2020
Tin vào quyền năng của Chúa
19 06 Tm Thứ Bảy tuần 3 MV.
Tl 13,2-7.24-25a; Lc 1,5-25
TIN VÀO QUYỀN NĂNG CỦA CHÚA
Thiên Chúa thường tuyển chọn những người này người kia để thi hành một sứ mạng xác định, vì lợi ích của dân Chúa. Tỷ như ở bài đọc 1 trích trong Thủ Lãnh hôm nay, Thiên Chúa đã chọn Samson khi ông còn đang thành hình trong lòng mẹ để qua ông, Thiên Chúa tỏ lộ quyền năng của Người.
Trang Tin Mừng hôm nay cho ta thấy tình thương, quyền năng và sự tuyển chọn của Thiên Chúa ngang qua ơn gọi của Gioan.
“Không có sự gì mà Thiên Chúa không làm được”. Hai người đàn bà son sẻ vợ của Zacharia và Manuel, tuổi đã già vậy mà sinh được hai người con là Gioan tẩy Giả và Samson. Theo tục lệ Á Ðông xưa của chúng ta có nói: “Nữ thập tam, nam thập lục”. Nghĩa là người nữ khoảng mười ba đến bốn mươi tuổi là cơ thể bắt đầu biến đổi để có thể chuẩn bị trở thành một người mẹ.
Luật Giáo Hội xác định mười sáu tuổi, mà đa số các quốc gia chấp nhận mười tám tuổi là tuổi trưởng thành cho nữ giới để có thể kết hôn. Khả năng sinh con của người đàn bà có thể kéo dài từ đó đến quãng đời từ bốn mươi lăm đến năm mươi tuổi.
Qua khỏi tuổi năm mươi thì hầu như không thể thụ thai được nữa. Lẽ dĩ nhiên phải năm mươi đến sáu mươi tuổi thì mới gọi là đã già, lại càng không thể có hy vọng sinh con cái được nữa. Hơn nữa khi nhìn vào trường hợp của Abraham, ông được mệnh danh là cha của kẻ tin. Mặc dầu Sara vợ ông đã già nhưng được thiên thần báo tin sẽ sinh một con trai trong lúc tuổi già. Abraham đã tin vào quyền năng của Thiên Chúa, Ðấng mà ông tôn thờ: “Không có việc gì mà Thiên Chúa không làm được”.
Và ta thấy để cũng như muốn hiến thánh cho Thiên Chúa để lo việc phụng sự Ngài, Thiên Chúa đòi hỏi con người phải cộng tác với Người: “Ngươi hãy cẩn thận, không uống rượu và thức ăn có men, cũng đừng ăn những món gì không thanh sạch”. Tất nhiên chúng ta cũng không hoàn toàn hiểu theo nghĩa đen nhưng phải hiểu theo nghĩa bóng nữa.
Thiên Chúa đã tuyển chọn Gioan Tẩy Giả ngày từ khi ông còn trong dạ mẹ để ông làm sứ giả và tiền hô dọn đường cho Chúa sắp đến. Tên của ông cũng đã được Thiên Chúa xác định với ý nghĩa “Giavê là Đấng nhân hậu”. Cuộc đời ông sẽ là cuộc đời chứng tá về một Đấng Nhân Hậu đang đến giữa thế gian này.
Nhìn lại lịch sử cứu độ, ta thấy Thiên Chúa đã can thiệp vào đời tư của 2 ông bà. Ngài thực hiện chương trình cứu độ của Ngài ngay trong dòng lịch sử nhân loại, với những con người bị coi là một hình phạt, là một điều xỉ nhục. Gia-ca-ri-a đã bắt thăm trúng phiên dâng hương và thay than trên bàn dâng hương trong Nơi Cực Thánh. Đây là một vinh dự hiếm có vì số tư tế quá đông. Người dâng hương sẽ thay mặt toàn dân để dâng lời cầu khẩn lên Thiên Chúa, xin Ngài ban Đấng Mêsia đến Cứu độ nhân loại. Khi vào dâng hương, ông Gia-ca-ri-a gặp một sứ thần của Thiên Chúa đứng bên phải hương án (c.11).
Đây là một cuộc thần hiện thường xảy ra trong Cựu Ước. Ông bối rối và sợ hãi (c.12) đó cũng là tâm lý thường tình khi con người đối diện với lãnh vực Kinh Thánh. Sứ thần đã trấn an ông “ Đừng sợ…” . Sau đó sứ thần loan báo cho ông một Tin Mừng : ông sẽ có một con trai.
Niềm mong mỏi mà ông chờ bấy lâu, nay Thiên Chúa đã thực hiện. Nhưng tên con trẻ sẽ đặt theo ý của sứ thần, vì đó là một sứ mạng cao cả dành cho con trẻ. Sự sinh ra của con trẻ sẽ làm cho nhiều người vui mừng, kể cả ông bố nữa. Vì ngoài sự vui mừng trong nỗi hiếm muộn, sứ vụ của con trẻ sẽ dẫn đưa nhiều người về cùng Thiên Chúa và chuẩn bị mọi tâm hồn sẵn sàng đón Chúa. Để được như vậy, bà mẹ phải kiêng cữ rượu và các chất có men, ý nói về nếp sống hy sinh khổ hạnh của vị tiên tri của Chúa.
Sau khi được giải thích kỹ càng và chuyện người son sẻ có con cũng đã xảy ra trong thời Cựu Ước như Sam son (x. Tl 13,4.7.14), nhưng ông Gia-ca-ri-a đã nghi ngờ quyền năng của Chúa : “Dựa vào đâu mà tôi biết điều ấy ? Vì tôi đã già và bà nhà tôi cũng lớn tuổi”. (c.18). Sự nghi ngờ của ông đã làm cho sứ thần phải xưng danh tánh và kết quả ông “ bị câm” như là một dấu hiệu cho chính ông và người khác. Thái độ của ông không phải là thái độ của Ap-ra-ham (St 15,8). Cha của lòng tin, là tổ phụ của ông.
Theo truyền thống Do Thái, vị thượng tế dâng hương không ở lâu trong cung thánh, vì dân lo âu và vì đó là nơi Thiên Chúa hiện diện, nên rất đáng sợ. Nên khi thấy ông Gia-ca-ri-a ở lâu trong đó, họ không khỏi thắc mắc (c.21). Đợi đến lúc ông ra khỏi, thắc mắc của họ đã có đáp số, đó là thấy ông chỉ ra hiệu mà không nói được và họ biết là ông đã thấy điềm lạ trong nơi Cực Thánh. Ông trở về nhà và bà Ê-li-sa-bét đã thụ thai, bà nói : “ Thiên Chúa đã thương cất nỗi hổ nhục mà tôi phải chịu…” (c.25). Một lời nói như một hành vi ca tụng Tình Yêu Thiên Chúa đã thương đến phận người hèn mọn.
Trong đời sống hàng ngày, chúng ta gặp biết bao biến cố xảy ra trong cuộc sống xã hội, trong Giáo Hội và ngay cả trong tâm hồn mỗi người, nhưng nhiều khi chúng ta vẫn cứng lòng như Gia-ca-ri-a, không tin vào Tình Yêu Thiên Chúa đang bao phủ cuộc đời chúng ta và cả thế giới. Chúng ta thường đặt mình hoặc cậy dựa vào của cải, danh vọng, địa vị hơn.
Và mỗi người chúng ta xin Chúa củng cố lòng tin trong mỗi người chúng ta, để chúng ta nhận ra uy quyền của Chúa và suy phục Chúa, để chúng ta biết tin vào Chúa, tin vào nhau và cuộc đời chúng ta sẽ tốt đẹp hơn.
2020
Noi gương Thánh Giuse
18 05 Tm Thứ Sáu tuần 3 MV.
Gr 23,5-8; Mt 1,18-25
NOI GƯƠNG THÁNH GIUSE
Bước vào tuần lễ cuối cùng này, lời Chúa giới thiệu cho chúng ta một mẫu gương tuyệt vời của một gia đình, đã chuẩn bị và đã đón nhận Đấng Cứu Thế, đó là gia đình của Đức Maria và Thánh Giuse. Các bài đọc hôm nay cho thấy gia đình có một vai trò đặc biệt trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa.
Khi cho Con của Ngài xuống trần gian, Thiên Chúa đã không chọn bất cứ một hình thức nào khác, nhưng lại chọn cho Con của mình được sinh ra trong một gia đình. Vì gia đình là nơi an toàn nhất cho con trẻ, và cha mẹ là những người bào vệ tin tưởng nhất để Thiên Chúa gửi gắm “mầm sống” của Ngài. Giuse và Maria chính là những người được tuyển chọn cho chương trình lớn lao này, và họ đã sẵn sàng, hết mình đón nhận Đấng Cứu Thế.
Trang Tin Mừng hôm nay giới thiệu cho chúng ta hình ảnh của một người chồng là Giuse vừa mới đính hôn với Maria. Thế nhưng vấn đề là: mặc dù chưa hề chung sống, nhưng Maria đã có thai. Đấy quả là một vấn đề khó xử. Nhận một bào thai không phải của mình về làm con, với tính tự ái và thể diện của một người đàn ông Á Châu, thì không dễ gì chấp nhận.
Nhưng nếu thực hiện theo pháp luật để kết án người yêu thì không đành lòng, vì Giuse chưa hiểu điều gì đã xảy ra. Thánh kinh khi giới thiệu về Giuse đã cho thấy Giuse là người công chính, tức là một người đạo đức, và ngay thẳng chính trực trong cuộc sống, ông không thể hành động thiếu suy nghĩ. Vì thế, ông đã chọn giải pháp âm thầm rút lui để cho Thiên Chúa hành động.
Thế nhưng Thiên Chúa đã muốn Giuse đi vào con đường của Chúa, quảng đại hơn nữa để đón nhận và bảo vệ mầm sống mới này và bảo vệ cả người vợ sắp cưới nữa. Chỉ bằng một điềm báo trong gấc mơ: Đừng ngại đón Maria thai nhi về nhà, thì Giuse đã không còn băn khoăn gì nữa và ông đã sẵn sàng để đón nhận Maria làm vợ và ông trở thành người cha của trẻ Giêsu, ông được vinh dự đặt tên cho đứa bé theo tên mà Sứ thần đã báo. Không chỉ được đặt tên cho trẻ Giêsu, mà Giuse còn trao tặng cho Đấng Cứu thế cả dòng dõi gia phả của mình, ông đã giữ trọn và chu toàn thật tốt nhiệm vụ làm cha làm chồng trong gia đình.
Ta thấy trình thuật truyền tin cho Thánh Giuse mở đầu bằng ý định lìa bỏ, hay đúng hơn « lui lại phía sau » (c. 18-19) và kết thúc với quyết định đón nhận (c. 24-25) ; và như thế trung tâm của trình thuật là Lời Thiên Chúa, Lời Thiên Chúa được chuyển đạt ngang qua trung gian sứ thần (c. 20-22) và Lời Thiên Chúa đến từ Kinh Thánh (c. 22-23).
Giuse tìm cách âm thầm rút lui. Ngài chứng tỏ ngài có một cảm thức sắc bén về Thiên Chúa, một lòng tôn trọng thẳm sâu đối với mầu nhiệm của Thiên Chúa và mầu nhiệm thánh ý Ngài. Người Kitô hữu được mời gọi học nơi Giuse bài học này: tôn trọng đối với các dự phóng của Thiên Chúa nơi mình và nơi kẻ khác, nhạy bén đối với sự cao cả thẳm sâu và sự hiện diện gần gũi của Ngài trong những biến cố lớn nhỏ thuộc cuộc sống hằng ngày.
Bắt đầu, ta thấy Thánh Giuse có ý định lìa bỏ (c. 18-19). Kế đến là Lời Thiên Chúa (c. 20-23). Và sau cùng đi đến quyết định đón nhận (24-25).
Mùa vọng này chính là dịp để mỗi người biết nhìn lại và điểu chỉnh nếp sống gia đình mình, hãy trả lại cho gia đình những thứ mà chính cha mẹ đã cướp đi, đó là hơi ấm, tình yêu thương, sự phục vụ, đó là sự chia sẻ lắng nghe và cảm thông. Hãy cố gắng làm cho bầu khí gia đình thêm nồng ấm bằng các giờ kinh sớm tối, qua những bữa ăn cơm chung với nhau mọi người cùng tạ ơn Chúa, cùng ăn cơm với nhau trong vui tươi hân hoan. Hãy noi gương Maria và Giuse sẵn sàng để cho Chúa đi vào tâm hồn và gia đình mình, sãn sàng quảng đại cộng tác với Chúa để phục vụ sự sống và phục vụ gia đình, đừng ngăn cản cũng đừng từ chối Ngài.
Thánh Giuse được Giáo hội ca ngợi là người trung tín và khôn ngoan. Cuộc sống của ngài là cả một cuộc đời âm thầm, khiêm nhượng. Ngài đã hoàn toàn tín thác và tin tưởng vào ý định của Chúa là cho ngài kết bạn với Đức Maria: để mẹ Maria luôn bảo vệ được sự trinh khiết, cho Ngôi Lời sinh hạ làm người dưới mái nhà Thánh gia. Ngài đã tận tình gìn giữ gia đình Nagiarét mà Chúa trao phó cho ngài coi sóc, trông nom. Ngài đã hoàn thành sứ mạng Chúa trao với tất cả lòng tin, sự hiền lành và khiêm nhượng.
Hình ảnh Giuse, dẫn dắt Maria bồng Chúa Giêsu ngồi trên lưng lừa, Giuse dắt lừa. Cả người, cả lừa xuyên qua màn đêm đen đến vầng đông sáng ngời, tuy chân có mỏi và lòng có xao xuyến, chen lẫn sợ hãi nhưng Giuse vẫn bước đi. Tuy thử thách còn nặng nề nhưng thánh Giuse vẫn chiến đấu và đi trong thánh ý của Thiên Chúa.
Noi gương thánh Giuse, chúng ta sống lòng tin, trung tín, khiêm tốn, sự hiền lành chu toàn bổn phận trong âm thầm như những hạt giống được gieo sẽ nảy mầm…
2020
Thứ Năm sau Chúa Nhật III Mùa Vọng Ngày 17 tháng Mười Hai
Thứ Năm sau Chúa Nhật III Mùa Vọng
Ngày 17 tháng Mười Hai
Ca nhập lễ
Is 49,13
Trời vui lên, đất hãy nhảy mừng,
vì Chúa chúng ta sẽ ngự đến
và xót thương dân nghèo khó của Người.
Lời nguyện nhập lễ
Lạy Chúa là Ðấng tạo thành và cứu chuộc nhân loại, Chúa đã muốn Ngôi Lời mặc lấy xác phàm trong lòng Ðức Trinh Nữ Maria. Giờ đây, xin nhận lời chúng con cầu khẩn; ước gì Con Một Chúa đã làm người như chúng con, cũng cho chúng con được làm con Chúa như Người. Người là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị cùng Chúa, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời.
Bài đọc 1
St 49,2.8-10
Vương trượng sẽ không rời khỏi Giu-đa.
Bài trích sách Sáng thế.
2 Hồi đó, ông Gia-cóp gọi các con trai lại và nói :
“Hỡi các con của Gia-cóp,
hãy tụ tập lại mà nghe,
hãy nghe Ít-ra-en, cha các con.
8Giu-đa, con sẽ được anh em con ca tụng,
tay con sẽ đặt trên ót các địch thù,
anh em cùng cha với con sẽ sụp xuống lạy con.
9Giu-đa là sư tử con. Con ơi, săn mồi xong con lại trở về.
Nó quỳ xuống, nằm phục như sư tử
và như sư tử cái : ai sẽ làm cho nó đứng dậy ?
10Vương trượng sẽ không rời khỏi Giu-đa,
gậy chỉ huy sẽ không lìa đầu gối nó,
cho tới khi người làm chủ vương trượng đến,
người mà muôn dân phải vâng phục.”
Đáp ca
Tv 71,1-2.3-4ab.7-8.17 (Đ. x. c.7)
Đ.Triều đại Người, đua nở hoa công lý
và thái bình thịnh trị đến muôn đời.
1Tâu Thượng Đế, xin ban quyền bính Ngài cho vị Tân Vương,
trao công lý Ngài vào tay Thái Tử,
2để Tân Vương xét xử dân Ngài theo công lý,
và bênh vực quyền lợi kẻ nghèo hèn.
Đ.Triều đại Người, đua nở hoa công lý
và thái bình thịnh trị đến muôn đời.
3Núi đem lại cảnh hoà bình trăm họ,
đồi rước về nền công lý vạn dân.
4abNgười sẽ bảo toàn quyền lợi dân cùng khổ,
ra tay cứu độ kẻ khó nghèo.
Đ.Triều đại Người, đua nở hoa công lý
và thái bình thịnh trị đến muôn đời.
7Triều đại Người, đua nở hoa công lý
và thái bình thịnh trị
tới ngày nao tuế nguyệt chẳng còn.
8Người làm bá chủ từ biển này qua biển nọ,
từ Sông Cả đến tận cùng cõi đất.
Đ.Triều đại Người, đua nở hoa công lý
và thái bình thịnh trị đến muôn đời.
17Danh thơm Người sẽ trường tồn vạn kỷ,
nức tiếng gần xa dưới ánh mặt trời.
Ước gì mọi sắc tộc trần gian, nhờ Người được chúc lành,
và muôn dân thiên hạ ngợi khen Người có phúc.
Đ.Triều đại Người, đua nở hoa công lý
và thái bình thịnh trị đến muôn đời.
Tung hô Tin Mừng
Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a. Lạy Ngôi Lời khôn ngoan của Đấng Tối Cao, Ngài an bài mọi sự, mạnh mẽ nhưng dịu dàng. Xin đến mà chỉ dạy đường khôn ngoan cho chúng con. Ha-lê-lui-a.
Tin Mừng
Mt 1,1-17
Gia phả Đức Giê-su Ki-tô, con cháu vua Đa-vít.
Khởi đầu Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.
1 Đây là gia phả Đức Giê-su Ki-tô, con cháu vua Đa-vít, con cháu ông Áp-ra-ham :
2 Ông Áp-ra-ham sinh I-xa-ác ; I-xa-ác sinh Gia-cóp ; Gia-cóp sinh Giu-đa và các anh em ông này ; 3 Giu-đa ăn ở với Ta-ma sinh Pe-rét và De-rác ; Pe-rét sinh Khét-xơ-ron ; Khét-xơ-ron sinh A-ram ; 4 A-ram sinh Am-mi-na-đáp ; Am-mi-na-đáp sinh Nác-son ; Nác-son sinh Xan-môn ; 5 Xan-môn lấy Ra-kháp sinh Bô-át ; Bô-át lấy Rút sinh Ô-vết ; Ô-vết sinh Gie-sê ; 6 Gie-sê sinh Đa-vít.
Vua Đa-vít lấy vợ ông U-ri-gia sinh Sa-lô-môn ; 7 Sa-lô-môn sinh Rơ-kháp-am ; Rơ-kháp-am sinh A-vi-gia ; A-vi-gia sinh A-xa ; 8 A-xa sinh Giơ-hô-sa-phát ; Giơ-hô-sa-phát sinh Giô-ram ; Giô-ram sinh Út-di-gia ; 9 Út-di-gia sinh Gio-tham ; Gio-tham sinh A-khát ; A-khát sinh Khít-ki-gia ; 10 Khít-ki-gia sinh Mơ-na-se ; Mơ-na-se sinh A-môn ; A-môn sinh Giô-si-gia ; 11 Giô-si-gia sinh Giơ-khon-gia và các anh em vua này ; kế đó là thời lưu đày ở Ba-by-lon.
12 Sau thời lưu đày ở Ba-by-lon, Giơ-khon-gia sinh San-ti-ên ; San-ti-ên sinh Dơ-rúp-ba-ven ; 13 Dơ-rúp-ba-ven sinh A-vi-hút ; A-vi-hút sinh En-gia-kim ; En-gia-kim sinh A-do ; 14 A-do sinh Xa-đốc ; Xa-đốc sinh A-khin ; A-khin sinh Ê-li-hút ; 15 Ê-li-hút sinh E-la-da ; E-la-da sinh Mát-than ; Mát-than sinh Gia-cóp ; 16 Gia-cóp sinh Giu-se, chồng của bà Ma-ri-a, bà là mẹ Đức Giê-su cũng gọi là Đấng Ki-tô.
17 Như thế, tính chung lại thì : từ ông Áp-ra-ham đến vua Đa-vít, là mười bốn đời ; từ vua Đa-vít đến thời lưu đày ở Ba-by-lon, là mười bốn đời ; và từ thời lưu đày ở Ba-by-lon đến Đức Ki-tô, cũng là mười bốn đời.
Lời nguyện tiến lễ
Lạy Chúa, đây là lễ vật của cộng đoàn chúng con: nguyện xin Chúa thánh hoá và khi chúng con cử hành thánh lễ này xin cho chúng con được bánh bởi trời bồi dưỡng. Chúng con cầu xin …
Lời Tiền Tụng Mùa Vọng II
Ðọc trong các thánh lễ mùa vọng từ ngày 17-24/12
X: Chúa ở cùng anh chị em.
Ð: Và ở cùng Cha.
X: Hãy nâng tâm hồn lên.
Ð: Chúng con đang hướng về Chúa.
X: Hãy tạ ơn Chúa là Thiên Chúa chúng ta.
Ð: Thật là chính đáng.
Lạy Chúa là Cha chí thánh, là Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, chúng con tạ ơn Chúa mọi nơi mọi lúc, nhờ Ðức Ki-tô Chúa chúng con, thật là chính đáng, phải đạo và đem lại ơn cứu độ cho chúng con.
Người là Ðấng các tiên tri loan báo, Ðức Mẹ đồng trinh đã cưu mang với tình yêu khôn tả, thánh Gio-an đã loan tin sắp đến/ và chỉ cho thấy khi Người xuất hiện. Người là Ðấng làm cho chúng con hân hoan đón nhận mầu nhiệm Giáng Sinh; để khi Người đến sẽ thấy chúng con đang tỉnh thức và hân hoan ca tụng Người.
Vì thế cùng với các Thiên thần và tổng lãnh thiên thần, các Bệ thần và Quản thần, cùng toàn thể đạo binh thiên quốc, chúng con không ngừng hát bài ca chúc tụng vinh quang Chúa rằng:
Thánh! Thánh! Thánh! …
Lời nguyện hiệp lễ
Lạy Thiên Chúa toàn năng, chúng con vừa được no đầy hồng ân Thánh Thể, xin cho lòng chúng con hằng khát mong được cháy lửa yêu mến của Thánh Thần, để chúng con rực sáng như ngọn đèn chói lọi và đón mừng Ðức Kitô Con Một Chúa quang lâm. Ðấng hằng sống và hiển trị muôn đời.
Ca hiệp lễ
- Kg 2,8
Này Đấng muôn dân trông đợi sẽ đến
và Nhà Chúa sẽ tràn ngập vinh quang.
2020
Đồng thân đồng phận
17 04 Tm Thứ Năm tuần 3 MV.
St 49,2.8-10; Mt 1,1-17
ĐỒNG THÂN ĐỒNG PHẬN
Ðể ứng nghiệm Lời Chúa hứa ban ơn cứu chuộc sau khi Adam và Eva tổ tiên con người phạm tội, Kinh Thánh đã có câu: „Này đây một trinh nữ sẽ thụ thai, hạ sinh một con trai và tên con trẻ sẽ gọi là Emmanuel, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta“.
Thánh Mátthêu đã sắp xếp gia phả của Chúa Giêsu cho chúng ta tìm thấy ý nghĩa của con số bảy. Mỗi một chuỗi tên đầu toàn hảo, hoàn toàn: Chuỗi của Áp-ra-ham, chuỗi các thẩm phán, chuỗi các vua. Đức Giêsu đứng đầu chuỗi thứ bảy là chuỗi hoàn hảo trọn vẹn, Người đến làm hoàn hảo lịch sử tôn giáo của dân tộc được tuyển chọn, Người đến khởi đầu một thời đại mới đầy hứa hẹn tốt hơn, hoàn toàn hoàn hảo.
Thánh Matthêu đã kể lại gia phả của Chúa Giêsu để gợi lên cho chúng ta biết rằng, Thiên Chúa đã chuẩn bị chương trình cứu rỗi của Ngài trải qua dòng thời gian rất lâu dài, chu đáo và kỹ lưỡng. Thiên Chúa đã chọn tổ phụ Abraham là mẫu gương cho những ai tin Ngài và Abraham được gọi là cha các kẻ tin.
Khi nghe gia phả Đức Giêsu, chúng ta thấy khi chọn con số 14 để chia gia phả làm ba giai đoạn bằng nhau, Matthêu gợi lên sự quan phòng kỳ diệu của Thiên Chúa. Số 3 và số 7 là hai con số đạo đức được coi là biểu tượng của sự hoàn chỉnh; 14 là hai lần 7; ba chuổi 14 diễn tả sự đều đặn kỳ diệu trong lịch sử Apraham đến Chúa Giêsu. Sau những hàng chữ khô khan của bản kê khai ấy, ta thấy được cả một lịch sử yêu thương của Thiên Chúa đối với dân người và đối với tất cả nhân loại.
Hơn nữa, Chúa Giêsu tuy sinh ra sau cùng nhưng Ngài lại đứng đầu. Điều này chứng tỏ Ngài là cùng đích của lịch sử, và như thế ơn cứu chuộc của Thiên Chúa chảy ra trên mọi dân tộc chứ không dành riêng cho một hạng người nào. Đây cũng là đặc điểm của Giáo hội Công giáo. Chúng ta hãy trung thành theo Chúa để hưởng ơn cứu chuộc của Chúa ban cho từng người chúng ta qua dòng lịch sử.
Tin mừng hôm nay đề cập đến ba danh hiệu trọng đại: Abraham, Davít, Giêsu. Abraham là người đã lãnh nhận lời hứa và đức tin để trở thành cha của những kẻ tin. Davít là người đã nhân danh Chúa các đạo binh chiến đấu cho Đấng Tối cao và biến Yêrusalem nên thành trì Thiên Chúa. Chúa Giêsu là Đấng đã đích thân thực hiện mọi lời hứa, hình thành một dân tộc ưu tú gồm những kẻ tin vào Ngài, chiến thắng quân thù thiêng liêng của Thiên Chúa, xây đắp Yêrusalem mới và vương quốc thiêng liêng.
Qua việc Ngôi Lời Nhập thể làm người, Thiên Chúa đã hạ mình xuống giữa nhân loại, mang lấy giòng lịch sử và quá khứ của nhân loại cũng như thừa kế gia tài qua các thế hệ. Đó là bản lý lịch chính thức.
Xét theo máu mủ, Ngài sinh ra từ dòng dõi Davít, thuộc về một dân tộc, trong đó không thiếu những bậc tổ tiên là người tội lỗi và người ngoại giáo, như Davít, Salomon, Tamar, Rahab, Bethsabê, Ruth. Đó là những yếu tố rất tầm thường, nhưng đã được Thiên Chúa dùng để thực hiện chương trình của Ngài, vì Thiên Chúa đã hứa và trung thành hoàn tất lời hứa.
Trong cuộc đời của bốn người phụ nữ, bạn đồng hội đồng thuyền của Đức Maria, có một điều gì đó bất thường. Bốn bà là dân ngoại tộc, các bà đã sinh con của mình bên ngoài các quy luật bình thường và không tương ứng với những Quy Luật của đức khiết tịnh vào thời của Chúa Giêsu.
Bà Tamar, người Canaan, một góa phụ, bà giả dạng thành một cô gái mãi dâm để bắt buộc Tổ Phụ nhà Giuđa phải trung thành với Lề Luật, phải làm nhiệm vụ của mình và cho bà ta một người con trai (St 28:1-30).
Bà Raháb, một người phụ nữ Canaan từ thành Giêricô, là một cô gái điếm, người đã giúp cho dân Do Thái bước vào Miền Đất Hứa (Ys 2:1-21).
Bà Rút, một người phụ nữ Môáp, bá góa nghèo, đã chọn đi theo bà Naomi và tuân theo các lề luật của Dân Chúa (Rt 1:16-18). Bà đã chủ động bắt chước bà Tamar và đi nghỉ đêm bên cạnh đống lúa, cùng với ông Bôát, bắt buộc ông tuân giữ Lề Luật và cho bà một đứa con. Từ mối quan hệ giữa hai người, ông Ôbéd đã được sinh ra, là tổ phụ của vua Đavít (Rt 3:1-15; 4:13-17).
Bà Bátshêba, người Hêtít, vợ của ông Uria, đã bị du dỗ, bị cưỡng bức và bà đã mang thai với vua Đavít, nhà vua lại còn ra lệnh cho chồng của người phụ nữ này phải chết (2Sm 11:1-27). Phương cách hành xử của bốn người phụ nữ này không phù hợp với quy tắc truyền thống.
Trong khi đó, đây là những sáng kiến, thực sự bất thường, đã làm liên tục dòng dõi của Chúa Giêsu và dẫn đưa tất cả mọi người đến ơn cứu rỗi của Thiên Chúa. Tất cả điều này khiến cho chúng ta suy nghĩ và thách đố chúng ta khi chúng ta đặt quá nhiều giá trị vào sự cứng nhắc của các quy luật.
Bài tính về ba lần của mười bốn thế hệ (Mt 1, 17) có một ý nghĩa tượng trưng. Số ba là con số của Thiên Chúa. Số mười bốn là số bảy nhân đôi. Số bảy là số hoàn hảo. Bằng biểu tượng này, thánh Mátthêu thể hiện niềm tin của các Kitô hữu tiên khởi vào Chúa Giêsu, Đấng xuất hiện theo tiến trình thời gian thành lập bởi Thiên Chúa. Với lịch sử sắp đến của Ngài tiến tới sự phong phú và viên mãn của nó.
Bên trong bản gia phả khô khan, đã hàm ngụ một Tin mừng “Thiên Chúa đã nhập thể trong Đức Kitô” bất chấp những khiếm khuyết và tội lỗi của nhân loại. Bài mở đầu Tin mừng Mathêu còn gây cho ta một xác tín: Thiên Chúa có thể nhìn đến và sử dụng chúng ta, không gì có thể cưỡng lại được ý định của Ngài, dù đó là quá khứ đen tối hay sự bất toàn của chúng ta.
Bởi vì trong Đức Kitô, Đấng được xức dầu của Thiên Chúa, những gì hèn hạ đã trở nên cao trọng, những gì xấu xa được thanh tẩy, những gì vô nghĩa mặc một giá trị, và những gì trần tục sẽ được thần linh hoá.
Gia phả của Chúa Giêsu hướng chúng ta trở về nguồn gốc của Kitô giáo, đó là: chúng ta là dòng dõi của Đức Kitô, chúng ta chuẩn bị thời đại cuối cùng, thời đại biểu lộ toàn vẹn, chúng ta sửa soạn một lễ Noel cuối cùng: Đấng sẽ là tất cả trong mọi sự, hiện diện ở mọi tạo vật.
