹn, phải dành riêng cho một mình Thiên Chúa thôi, như lời thánh Phaolô nói: “Tôi muốn anh chị em không phải bận tâm lo lắng điều gì. Đàn ông không có vợ thì chuyên lo việc Chúa: họ tìm cách làm đẹp lòng Người. Còn người có vợ thì lo lắng việc đời : họ tìm cách làm đẹp lòng vợ, thế là họ bị chia đôi. Cũng vậy, đàn bà không có chồng và người trinh nữ thì chuyên lo việc Chúa, để thuộc trọn về Người cả hồn lẫn xác” (1 Cr 7, 32-34).
II-TRONG MỐI LIÊN HỆ VỚI NHỮNG NGƯỜI KHÁC
1-Muối mặn tượng trưng cho sự thánh thiện và khôn ngoan có ảnh hưởng trên người khác
Chúa Giêsu nói trong bài giảng trên núi: “Chính anh em là muối cho đời. Nhưng muối mà nhạt đi, thì lấy gì muối nó cho mặn lại ? Nó đã thành vô dụng, thì chỉ còn việc quăng ra ngoài cho người ta chà đạp thôi” (Mt 5, 13). Khi Chúa Giêsu sử dụng từ “muối” để nói về các môn đệ của mình, Ngài đã nhìn vào đời sống của họ. Ngài không nói họ trở nên muối, nhưng trở nên mặn hơn, đúng hơn là giữ được vị mặn, bởi vì họ đã là muối rồi. Muối cần thiết cho thức ăn để làm cho nó có đậm đà hương vị. Trở nên giống như muối ngụ ý rằng một người có một sự hiện diện theo cách thức đặc biệt, một lối sống làm cho đức tin của những người khác thêm mạnh mẽ, khích lệ tha nhân kiên trì trong đời sống cầu nguyện, và phục vụ với tấm lòng bác ái yêu thương. Thánh Phaolô đã xem muối là biểu tượng cho sự khôn ngoan: “Anh em hãy ăn ở khôn ngoan với người ngoài; hãy tận dụng thời buổi hiện tại. Lời nói của anh em phải luôn luôn mặn mà dễ thương, để anh em biết đối đáp sao cho phải với mỗi người” (Cl 4, 5-6). Giá trị của muối ở chỗ nó tác động trên những vật khác. Như muối làm cho thức ăn thêm thơm ngon, người môn đệ của Chúa Kitô được mời gọi làm lan tỏa hương thơm thánh thiện cho thế gian này, bằng cách đem đến niềm vui, lòng nhiệt thành và niềm hy vọng cho thế giới. Muối thì khác với thức ăn, nó làm cho thức ăn thêm đậm đà. Cũng vậy, những người sống đời thánh hiến phải sống khác với thế gian, theo nghĩa chúng ta không được phép để cho tinh thần thế gian tác động trên mình, đừng để mình chạy theo lối sống của người đời và suy nghĩ theo não trạng của thế gian như lời thánh Phaolô đã nói: “Anh em đừng có rập theo đời này” (Rm 12, 2).
Nếu muối không thể dùng để ướp mặn các vật khác, nó sẽ thành vô dụng. Đây là tình trạng khi tâm hồn chúng ta thiếu sự thánh thiện và khôn ngoan phát xuất từ Chúa Thánh Thần. Chúng ta được mời gọi theo một cách thức thiêng liêng để thưởng nếm, đón nhận sự thánh thiện và khôn ngoan phát xuất từ việc để Chúa Thánh Thần hướng dẫn cuộc đời mình. Sau đó chúng ta sẽ làm cho thế gian thưởng nếm điều này. Nếu chúng ta từ chối việc trở nên muối đất để ướp mặn thế giới này, đức tin của chúng ta sẽ thành trì trệ. Nếu chúng ta cũng chạy theo lối sống ích kỷ chỉ lo hưởng thụ mà thôi như mọi người khác, có lẽ chúng ta sẽ mất đi khả năng làm chứng cho Chúa Kitô.[3]Bởi vì người môn đệ được đánh giá theo ảnh hưởng họ có trên những người khác.
2-Muối hòa tan trong nước như hạt lúa gieo vào lòng đất
Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ: “Thật, Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác” (Ga 12, 24). Hạt muối cũng giống như hạt lúa. Khi nấu một món canh, chúng ta bỏ muối vào nồi cho món canh thêm hương vị đậm đà. Nếu hạt muối mặn nhưng không chịu hòa tan vào nước canh thì nó cứ nằm trơ trọi một mình dưới đáy nồi, và món canh vẫn nhạt nhẽo vô vị. Hạt muối hòa tan thì nó mới làm cho món ăn có hương vị. Đúng như Chúa Giêsu đã nói: “Ai yêu quý mạng sống mình, thì sẽ mất ; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời”(Ga 12, 25). Thuật ngữ “mất” ở đây là đánh mất ý nghĩa của cuộc đời mình. Ý nghĩa của muối là ướp mặn cho đời, nếu muối vì sợ hòa tan nên cứ trơ trơ ra đó thì nó đã đánh mất ý nghĩa của sự hiện hữu của nó. “Nó đã thành vô dụng, thì chỉ còn việc quăng ra ngoài cho người ta chà đạp thôi” (Mt 5, 13).
2-Muối hòa tan tượng trưng cho lối sống ẩn khuất, khiêm tốn của người môn đệ
Khi ví người môn đệ như “muối”, Chúa Giêsu muốn họ sống trong ẩn khuất, khiêm tốn, chớ có phô trương các việc lành của mình ra cho thiên hạ thấy. Chúa nói: “Khi làm việc lành phúc đức, anh em phải coi chừng, chớ có phô trương cho thiên hạ thấy. Khi bố thí, đừng cho tay trái biết việc tay phải làm, để việc anh bố thí được kín đáo. . . .. Và khi cầu nguyện, hãy vào phòng, đóng cửa lại, và cầu nguyện cùng Cha của anh, Đấng hiện diện nơi kín đáo. . . .. Khi ăn chay, nên rửa mặt cho sạch, chải đầu cho thơm, để không ai thấy là anh ăn chay ngoại trừ Cha của anh, Đấng hiện diện nơi kín đáo. Và Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả lại cho anh” (Mt 6, 1-17). Họ phải hòa tan “cái tôi” của mình, phải hủy mình ra không giống như hạt muối tan ra trong nồi canh. Thật vậy, khi nếm một món canh, người ta thưởng thức được hương vị mặn mà của nó, người ta biết có muối ở trong canh, nhưng người ta không nhìn thấy hạt muối bởi vì nó đã hòa tan vào trong canh. Tuy nhiên, cũng giống như nắm men trong ba thúng bột, người ta không thấy men đâu cả, nhưng nó đã làm cho “tất cả bột dậy men” (Lc 13, 21). Thánh Phaolô cũng hiểu như vậy: “Anh em không biết sao? Chỉ một tí men là đã đủ làm dậy men cả khối bột!” (1Cr 5, 6). Những người sống đời thánh hiến càng sống khiêm tốn, nhỏ bé, kín đáo càng làm cho Nước Thiên Chúa được phát triển, và ảnh hưởng của họ trên trần gian càng mạnh mẽ. Chúng ta đã thấy gương của chị thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu sống ẩn khuất, khiêm tốn trong Dòng Kín nhưng đã đóng góp rất lớn cho công việc truyền giáo đến nỗi đã được tôn phong làm bổn mạng của các xứ truyền giáo. Hơn thế nữa, “con đường thơ ấu” của chị đã khơi dạy nơi bao tâm hồn một quyết tâm sống thánh thiện, yêu thương, chấp nhận hủy bỏ “cái tôi” của mình để luôn khiêm tốn, cậy trông vào Thiên Chúa là Cha. Vì thế, chị còn trở thành một vị Tiến sĩ của Hội Thánh nữa.
3-Muối hòa tan tượng trưng cho sự hòa hợp và hiệp nhất
Khi mời gọi chúng ta: “Anh em hãy giữ muối trong lòng anh em và sống hòa thuận với nhau” (Mc 9, 50), Chúa Giêsu muốn nói đến tính hòa tan của muối, một biểu tượng cho sự hy sinh bản thân để sống hòa hợp và hiệp nhất với mọi người. Thật vậy nguyên nhân của tranh chấp bất hòa là sự tham lam, ích kỷ, chỉ muốn vơ vét cho bản thân như lời thánh Giacôbê đã nói: “Bởi đâu có chiến tranh, bởi đâu có xung đột giữa anh em? Chẳng phải là bởi chính những khoái lạc của anh em đang gây chiến trong con người anh em đó sao? Thật vậy, anh em ham muốn mà không có, nên anh em chém giết; anh em ganh ghét cũng chẳng được gì, nên anh em xung đột với nhau, gây chiến với nhau” (Gc 4, 1-2). Như thế, Chúa mời gọi chúng ta noi gương của Ngài: hy sinh bản thân để sống giống như anh em khác, nghĩ đến người khác trước khi nghĩ đến bản thân như lời thánh Phaolô nói: “Mỗi người đừng tìm lợi ích cho riêng mình, nhưng hãy tìm lợi ích cho người khác. Giữa anh em với nhau, anh em hãy có những tâm tình như chính Đức Kitô Giêsu. Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn hủy mình ra không, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế” (Pl 2, 4-7). Chúa Giêsu Kitô chính là hạt muối từ trời xuống, Ngài đã “hòa tan” chính mình trong thân phận phàm nhân. Ngài đã tự hủy mình ra không đến nỗi trở nên giống hệt mọi người khác ở Nadarét, khiến người ta chỉ biết ông Giêsu là “bác thợ mộc, con bà Maria, và anh em của các ông Giacôbê, Giô-xết, Giuđa và Simôn” (Mc 6, 3). Như vậy, những người sống đời thánh hiến không được phép đòi hỏi những đặc quyền, đặc lợi vượt trội những người khác, cũng không được tỏ ra mình là con người đặc biệt, tách mình ra khỏi mọi người theo kiểu “biệt phái”. Chúng ta hãy sống khiêm tốn như hạt muối hòa tan trong biển cả là cộng đoàn, theo lời thánh Biển Đức nói: “Bậc khiêm nhường thứ tám là đan sĩ không làm gì ngoài luật chung của đan viện và gương lành các vị cao niên” (Tu luật Biển Đức chương 7). Nếu tu sĩ nào cũng sống như thế sẽ tạo nên sự hiệp nhất trong cộng đoàn tu trì.
4-Muối tượng trưng cho sự thử thách và thanh tẩy
Chúa Giêsu nói: “Quả thật, ai nấy sẽ được luyện bằng lửa như thể ướp bằng muối” (Mc 9, 49). Ở đây, lửa và muối nói đến sự thanh luyện qua những thử thách và việc từ bỏ. Thật vậy, theo bản chất của muối thì muối luôn luôn mặn và hòa tan trong nước. Tuy nhiên, muối vẫn có thể trở thành vô dụng nếu muối bị nhiễm độc và dơ bẩn. Hơn nữa, chỉ khi muối đã trở nên tinh khiết rồi nó mới có thể được dùng để thanh tẩy những vật khác, như sách Các Vua quyển thứ hai 2, 21 thuật lại việc ngôn sứ Êlisa ném muối xuống dòng nước gần thành Giêricô và thanh tẩy nó, làm cho nước được thanh sạch để dân cư trong thành có thể uống được.
Những người sống đời thánh hiến cũng phải thanh tẩy bản thân và những công việc trần thế của mình, để có thể thánh hóa những người sống chung quanh mình. Những công việc trần thế tự chúng là tốt, nhưng chúng không có giá trị tuyệt đối. Hơn nữa, công việc của con người bị tội lỗi gây thương tích rồi. Chúng có tính hàm hồ: có thể hữu ích, cũng có thể làm hại. Con người thật sự có quyền trên vũ trụ, trên hành vi của chính mình nhờ đặc ân tự do, nhưng đồng thời mỗi người đều có kinh nghiệm đã bị tội khống chế vì lạm dụng tự do. Vì thế, thánh Phaolô nhắc nhở chúng ta: “Anh em đừng có rập theo đời này” (Rm 12,2) nghĩa là “đừng buông mình ham chuộng hư danh và gian xảo, khiến sinh hoạt con người vốn quy hướng về việc phụng sự Thiên Chúa và phục vụ con người, lại biến thành phương tiện phạm tội” (Hiến chế Mục vụ “Vui mừng và Hy vọng”, số 37). Như vậy, những người sống đời thánh hiến phải thanh tẩy bản thân và mọi sinh hoạt trần thế của mình đang bị lâm nguy vì kiêu ngạo, và ích kỷ. Chúng ta thanh tẩy chúng nhờ đời sống cầu nguyện và hy sinh, từ bỏ những dính bén có thể nguy hại cho các lời khấn và chấp nhận những thử thách, đau khổ do Chúa gửi đến khi thi hành bổn phận hàng ngày, như lời Chúa Giêsu nói với các môn đệ: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” (Mt 16, 24). Chỉ với điều kiện này, những người sống đời thánh hiến mới đủ khả năng thánh hoá mình và làm ích cho tha nhân.
KẾT
Qua việc học hỏi và nghiền ngẫm những lời Kinh Thánh nói về muối, chúng ta đã hiểu được ước muốn của Chúa Giêsu khi Ngài nói với chúng ta: “Anh em là muối cho đời” (Mt 5, 13).
Là “muối” nghĩa là những người sống đời thánh hiến phải có vị mặn thánh thiện và khôn ngoan, có đời sống cầu nguyện thâm sâu để có thể trung tín với các lời khấn là giao ước tình yêu với Chúa, để thuộc trọn về Chúa, dành cả cuộc đời cho một mục đích duy nhất là tìm Chúa, và gặp Chúa rồi thì đem Chúa đến cho người khác. Là “muối” nghĩa là chúng ta phải sống mầu nhiệm kenosis: tự hủy mình ra không như muối hòa tan trong nước, để có thể sống âm thầm, hy sinh, khiêm tốn, hòa hợp, và hiệp nhất với mọi người. Là “muối” nghĩa là chúng ta phải trải qua thanh luyện, phải chịu thử thách, đau khổ, phải từ bỏ những dính bén độc hại, và vác thập giá hàng ngày để có được màu trắng tinh khiết của muối.
Xin Chúa trợ giúp chúng ta, để một khi hiểu được ý Chúa rồi thì chúng ta cũng đem ra thực hành lời Chúa đã nói: “Anh em là muối cho đời” (Mt 5, 13).
Trích Nội san Linh Đạo Đan Tu “Hạt Giống Chiêm Niệm”, số 17 năm 2015.
[1]Xem Mark R. Francis, “The Collegeville Pastoral Dictionary of Biblical Theology”, trang 866.
[2] Xem: The NIV Thematic Reference Bible trang 1497.
[3] x.Vima Dasan “His Word Challenges” trang 18.
