Aenean nec eros. Vestibulum ante ipsum primis in faucibus orci luctus et ultrices posuere cubilia curae. Suspendisse sollicitudin velit sed leo.

Chuyên mục
  • Bài giảng
  • Các loại khác
  • Chia sẻ
  • Chưa phân loại
  • GH Hoàn Vũ
  • GH Việt Nam
  • Giáo dục
  • Hạnh các Thánh
  • HĐGM Việt Nam
  • Kinh Thánh
  • Phim giáo dục
  • Phụng vụ
  • Sách
  • Suy niệm Chúa nhật
  • Suy niệm hàng ngày
  • Tài liệu giáo dục
  • Tài liệu phụng vụ
  • Thần học
  • Thánh ca
  • Thánh lễ
  • Thánh lễ trực tuyến
  • Thư chung
  • Thư viện
  • Tin tức
  • Triết học
  • Tư liệu
  • UBGD Công giáo
  • Video
From Gallery
Stay Connected
UyBanGiaoDucHDGM.net
  • Trang chủ
  • Thư chung
    • HĐGM Việt Nam
    • UBGD Công giáo
  • Tin tức
    • GH Việt Nam
    • GH Hoàn Vũ
  • Phụng vụ
    • Thánh lễ
    • Thánh lễ trực tuyến
    • Suy niệm hàng ngày
    • Suy niệm Chúa nhật
    • Tài liệu phụng vụ
  • Giáo dục
    • Chia sẻ
    • Tài liệu giáo dục
  • Thư viện
    • Sách
      • Kinh Thánh
      • Triết học
      • Thần học
      • Các loại khác
    • Video
      • Bài giảng
      • Thánh ca
      • Phim giáo dục
      • Hạnh các Thánh
      • Tư liệu
  • Liên hệ
Give Online

Danh mục: GH Hoàn Vũ

Home / Tin tức / GH Hoàn Vũ
03Tháng Tư
2022

ĐTC bắt đầu chuyến tông du đến Malta

03/04/2022
Anmai
GH Hoàn Vũ, Tin tức
0

ĐTC bắt đầu chuyến tông du đến Malta

 

Sáng thứ Bảy 2/4, Đức Thánh Cha khởi hành từ sân bay Fiumicino đến Malta để bắt đầu chuyến tông du 2 ngày đến đất nước này. Trên chuyến bay, một nhà báo đã hỏi liệu ĐTC có suy xét đến một chuyến viếng thăm Kyiv không, và ngài trả lời rằng nó là một đề xuất đang được xem xét.

Sáng thứ Bảy 2/4, Đức Thánh Cha bắt đầu chuyến tông du 2 ngày đến Malta. Ngài đến sân bay Fiumicino lúc 8 giờ 10 sáng và được chào đón bởi Đức cha Gianrico Ruzza của giáo phận Porto-Santa Rufina, nơi có phi trường Fiumicino.

Máy bay A320 của hãng hàng không ITA chở Đức Thánh Cha, đoàn tuỳ tùng và các nhà báo khởi hành lúc 8 giờ 39 phút. Trên chuyến bay khoảng 1 tiếng rưỡi từ Roma đến Malta, Đức Thánh Cha chào các nhà báo của nhiều hãng tin khác nhau cùng đi với ngài. Một nhà báo đã hỏi liệu ĐTC có suy xét đến việc thăm Kyiv không. Và ngài nói rằng nó là một đề xuất đang được xem xét.

Máy bay đáp xuống sân bay quốc tế Malta lúc 10 giờ. Sứ thần Toà Thánh tại Malta và Trưởng nghi lễ đã đón Đức Thánh Cha tại cầu thang máy bay. Tại sân bay, Đức Thánh Cha được Tổng thống George William Vella và phu nhân chào đón, cùng với hai em bé Malta tặng hoa cho ngài.

Tại sân bay, nghi thức chào đón chính thức đã diễn ra với việc giới thiệu đoàn tuỳ tùng của hai phía, quốc thiều của hai nước và duyệt qua hàng quân danh dự.

Sau đó, ĐTC di chuyển bằng xe đến Dinh Đại Sư ở Valletta để thăm hữu nghị Tổng thống Cộng hoà Malta.

Tổng thống George William Vella của cộng hoà Malta sinh năm 1942, chuyên về lĩnh vực y khoa và làm việc nhiều năm với tư cách là chuyên viên y học hàng không. Năm 1977 ông được bổ nhiệm làm cố vấn của hãng hàng không Air Malta về hàng không dân sự. Ông được bầu vào Quốc hội lần đầu tiên năm 1978. Sau đó ông giữ các chức vụ phó Thủ tướng và Ngoại trưởng. Năm 2019, ông được bầu làm tổng thống Cộng hoà Malta. Ông Vella lập gia đình và có ba người con. Trong buổi thăm hữu nghị, Đức Thánh Cha có chào thăm gia đình của Tổng thống.

Sau khi thăm hữu nghị Tổng thống, ĐTC có một cuộc gặp ngắn với Thủ tướng Malta trước khi di chuyển đến Đại sảnh Hội đồng để gặp Chính quyền và ngoại giao đoàn.

Văn Yên, SJ

(Vatican News 02.04.2022)

Read More
03Tháng Tư
2022

Diễn văn của ĐTC tại buổi gặp chính quyền và ngoại giao đoàn của Malta

03/04/2022
Anmai
GH Hoàn Vũ, Tin tức
0

Diễn văn của ĐTC tại buổi gặp chính quyền và ngoại giao đoàn của Malta

 

Đức Thánh Cha nói với chính quyền và ngoại giao đoàn Malta: Tôi muốn mượn hình ảnh “hoa hồng gió”, mô tả gió theo bốn điểm chính của la bàn, để phác hoạ bốn ảnh hưởng thiết yếu đối với đời sống xã hội và chính trị của đất nước này.

Đức Thánh Cha Phanxicô gặp chính quyền và ngoại giao đoàn   (AFP or licensors)

Thưa Tổng thống,

Các thành viên Chính phủ và Ngoại giao đoàn, các nhà chức trách,

Các đại diện xã hội dân sự,

Quý bà và quý ông!

Tôi thân ái chào và cảm ơn Tổng thống về những lời tốt đẹp ngài thay mặt cho toàn thể người dân Malta ngỏ với tôi. Tổ tiên quý vị đã đón tiếp Tông đồ Phaolô trong hành trình thánh nhân đến Roma, đối xử với ngài và các bạn đồng hành “một cách nhân đạo hiếm có” (Cv 28, 2). Từ Roma đến đây, tôi cũng được trải nghiệm sự chào đón nồng nhiệt đó, một kho báu được người Malta truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Nhờ vị trí địa lý, Malta có thể được gọi là trái tim của Địa Trung Hải. Nhưng không chỉ bởi địa lý: trong hàng ngàn năm sự giao thoa của các sự kiện lịch sử và sự gặp gỡ của các dân tộc khác nhau đã biến hòn đảo này trở thành trung tâm của sức sống và văn hóa, tinh thần và vẻ đẹp, một giao lộ có thể đón nhận và hài hòa những ảnh hưởng từ nhiều nơi trên thế giới. Sự đa dạng về ảnh hưởng này làm cho chúng ta liên tưởng đến nhiều loại gió thổi qua đất nước. Không phải ngẫu nhiên mà trong các bản đồ cổ đại về Địa Trung Hải, “hoa hồng gió” thường được mô tả gần đảo Malta. Tôi muốn mượn hình ảnh “hoa hồng gió”, mô tả gió theo bốn điểm chính của la bàn, để phác hoạ bốn ảnh hưởng thiết yếu đối với đời sống xã hội và chính trị của đất nước này.

Các luồng gió thổi qua các đảo Malta chủ yếu là từ phía tây bắc. Phương bắc gợi nhớ đến châu Âu, đặc biệt ngôi nhà của Liên minh châu Âu, được xây dựng như nơi ở cho một đại gia đình duy nhất liên kết trong việc duy trì hòa bình. Sự đoàn kết và hòa bình là món quà mà người dân Malta cầu xin Chúa mỗi khi quốc ca được cất lên. Thực vậy, lời cầu nguyện được viết bởi Dun Karm Psaila có nội dung: “Lạy Thiên Chúa toàn năng, xin ban sự khôn ngoan và lòng thương xót cho người cầm quyền, sức khỏe cho người làm việc, và đảm bảo sự thống nhất và hòa bình cho người dân Malta”. Hòa bình theo sau sự thống nhất và đi lên từ đó. Điều này nhắc nhở chúng ta về tầm quan trọng của việc làm việc cùng nhau, đặt sự gắn kết trước mọi sự chia rẽ, củng cố nguồn gốc và giá trị chung đã tạo nên sự độc đáo của xã hội Malta.

Nhưng để đảm bảo một sự chung sống xã hội tốt đẹp, việc củng cố cảm giác thuộc về thì chưa đủ; cần phải củng cố nền tảng của việc sống chung, dựa trên luật pháp và tính hợp pháp. Trung thực, công bằng, ý thức trách nhiệm và minh bạch là những trụ cột thiết yếu của một xã hội dân sự trưởng thành. Ước mong việc cam kết xóa bỏ bất hợp pháp và tham nhũng sẽ mạnh mẽ như ngọn gió thổi từ phương bắc, quét qua các bờ biển của đất nước. Cầu mong tính hợp pháp và sự minh bạch luôn được trau dồi trong đất nước, điều này có thể giúp loại bỏ tội ác và tội phạm, được thống nhất bởi thực tế là chúng không xảy ra dưới ánh sáng mặt trời.

Ngôi nhà châu Âu, vốn dấn thân thúc đẩy các giá trị công bằng và bình đẳng xã hội, cũng đi đầu trong các nỗ lực bảo vệ ngôi nhà thụ tạo rộng lớn hơn. Môi trường chúng ta đang sống là một hồng ân từ trời cao, như quốc ca của quý vị vẫn công nhận, bằng cách cầu xin Chúa gìn giữ vẻ đẹp của vùng đất này, người mẹ được trang điểm bằng ánh sáng rực rỡ nhất. Ở Malta, nơi vẻ đẹp rực rỡ của phong cảnh làm dịu bớt khó khăn, thụ tạo xuất hiện như một ân ban, mà giữa những thử thách của lịch sử và cuộc sống, gợi cho chúng ta vẻ đẹp của cuộc sống trên mặt đất. Do đó, nơi đây phải được bảo vệ khỏi lòng tham tiền bạc và đầu cơ xây dựng, điều không chỉ gây thiệt hại đến cảnh quan nhưng đến cả tương lai. Trái lại, bảo vệ môi trường và công bằng xã hội chuẩn bị cho tương lai, và là những cách tuyệt vời để làm cho những người trẻ đam mê chính trị lành mạnh, và bảo vệ họ khỏi những cám dỗ dửng dưng và không dấn thân.

Gió phương bắc thường kết hợp với gió đến từ phương tây. Thật vậy, quốc gia châu Âu này, đặc biệt là giới trẻ, chia sẻ lối sống và tư duy phương Tây. Từ đó, bắt nguồn những điều tuyệt vời – tôi nghĩ đến những giá trị của tự do và dân chủ – nhưng cũng có những nguy cơ cần cảnh giác, để khao khát tiến bộ không dẫn đến sự tách khỏi cội nguồn. Malta là một “phòng thí nghiệm phát triển hữu cơ” tuyệt vời, nơi mà tiến bộ không có nghĩa là cắt đứt cội nguồn với quá khứ nhân danh sự thịnh vượng giả tạo được quyết định bởi lợi nhuận, nhu cầu và tiêu dùng, cũng như quyền có mọi quyền. Để phát triển lành mạnh, điều quan trọng là phải giữ gìn ký ức và tôn trọng sự hòa hợp giữa các thế hệ, không để mình bị đồng hoá bởi sự công nhận giả tạo và thực dân hóa tư tưởng.

Nền tảng sự phát triển vững chắc là con người, tôn trọng sự sống và phẩm giá của mỗi người. Tôi biết người Malta dấn thân đón nhận và bảo vệ sự sống. Trong Sách Công vụ Tông đồ, người dân của đảo này được biết đến vì đã cứu nhiều người. Tôi khuyến khích quý vị tiếp tục bảo vệ sự sống từ khi bắt đầu đến khi kết thúc tự nhiên, nhưng cũng luôn bảo vệ sự sống ở mọi thời điểm khỏi sự vứt bỏ và lãng quên. Tôi đặc biệt nghĩ đến phẩm giá của những người lao động, người già và người bệnh. Và đối với những người trẻ, những người có nguy cơ vứt bỏ những điều tốt đẹp mà họ đang có mà đuổi theo những ảo tưởng để lại nhiều trống rỗng bên trong. Đây là hậu quả của chủ nghĩa tiêu thụ, thờ ơ trước nhu cầu của người khác và tai hoạ của ma túy, bóp nghẹt tự do bằng cách tạo ra cơn nghiện và lệ thuộc. Chúng ta hãy bảo vệ vẻ đẹp của sự sống!

Tiếp tục “hoa hồng gió”, chúng ta hướng về phương nam, nơi có nhiều anh chị em chúng ta đang tìm hy vọng. Tôi cám ơn chính quyền dân sự và người dân Malta vì sự chào đón dành cho họ nhân danh Tin Mừng, tính nhân văn và tinh thần hiếu khách đặc trưng của người Malta. Theo gốc từ Phê-nê-xi, Malta có nghĩa là “bến cảng an toàn”. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, trước sự gia tăng dòng người, nỗi sợ hãi và bất an đã tạo ra sự ngã lòng và thất vọng. Để tiếp cận tốt vấn đề di cư phức tạp, phải đặt điều này trong những viễn tượng rộng lớn hơn về thời gian và không gian. Về thời gian: hiện tượng di cư không phải là tình trạng nhất thời, nhưng đánh dấu thời đại chúng ta. Nó mang theo những gánh nặng của những bất công trong quá khứ, khai thác, biến đổi khí hậu, của những cuộc xung đột mà hậu quả là họ phải trả giá. Từ phía nam nghèo nàn và đông dân cư, hàng loạt người di chuyển đến phía bắc giàu có hơn: đây là một thực tế, và không thể bị bỏ qua bằng việc đóng cửa lỗi thời, bởi vì nó sẽ không tạo ra thịnh vượng và hội nhập. Từ quan điểm không gian, tình trạng khẩn cấp di cư ngày càng gia tăng – ở đây chúng ta nghĩ đến những người tị nạn từ Ucraina bị chiến tranh tàn phá – đòi hỏi những đáp ứng trên diện rộng và được chia sẻ. Không thể có chuyện một số quốc gia gánh vác tất cả vấn đề trong khi các quốc gia khác dửng dưng! Vì lợi ích riêng, các quốc gia văn minh không thể phê chuẩn những thỏa thuận ám muội với những kẻ bất lương bắt người khác làm nô lệ. Địa Trung Hải cần sự đồng trách nhiệm của châu Âu, để một lần nữa trở thành sân khấu mới của tình liên đới và không phải là tiền đồn của một vụ đắm tàu bi thảm của nền văn minh.

Nói đến việc đắm tàu, tôi nghĩ đến Thánh Phaolô, đã đến bờ biển này một cách bất ngờ trong chuyến vượt biển cuối cùng trên Địa Trung Hải và được cứu giúp. Rồi ngài bị rắn độc cắn, và bị cho là đã phạm tội sát nhân; tuy nhiên, ngay sau đó, ngài được coi là vị thần vì rắn độc không làm hại được ngài (Cv 28,3-6). Giữa hai thái cực này, cần chấp nhận sự thật trên hết là: Thánh Phaolô là một con người, cần được giúp đỡ. Con người là trên hết và đáng coi trọng trên tất cả: đây là những gì đất nước này đã dạy, nơi lịch sử được chúc lành bởi sự xuất hiện của vị Tông đồ bị đắm tàu. Nhân danh Tin Mừng mà Thánh Phaolô đã sống và rao giảng, chúng ta hãy mở rộng tâm hồn và tái khám phá vẻ đẹp của việc phục vụ người cần được giúp đỡ. Ngày nay, trong khi  vượt Địa Trung Hải tìm sự an toàn, những người này phải đối mặt với nỗi sợ hãi và “câu chuyện về sự xâm lược”, và việc bảo vệ an toàn cho chính mình bằng mọi giá dường như là mục tiêu chính, chúng ta hãy giúp nhau để không coi người di cư như một mối đe dọa và không khuất phục trước cám dỗ xây dựng những cây cầu rút ván và dựng các bức tường. Người khác không phải là một loại virus mà chúng ta cần được bảo vệ, nhưng là một người cần được chào đón. Vì vấn đề đó, “lý tưởng Kitô luôn là lời mời gọi vượt qua sự nghi ngờ, sự ngờ vực đã ăn sâu, nỗi sợ mất quyền riêng tư, những thái độ phòng thủ mà thế giới ngày nay áp đặt lên chúng ta” (Esort. ap. Evangelii gaudium, 88). Chúng ta đừng để sự thờ ơ dập tắt ước mơ chung sống! Tất nhiên, chào đón là công việc khó khăn và đòi hỏi hy sinh. Đối với Thánh Phaolô cũng vậy: để cứu mình, trước tiên cần phải hy sinh hàng hóa của con tàu (Cv 27, 38). Nhưng những hy sinh vì một điều tốt đẹp hơn, cho sự sống của con người, là kho báu của Thiên Chúa!

Cuối cùng, có gió thổi từ hướng đông, thường thổi vào lúc bình minh. Homer gọi là “Euro” (Odissea V,379.423). Nhưng chính từ phía đông của châu Âu, từ phía Đông nơi ánh sáng đầu tiên phát sinh, bóng tối của chiến tranh đã đến. Chúng ta đã từng nghĩ rằng những cuộc xâm lược của các quốc gia khác, những cuộc giao tranh tàn bạo trên đường phố và những mối đe dọa từ nguyên tử là những ký ức đen tối của một quá khứ xa xôi. Tuy nhiên, những luồng gió băng giá của chiến tranh, vốn chỉ mang đến cái chết, sự huỷ diệt và hận thù, đã ập xuống cuộc sống của nhiều người và ảnh hưởng đến tất cả chúng ta. Và một lần nữa một số người quyền lực, đáng buồn là đã bị cuốn vào những tuyên bố lạc hậu về lợi ích quốc gia, đang kích động và gây ra những xung đột, trong khi dân chúng cảm thấy cần phải xây dựng một tương lai mà, hoặc sẽ cùng nhau, hoặc chẳng có tương lai nào cả. Giờ đây, đêm tối chiến tranh đã giáng xuống nhân loại, chúng ta đừng làm cho giấc mơ hòa bình tan biến.

Malta, nơi toả sáng rực rỡ giữa lòng Địa Trung Hải, có thể truyền cảm hứng cho chúng ta, bởi vì việc khôi phục vẻ đẹp khuôn mặt nhân loại  bị biến dạng vì chiến tranh là điều cấp thiết. Một bức tượng Địa Trung Hải tuyệt đẹp có niên đại hàng thế kỷ trước Chúa Kitô mô tả hòa bình như một phụ nữ, Eirene ôm sao Diêm Vương,  biểu tượng sự phong phú. Bức tượng nhắc nhớ chúng ta rằng hòa bình tạo ra thịnh vượng và chiến tranh chỉ tạo ra nghèo đói. Và đặc biệt trong bức tượng đó, hòa bình và thịnh vượng được miêu tả như một người mẹ đang ôm một trẻ thơ trong tay. Tình yêu dịu dàng của những người mẹ, những người mang lại sự sống cho thế giới, và sự hiện diện của phụ nữ là sự thay thế thực sự cho sự gian hiểm của quyền lực, dẫn đến chiến tranh. Chúng ta cần lòng trắc ẩn và sự quan tâm, chứ không phải những tầm nhìn ý thức hệ và những thứ mị dân, nuôi dưỡng bằng những lời lẽ thù hận và không quan tâm đến cuộc sống cụ thể của dân chúng.

Hơn sáu mươi năm trước, trong một thế giới bị đe dọa bởi sự hủy diệt, nơi luật pháp bị quy định bởi những xung đột ý thức hệ và lý luận tàn nhẫn của các khối, một giọng nói khác đã được cất lên từ lưu vực Địa Trung Hải, chống lại việc đề cao tư lợi bằng một lời kêu gọi bước nhảy ngôn sứ nhân danh tình huynh đệ phổ quát. Đó là tiếng nói của Giorgio La Pira, người đã phát biểu rằng: “Hoàn cảnh lịch sử mà chúng ta đang trải qua, sự xung đột về lợi ích và ý thức hệ làm rung chuyển nhân loại làm mồi cho tính trẻ con không thể tin nổi, khôi phục cho Địa Trung Hải một trách nhiệm cốt lõi. Đó là xác định lại một Tiêu chuẩn đâu là nơi con người bị bỏ cho sự điên cuồng và thiếu điều độ để có thể nhận ra chính mình” (Bài phát biểu tại Đại hội Văn hóa Địa Trung Hải, ngày 19 tháng 2 năm 1960). Đó là những lời mang tính thời sự: chúng ta rất cần một “sự tiết chế của con người” khi đối mặt với sự hung hăng ấu trĩ và dã tâm hủy diệt đang đe dọa chúng ta, trước nguy cơ xảy ra một cuộc “chiến tranh lạnh mở rộng” có thể bóp nghẹt cuộc sống của toàn thể các dân tộc và các thế hệ! Thật không may, “sự ấu trĩ” vẫn không biến mất. Nó tái xuất hiện một cách áp đảo trong sự dụ dỗ của chế độ chuyên quyền, trong các đế quốc mới, trong sự xâm lược lan rộng, trong việc không có khả năng xây dựng cây cầu và rời bỏ những người nghèo nhất. Từ đây, cơn gió chiến tranh lạnh bắt đầu thổi qua, một lần nữa được tiếp thêm sức mạnh trong những năm qua. Đúng vậy, cuộc chiến đã được chuẩn bị một thời gian với các khoản đầu tư lớn và các thương vụ mua bán vũ khí. Và thật đáng buồn khi thấy lòng nhiệt thành đối với hòa bình, nảy sinh sau Thế chiến thứ hai, đã suy yếu như thế nào trong những thập kỷ gần đây, cũng như buồn khi thấy hành trình của cộng đồng quốc tế, với một số ít cường quốc tiến lên vì lợi ích riêng, tìm kiếm không gian và khu vực ảnh hưởng. Và vì vậy, không chỉ hòa bình, mà nhiều vấn đề lớn, chẳng hạn như cuộc chiến chống nạn đói và bất bình đẳng, trên thực tế đã bị loại khỏi các chương trình nghị sự chính trị chính.

Nhưng giải pháp cho các cuộc khủng hoảng của mỗi bên là quan tâm đến tất cả, bởi vì các vấn đề toàn cầu đòi hỏi các giải pháp toàn cầu. Chúng ta hãy giúp nhau lắng nghe khát vọng hòa bình của dân chúng, chúng ta hãy làm việc để đặt nền móng cho một cuộc đối thoại ngày càng rộng lớn hơn, chúng ta hãy trở lại gặp gỡ nhau trong các hội nghị quốc tế vì hòa bình, nơi chủ đề giải trừ quân bị là trọng tâm, với cái nhìn hướng đến các thế hệ sau! Và những khoản tiền lớn tiếp tục được dành vũ khí sẽ được chuyển sang phát triển, sức khỏe và dinh dưỡng.

Vẫn nhìn về phía đông, cuối cùng tôi muốn đề cập đến miền láng giềng Trung Đông, được phản ánh trong ngôn ngữ của đất nước này, vốn hòa hợp với những ngôn ngữ khác, như thể gợi nhớ khả năng của người Malta trong việc tạo ra sự chung sống tốt đẹp, trong một loại chung sống giữa những khác biệt. Đây là những gì Trung Đông cần: Libăng, Syria, Yemen và các bối cảnh khác bị chia cắt bởi các vấn đề và bạo lực. Ước mong Malta, trái tim của Địa Trung Hải, tiếp tục tạo ra nhịp đập của hy vọng, quan tâm đến cuộc sống, chào đón những người khác, khao khát hòa bình, với sự giúp đỡ của Thiên Chúa, Đấng có tên là hòa bình.

Il-Mulej ibierek lil Malta! [Xin Chúa chúc lành cho Malta!]

(Vatican News 02.04.2022)

Read More
03Tháng Tư
2022

Tông du Malta – ĐTC chủ sự giờ cầu nguyện tại đền thánh Đức Mẹ Ta’ Pinu

03/04/2022
Anmai
GH Hoàn Vũ, Tin tức
0

Tông du Malta – ĐTC chủ sự giờ cầu nguyện tại đền thánh Đức Mẹ Ta’ Pinu

 

Chiều thứ Bảy ngày 2/4/2022, Đức Thánh Cha đã chủ sự giờ cầu nguyện tại đền thánh quốc gia Ta’ Pinu ở làng Gharb, một làng nhỏ ở phía tây nam đảo Gozo của Malta. Ngài mời gọi các tín hữu trở lại với điều cốt lõi của đức tin: tương quan với Chúa và rao giảng Tin Mừng, đồng thời đón tiếp tha nhân, thực thi giới răn yêu thương, và đừng sợ bước đi trên nhửng nẻo đường mới để loan báo Tin Mừng.

Đền thánh Ta’ Pinu

Đền thánh Ta’ Pinu là nơi hành hương nổi tiếng nhất của Malta. Nhà thờ được xây theo kiến trúc gô-tích với Thánh giá kiểu Latinh. Bên trong nhà thờ có lưu giữ rất nhiều lời khấn nguyện, bằng chứng lòng đạo đức bình dân của người dân Malta.

Đền thánh quốc gia Ta’ Pinu trên đảo Gozo của Malta

Vào những năm 1500, tại nơi này đã có một nhà nguyện nhỏ. Năm 1575, khi nhà nguyện bị bỏ hoang và hư hoại, đặc sứ của Đức Gregorio XIII đã ra lệnh phá bỏ nhà nguyện. Nhưng khi công việc mới bắt đầu thì một công nhân bị gãy tay. Sự việc được hiểu như là một dấu chỉ và do đó công việc phá dỡ nhà nguyện được dừng lại. Nhà nguyện ban đầu thuộc tài sản của dòng họ Gentili, sau đó được một người tên Pino Gauci mua lại; từ đó có tên Ta’ Pinu. Pino Gauci đã nới rộng và tu sửa nhà nguyện, đặt trong nhà thờ một bức ảnh Đức Mẹ Hồn xác lên trời do hoạ sĩ người Ý Amedeo Perugino vẽ. Bức ảnh vẫn được lưu giữ cho đến ngày nay.

Sau khi bị đóng cửa trong vài thế kỷ, nhà thờ được mở lại khi một sự kiện lạ thường xảy ra. Theo lưu truyền, ngày 22/6/1883, khi đi ngang qua nhà thờ, bà Carmela Grima, một phụ nữ nhà quê, đã nghe một giọng nói yêu cầu bà đọc “ba kinh Kính Mừng, mỗi kinh cho một ngày khi thân xác Ta ở trong mồ.” Bà đã kể lại với người bạn và người này cho biết chính ông cũng nghe lời yêu cầu giống như thế khi ở gần nhà nguyện. Trong thời gian này hai người này cũng được chữa lành bệnh cách lạ lùng. Trong thời gian ngắn, tin tức của hai thị nhân này đã lan truyền khắp hòn đảo và nhà nguyện Ta’ Pinu trở thành nơi hành hương. Năm 1887, khi đảo Gozo tránh được trận dịch tả cách kỳ diệu, Đức giám mục đã cho phép cử hành phụng vụ kính Đức Mẹ tại đây.

Để kỷ niệm 100 năm lần hiện ra đầu tiên, Đại hội Đức Mẹ Quốc tế lần thứ IX đã được tổ chức tại Malta vào tháng 9/1983. Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã cử hành Thánh lễ tại thềm đền thờ vào ngày 26/5/1990.

Đến gần đền thánh, Đức Thánh Cha chuyển sang dùng papamobile – xe mui trần của Đức Thánh Cha. Đến đền thánh, ngài đi xe vào lối bên cạnh, trong khi 3.000 tín hữu chờ đợi ngài tại quảng trường lớn.

Viếng Đức Mẹ

Tại cửa vào đền thánh, Đức Thánh Cha được cha giám đốc đền thánh chào đón. Sau đó ngài cùng với Đức Hồng y Mario Grech, Tổng Thư ký Thượng Hội đồng Giám mục, Đức Tổng Giám mục của Malta và Đức Giám mục của Gozo tiến vào nhà nguyện của đền thánh. Đến trước ảnh Đức Mẹ, Đức Thánh Cha đã dâng kính Đức Mẹ một cành hoa hồng mạ vàng và đọc 3 kinh Kính Mừng, rồi ngài đến trước bàn thờ chính, chào và chúc lành cho các bệnh nhân hiện diện trong đền thờ và đi đến thềm đền thờ.

Hiện diện tại buổi cầu nguyện có đại diện của Giáo hội địa phương, có các thiếu nhi, thanh thiếu niên, người trẻ, các gia đình và các thành viên của các hiệp hội của Giáo hội; cũng có các vị đại diện chính quyền dân sự của đảo Gozo, cũng như rất đông linh mục, tu sĩ nam nữ và thành viên các tu hội đời.

Bắt đầu giờ cầu nguyện, Đức cha Anthony Teuma, giám mục của Gozo đã có lời chào mừng Đức Thánh Cha đến với Gozo, “một đảo nhỏ nhưng có trái tim vĩ đại”, chào mừng Đức Thánh Cha đến với “nhà của chúng con và của Mẹ chúng con – đền thánh Đức Mẹ Ta’ Pinu”.

Chứng từ cảm động của đôi vợ chồng Sandi và Domenico Apap

Tiếp đến là phần trình bày chứng từ. Đầu tiên là chứng từ của đôi vợ chồng Sandi và Domenico Apap, kết hôn được 29 năm và có một con gái và một cháu ngoại. Bà Sandi cho biết, 4 năm sau khi kết hôn, khi mới 23 tuổi, bà bắt đầu bị chứng đa xơ cứng. Cuộc sống của họ thay đổi khi các triệu chứng của căn bệnh của bà gia tăng và các ước mơ của tuổi trẻ cũng tan theo. Hiện nay tình trạng sức khoẻ của bà phức tạp hơn do không thể di chuyển và lại bị nhiễm Covid-19. Thật khó để chấp nhận căn bệnh này. Bà thường tự hỏi tại sao Chúa lại để cho tất cả điều này xảy ra. Nhiều lần bà kêu lên: “Chúa ơi, Chúa ở đâu?” Nhưng cũng có điều gì đó đã giúp bà không tuyệt vọng và bà nói, “Lạy Chúa, Chúa biết cuộc đời con. Con phó thác mọi sự trong tay Chúa.”

Còn ông Domenico thì nhìn nhận rằng bà Sandi vợ ông là quà tặng lớn nhất Thiên Chúa ban cho gia đình. Ông nói: “Kinh nghiệm đau khổ mà chúng con đã trải qua và tiếp tục cùng nhau sống không chỉ không huỷ diệt chúng con hay làm chúng con xa cách nhau, nhưng liên kết chúng con hơn, củng cố chúng con trong tình yêu thương nhau như một gia đình.” Nhiều lần ông đặt câu hỏi với Chúa và không tìm được câu trả lời như mong muốn. Nhưng dần dần Chúa ban cho ông ơn hiểu rằng sứ vụ của ông là ở bên cạnh vợ và cùng bà vác thập giá. Ông nói: “Tôi học được rằng khi đau khổ được sống với tình yêu, nó không còn là đau khổ nữa mà trở thành niềm vui.”

Tiếp đến là chứng từ của Jennifer Cauchi, chia sẻ về sự an bình khi đến với Đức Mẹ và chứng từ của Francesco Pio Attard, với băn khoăn thao thức làm sao Giáo hội gìn giữ kho tàng đức tin, và thực hiện sứ vụ ngôn sứ…

Bài giảng của Đức Thánh Cha

“Giờ” của Chúa Giêsu và khởi đầu của Giáo hội

Sau bài Phúc âm trích từ Tin Mừng thánh Gioan, thuật lại những lời cuối cùng của Chúa Giêsu trên Thánh Giá, Đức Thánh Cha bắt đầu bài giảng với “giờ” của Chúa Giêsu, trong Tin Mừng thánh Gioan là giờ chết của Người trên thập giá, với hình ảnh Mẹ Maria và thánh Gioan đứng dưới chân Thánh Giá, khi “mọi sự dường như đã mất, đã hết, vĩnh viễn;” với lời cầu nguyện của Chúa Giêsu: “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (Mt 27,46; Mk 15,34), cũng là lời cầu nguyện của chúng ta vào những lúc đau khổ.

Đức Thánh Cha nhấn mạnh rằng “giờ” chết của Chúa Giêsu “không có nghĩa là sự kết thúc của lịch sử. Nhưng nó đánh dấu sự khởi đầu của một sự sống mới.” Một giờ khác tràn đầy sự sống được bắt đầu. Đó là thời gian của Giáo hội. “Bắt đầu với hai người đứng bên dưới Thánh giá, Chúa sẽ quy tụ một dân tộc tiếp tục đi trên những nẻo đường quanh co của lịch sử, mang trong lòng mình sự an ủi của Thánh Linh, để lau khô nước mắt của nhân loại.”

Nói về đền thánh Đức Mẹ Ta’ Pinu, Đức Thánh Cha nhận xét rằng, từ một nhà nguyện nhỏ đang bị hư hỏng, sắp bị phá bỏ, một loạt các sự kiện sẽ xoay chuyển tình thế, ngôi nhà thờ nhỏ bé ấy đã trở thành đền thánh quốc gia, là điểm đến của những người hành hương và là nguồn sống mới. Một nơi từng bị nghĩ rằng đã bị bỏ rơi thì giờ đây làm sống lại đức tin và hy vọng trong Dân Chúa. Từ đó Đức Thánh Cha mời gọi đánh giá ý nghĩa của “giờ” của Chúa Giêsu đối với cuộc sống của chúng ta. Ngài nói: “Giờ cứu độ đó cho chúng ta biết rằng, để canh tân đức tin và sứ mạng chung của chúng ta, chúng ta được mời gọi trở về nguồn cội, trở về với Giáo hội sơ khai mà chúng ta nhìn thấy dưới chân Thánh giá nơi con người của Mẹ Maria và Thánh Gioan.”

Khám phá lại những điều cốt yếu trong đức tin của chúng ta

Theo Đức Thánh Cha, quay trở lại những nguồn cội, trước tiên, có nghĩa là khám phá lại những điều cốt yếu trong đức tin của chúng ta. Quay trở lại với Giáo hội sơ khai không có nghĩa là cố gắng tái tạo mô hình Giáo hội của cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi; cũng không có nghĩa là lý tưởng thái quá cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi. “Nhưng trở về nguồn cội là trở về với trọng tâm và khám phá lại cốt lõi của đức tin: tương quan của chúng ta với Chúa Giêsu và việc rao giảng Tin Mừng cho toàn thế giới của Người”, như các môn đệ đầu tiên, như bà Maria Mađalena và Gioan, sau khi nhìn thấy ngôi mộ trống, với sự phấn khích tột độ đã vội vã trở về loan báo tin mừng Chúa phục sinh; như các tông đồ, mỗi ngày trong đền thờ và tại tư gia, họ không ngừng giảng dạy và loan báo Tin Mừng về Đức Kitô Giêsu (Cv 5,42).

Một đức tin được xây dựng và không ngừng đổi mới

Đức Thánh Cha lưu ý rằng đời sống của Giáo hội không bao giờ chỉ là “một quá khứ để tưởng nhớ”, nhưng là một “tương lai tuyệt vời để xây dựng”, luôn tuân theo các kế hoạch của Thiên Chúa. Chúng ta cần một đức tin được xây dựng và không ngừng đổi mới trong cuộc gặp gỡ cá nhân với Chúa Kitô, trong việc lắng nghe lời Người hằng ngày, trong việc tham gia tích cực vào đời sống của Giáo hội và trong lòng đạo đức bình dân đích thực. Ngài cảnh giác rằng chúng ta không được xem nhẹ sự khủng hoảng đức tin, sự thờ ơ thực hành tôn giáo, đặc biệt là hậu quả của đại dịch, và sự dửng dưng của nhiều người trẻ đối với sự hiện diện của Chúa khi nghĩ rằng, xét cho cùng, vẫn còn một tinh thần tôn giáo nhất định. Những nghi lễ hoành tráng không luôn là dấu chỉ của đức tin sống động.

Phát triển nghệ thuật chào đón tha nhân

Đức Thánh Cha giải thích tiếp rằng quay trở lại ban đầu cũng có nghĩa là phát triển nghệ thuật chào đón. Những lời của Chúa Giêsu trên Thánh giá, nói với Mẹ Người và với thánh Gioan, kêu gọi chúng ta làm cho việc chào đón trở thành dấu ấn của người môn đệ. Việc thánh Gioan chào đón Đức Maria vào nhà ngài là một dấu hiệu cụ thể cho thấy chúng ta nên sống điều răn cao trọng nhất, giới răn yêu thương, như thế nào. Việc thờ phượng Thiên Chúa được thực hiện qua sự gần gũi với anh chị em của chúng ta.

Chào đón tha nhân: phép thử sự thấm nhuần tinh thần Tin Mừng

Việc chào đón nhau, nhân danh Chúa Kitô, vẫn mãi là một thách đố, trước hết là đối với các mối tương quan trong Giáo hội, vì việc truyền giáo của chúng ta sẽ sinh hoa trái nếu chúng ta cùng nhau làm việc trong tình bạn và tình hiệp thông huynh đệ. Nhưng theo Đức Thánh Cha, việc chào đón cũng là phép thử để đánh giá xem Giáo hội đã thấm nhuần tinh thần Tin Mừng đến mức độ nào. Chúng ta cũng không thể chào đón nhau trong các mái ấm của những ngôi nhà thờ đẹp đẽ, trong khi bên ngoài rất nhiều anh chị em của chúng ta phải đau khổ, bị đóng đinh bởi nỗi đau, sự nghèo đói và bạo lực.

Giờ cầu nguyện với kinh Magnificat, kinh Lạy Cha và phép lành Đức Thánh Cha ban cho cộng đoàn.

Rời đền thánh Đức Thánh Cha đi xe hơi trở lại cảng Mgarr cách đó 10 km, từ đó ngài đi tàu 20 phút để đến cảng Cirkewwa của đảo Malta và từ đó Đức Thánh Cha di chuyển về Toà Sứ thần cách đó 21 km để dùng bữa tối và nghỉ đêm, kết thúc ngày thứ nhất trong chuyến viếng thăm Malta.

Hồng Thủy

Read More
03Tháng Tư
2022

Bài giảng của ĐTC trong giờ cầu nguyện tại đền thánh quốc gia Ta’ Pinu

03/04/2022
Anmai
GH Hoàn Vũ, Tin tức
0

Bài giảng của ĐTC trong giờ cầu nguyện tại đền thánh quốc gia Ta’ Pinu

 

Đức Thánh Cha nói với các tín hữu Malta: “Một đức tin được tạo thành từ những truyền thống đã được tiếp nhận, những cử hành long trọng, những lễ hội phổ biến và những khoảnh khắc mạnh mẽ và đầy cảm xúc là không thể đủ; chúng ta cần một đức tin được xây dựng và không ngừng đổi mới trong cuộc gặp gỡ cá nhân với Chúa Kitô, trong việc lắng nghe lời Người hằng ngày, trong việc tham gia tích cực vào đời sống của Giáo hội và trong lòng đạo đức bình dân đích thực.”

Bài giảng của ĐTC Phanxicô

Gặp gỡ Cầu nguyện tại Đền thánh Quốc gia Ta’ Pinu, Gozo

Thứ Bảy, 02/04/2022

Đứng dưới chân Thánh Giá của Chúa Giêsu có Mẹ Maria và thánh Gioan. Người Mẹ đã sinh ra Con Thiên Chúa đang khóc thương cái chết của Người, ngay cả khi bóng tối bao trùm thế giới. Người môn đệ yêu quý, người đã từ bỏ mọi sự đi theo Người, giờ đây đứng thinh lặng dưới chân vị Tôn sự bị đóng đinh trên thập giá. Mọi sự dường như đã mất, đã hết, vĩnh viễn. Mang lấy trên mình vết thương của nhân loại, Chúa Giêsu cầu nguyện: “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (Mt 27,46; Mk 15,34). Đây cũng là lời cầu nguyện của chúng ta vào những lúc đau khổ. Ông bà Sandi và Domenico thân mến, nó là lời cầu nguyện chân thành mà ông bà thưa với Thiên Chúa mỗi ngày. Cảm ơn tình yêu kiên trì và chứng tá đức tin của ông bà!

Tuy nhiên “giờ” của Chúa Giêsu, trong Tin Mừng thánh Gioan là giờ chết của Người trên thập giá, không có nghĩa là sự kết thúc của lịch sử. Nhưng nó đánh dấu sự khởi đầu của một sự sống mới. Đứng trước Thánh giá, chúng ta chiêm niệm tình yêu thương xót của Chúa Kitô, Đấng mở rộng vòng tay của Người để ôm lấy chúng ta và bằng cái chết của mình, Người mời gọi chúng ta đến với niềm vui của sự sống vĩnh cửu. Vào giờ cuối cùng đó, sự sống mới mở ra trước chúng ta; từ giờ của sự chết đó, một giờ khác, tràn đầy sự sống, được bắt đầu. Đó là thời gian của Giáo hội. Bắt đầu với hai người đứng bên dưới Thánh giá, Chúa sẽ quy tụ một dân tộc tiếp tục đi trên những nẻo đường quanh co của lịch sử, mang trong lòng mình sự an ủi của Thánh Linh, để lau khô nước mắt của nhân loại.

Thưa anh chị em, từ đền thánh Ta’ Pinu này, chúng ta có thể cùng nhau chiêm ngắm sự khởi đầu mới đã diễn ra trong “giờ” của Chúa Giêsu. Ở đây, thay cho toà nhà lộng lẫy mà chúng ta thấy ngày nay, chỉ có một nhà nguyện nhỏ trong tình trạng đổ nát. Việc phá hủy nó đã được quyết định: nó dường như là dấu chấm hết. Tuy nhiên, một loạt các sự kiện sẽ xoay chuyển tình thế, như thể Chúa cũng muốn nói với dân tộc này rằng: “Chẳng ai còn réo tên ngươi: ‘Đồ bị ruồng bỏ!’ Xứ sở ngươi hết bị tiếng là ‘Phận bạc duyên đơn.’ Nhưng ngươi được gọi: ‘Ái khanh lòng Ta hỡi!’ Xứ sở ngươi nức tiếng là ‘Duyên thắm chỉ hồng'” (Is 62,4). Ngôi nhà thờ nhỏ bé ấy đã trở thành đền thánh quốc gia, là điểm đến của những người hành hương và là nguồn sống mới. Jennifer thân mến, bạn đã nhắc nhở chúng tôi về điều này: ở đây, nhiều người phó thác những đau khổ và niềm vui của họ cho Đức Mẹ và tất cả đều cảm thấy được chào đón. Thánh Gioan Phaolô II – hôm nay kỷ niệm ngày ngài qua đời – cũng đã hành hương đến đây. Một nơi từng bị nghĩ rằng đã bị bỏ rơi thì giờ đây làm sống lại đức tin và hy vọng trong Dân Chúa.

Dưới ánh sáng này, chúng ta hãy thử đánh giá cao ý nghĩa của “giờ” của Chúa Giêsu đối với cuộc sống của chúng ta. Giờ cứu độ đó cho chúng ta biết rằng, để canh tân đức tin và sứ mạng chung của chúng ta, chúng ta được mời gọi trở về nguồn cội, trở về với Giáo hội sơ khai mà chúng ta nhìn thấy dưới chân Thánh giá được thể hiện qua Mẹ Maria và Thánh Gioan. Quay trở lại những nguồn gốc đó có nghĩa là gì? Quay lại từ đầu nghĩa là gì?

Đầu tiên, nó có nghĩa là khám phá lại những điều cốt yếu trong đức tin của chúng ta. Quay trở lại với Giáo hội sơ khai không có nghĩa là quay lại và cố gắng tái tạo mô hình Giáo hội của cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi. Chúng ta không thể “bỏ qua lịch sử”, như thể Chúa chưa bao giờ nói hoặc thực hiện những điều vĩ đại trong đời sống của Giáo hội trong những thế kỷ sau đó. Nó cũng không có nghĩa là lý tưởng thái quá, nghĩ rằng trong cộng đoàn đó không có khó khăn; trái lại, chúng ta đọc thấy rằng các môn đệ đã tranh luận và thậm chí tranh cãi với nhau, và họ không phải lúc nào cũng hiểu được những lời dạy của Chúa. Ngược lại, quay trở lại nguồn cội có nghĩa là tìm lại tinh thần của cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi, trở về với trọng tâm và khám phá lại cốt lõi của đức tin: mối quan hệ của chúng ta với Chúa Giêsu và việc rao giảng Tin Mừng cho toàn thế giới của Người. Đó là những điều cần thiết!

Thật vậy, sau “giờ” Chúa Giêsu chết, các môn đệ đầu tiên, như bà Maria Mađalena và Gioan, sau khi nhìn thấy ngôi mộ trống, với sự phấn khích tột độ đã vội vã trở về loan báo tin mừng Chúa phục sinh. Sự đau buồn của họ ở chân thập giá đã biến thành niềm vui mừng khi họ loan báo Chúa Kitô đã sống lại. Tôi cũng nghĩ đến các tông đồ, về những người mà Kinh Thánh đã viết: “Mỗi ngày trong đền thờ và tại tư gia, họ không ngừng giảng dạy và loan báo Tin Mừng về Đức Kitô Giêsu” (Cv 5,42). Mối quan tâm chính của các môn đệ của Chúa Giêsu không phải là uy tín của cộng đoàn hoặc các thừa tác viên của cộng đoàn, địa vị xã hội hoặc những điểm tốt đẹp trong việc thờ phượng của nó. Không. Họ được thúc giục để rao giảng và làm chứng cho Tin Mừng của Chúa Kitô (xem Rm 1,1).

Thưa anh chị em, Giáo hội Malta có thể giới thiệu một lịch sử phong phú mà từ đó có thể rút ra những kho tàng mục vụ và tâm linh tuyệt vời. Tuy nhiên, đời sống của Giáo hội – chúng ta hãy luôn ghi nhớ điều này – không bao giờ chỉ là “một quá khứ để tưởng nhớ”, nhưng là một “tương lai tuyệt vời để xây dựng”, luôn tuân theo các kế hoạch của Thiên Chúa. Một đức tin được tạo thành từ những truyền thống đã được tiếp nhận, những cử hành long trọng, những lễ hội phổ biến và những khoảnh khắc mạnh mẽ và đầy cảm xúc là không thể đủ; chúng ta cần một đức tin được xây dựng và không ngừng đổi mới trong cuộc gặp gỡ cá nhân với Chúa Kitô, trong việc lắng nghe lời Người hằng ngày, trong việc tham gia tích cực vào đời sống của Giáo hội và trong lòng đạo đức bình dân đích thực.

Sự khủng hoảng đức tin, sự thờ ơ thực hành tôn giáo, đặc biệt là hậu quả của đại dịch, và sự dửng dưng của nhiều người trẻ đối với sự hiện diện của Chúa: đây không phải là những vấn đề mà chúng ta nên “coi nhẹ” và nghĩ rằng, xét cho cùng, vẫn còn một tinh thần tôn giáo nào đó tồn tại. Đôi khi, các công trình kiến trúc có thể mang tính tôn giáo, nhưng bên dưới những hình dáng bên ngoài, đức tin đang phai nhạt dần dần. Không phải vẻ đẹp đẽ của phẩm phục tôn giáo lúc nào cũng tương ứng với một đức tin sống động được đánh dấu bằng lòng nhiệt thành loan báo Tin Mừng. Chúng ta cần đảm bảo rằng các thực hành tôn giáo không bị thu hẹp thành việc lặp lại quá khứ, nhưng vẫn là biểu hiện của một đức tin sống động, cởi mở, truyền bá niềm vui của Tin Mừng.

Tôi biết rằng, với Thượng Hội đồng, anh chị em đã bắt đầu một tiến trình canh tân và tôi cảm ơn anh chị em vì điều này. Thưa anh chị em, bây giờ là lúc quay trở lại với điểm khởi đầu đó, dưới chân Thánh giá, và nhìn vào cộng đồng Kitô hữu sơ khai. Để là một Giáo hội quan tâm đến tình bạn với Chúa Giê-su và việc rao giảng Tin Mừng của Người, chứ không phải tìm kiếm chỗ đứng và sự chú ý; một Giáo hội tập trung vào việc làm chứng, chứ không phải một số phong tục tôn giáo nhất định; một Giáo hội mong muốn đi ra gặp gỡ mọi người với ngọn đèn Tin Mừng đang cháy sáng, chứ không là một vòng tròn khép kín. Đừng sợ khởi hành, như bạn đã làm, trên những con đường mới, thậm chí có thể là những con đường đầy rủi ro, để loan báo Tin Mừng và rao giảng điều sẽ thay đổi cuộc sống.

Vì vậy, một lần nữa chúng ta hãy hướng đến nguồn cội, hướng về Mẹ Maria và thánh Gioan dưới chân Thánh giá. Tại chính cội nguồn của Giáo hội là hành động trao phó các ngài cho nhau. Chúa trao phó cho mỗi người chăm sóc người khác: thánh Gioan cho Đức Maria và Đức Maria cho thánh Gioan, kết quả là “kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình” (Ga 19,27). Quay trở lại ban đầu cũng có nghĩa là phát triển nghệ thuật chào đón. Những lời của Chúa Giêsu trên Thánh giá, nói với Mẹ Người và với thánh Gioan, kêu gọi chúng ta làm cho việc chào đón trở thành dấu ấn của người môn đệ. Thật vậy, đây không phải đơn giản là một hành động cảm thương, theo đó Chúa Giêsu đã giao Mẹ của Người cho thánh Gioan để Mẹ không đơn độc sau khi Người qua đời. Ngược lại, việc thánh Gioan chào đón Đức Maria vào nhà ngài là một dấu hiệu cụ thể cho thấy chúng ta nên sống điều răn cao trọng nhất, giới răn yêu thương, như thế nào. Việc thờ phượng Thiên Chúa được thực hiện qua sự gần gũi với anh chị em của chúng ta.

Trong Giáo hội, tình yêu huynh đệ và việc chúng ta chào đón tha nhân quan trọng biết bao! Chúa nhắc nhở chúng ta điều này vào “giờ” của thập giá, khi tín thác cho Đức Maria và thánh Gioan chăm sóc lẫn nhau. Người kêu gọi cộng đồng Kitô hữu ở mọi thời đại đừng quên ưu tiên này: “Này là con bà”, “Này là Mẹ của anh” (cc. 26.27). Như thể Người đã nói: “Anh em đã được cứu bởi cùng một dòng máu, anh em là một gia đình, vì vậy hãy chào đón nhau, yêu thương nhau, chữa lành vết thương cho nhau.” Hãy dẹp bỏ những nghi ngờ, chia rẽ, đồn thổi, đàm tiếu và ngờ vực. Hãy là một “thượng hội đồng”, hay nói cách khác, là “bước đi cùng nhau”. Bởi vì Thiên Chúa hiện diện ở bất cứ nơi nào tình yêu ngự trị!

Anh chị em thân mến, việc đón tiếp lẫn nhau, không phải vì hình thức thuần túy nhưng nhân danh Chúa Kitô, vẫn mãi  là một thách đố. Một thách đố, trước hết là đối với các mối quan hệ trong Giáo hội của chúng ta, vì việc truyền giáo của chúng ta sẽ sinh hoa trái nếu chúng ta cùng nhau làm việc trong tình bạn và tình hiệp thông huynh đệ. Anh chị em là hai cộng đồng xinh đẹp, Malta và Gozo, giống như Đức Maia và thánh Gioan là hai người! Vậy thì, ước gì những lời của Chúa Giêsu trên Thánh giá trở thành sao bắc đẩu hướng dẫn anh chị em đón tiếp nhau, nuôi dưỡng sự thân thiết và làm việc trong sự hiệp thông! Hãy tiến về phía trước, luôn luôn cùng nhau!

Nhưng việc chào đón cũng là phép thử để đánh giá xem Giáo hội đã thấm nhuần tinh thần Tin Mừng đến mức độ nào. Đức Maria và thánh Gioan chấp nhận nhau không phải trong nơi ấm áp của Phòng Tiệc Ly, mà là dưới chân thập giá, nơi nghiệt ngã, nơi người ta bị kết án và bị đóng đinh như các tội phạm. Chúng ta cũng không thể chào đón nhau trong các mái ấm của những ngôi nhà thờ đẹp đẽ, trong khi bên ngoài rất nhiều anh chị em của chúng ta phải đau khổ, bị đóng đinh bởi nỗi đau, sự nghèo đói và bạo lực. Quốc gia của anh chị em nằm ở vị trí địa lý trọng yếu, nhìn ra Địa Trung Hải; đất nước của anh chị em giống như một thỏi nam châm và là cánh cổng cứu rỗi cho những người bị áp đặt bởi những thử thách của cuộc sống, những người, vì nhiều lý do, bước lên bờ biển của anh chị em. Chính Chúa Kitô, Đấng hiện ra với anh chị em trong gương  mặt của những người đàn ông và phụ nữ đáng thương này. Đó là kinh nghiệm của thánh tông đồ Phaolô; sau vụ đắm tàu​​kinh hoàng, ngài đã được tổ tiên của anh chị em chào đón niềm nở. Như chúng ta đọc thấy trong sách Công vị tông đồ, “người dân địa phương… đốt một đống lửa và tiếp đón tất cả chúng tôi, vì trời đã bắt đầu mưa và lạnh”(Cv 28,2).

Đây là Tin Mừng mà chúng ta được mời gọi thực hiện: chào đón người khác, trở thành “chuyên gia về lòng nhân đạo” và thắp lên ngọn lửa yêu thương dịu dàng cho những người nếm trải sự đau đớn và khắc nghiệt của cuộc sống. Trong trường hợp của thánh Phaolô cũng vậy, một điều gì đó quan trọng đã nảy sinh từ trải nghiệm ấn tượng đó, nhờ đó thánh Phaolô rao giảng Tin Mừng và sau đó, nhiều nhà giảng thuyết, các linh mục, các nhà truyền giáo và các nhân chứng đã theo bước chân ngài. Tôi muốn thêm một lời tri ân đặc biệt đến họ: đến nhiều nhà truyền giáo người Malta, những người đã truyền bá niềm vui của Tin Mừng trên khắp thế giới, đến nhiều linh mục, tu sĩ nam nữ và tất cả anh chị em. Như Đức cha Teuma đã nói, anh chị em là một hòn đảo nhỏ, nhưng có trái tim vĩ đại. Anh chị em là một kho báu trong Giáo hội và cho Giáo hội. Để bảo tồn kho báu đó, anh chị em phải trở về với bản chất của Kitô giáo: với tình yêu của Thiên Chúa, động lực của niềm vui của chúng ta, điều khiến chúng ta đi ra và dong duổi các nẻo đường của thế giới; và với sự tiếp đón, tình yêu tha nhân, là bằng chứng đơn giản nhất và hấp dẫn nhất mà chúng ta có thể trình bày với thế giới.

Cầu xin Chúa đồng hành với anh chị em trên hành trình này, và xin Đức Thánh Trinh Nữ hướng dẫn bước đường của anh chị em. Xin Đức Mẹ, Đấng đã yêu cầu chúng ta cầu nguyện ba kinh “Kính Mừng”, nhắc nhở chúng ta về tấm lòng mẫu tử của Mẹ, nhen nhóm trong lòng chúng ta, những người con của Mẹ, ngọn lửa truyền giáo và ước muốn chăm sóc cho nhau. Xin Đức Mẹ phù hộ cho anh chị em!

Hồng Thủy

Read More

Điều hướng bài viết

  • Previous page
  • Page 1
  • …
  • Page 251
  • Page 252
  • Page 253
  • …
  • Page 627
  • Next page
Bài viết mới nhất
Phụ nữ Công giáo trẻ mang đức tin vào cuộc sống hàng ngày trực tuyến
09/05/2026
‘Mẹ tôi là Why’ của tôi: Mối liên kết không thể phá vỡ của Fernando Mendoza với mẹ và trận chiến của bà với MS
09/05/2026
Đức Giáo Hoàng Leo XIV Thực Hiện Cuộc Hành Hương Thánh Mẫu Nhân Kỷ Niệm 1 Năm Làm Giáo Hoàng
09/05/2026
Video nổi bật
https://www.youtube.com/watch?v=Td144YDsaGo
Sự kiện sắp tới

There are no upcoming events at this time.

Ủy ban Giáo dục Công giáo – Trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.

Liên hệ

72/12 Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, TP.HCM Get Directions

Phone: +84 931 436 131

Email: [email protected]

Ban chuyên môn
  • Ban Tài liệu và Truyền thông
  • Ban Giáo chức
  • Ban Kỹ năng và Giá trị sống
  • Ban Khuyến học
  • Ban Học viện Thần học
  • Ban Hội Học sinh – Sinh viên
Chuyên mục
  • Tin tức
  • Thư chung
  • Giáo dục
  • Phụng vụ
  • Thư viện
Bản quyền © 2020 thuộc về Ủy Ban Giáo Dục HĐGM VN. Design by JT.