2022
ĐTC Phanxicô rửa chân cho các tù nhân và nói “Chúa luôn tha thứ”
ĐTC Phanxicô rửa chân cho các tù nhân và nói “Chúa luôn tha thứ”
Theo Phòng báo chí Toà Thánh, chiều thứ Năm Tuần Thánh, Đức Thánh Cha đã đến thăm nhà tù Borgata Aurelia ở Civitavecchia cách Roma khoảng 90 km về phía bắc, để cử hành Thánh lễ Tiệc Ly và rửa chân cho 12 tù nhân trong số 500 người đang thụ án tại đây.
Trong những năm qua, vào chiều thứ Năm Tuần Thánh, Đức Thánh Cha đã nhiều lần dâng Thánh lễ và cử hành nghi thức rửa chân cho các tù nhân đang thụ án trong các nhà tù. Đại dịch đã làm cho thói quen này của Đức Thánh Cha bị dừng lại, nhưng năm nay ngài đã trở lại viếng thăm nhà tù và rửa chân cho các tù nhân, lặp lại cử chỉ mà chính Chúa năm xưa đã làm cho các môn đệ.
Ông Matteo Bruni, Giám đốc Phòng báo chí Toà Thánh cho biết, trong bài giảng Thánh lễ, Đức Thánh Cha nói, trong thế giới này việc rửa chân cho người khác là “một điều lạ lùng”. Khi rửa chân cho kẻ phản bội mình, Chúa Giêsu dạy chúng ta một điều đơn giản là chúng ta phải rửa chân cho nhau, người này phục vụ người kia. Sẽ là tốt đẹp nếu điều này có thể thực hiện mỗi ngày và cho mọi người.
Đức Thánh Cha nói: “Chúa chờ đợi đến cùng, tha thứ tất cả. Chúng ta mệt mỏi xin tha thứ, nhưng Thiên Chúa luôn thứ tha. Mỗi người trong chúng ta đều có một điều gì đó trăn trở trong lòng từ lâu, nhưng hãy xin Chúa tha thứ”. Ngài nhấn mạnh thêm: “Thiên Chúa phán xét, nhưng là một xét xử kỳ lạ: Chúa phán xét và tha thứ. Vì thế hãy tiến bước với niềm vui phục vụ và tha thứ”.
Kết thúc bài giảng, như thường lệ, Đức Thánh Cha đã lặp lại cử chỉ của Chúa Giêsu trong Bữa Tiệc Ly: rửa chân cho các môn đệ, một dấu chỉ tình yêu được thúc đẩy đến mức phục vụ và hạ mình. Đức Thánh Cha đã rửa chân cho 12 tù nhân nam và nữ, thuộc mọi độ tuổi và quốc tịch khác nhau.
Sau Thánh lễ, Đức Thánh Cha đến phòng tiếp khách, chào thăm khoảng 50 tù nhân đại diện cho những người đang thụ án và các nhân viên an ninh của nhà tù. Ngài vui vẻ nhận tất cả các món quà đơn sơ từ họ gồm hoa quả, các tác phẩm điêu khắc làm bằng gỗ và dây đồng, tranh vẽ bằng bút chì. Về phần mình, sau khi tặng lại cho họ xâu chuỗi, Đức Thánh Cha trở về Nhà trọ Thánh Marta ở nội thành Vatican.
Ngọc Yến
2022
Vài ngộ nhận đối với lập trường của Đức Thánh Cha về chiến tranh
Vài ngộ nhận đối với lập trường của Đức Thánh Cha về chiến tranh
Đức Thánh Cha Phanxicô tiếp tục lên án sự tàn ác của chiến tranh ở mọi nơi, và cổ võ sự đối thoại, tha thứ, hòa giải và đạt đến một nền hòa bình đích thực, đặc biệt giữa hai dân tộc Nga và Ucraina, mặc dù lập trường của ngài gặp sự chống đối của nhiều người, kể cả một số trong hàng ngũ Công Giáo.
Hai gia đình Ucraina và Nga cùng vác chung Thánh Giá trong Đàng Thánh Giá tối thứ Sáu Tuần Thánh. (ANSA)
Trước và sau khi chiến tranh Ucraina bùng nổ với cuộc tấn công của Nga vào lãnh thổ Ucraina từ ngày 24/2/2022, Đức Thánh Cha đã nhiều lần lên tiếng, chưa có cuộc chiến nào từ trước đến nay ngài lên tiếng nhiều như vậy.
Không nêu đích danh Putin và Nga
Những lần lên án của Đức Thánh Cha đối với chiến tranh tại Ucraina ban đầu còn nhẹ nhàng, nhưng với thời gian, sự lên án này ngày càng mạnh mẽ. Ngài phê bình “những kẻ gây nên chiến tranh”, lên án sự vi phạm công pháp quốc tế, tố giác sự đàn áp dân chúng bằng bom đạn và sợ hãi, và gọi Ucraina là một ”nước tử đạo”. Ngài bác bỏ việc sử dụng kiểu nói mà Nga sử dụng, “chiến dịch quân sự đặc biệt” để chỉ cuộc xâm lăng Ucraina, và gọi đích danh đó là chiến tranh. Đức Thánh Cha nói: “Tại Ucraina, máu và nước mắt chảy thành sông”. Đó không phải chỉ là “một chiến dịch quân sự”, nhưng là một cuộc chiến tranh gieo rắc chết chóc, tàn phá và lầm than.
Nhưng lập trường với ngôn ngữ “ngoại giao” như thế bị một số báo chí mạnh mẽ phê bình. Họ muốn Đức Thánh Cha tố giác và đích danh lên án Nga và Putin. Như một bài xã luận của trang mạng Sismografo viết: “Sự ngoan cố không thể hiểu được như thế của Đức Giáo Hoàng không phải là điều tốt. Các quyền của con người, của các dân tộc, quốc gia, bị lâm nguy ở đây… Đức Giáo Hoàng cần công khai nêu đích danh tổng thống Nga Vladimir Putin như một kẻ gây hấn, tấn công, và kêu gọi cả Đức Thượng Phụ Kirill, Giáo Chủ Chính thống Nga, là người ủng hộ chính sách của Putin, hãy thay đổi lập trường sai trái ấy”.
Nhưng cũng có nhiều người bênh vực lập trường của Đức Thánh Cha Phanxicô và ngành ngoại giao của Tòa Thánh trong vấn đề này.
Đức TGM Claudio Gugerotti, Sứ thần Tòa Thánh tại London, từng là Sứ thần tại Belarus và Ucraina, giải thích rằng “trong việc trung gian, chúng ta cần rất thẳng thắn và loại bỏ những tội lỗi của con người. Chiến tranh ở Ucraina là điều kinh khủng và tuyệt đối không thể chấp nhận được. Nhưng đồng thời vai trò của Giáo Hội cũng là một “nhịp cầu tình thương và tôn trọng”, luôn tránh rơi vào những lời hùng biện. “Mục đích của Tòa Thánh luôn luôn là một khả thể cuối cùng khi mọi khả thể khác đã chấm dứt. Nếu bạn nói một lời loại bỏ thì khả thể ấy không còn nữa. Đức Giáo Hoàng và ngành ngoại giao Tòa Thánh luôn chứng tỏ rằng dù điều gì xảy ra đi nữa, các vị luôn tôn trọng mọi đối tác như một con người. Đó là điều kiện tiên quyết để có thể có một vai trò trong cuộc làm trung gian. Nếu phía thứ ba tuyệt đối loại bỏ một phía kia, coi họ là quái vật, thì người ấy không chấp nhận tham gia cuộc thương thảo vì cảm thấy không được chấp nhận.”
Victor Gaetan, tác giả cuốn sách “Những nhà ngoại giao của Thiên Chúa” (God’s Diplomats) xuất bản năm ngoái (2021) về ngành ngoại giao Tòa Thánh, viết rằng “Bạn luôn luôn phải dành chỗ cho cuộc nói chuyện kế tiếp, cuộc đối thoại sau này”. Và Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói rằng “Tòa Thánh sẵn sàng làm tất cả những gì có thể để phục vụ hòa bình”.
Vụ hai phụ nữ Nga và Ucraina cùng vác Thánh Giá
Gần đây nhất là những phản đối và phê bình mạnh mẽ việc Đức Thánh Cha chấp thuận cho hai nữ y tá Ucraina và Nga, bạn với nhau ở Roma, được mời cùng vác Thánh Giá trong chặng thứ 13 của Đàng Thánh Giá trọng thể ngài cử hành tại Hí trường Colosseo ở Roma vào tối Thứ Sáu Tuần Thánh 15/4. Đó là Irina người Ucraina, xuất thân từ thành Bucha gần Kiev, và Albnina, người Nga từ thủ đô Mascơva.
Trong cuộc phỏng vấn dành cho Đài Vatican, Albina nói: “Tôi cầu nguyện cho Ucraina. Tôi cầu nguyện cho thân nhân họ hàng tôi và cầu cho những kinh hoàng này sớm chấm dứt. Thế giới đang cần hòa bình và tình thương. Hai dân tộc anh em này sẽ chứng tỏ điều đó.”
Còn Irina nói: “Cuộc chiến tranh hiện nay đang tàn phá điều mà các dân tộc chúng tôi đã xây dựng với bao nhiêu hy sinh. Chị bạn tôi đây người Nga cảm thấy có lỗi và xin lỗi tôi, nhưng tôi trấn an chị ấy rằng chị không có lỗi gì cả trong những vụ này”.
Phản ứng chống đối
Đại sứ Ucraina cạnh Tòa Thánh, ông Andrij Jurasz, phản đối Tòa Thánh và nói rằng: không nên tổ chức kinh nguyện như thế như một phương thế hòa giải, hòa giải phải diễn ra sau đó: “Sự hòa giải đến sau, khi sự gây hấn tấn công chấm dứt. Khi người Ucraina không những có thể cứu mạng sống của mình nhưng cả tự do nữa. Và dĩ nhiên, chúng ta biết rằng hòa giải diễn ra khi những kẻ tấn công nhìn nhận tội của họ và xin lỗi”.
Cả Đức TGM Trưởng Sviatoslav Schevchuk, Giáo Chủ Công Giáo Ucraina nghi lễ đông phương, cũng nhận định rằng sự kiện một phụ nữ Ucraina và một phụ nữ Nga cùng vác thánh giá là điều không thích hợp và mơ hồ trong lúc này và thậm chí có tính chất xúc phạm. Văn bản và những cử chỉ trong chặng thứ 13 của đàng Thánh Giá này không thể hiểu nổi, nhất là trong lúc chờ đợi cuộc tấn công thứ hai đẫm máu hơn của các lực lượng Nga chống lại các thành thị và làng mạc của chúng tôi. Những cử chỉ hòa giải giữa các dân tộc chỉ có thể khi chiến tranh chấm dứt và những kẻ phạm tội ác chống lại nhân loại sẽ bị kết án theo công lý”.
Giải thích
– Không có phản ứng chính thức nào từ phía Đức Thánh Cha hay Tòa Thánh, nhưng Đức TGM Visbaldas Kulbokas, Sứ thần Tòa Thánh tại Ucraina, cho biết đã chuyển về Vatican các phản ứng trong dư luận Ucraina về vụ này. Tòa Thánh đã biết các phản ứng từ phía Ucraina. Các ký giả tại Vatican đang trả lời phản ứng của người Ucraina, và nhấn mạnh rằng kinh nguyện này không phải là một hành vi chính trị. Dưới thập giá của Chúa Giêsu, tốt và xấu, kẻ tấn công và nạn nhân, đều có. Lúc đó, cũng là một kinh nguyện của Chúa Giêsu cho mỗi người: Ngăn chặn kẻ tấn công và thúc đẩy họ phải hòa giải. Cứu Ucraina, cứu các sinh mạng, các gia đình, trẻ em, tự do, cứu vãn các đền thờ, cứu dân Ucraina.
Đức TGM Sứ Thần Visvaldas cũng kêu gọi mọi người hãy nhìn kinh nguyện này không phải về phương diện chính trị, nhưng dưới khía cạnh cầu nguyện, xin Chúa ban ơn tha thứ trong tâm hồn chúng ta.
– Tuy không có phản ứng chính thức từ Vatican, nhưng cha Antonio Spadaro, dòng Tên, Chủ nhiệm tạp chí “Civiltà Cattolica” (Văn minh Công Giáo), của dòng Tên ở Ý, giải thích rằng: “Đức Thánh Cha Phanxicô là một vị mục tử chứ không phải là một nhà chính trị. Ngài hành động theo tinh thần Tin Mừng là hòa giải, kể cả không có hy vọng hữu hình trong cuộc chiến tranh gây hấn mà ngài gọi là ‘Một tội phạm thánh’. Vì thế ngài đã thánh hiến Ucraina cùng với nước Nga cho Trái Tim Đức Mẹ. Hai phụ nữ, Albina và Irina, Thứ Sáu Tuần Thánh cùng vác Thánh Giá. Họ không nói lời nào. Không nói lời xin lỗi hay những điều khác. Không nói gì cả. Đó là một dấu chỉ ngôn sứ giữa tối tăm dầy đặc. Và đó là một lời khẩn cầu Thiên Chúa, xin Chúa ban ơn hòa giải”.
Cha Spadaro nhận định rằng “Sự hiện diện của họ chung với nhau là một kinh nguyện gây thắc mắc để xin một ơn mà chỉ mình Chúa có thể ban. Lời ngôn sứ được ghi khắc trong tâm hồn và nơi bóng đen của lịch sử. Lời cầu xin đối với tín hữu ngày nay vẫn còn: trong tình trạng ngày nay “yêu thương kẻ thù” có nghĩa là gì? Đây là trọng tâm của Tin Mừng. Và Đức Giáo Hoàng là mục tử hoàn vũ. Đối với ngài vẫn có giá trị điều ngài viết trong một dòng tweet: “Chúa không phân chia chúng ta thành những người xấu và người tốt, bạn hữu và kẻ thù. Đối với Chúa, tất cả chúng ta là những người con được yêu mến”. Đó thực là một điều kinh khủng và khó được chấp nhận. Nhưng đó là Tin Mừng của Chúa Kitô.”
- Trần Đức Anh O.P
2022
Thánh Lễ Đêm Phục Sinh tại Đền thờ Thánh Phêrô
Thánh Lễ Đêm Phục Sinh tại Đền thờ Thánh Phêrô
Vào lúc 7 giờ 30 tối Thứ Bảy 16/4, tại Vương cung Thánh Đường thánh Phêrô, ĐHY Giovanni Battista Re, niên trưởng Hồng y đoàn, đã dâng Thánh lễ Vọng Phục Sinh với sự hiện diện của Đức Thánh Cha và rất đông các tín hữu tham dự.
Bài giảng của Đức Thánh Cha trong Lễ Đêm Phục Sinh
Nhiều tác giả đã viết về vẻ đẹp của màn đêm được chiếu sáng bởi các vì sao. Ngược lại, những đêm tối chiến tranh đã hằn lên những vệt màu chết chóc. Anh chị em thân mến, trong đêm nay, chúng ta hãy để các phụ nữ của Tin Mừng cầm tay dẫn đi, để cùng với họ khám phá ra sự trỗi dậy của ánh sáng của Thiên Chúa, chiếu rọi vào bóng đêm của thế giới. Những người phụ nữ đó, khi màn đêm tan dần và những tia sáng đầu tiên của bình minh vừa ló rạng, đã đến mộ để xức dầu cho xác Chúa Giê-su. Rồi họ nhìn thấy hai nhân vật mặc y phục sáng chói, hai người này nói với họ rằng Chúa Giêsu đã sống lại; và ngay lập tức họ chạy đi báo tin cho các môn đệ khác (x. Lc 24,1-10). Họ nhìn thấy, nghe và loan báo: với ba hành động này, chúng ta cũng bước vào sự Phục Sinh của Chúa.
Các phụ nữ nhìn thấy. Lời loan báo đầu tiên về sự Phục sinh không được viết thành một công thức để hiểu, nhưng là một dấu chỉ để chiêm niệm. Trong một nghĩa trang, bên một ngôi mộ, nơi mọi thứ lẽ ra phải ngăn nắp và tĩnh lặng, các phụ nữ đã “thấy tảng đá đã được lăn ra khỏi mộ và khi bước vào, họ không tìm thấy xác của Chúa Giê-su” (câu 2-3 ). Do đó, sự Phục sinh bắt đầu bằng cách lật ngược các dự kiến của chúng ta và đi kèm với món quà của niềm hy vọng đáng ngạc nhiên. Nhưng để đón nhận nó không phải là điều dễ dàng. Đôi khi – chúng ta phải thừa nhận – sự hy vọng này không có chỗ trong trái tim của chúng ta. Giống như các phụ nữ trong Tin Mừng, chúng ta cũng thắc mắc và nghi ngờ, và phản ứng đầu tiên khi đối diện với dấu hiệu bất ngờ này là sợ hãi, “cúi gầm xuống đất” (xem Lc 23,4-5).
Chúng ta thường nhìn cuộc sống và thực tại với đôi mắt cúi gầm xuống đất; chúng ta chỉ nhìn chằm chằm vào ngày hôm nay phải trôi qua, chúng ta không hứng khởi về tương lai, chúng ta nhốt mình trong những nhu cầu của mình, chúng ta sống trong ngục tù của sự thờ ơ, trong khi chúng ta tiếp tục phàn nàn và nghĩ rằng mọi thứ sẽ không bao giờ thay đổi. Và vì vậy chúng ta bất động trước ngôi mộ của sự cam chịu và chủ nghĩa định mệnh, và chúng ta chôn vùi niềm vui sống. Tuy nhiên, vào đêm này, Chúa muốn ban cho chúng ta một đôi mắt khác, được thắp sáng bởi hy vọng rằng nỗi sợ hãi, đau đớn và cái chết sẽ không có lời cuối cùng trên chúng ta. Nhờ sự Phục sinh của Chúa Giêsu, chúng ta có thể thực hiện bước nhảy từ hư vô thành sự sống, “và cái chết sẽ không còn có thể cướp đi sự hiện hữu của chúng ta nữa” (K. RAHNER, Phục sinh có nghĩa là gì, Brescia 2021, 28): sự sống được ôm lấy tất cả và mãi mãi bởi tình yêu vô bờ của Thiên Chúa. Đúng thật là biến cố này có thể làm chúng ta sợ hãi và tê liệt. Nhưng Chúa đã sống lại! Chúng ta hãy nhìn lên, hãy gỡ bỏ bức màn cay đắng và buồn bã khỏi đôi mắt của chúng ta để mở ra đón nhận niềm hy vọng của Thiên Chúa!
Thứ hai, các phụ nữ lắng nghe. Sau khi họ nhìn thấy ngôi mộ trống, hai người đàn ông mặc y phục sáng chói nói với họ: ‘Tại sao các bà lại tìm Người Sống giữa kẻ chết? Người không còn đây nữa, Người đã trỗi dậy rồi” (câu 5-6). Chúng ta an tâm khi nghe và lặp lại những lời này: Người không có ở đây! Đó là mỗi khi chúng ta muốn hiểu tất cả về Thiên Chúa, để có thể lái Người theo kế hoạch của chúng ta, chúng ta thường tự lặp lại với chính mình: Người không có ở đây! Mỗi khi chúng ta chỉ tìm kiếm Người theo cảm xúc thoáng qua hoặc những khi cần thiết, rồi gạt bỏ Người sang một bên và quên Người đi trong cuộc sống hàng ngày và những lựa chọn cụ thể, chúng ta lặp lại: Người không có ở đây! Và khi chúng ta nhốt Người vào những lời nói, theo công thức và thói quen của chúng ta, nhưng chúng ta quên tìm kiếm Người trong những góc tối nhất của cuộc sống, nơi có những người khóc lóc, vất vả, đau khổ và trông đợi, chúng ta lặp lại: Người không có ở đây!
(CNS photo/Paul Haring)
Chúng ta hãy lắng nghe câu hỏi dành cho các phụ nữ: “Tại sao các bà lại tìm kiếm Người Sống giữa kẻ chết?”. Chúng ta không thể có Phục sinh nếu chúng ta tiếp tục ở trong cái chết; nếu chúng ta vẫn là tù nhân của quá khứ; nếu trong cuộc sống, chúng ta không có can đảm để cho mình được Thiên Chúa tha thứ, thay đổi, và đoạn tuyệt với những việc của sự dữ, để quyết định theo Chúa Giêsu và tình yêu của Người; nếu chúng ta hạ giảm đức tin thành một tấm bùa hộ mệnh, biến Thiên Chúa thành một ký ức đẹp của thời quá khứ, thay vì gặp gỡ Người hôm nay như một Thiên Chúa hằng sống, Đấng muốn biến đổi chúng ta và thế giới. Một Kitô hữu tìm kiếm Thiên Chúa giữa các di tích của quá khứ và đặt Người trong ngôi mộ theo thói quen là một Kitô hữu không có sự Phục sinh. Nhưng Chúa đã sống lại! Chúng ta đừng nán lại ở các ngôi mộ, nhưng hãy ra đi để tái khám phá Người, Đấng Hằng Sống! Và chúng ta cũng không ngại tìm kiếm Người trong những khuôn mặt của anh chị em, trong câu chuyện của những người hy vọng và những người mơ ước, trong nỗi đau của những người than khóc và đau khổ: Thiên Chúa ở đó!
Cuối cùng, các phụ nữ loan báo. Họ loan báo điều gì? Niềm vui của sự Phục sinh. Sự Phục sinh không xảy ra để an ủi thân tình cho những ai thương tiếc cái chết của Chúa Giê-su, nhưng để mở toang trái tim đón nhận lời loan báo đặc biệt về sự chiến thắng của Thiên Chúa trên sự dữ và sự chết. Vì thế, ánh sáng của sự Phục Sinh không muốn giữ các phụ nữ trong sự vui mừng cá nhân, không để cho họ ở thái độ thụ động, nhưng làm cho họ thành những môn đệ truyền giáo “từ ngôi mộ trở về” (xem câu 9) và mang Tin Mừng Phục Sinh cho tất cả. Như thế, sau khi đã thấy và đã nghe, các phụ nữ đã chạy đi loan báo niềm vui Phục Sinh cho các môn đệ. Họ biết rằng họ có thể bị coi là điên rồ, đến nỗi Tin Mừng kể rằng lời nói của họ bị coi là “chuyện vớ vấn” (câu 11), nhưng họ không bận tâm về danh tiếng của mình hay để bảo vệ hình ảnh của mình; họ không chiều theo tình cảm, họ không tính toán về lời nói.
Thật đẹp biết bao khi một Giáo hội biết chạy như thế trên các con đường của thế giới! Không sợ hãi, không chiến thuật và cơ hội; nhưng chỉ với mong muốn mang niềm vui Tin Mừng đến cho mọi người. Chúng ta được mời gọi điều này: có kinh nghiệm với Đấng Phục sinh và chia sẻ điều đó với người khác; lăn tảng đá ra khỏi ngôi mộ, nơi chúng ta vẫn thường niêm phong Chúa, để loan truyền niềm vui của Người cho thế giới. Chúng ta hãy làm cho Chúa Giêsu, Đấng Hằng Sống, sống lại từ trong những ngôi mộ mà chúng ta đã nhốt Người; chúng ta hãy giải thoát Người khỏi những hình thức mà chúng ta thường giam cầm Người; chúng ta hãy trỗi dậy khỏi cơn mê ngủ mà đôi khi chúng ta đặt Người vào để Người không quấy rầy và làm chúng ta khó chịu. Hãy mang Người vào cuộc sống hàng ngày: bằng những cử chỉ hòa bình trong thời điểm này, vốn bị đánh dấu bởi sự khủng khiếp của chiến tranh; bằng những việc hòa giải trong các mối quan hệ tan vỡ và lòng thương cảm đối với những người cần giúp đỡ; bằng những hành động của công lý cho những nơi bất bình đẳng và sự thật cho những nơi dối trá. Và, trên tất cả, bằng những công việc của tình yêu và tình huynh đệ.
Anh chị em thân mến, niềm hy vọng của chúng ta có tên gọi là Giêsu. Người đã bước vào ngôi mộ tội lỗi của chúng ta, đến điểm xa nhất mà chúng ta đã bị lạc mất, bước qua những rối ren của sợ hãi, gánh lấy những trĩu nặng của chúng ta và từ vực sâu tăm tối nhất của cái chết của chúng ta, Người đã biến tiếng khóc than của chúng ta thành vũ điệu. Chúng ta cùng mừng lễ Phục sinh với Chúa Kitô! Người đang sống và hôm nay Người vẫn tiếp tục vượt qua, biến đổi và giải thoát. Với Người, sự ác không còn sức mạnh và sự thất bại không thể ngăn cản chúng ta bắt đầu lại, cái chết trở thành một hành trình bắt đầu của một sự sống mới. Vì với Chúa Giêsu Phục sinh, không có đêm tối nào là vô hạn; và ngay cả trong bóng đen dày đặc nhất, ngôi sao mai vẫn chiếu sáng.
(Vatican News 16.04.2022)
2022
Đức Thánh cha chủ sự Nghi thức Tưởng niệm cuộc Thương khó của Chúa
Đức Thánh cha chủ sự Nghi thức Tưởng niệm cuộc Thương khó của Chúa
Lúc 5 giờ chiều, Thứ Sáu Tuần thánh, ngày 15 tháng Tư năm 2022, Đức Thánh cha Phanxicô đã chủ sự nghi thức trọng thể, tại Đền thờ thánh Phêrô để tưởng niệm cuộc khổ nạn của Chúa Kitô, trước sự hiện diện của hàng ngàn tín hữu, đông đảo các hồng y, giám mục và hàng trăm chức sắc khác.
Sau bài Thương khó, Đức Hồng y Raniero Cantalamessa, 88 tuổi, dòng Capuchino, Giảng thuyết viên tại Phủ Giáo hoàng, từ 42 năm nay (1980) đã diễn giải cuộc đối thoại giữa quan Philatô và Chúa Giêsu, trong đoạn 18 của Tin mừng theo thánh Gioan, đặc biệt là câu quan tổng trấn hỏi Chúa Giêsu: “Sự thật là gì?” (Ga 18).
Đức Hồng y giảng thuyết nhắc đến trào lưu vô thần, những người theo thuyết bất khả tri ngày càng đông đảo và ngài nhận xét rằng: “Người ta nói: có quá nhiều bất công và quá nhiều đau khổ trên thế giới khiến chúng ta không thể tin có Thiên Chúa! Đúng vậy, nhưng nếu chúng ta hãy nghĩ: sự ác bao quanh chúng ta, càng trở nên vô lý và không thể chịu nổi nếu không có niềm tin nơi chiến thắng chung kết của chân lý và sự thiện. Sự Phục sinh của Chúa Giêsu từ cõi chết chính là lời hứa và là bảo đảm rằng sẽ có sự chiến thắng ấy, vì chiến thắng đó đã bắt đầu với Chúa Giêsu”.
Đức Hồng y Cantalamessa cũng nhận xét một điều: trong cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và quan Philatô, quan nói: “Dân của ông và các tư tế đã nộp ông cho tôi!” (Ga 18,35). Quan ngụ ý nói điều này: những người thuộc Giáo hội của ông, các tư tế đã rời bỏ ông: họ đã hạ giá danh ông với những tội ác kinh khủng, vậy chẳng lẽ chúng tôi phải còn tin nơi ông sao?”
Về điểm này, Đức Hồng y Cantalamessa trưng dẫn câu nói của văn hào người Anh, ông John Ronald Tokien, tác giả cuốn truyện và cuốn phim “Chúa tể của những chiếc nhẫn” (The Lord of the Rings), trong thư trả lời cho những vấn nạn của người con về Giáo hội: “Lòng yêu mến của chúng ta có thể nhạt phai và ý chí của chúng ta có thể điêu tàn vì những thiếu sót, sự điên rồ, và những tội lỗi của Giáo hội và các chức sắc của Giáo hội, nhưng ba không tin rằng người có đức tin đích thực sẽ từ bỏ đức tin vì những lý do như thế, và điều này càng thấy nơi những người có ít kiến thức về lịch sử… Người ta rời bỏ đức tin viện lẽ những lý do vừa nói, vì đó là điều tiện lợi cho chúng ta, vì nó thúc đẩy chúng ta khỏi phải nhìn vào chính bản thân mình, khỏi những tội lỗi của chúng ta và tìm ra một cái cớ như con dê tế thần. Ba nghĩ bản thân ba cũng nhạy cảm đối với những gương mù gương xấu, giống như con và mọi Kitô hữu cũng nhạy cảm như vậy. Ba đã chịu đau khổ nhiều trong cuộc đời vì những linh mục dốt nát, mệt mỏi, yếu đuối và đôi khi còn xấu xa nữa”.
“Vả lại, những điều như thế là điều thế nào cũng có. Nó bắt đầu cả trước lễ Vượt qua với sự phản bội của Giuđa, sự chối Chúa của ông Simon Phêrô, sự bỏ trốn của các tông đồ… Vậy, con phải khóc sao? Đúng vậy!” – Văn hào Tolkien khuyên nhủ con, – “con phải khóc nhưng là khóc cho Chúa Giêsu, về những gì Chúa phải chịu, trước khi khóc cho chúng ta. Khóc với những nạn nhân và cho các nạn nhân do tội lỗi chúng ta”.
Và Đức Hồng y Cantalamessa kết luận với lời Chúa Giêsu nói, khi hay tin về vụ đổ máu do quan Philato ra lệnh giết, và vụ tháp Siloe sập: “Nếu các ngươi không hoán cải, thì tất cả các ngươi cũng sẽ chết như thế” (Lc 13,5). Nếu chúng ta không biến những giáo mác của chúng ta thành lưỡi liềm, biến gươm của chúng ta thành lưỡi cày (Is 2,4), biến những tên lửa của chúng ta thành công xưởng và nhà cửa, thì tất cả chúng ta cũng sẽ chết như thế!”
Lễ nghi tưởng niệm cuộc Thương khó của Chúa được tiếp nối với mười lời nguyện cho các nhu cầu của Giáo hội Công giáo và mọi thành phần trong nhân loại. Kế đến là nghi thức tôn thờ thánh giá và phần hiệp lễ. Sau cùng, hàng chục linh mục đã trao Mình Thánh Chúa cho các tín hữu.
(Rei 15-4-2022)
- Trần Đức Anh, O.P.
