2022
Những Người Mẹ Ẩn sĩ Ai Cập: Sarra, Theodora và Sincletica
Những Người Mẹ Ẩn sĩ Ai Cập: Sarra, Theodora và Sincletica
Trong thời kỳ đầu của đời sống ẩn sĩ, có ba người phụ nữ đặc biệt đã để lại cho chúng ta một di sản thiêng liêng: Sincletica, Sarra và Teodora. Tình mẫu tử thiêng liêng của họ không chỉ dành cho phụ nữ, trinh nữ, mà còn dành cho cả các đan sĩ, các linh mục và thậm chí cả các giám mục, cũng như các tín hữu giáo dân.
“Một người được cứu như thế nào?”
Đây là câu hỏi mà nhiều người đặt ra với những người Cha (Abba) và người Mẹ (Amma) thiêng liêng trong sa mạc của Ai Cập cổ đại để chỉ cho họ “những gì phải làm” cách cụ thể trong “đời sống thực tế”, để đạt được sự cứu rỗi. Con đường nào phải theo, bài tập nào phải hoàn thành, nhân đức nào phải tập, làm thế nào để chiến thắng sự tấn công của ma quỷ và những cám dỗ của nó: trong thực hành, cần sống như thế nào, ở đây và bây giờ, để có được sự sống đời đời.
Những lời khuyến khích và chỉ dạy mà những người Cha và người Mẹ ẩn sĩ Ai Cập cổ đại đã đưa ra để giúp các môn sinh – tu sĩ và giáo dân – đã được thu thập và viết ra trong nhiều loạt sách Cách ngôn của các Giáo phụ, trong đó quan trọng nhất là sách Bảng chữ cái, được tác giả sưu tầm và sắp xếp theo thứ tự bảng chữ cái tên của họ; trong khi sách được gọi là Hệ thống được sắp xếp theo các chủ đề, chẳng hạn như: khiêm nhường, vâng lời, bác ái, không phán xét.
Trong bộ Bảng chữ cái, 133 người Cha và 3 người Mẹ đã được liệt kê. Đó là những người Mẹ Sarra, Theodora và Sincletica. Mặc dù những con số những người Mẹ rất ít so với số người Cha, tuy nhiên, không phải là ít quan trọng hơn. Những câu nói của họ là một bằng chứng quan trọng về danh tiếng của họ, về lời dạy và vai trò của họ.
Nhưng những người Mẹ này là ai, những người đã biến việc bước theo Đấng Phục sinh thành mục đích duy nhất của cuộc đời họ?
Họ là những phụ nữ từ thời trẻ, trong nhà riêng và trong sự cô tịch của một ngôi mộ, như Sincletica, hoặc trong những nơi ở đơn độc, như Sarra, hoặc trong tu viện, như Teodora, đã dâng hiến cuộc sống của họ trong đời ẩn sĩ, để thực hiện một hành trình khổ hạnh nghiêm túc và khó khăn, dưới sự hướng dẫn của Thánh Thần, Đấng đã đưa họ đến chóp đỉnh của nhân đức. Hành trình thiêng liêng này cũng cho họ đặc sủng hướng dẫn thiêng liêng, nghĩa là khả năng biết hướng dẫn những người đến xin họ những lời chỉ dẫn đến sự cứu rỗi, ngang qua sự phân định những Lời được soi sáng.
Luôn sẵn sàng khuyên nhủ, khích lệ, an ủi, đồng hành với sự nghiêm khắc và dịu dàng, trong khi bao bọc những người con nam nữ bằng lời cầu nguyện của họ, để một khi đã vượt qua được mọi cạm bẫy của ma quỷ, họ sẽ được Thần Khí làm cho sống động và biến đổi.
Tình mẫu tử thiêng liêng của họ không chỉ dành cho phụ nữ, trinh nữ hay đã kết hôn, mà còn dành cho cả các đan sĩ, các linh mục và thậm chí cả các giám mục, cũng như các tín hữu giáo dân. Thực tế, việc hướng dẫn thiêng liêng không liên quan đến yếu tố giới tính, nhưng đến hành trình được thực hiện trong Thánh Thần, để trở thành ‘người nữ của Thiên Chúa’, và những người mang Thần Khí, cho phép họ có khả năng “neo thân tàu vào bến cứu độ, gắn đời mình vào đức tin nơi Thiên Chúa như một cái neo chắc chắn ” (Cuộc đời của Sincletica 19). Do đó, những người Mẹ này là một điểm tham chiếu cho toàn thể cộng đoàn đan sĩ và giáo hội.
Nhiều lời dạy khác nhau của những người Mẹ Sarra, Theodora và Sincletica được bảo tồn, phác thảo một con đường thiêng liêng, đơn giản nhưng chắc chắn.
Chẳng hạn, Mẹ Sarra chú ý đặc biệt đến tương quan một cách chân thực và mang tính xây dựng với các tu huynh, ngang qua sự tự do và trong sạch của tâm hồn, không bị chi phối bởi ước muốn được chào đón và nhận xét tốt:
“Nếu tôi cầu xin Chúa để tất cả mọi người đều hoàn toàn hài lòng với tôi, thì tôi sẽ đến sám hối trước cửa mỗi người. Tôi thà cầu nguyện cho lòng tôi được trong sạch với mọi người” (Sarra 5).
Ngược lại, Mẹ Theodora kiên quyết chịu đựng đau khổ và mọi nghịch cảnh để “giành lấy và chuộc lại thời gian” của cuộc đời (Teodora 1). Thật vậy, những đau khổ và cám dỗ có thể làm cho chúng ta trưởng thành và tiến bộ, dẫn chúng ta đến sự sống vĩnh cửu:
“Cũng như đối với cây cối: nếu không trải qua mùa đông và mưa, thì chúng không thể kết trái. Vì vậy, đối với chúng ta cũng vậy, thế kỷ hiện tại là mùa đông. Chỉ có trải qua nhiều đau khổ và cám dỗ, chúng ta mới có thể trở thành người thừa kế nước trời” (Theodora 2).
Sau cùng, Mẹ Sincletica thì đào sâu chủ đề về ơn gọi phổ quát, bởi vì đó là hoa trái của sự dấn thân cá nhân và của đức tin vào Thiên Chúa, Đấng hoạt động trong chúng ta. Khi ngỏ lời với những người đã được thánh hiến cho Thiên Chúa, Mẹ cảnh giác họ rằng:
Dường như chúng ta đang đi về phía bình yên trên biển, trong khi những người của thế gian đang gặp nguy hiểm. Chúng ta di chuyển ban ngày được hướng dẫn bởi mặt trời của công lý; và ngược lại, những người của đêm tối bị dẫn dắt bởi sự vô minh. Nhưng thường xảy ra là những người của thế gian, thấy mình trong đêm giông bão, kêu gào và cảnh giác, họ có thể cứu được con thuyền, trong khi chúng ta, do lơ là, đã chết đuối trong biển “bình lặng vì đã buông bánh lái của sự công chính” (Sincletica 26)
Những nhân cách, những người Mẹ này, trong một thời gian dài, không được biết đến và quý chuộng bởi những nhà nghiên cứu, cả về học thuật lẫn thần học, và ngày nay phải được tái khám phá để nâng cao vai trò của phụ nữ trong lịch sử Giáo hội.
Maria Luciana Tartaglia o.s.b.
Đại học Giáo hoàng San Anselmo
Văn Cương, SJ
2022
Một linh mục Mexicô bị giết trong cộng đồng vùng biên giới
Một linh mục Mexicô bị giết trong cộng đồng vùng biên giới
Mexico. Một linh mục Công giáo, người hướng dẫn nơi trú ẩn cho người di cư, đã bị giết ở bang Baja California, biên giới Mexico. Điều này càng cho thấy Mexicô là một quốc gia sát hại các giáo sĩ.
Cha José Guadalupe Rivas Saldaña và một người khác chưa xác định danh tính được tìm thấy đã chết vào ngày 17 tháng 5 tại thành phố Tecate, phía đông Tijuana, sau khi được thông báo mất tích vào ngày 15 tháng 5, theo truyền thông địa phương. Có dấu hiệu cho thấy Cha Rivas và nạn nhân kia bị thương ở đầu.
Tổng giáo phận Tijuana đã xác nhận các trường hợp tử vong vào ngày 18/5.
Cha Rivas đã từng là chính xứ giáo xứ Thánh Giuđa Tađêô ở Tecate và là giám đốc nơi trú ẩn dành cho người di cư kể từ tháng 6 năm 2021 và đã tham gia vào phong trào canh tân đặc sủng Công giáo.
Các cộng đồng Công giáo làm việc với những người di cư đã kêu gọi một cuộc điều tra thoả đáng về vụ sát hại Cha Rivas và cảnh báo về tình trạng mất an ninh tràn lan, khiến cả người di cư và những người bảo vệ họ có nguy cơ bị bạo lực.
“Chúng tôi biết rằng những nhà bảo vệ nhân quyền của người di cư và người tị nạn đang phải đối mặt với nhiều nghịch cảnh và bạo lực, vì vậy điều cần thiết lúc này, nhà nước phải đảm bảo an toàn cho những người đang thực thi công việc này”, tổ chức của Dòng Scalabrini dành cho người di cư và người tị nạn cho biết trong một tuyên bố ngày 19 tháng 5.
Cái chết của Cha Rivas xảy ra khi cuộc di cư qua Mexico được dự đoán diễn ra vào ngày 23 tháng 5 khi dỡ bỏ Đề mục 42, một chính sách biên giới cho phép các cơ quan biên giới nhanh chóng trục xuất những người nhập cư bất hợp pháp tại biên giới phía nam Hoa Kỳ trở về Mexicô vì lý do sức khỏe cộng đồng giữa đại dịch COVID-19.
Các linh mục ở Mexico đã phải chịu bạo lực ở Mexicô cùng với người dân. Theo Trung tâm Truyền thông Công giáo ở Mexico City, ít nhất 5 linh mục người Mexicô đã bị giết hại kể từ tháng 12/2018.
Văn Cương, SJ
2022
Hội nghị học thuật được thiết lập để nghiên cứu lịch sử Giáo triều Roma
Hội nghị học thuật được thiết lập để nghiên cứu lịch sử Giáo triều Roma
Roma. Một hội nghị học thuật diễn ra tại Roma từ ngày 26-28/5 để nghiên cứu lịch sử của Giáo triều Roma, với mục đích cung cấp “một cái nhìn tổng quan về lịch sử rộng lớn nhằm giúp đi vào một lịch sử sống động của bộ máy quản trị trong Giáo hội Công giáo.
Hội nghị Giáo triều Roma, được tổ chức tại Viện Giáo phụ Augustinô từ ngày 26 đến ngày 28 tháng 5, với sự tham gia của các học giả từ khắp nơi trên thế giới và sẽ tập trung vào “Các phác thảo và bối cảnh lịch sử của Giáo triều Rôma”.
Đặc tính toàn cầu của Giáo hội
Tiến sĩ Donald Prudlo, người giữ chức Chủ tịch Warren về Nghiên cứu Công giáo tại Đại học Tulsa, là một trong những người tổ chức hội nghị, nói với Vatican News: “Giáo triều Roma là cơ quan hành chính lâu đời nhất còn tồn tại trên thế giới. Từ xưa và ngày nay cũng rất quan trọng, Giáo triều Roma là cơ quan hành chính đầu tiên của một thể chế toàn cầu thực sự.”
Trong bối cảnh ĐTC Phanxicô đang cải tổ Giáo triều – và đặc biệt là với việc ban hành Tông hiến Praedicate evangelium, có hiệu lực vào ngày hội nghị kết thúc, Tiến sĩ Prudlo nói rằng điều đó đặc biệt hữu ích “để suy ngẫm về lịch sử lâu dài và nhiều trường hợp cải cách trong lịch sử của Giáo triều, là một cơ quan lâu đời, có ảnh hưởng và đôi khi bị hiểu lầm.”
Trở lại nguồn gốc của Giáo triều
Tiến sĩ Prudlo nhấn mạnh rằng Giáo triều Roma tồn tại vì sự phục vụ của Giáo hội, “càng khôi phục lại những gốc rễ của nó và sứ mạng ban đầu của các văn phòng Giáo triều, thì càng giúp ích hơn cho những người có trách nhiệm cải cách Giáo triều ngày nay và để giúp họ có thể hiểu, phục vụ sứ mạng một cách tốt hơn.”
Hội nghị sẽ bao gồm các bài thuyết trình về nguồn gốc của Triều đại Giáo hoàng, sự phát triển của các viện giáo dục trong thời kỳ Trung cổ và hậu Công đồng Trentô, và tài chính của Giáo hoàng trong Thời kỳ Đầu Hiện đại, cùng những nội dung khác.
Tiến sĩ Prudlo, người sẽ trình bày một bài diễn văn về Giáo triều Roma và các trật tự mới trong thế kỷ 13, cũng sẽ trình bày bản dịch mới bằng tiếng Anh cuốn sách của tác giả Bartholomew of the Martyrs, OP, về lời khuyên cho các giám mục sau Công đồng Trentô trong sách có tựa đề Stimulus Pastorum. Đây là một tác phẩm có ảnh hưởng đặc biệt vào thời đó, Stimulus Pastorum đã giúp hướng dẫn phát triển nhiệm vụ giám mục trong thời kỳ hậu Công đồng Trentô.
Hội nghị mở cửa miễn phí và công khai, và cần đăng ký trước tại https://storiadellacuria.org. Các tài liệu sẽ được cung cấp bằng tiếng Anh và tiếng Ý, và sẽ có phiên dịch tại chỗ trong hội nghị.
Văn Cương, SJ
2022
Lễ phong chân phước cho chị Pauline Jaricot
Lễ phong chân phước cho chị Pauline Jaricot
Lúc 3 giờ chiều, Chúa nhật 22 tháng Năm vừa qua, Đức Hồng y Luis Antonio Tagle, Tổng trưởng Bộ Loan báo Tin mừng cho các dân tộc, đã đại diện Đức Thánh cha Phanxicô, chủ sự thánh lễ tôn phong Nữ Tôi tớ Chúa giáo dân Pauline Jaricot lên bậc chân phước.
Pauline sinh tại Lyon năm 1799 trong một gia đình khá giả, cha là một nhà công nghệ tơ sợi. Năm 23 tuổi, tức là ngày 05 tháng Năm năm 1822, chị thành lập Hội Truyền bá Đức tin, để giúp đỡ các xứ truyền giáo. 100 năm sau đó, Hội trở thành Hội Giáo hoàng Truyền bá Đức tin và ngày nay hiện diện tại 140 quốc gia trên thế giới.
Tham dự thánh lễ, dài hai giờ rưỡi đồng hồ, tại Hội trường Triển Lãm Chassieu, có 12.000 tín hữu, trong đó có 120 vị Giám đốc toàn quốc từ các nước tựu về Lyon tham dự đại hội thường niên trong những ngày qua và tham dự thánh lễ đặc biệt này. Trong số các tín hữu hiện diện, cũng có gia đình ông Emmanuel Trần, thân phụ của bé Mayline. Năm 2012, bé được ba tuổi, lâm vào tình trạng hôn mê không thể hồi lại vì bị hóc và ngộp thở, nhưng được cứu sống một cách lạ lùng nhờ các tín hữu thuộc Hội Mân côi sống làm tuần chín ngày cầu xin chị Pauline Jaricot cứu giúp. Hội này cũng do chị thành lập. Cuộc khỏi bệnh này được Bộ Phong thánh nhìn nhận là phép lạ nhờ lời chuyển cầu của vị Tôi tớ Chúa Pauline.
Đồng tế với Đức Hồng y Tagle, có nhiều hồng y, giám mục và hàng trăm linh mục.
Cũng nên nhắc lại, trong buổi đọc kinh Lạy Nữ Vương Thiên đàng trước đó, trưa Chúa nhật 22 tháng Năm, tại Quảng trường thánh Phêrô, với khoảng 15.000 tín hữu hành hương, Đức Thánh cha Phanxicô cũng chào mừng lễ phong chân phước chị Pauline Jaricot. Đức Thánh cha nói: “Nữ giáo dân này, sống vào tiền bán thế kỷ XIX, là một phụ nữ can đảm, quan tâm đến những thay đổi của thời đại với cái nhìn bao quát về sứ mạng của Giáo hội. Ước gì tấm gương của chị khơi lên nơi mọi người ước muốn tham gia, bằng kinh nguyện và việc bác ái, vào việc phổ biến Tin mừng trên thế giới.”
(Leprogres.fr 22-5-2022)
- Trần Đức Anh, O.P
