2022
Giáo hội Campuchia có thêm ba phó tế người bản xứ
Giáo hội Campuchia có thêm ba phó tế người bản xứ
Trong những ngày vừa qua, Đức cha Olivier Schmitthaeusler, Đại diện Tông toà ở Phnom Penh, Campuchia đã truyền chức phó tế cho ba thầy người Campuchia. Với lễ truyền chức này, Giáo hội tại đây hiện có 10 giáo sĩ là người bản xứ, cùng với 70 vị thừa sai nước ngoài.
Trong Thánh lễ truyền chức phó tế, Đức cha Olivier bày tỏ niềm vui lớn đối với toàn thể Giáo hội Campuchia, bởi vì sau nhiều năm phân định, đào tạo, cùng với lời cầu nguyện của các gia đình và toàn thể cộng đoàn, Giáo hội đã có được hoa trái tuyệt vời, là ba phó tế.
Trong bài giảng Thánh lễ, Đức cha Olivier nói với thầy John Baptist Samnang Vy, thầy Anthony Ratanak Thai và thầy Paul Kan Ven rằng: “Các thầy giống như ba nhà đạo sĩ đi theo ngôi sao, dấu chỉ của Chúa, và hôm nay các thầy đã để cho Chúa thánh hiến, thuộc về Chúa Kitô”. Đức cha nhắc nhở các phó tế: “Mỗi người trong anh em sẽ phục vụ Chúa suốt đời. Phục vụ bắt đầu từ con tim, là sự gắn bó với Chúa qua tương quan cá nhân trong cầu nguyện, suy niệm Lời Chúa, thờ lạy Thánh Thể, trong lời cầu nguyện của Giáo hội. Phục vụ Chúa là của lễ dâng lên Chúa, nhưng sự dâng hiến này không chỉ trong Bí tích được cử hành trên bàn thờ, nhưng phải làm cho mình trở thành lễ vật”.
Với lễ truyền chức này, Giáo hội tại đây hiện có 10 giáo sĩ là người bản xứ, cùng với 70 vị thừa sai nước ngoài. Nhờ sự hiện diện của các nhà truyền giáo, đức tin và các cộng đoàn Công giáo ở Campuchia đang phát triển mạnh mẽ sau thời kỳ đen tối của chế độ Khmer Đỏ (1975-1979). Thế hệ Kitô hữu hiện nay được coi là cộng đoàn Công giáo đầu tiên vì hầu hết ông bà cha mẹ của họ đã bị giết bởi các vụ hành quyết hàng loạt, lao động cưỡng bức, lạm dụng thể chất, suy dinh dưỡng và bệnh tật trong các trại lao động của Khmer Đỏ.
Bốn người Campuchia đầu tiên đã được thụ phong linh mục vào năm 2001. Tháng 7 vừa qua, Giáo hội địa phương đã cử hành lễ phong chức linh mục cho phó tế đầu tiên thuộc dân tộc Phnong.
Trong dịp này, cộng đoàn cũng chào mừng cha Pierre Suon Hangly người bản xứ đầu tiên của Kompong Cham vừa được Đức Thánh Cha bổ nhiệm làm Phủ doãn Tông toà Kompong Cham hôm 15/7 vừa qua.
Giáo hội Công giáo ở Campuchia được tổ chức với ba khu vực: Đại diện Tông tòa Phnom Pênh, Hạt Phủ doãn Tông Tòa Battambang và Hạt Phủ doãn Tông Tòa Kompong-Cham. Giáo hội có khoảng 20.000 người Công giáo trên tổng số hơn 15 triệu dân.
Ngọc Yến
2022
Dư âm chuyến tông du của Đức Thánh Cha tại Kazakhstan
Dư âm chuyến tông du của Đức Thánh Cha tại Kazakhstan
Chuyến tông du thứ 38 của Đức Thánh Cha dài 3 ngày tại thủ đô Nur-Sultan của Kazakhstan đã tiến hành tốt đẹp. Về lại Vatican tối ngày 15/9, sáng sớm hôm sau, Đức Thánh Cha đã đến Đền thờ Đức Bà Cả để cảm tạ Mẹ Thiên Chúa vì ơn phù trợ trong chuyến viếng thăm, tuy ngắn ngủi, nhưng đã có những âm hưởng tích cực nơi nhiều người.
Ấn tượng của Đức Thánh Cha
Vị có cảm tưởng tích cực là chính Đức Thánh Cha, như ngài tỏ lộ trong câu trả lời cho nữ ký giả Zhanat Akhmetova của hãng thông tấn TV Khabar thuộc Kazakhstan trong cuộc họp báo trên máy bay chiều ngày 15/9 lúc trở về Roma. Ngài nói:
“Cuộc viếng thăm này đối với tôi cũng là một ngạc nhiên, vì về miền Trung Á, ngoài nhạc của Borodin, tôi không biết gì. Thật là một ngạc nhiên khi gặp gỡ các đại diện của quốc gia Kazakhstan. Và cả Kazakhstan cũng là một ngạc nhiên đối với tôi vì tôi không ngờ nước này như thế. Trước đó tôi chỉ biết đó là một nước, một thành phố phát triển tốt đẹp, khôn ngoan. Nhưng sau 30 năm độc lập, phát triển được như thế, thật là điều tôi không ngờ. Ngoài ra, một nước lớn như thế, mà chỉ có 19 triệu dân, thật là không tưởng tượng được, một nước rất kỷ luật, đẹp đẽ, bao nhiêu vẻ đẹp: kiến trúc của thành phố rất quân bình, bố trí kỹ lưỡng. Một thành phố tân tiến, và cả về mặt phát triển văn hóa. Thật là một ngạc nhiên mà tôi không ngờ. Rồi về Hội nghị các vị lãnh đạo tôn giáo, một điều rất quan trọng, và đã tiến tới Hội nghị kỳ 7. Điều này cho thấy đó là một nước nhìn xa trông rộng, giúp đối thoại giữa những người thường bị gạt bỏ. Vì có một quan niệm cấp tiến của thế giới theo đó, điều đầu tiên mà người ta gạt bỏ là những giá trị tôn giáo. Kazakhstan là một nước xuất hiện trước mặt thế giới với một đề nghị về Hội nghị các tôn giáo và đã thực hiện được 7 lần rồi, thật là điều tuyệt vời! Bà có thể hãnh diện về đất nước của bà”.
Cảm tưởng của Đức ông Akashed
Đức Ông Khaled Boutros Akasheh, 68 tuổi (1954), người Giordani, Tổng thư ký Ủy ban Tòa Thánh liên lạc tôn giáo với người Hồi giáo, thuộc Bộ Đối thoại Liên tôn, nói với Radio Vatican rằng cuộc viếng thăm của Đức Thánh Cha tại Kazakhstan và sự tham dự của ngài tại Hội nghị các vị lãnh đạo tôn giáo thế giới tại Nur-Sultan là một đóng góp quan trọng cho công việc của Hội nghị này, và giúp duy trì hy vọng mặc dù chiến tranh tại Ucraina và tại nhiều nơi khác trên thế giới vẫn tiếp diễn.
Theo Đức Ông, đó là xác tín của những người tham dự Hội nghị và cả những người theo dõi sinh hoạt này qua truyền hình và các mạng xã hội. “Hy vọng và lời nguyện cầu của chúng tôi là những thành quả của Hội nghị này tiếp tục mưu ích cho đất nước Kazakhstan, cho miền này và cả thế giới”.
Đức Ông Akasheh cũng nhận xét rằng sự hiện diện của đại diện tòa Thượng Phụ Chính Thống Nga tại Hội nghị, Đức Tổng Giám Mục Antonij, Chủ tịch Hội đồng ngoại vụ của Giáo Hội này, cũng là một dấu chỉ hy vọng. “Tôi đã có dịp trao đổi với Đức Tổng Giám Mục, và cảm thấy tin tưởng. Dĩ nhiên, nếu chiến tranh tiếp tục, thì điều này có những rắc rối, nhưng niềm hy vọng của chúng ta phải mạnh hơn nổi âu lo”.
Đức Ông Akasheh cũng tỏ ra có ấn tượng mạnh về những yếu tố được nói đến trong Tuyên ngôn chung kết của Hội nghị Liên tôn ở Nur-Sultan, và là những yếu tố được Đức Thánh Cha Phanxicô nhấn mạnh, đó là hòa bình, tình huynh đệ, và cả tha thứ và cảm thông nhau, đây là những giá trị cần thiết, đặc biệt trong thời điểm đặc thù hiện nay, để vượt thắng những khó khăn và tái lập sự tín nhiệm và hòa bình, không những giữa Ucraina và Nga, nhưng cả trong những cuộc xung đột khác đang diễn ra trên thế giới.
Chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Ba Lan
Đức Cha Chủ tịch Hội đồng Giám Mục Ba Lan, Stanislaw Gadecki, Tổng Giám Mục giáo phận Posznan, đã hướng dẫn phái đoàn Công Giáo Ba Lan, đến Nur-Sultan để dự Hội nghị các vị lãnh đạo tôn giáo và cùng với các tín hữu tham dự Thánh lễ với Đức Thánh Cha chiều ngày 14/9.
Tuyên bố với hãng tin Kai của Công Giáo Ba Lan, Đức Tổng Giám Mục Gadecki cho biết bầu không khí tại Hội nghị thật là thân mật và thân hữu. Ngài nói: “Thật là một điều tự nhiên khi Hội nghị này diễn ra ở Kazakhstan lần thứ 7 vì đây là một quốc gia rộng lớn, nơi có hàng trăm sắc tộc sinh sống và hầu như tất cả các tôn giáo đều hiện diện tại nước này. Tổng thống Tokayev cố gắng bảo tồn sự thống nhất quốc gia và để được vậy, ông phải dùng phương thế đối thoại, một điều không dễ dàng. Nhưng cho đến nay ông đã thành công. Nhân dân Kazakhstan rất bao dung và ý thức rằng quốc gia sẽ không có tương lai nếu không có an bình nội địa.”
Đức Tổng Giám Mục lưu ý về một đoạn trong diễn văn của tổng thống Tokayev chào mừng Đức Thánh Cha, trong đó ông có nhắc đến những người Ba Lan và sự hiện diện của sắc dân này tại Kazakhstan từ khi Staline lưu đày họ đến miền này trong thập niên 1030 và 1040.
Đức Tổng Giám Mục Gadecki cũng nhận xét về bài tham luận bi thảm của Đức Tổng Giám Mục Antonij, Chủ tịch Hội đồng ngoại vụ tòa Thượng Phụ Chính Thống Mátxcơva: Đức Tổng Giám Mục trình bày một bối cảnh bi thảm của thế giới và nói rằng sau đại dịch có những cuộc chiến tranh ở các nơi và thế giới đang lâm vào cuộc khủng hoảng về kinh tế và luân lý.
Đức Tổng Giám Mục Gadecki tỏ ra ngạc nhiên vì sau phần chính thức của Hội nghị, có phần trao tặng huân chương của Hội nghị và Đức Tổng Giám Mục Antonij được trao tặng huân chương thứ 4 vì đã đóng góp vào cuộc đối thoại. “Mọi người vỗ tay như thể không có gì đã xảy ra… Rất tiếc là Đức Tổng Giám Mục Antonij và cũng như không có ai trong các diễn văn chính thức đề cập đến chiến tranh tại Ucraina. Chỉ có Đức Thánh Cha nói tới chiến tranh. Tôi ngạc nhiên vì mức độ của Hội nghị này và con số các tham dự viên”.
Sau cùng Đức Cha Chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Ba Lan kể lại Thánh lễ Đức Thánh Cha cử hành, thật là tốt đẹp với gần 10 ngàn tín hữu. “Thật là điều cảm động tại Kazakhstan, vì các cộng đoàn Công Giáo ở nước này rất rải rác, tại nhiều nơi chỉ có 10, hay 15 tín hữu tụ họp dự lễ. Có rất nhiều người rước lễ trong Thánh lễ với Đức Thánh Cha… Tôi cũng ngạc nhiên vì con số đông đảo các Linh Mục và chủng sinh Ba Lan, thật là điều giúp lên tinh thần, một biến cố đặc biệt đối với Kazakhstan. Tôi cũng rất vui mừng vì trưởng ban tổ chức là Đức Tổng Giám Mục Tomasz Peta của giáo phận Nur-Sultan, người mà tôi đã quen biết từ hồi còn ở chủng viện Gnieszno bên Ba Lan.” (Kai 16-9-2022)
Hy vọng của một Linh mục thừa sai
Sau cùng, 1 linh mục thừa sai người Áo, Cha Leo Kropfreiter, bày tỏ hy vọng cuộc viếng thăm của Đức Thánh Cha Phanxicô tại Kazakhstan để lại nhiều hiệu quả tích cực cho Giáo Hội Công Giáo địa phương.
Cha Leo thuộc dòng “Tôi Tớ Chúa Giêsu và Mẹ Maria” (Servi Jesu et Mariae), thụ phong Linh Mục năm 2008 và ngay sau đó được Bề trên gửi đến Kazakhstan hoạt động từ 14 năm nay. Tại Korneewka miền bắc nước này, cha và các tu sĩ cùng dòng cộng tác với các nữ tu dòng Phan Sinh phụ trách trung tâm giáo dục thánh Lorenzo với khoảng 200 em học sinh và người trẻ, từ tiểu học đến trung học. Từ 4 năm nay, cha Leo là giám đốc hành chánh của trường này. Từ năm 2015, cha cũng là Giám đốc toàn quốc các Hội Giáo Hoàng truyền giáo ở Kazakhstan.
Trong cuộc phỏng vấn dành cho Radio Vatican tiếng Đức, Cha Leo nói rằng: “Chúng tôi hy vọng có nhiều công hiệu tích cực từ cuộc viếng thăm của Đức Thánh Cha và cụ thể là chúng tôi sẽ có nhiều tiếp xúc hơn với dân Kazakhstan. Nguyên trong thời gian chuẩn bị cho cuộc viếng thăm, chúng tôi đã có những liên lạc chặt chẽ với các nhân viên của chính phủ Kazakhstan. Họ cố gắng hết sức để mọi sự tiến hành tốt đẹp. Qua sự cộng tác đó, nhiều người Kazakhstan, vốn chưa có ý niệm gì về Giáo Hội Công Giáo, nay họ được dịp am tường hơn về Giáo Hội. Chúng tôi tin rằng những tiếp xúc như thế sẽ mang lại hoa trái trong tương lai”.
Cộng đoàn “Tôi tớ Chúa Giêsu và Mẹ Maria” của cha Leo đã cộng tác nhiều vào việc chuẩn bị chuyến viếng thăm của Đức Thánh Cha tại thủ đô Nur-Sultan.
Cha Leo cũng cho biết nhiều tín hữu gốc Đức và Ba Lan ở Kazakhstan đã xuất cư trong những năm qua, khiến cho cộng đoàn Công Giáo địa phương thưa người hơn, cơ cấu trở nên bé nhỏ hơn, nhưng đồng thời nhờ đó “chúng tôi cởi mở hơn đối với dân Kazakhstan bản địa. Những người dân này thường là những người Hồi giáo truyền thống. Thật là đẹp khi thấy dần dần có những cuộc xin rửa tội và trở lại Công Giáo từ những người thực sự trước kia rất xa Giáo Hội Công Giáo”.
Người Hồi giáo thường rất bảo thủ. Cách thức họ tiếp xúc với Giáo Hội Công Giáo và tìm ra ơn gọi của họ là điều mới mẻ. Chúng tôi nhận thấy rằng con đường tương lai đang được mở ra. Những người đến từ xa như thế, cảm nghiệm sự thu hút của Kitô giáo rất mạnh. Đó cũng là một bước quan trọng đối với chúng ta, thúc đẩy chính chúng tôi phải hoán cải, tái khám phá vẻ đẹp đức tin của mình và vẻ đẹp của Thiên Chúa”. (Kathpress 15-9-2022)
Giuse Trần Đức Anh, O.P.
2022
Đức Thánh Cha tại Kazakhstan: Đừng quen thuộc với chiến tranh
Đức Thánh Cha tại Kazakhstan: Đừng quen thuộc với chiến tranh
Vào cuối thánh lễ ở Nur-Sultan, Đức Thánh Cha Phanxicô cầu nguyện cho tất cả các khu vực đang bị chiến tranh trên thế giới, bao gồm cả Ucraina, và kêu gọi đối thoại trên con đường hướng tới hòa bình, và mời gọi mọi người cùng hỗ trợ những người đang đau khổ.
📷
Sau khi cảm ơn Giáo hội địa phương đã chuẩn bị cho Thánh lễ và chuyến viếng thăm của ngài, cũng như bày tỏ lòng biết ơn chính quyền Kazakhstan và chào các lãnh đạo tôn giáo và mọi người hiện diện trong Thánh lễ, Đức Thánh Cha mời gọi kết hợp thiêng liêng với đền thánh địa cuốc gia Nữ vương Hòa bình ở Oziornoje trong Ngày lễ Suy tôn Thánh Giá được cử hành trọng thể vào ngày 14 tháng 9.
Lòng biết ơn trở thành lời cầu xin hoà bình
Ngài nhắc lại rằng các từ “Biết ơn người dân Kazakhstan” và “Hòa bình cho nhân loại” được khắc trên cây thánh giá lớn tại Thánh địa Quốc gia.
Được truyền cảm hứng từ những lời đó, Đức Thánh Cha nói rằng “lòng biết ơn Chúa về dân thánh của Chúa sống trong đất nước vĩ đại này, kết nối với lòng biết ơn vì cam sự dấn thân thúc đẩy đối thoại, trở thành lời cầu xin cho hòa bình, hòa bình mà thế giới của chúng ta vô cùng khao khát.”
Cầu nguyện cho các vùng bị xâu xé bởi chiến tranh
Đức Thánh Cha không quên nghĩ đến nhiều nơi đang bị chiến tranh tàn phá, đặc biệt là đất nước Ucraina thân yêu. Từ đó ngài nhắn nhủ: “Chúng ta đừng quen với chiến tranh, đừng cam chịu sự tất yếu của nó. Chúng ta hãy giúp đỡ những người đau khổ và cố gắng không mệt mỏi để mọi người thực sự cố gắng đạt được hòa bình.”
Khẳng định rằng “Lối thoát duy nhất là hòa bình và cách duy nhất để đạt được điều đó là đối thoại”, Đức Thánh Cha mời gọi tiếp tục cầu nguyện để thế giới sẽ học cách xây dựng hòa bình, cũng bằng cách hạn chế chạy đua vũ trang và bằng cách chuyển những chi phí chiến tranh khổng lồ thành hỗ trợ cụ thể cho người dân. Ngài kết thúc với lời “Cảm ơn tất cả những người tin tưởng vào điều này, cảm ơn anh chị em và tất cả những người là sứ giả của hòa bình và thống nhất!”
Hồng Thủy
2022
Đức Thánh Cha chủ sự Thánh lễ Suy tôn Thánh Giá tại Nur-Sultan
Đức Thánh Cha chủ sự Thánh lễ Suy tôn Thánh Giá tại Nur-Sultan
Đức Thánh Cha Phanxicô chủ sự Thánh lễ Suy tôn Thánh giá tại Trung Tâm Triển lãm Quốc tế EXPO ở Nur-Sultan, Kazakhstan, và nói rằng từ Chúa Giêsu bị đóng đinh, các Kitô hữu học được “tình yêu chứ không phải hận thù; lòng trắc ẩn chứ không phải sự thờ ơ; sự tha thứ chứ không phải báo thù”.
Chiều thứ Ba ngày 14/9/2022, sau khi nghỉ trưa tại Toà Sứ Thần ở Nur-Sultan, lúc khoảng 4 giờ chiều Đức Thánh Cha đi xe đến Trung Tâm Triển lãm Quốc tế EXPO cách đó 7 cây số để dâng Thánh lễ.
Trung Tâm Triển lãm Quốc tế EXPO
Đây là nơi đã diễn ra Triển lãm Hội chợ Quốc tế năm 2017 về chủ đề “Năng lượng của tương lai”. Sự kiện tập trung về vấn đề sử dụng năng lượng hiệu quả, sự bền vững, năng lượng tái tạo và biến đổi khí hậu, có sự tham gia của 115 quốc gia và 22 tổ chức quốc tế và đã có 4 triệu người đến thăm quan, trong đó có 650 ngàn người từ nước ngoài.
Ngày nay khu phức hợp EXPO là tâm điểm của sự phát triển khoa học, công nghệ thông tin, kinh tế, cũng như của ngành công nghiệp giải trí. Tại đây có Bảo tàng Nur-Alem và Trung tâm Đại hội, nơi diễn ra các sự kiện quan trọng và có ý nghĩa trong những năm gần đây. Nur-Alem, Bảo tàng Năng lượng Tương lai, là toà nhà hình cầu lớn nhất thế giới, được xây dựng bằng kính và thép, được thiết kế bởi các kiến trúc sư người Mỹ Adrian Smith và Gordon Gill, với đường kính 80 mét, cao 100 mét và phần mở rộng bên trong là 26.000 mét vuông. Toà nhà là biểu tượng cho sự tiến bộ của Kazakhstan.
Quảng trường rộng lớn của khu triển lãm EXPO có thể chứa khoảng 10 ngàn tín hữu. Khi đến quảng trường EXPO, Đức Thánh Cha đi xe mui trần vòng quanh khu vực cử hành Thánh lễ để chào các tín hữu; sau đó, vào lúc gần 5 giờ chiều, ngài bắt đầu chủ sự Thánh lễ với sự tham dự của các Hồng y và giám mục tháp tùng ngài từ Vatican, các giám mục và các linh mục Kazakhstan cũng như các nước lân cận, trước sự hiện diện của hàng ngàn tín hữu Kazakhstan cũng như các tín hữu đến từ vùng Trung Á.
Thánh lễ Suy tôn Thánh Giá
Thánh lễ Suy tôn Thánh Giá được cử hành bằng tiếng Latinh và tiếng Nga. Trong bài giảng, từ sự đối lập giữa những con rắn lửa cắn chết và con rắn đồng cứu sống được nói đến trong bài trích sách Dân Số, Đức Thánh Cha mời gọi các tín hữu nhìn lên Chúa Kitô chịu đóng đinh, ơn cứu độ của chúng ta, để học tình yêu khiêm nhường phổ quát của Người. Để từ đó, chúng ta được giải khỏi nọc độc của sự ác, của thù hận, báo thù, để chúng ta không còn phàn nàn, cắn xé hay nghi ngờ mất tin tưởng lẫn nhau, và để chúng ta trở thành những Kitô hữu trọn vẹn, những chứng nhân vui tươi của sự sống mới, của tình yêu và hòa bình.
Đức Thánh Cha bắt đầu bài giảng với lời giải thích lý do của Lễ Suy tôn Thánh giá: “Thập giá là giá xử tử, nhưng hôm nay chúng ta cử hành lễ Suy tôn Thánh giá của Chúa Kitô, bởi vì trên cây gỗ đó, Chúa Giêsu đã tự mình gánh lấy tội lỗi của chúng ta và sự dữ của thế gian, và đánh bại chúng bằng tình yêu của Người.” Lời Chúa trong Thánh lễ hôm nay nói về điều đó khi cho thấy sự tương phản giữa những con rắn cắn chết với con rắn cứu sống. Từ đó Đức Thánh Cha suy tư về hai hình ảnh.
Con rắn cắn chết và tội nghi ngờ mất tin tưởng vào Chúa
Trước hết là những con rắn cắn. Chúng tấn công người dân, những người một lần nữa lại rơi vào tội phàn nàn chống lại Chúa. Việc họ lầm bầm chống lại Thiên Chúa không chỉ đơn giản là cằn nhằn và phàn nàn về Người, nhưng cách sâu xa hơn, trong lòng người dân Israel đã mất niềm tin cậy vào Thiên Chúa, vào lời hứa của Người.
Sự việc này, theo Đức Thánh Cha, nhắc chúng ta nhớ đến con rắn đầu tiên được đề cập trong Kinh Thánh, trong sách Sáng Thế, kẻ cám dỗ, kẻ đã đầu độc trái tim của ông Ađam và bà Evà, và khiến họ nghi ngờ Thiên Chúa. Ma quỷ, dưới hình dạng một con rắn, đã lừa dối họ và khiến họ ngờ vực bằng cách thuyết phục họ rằng Thiên Chúa không tốt lành, nhưng ghen tị với tự do và hạnh phúc của họ. Tội nguyên tổ quay trở lại: dân Israel nghi ngờ Thiên Chúa, không tin cậy Người, họ phàn nàn và nổi loạn chống lại Đấng đã ban cho họ sự sống và vì vậy họ gặp phải sự chết.
Đoạn Kinh Thánh mời gọi chúng ta quan sát kỹ những khoảnh khắc trong lịch sử cá nhân và cộng đồng của chúng ta, những lúc mà sự tin tưởng vào Thiên Chúa và niềm tin giữa chúng ta bị mất đi. Đã bao lần, vì thất vọng và thiếu kiên nhẫn, chúng ta đã héo mòn trong sa mạc của chính mình, đánh mất mục tiêu của cuộc hành trình!
Những vết cắn của bạo lực
Đức Thánh Cha nhận định rằng tại đất nước Kazakhstan rộng lớn này cũng có sa mạc, có sự mệt mỏi, sự khô khan mà đôi khi chúng ta mang trong lòng, là những giây phút mệt mỏi và thử thách, khi mà chúng ta không còn đủ sức để nhìn lên cao, hướng về Thiên Chúa. Đó là những tình huống trong đời sống cá nhân, Giáo hội và xã hội, trong đó chúng ta bị con rắn của sự ngờ vực cắn, bị nhiễm độc bởi sự thất vọng và tuyệt vọng, của sự bi quan và cam chịu, và bị đóng kín trong cái tôi của mình, thiếu đi tất cả sự nhiệt thành. Và Đức Thánh Cha nghĩ đến những vết cắn đau đớn khác của những con rắn hung hãn của bạo lực, cuộc đàn áp của chủ nghĩa vô thần, sự đàn áp tôn giáo, và về một hành trình khó khăn khi quyền tự do của con người bị đe dọa và nhân phẩm của họ bị xúc phạm.
Ngài nhắc nhở mọi người gìn giữ ký ức về những đau khổ đó và không quên những khoảnh khắc nghiệt ngã. Hòa bình không bao giờ đạt được một lần cho mãi mãi; và để Kazakhstan có thể phát triển hơn nữa “trong tình huynh đệ, đối thoại và hiểu biết […] cần có sự dấn thân của mọi người. Nhưng trước đó, chúng ta cần phải canh tân niềm tin vào Chúa: ngước nhìn lên, nhìn vào Người và học hỏi từ tình yêu phổ quát và bị đóng đinh của Người.
Con rắn cứu sống
Đức Thánh Cha tiếp tục bài giảng bằng việc suy tư hình ảnh thứ hai: con rắn cứu sống. Khi dân chúng đang chết vì rắn lửa, Thiên Chúa nghe thấy lời cầu bầu của Môsê và nói với ông: “Ngươi hãy đúc một con rắn và treo nó trên một cây cột. Nếu ai bị rắn cắn mà nhìn lên con rắn đó, sẽ được sống” (Ds 21,8). Và quả thật, “hễ ai bị rắn cắn mà nhìn lên con rắn đồng thì được sống” (câu 9).
Lưu ý đến việc Thiên Chúa không tiêu diệt những con rắn độc đó nhưng đưa ra những chỉ dẫn chi tiết này cho ông Môsê, Đức Thánh Cha nhận định rằng cách hành động của Thiên Chúa mặc khải cho chúng ta thấy cách Người đối phó với sự ác, tội lỗi và sự ngờ vực của nhân loại. Khi đó cũng như bây giờ, trong cuộc chiến thiêng liêng mạnh mẽ kéo dài suốt lịch sử, Thiên Chúa không hủy diệt những thứ thấp hèn và vô giá trị mà con người chọn theo đuổi. Rắn độc không biến mất; chúng luôn ở đó, nằm chờ, sẵn sàng cắn.
Chúa Giêsu đã được giương cao trên Thánh giá
Thiên Chúa làm gì? Chúa Giêsu nói với chúng ta trong Tin Mừng: “Như ông Môsê đã giương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng phải được giương cao như vậy, để ai tin vào Người thì được sống muôn đời” (Ga 3, 14-15). Đây là sự thay đổi mang tính quyết định: con rắn cứu sống đã đến giữa chúng ta. Chúa Giêsu, đã được giương cao trên Thánh giá, không cho phép những con rắn độc tấn công chúng ta để gây ra cái chết của chúng ta.
Đứng trước sự khốn cùng của chúng ta, Thiên Chúa ban cho chúng ta một chân trời mới: nếu chúng ta luôn nhìn vào Chúa Giêsu, thì nọc độc của sự dữ không còn có thể chiến thắng chúng ta nữa, vì trên Thánh giá Người đã mang lấy trên mình nọc độc của tội lỗi và sự chết, và đè bẹp sức mạnh hủy diệt của chúng. Đó là cách Chúa Cha đáp lại sự dữ lây lan trên thế giới: Người đã ban cho chúng ta Chúa Giêsu, Đấng đến gần chúng ta theo cách mà chúng ta không bao giờ có thể tưởng tượng được.
Từ Thánh giá, chúng ta nhìn theo cách nhìn yêu thương của Chúa
Đức Thánh Cha nói tiếp: Thưa anh chị em, đây là con đường, con đường dẫn đến ơn cứu độ của chúng ta, sự tái sinh và sự phục sinh của chúng ta: chiêm ngắm Chúa Giêsu chịu đóng đinh. Từ trên cao đó, chúng ta có thể nhìn cuộc sống của chúng ta và lịch sử của các dân tộc chúng ta theo một cách nhìn mới. Vì từ Thánh giá của Chúa Kitô, chúng ta học được tình yêu thương, chứ không phải sự thù hận; lòng trắc ẩn, chứ không phải sự thờ ơ; lòng tha thứ chứ không phải sự báo thù. Vòng tay dang rộng của Chúa Giêsu là vòng tay của tình yêu dịu dàng mà Thiên Chúa muốn ôm chúng ta. Chúng cho chúng ta thấy tình yêu huynh đệ mà chúng ta được kêu gọi để dành cho nhau và cho mọi người. Chúng chỉ cho chúng ta con đường, con đường của Kitô giáo. Đó không phải là con đường của áp đặt và cưỡng bức, của quyền lực và địa vị; nó không bao giờ giơ Thánh giá của Chúa Kitô lên để chống lại anh chị em của chúng ta, những người mà Chúa đã dâng hiến mạng sống cho họ! Con đường của Chúa Giêsu, con đường cứu độ thì khác: đó là con đường của một tình yêu nhưng không khiêm nhường và phổ quát, không có những từ như “nếu”, “và” hay “nhưng”.
Là một Kitô hữu có nghĩa là sống không có nọc độc
Đúng, bởi vì trên cây gỗ của Thánh giá, Đức Kitô đã loại bỏ nọc độc khỏi con rắn sự dữ. Là một Kitô hữu có nghĩa là sống không có nọc độc: không cắn xé lẫn nhau, không phàn nàn, đổ lỗi và nhiều chuyện, không gieo rắc điều ác, không làm ô nhiễm trái đất bằng tội lỗi và sự không tin tưởng, những điều nảy sinh từ ma quỷ. Thưa anh chị em, chúng ta đã được tái sinh từ cạnh sườn bị đâm thủng của Chúa Giêsu bị đóng đinh trên Thánh giá. Xin cho chúng ta được giải thoát khỏi nọc độc của sự chết (xem Kn 1,14), và hãy cầu nguyện để nhờ ân sủng của Thiên Chúa, chúng ta có thể trở nên những Kitô hữu trọn vẹn hơn bao giờ hết: những chứng nhân vui tươi của sự sống mới, của tình yêu và hòa bình.
Hồng Thủy
