2021
Chữa người phong cùi
25 16 X Thứ Sáu Tuần XII Thường Niên.
St 17,1.9-10.15-22; Mt 8,1-4.
Chữa người phong cùi
Bệnh phong là một những thứ bệnh khủng khiếp nhất mà loài người chúng ta mắc phải: da thịt người mắc bệnh lở loét; khi bị nặng, vết thương sẽ lõm vào da thịt; tình trạng mất cảm giác sẽ xuất hiện ở một vài bộ phận trên cơ thể; sau đó các bắp thịt tiêu đi; nếu ở giai đoạn bị nặng, các ngón tay và ngón chân sẽ rụng dần.
Chúng ta hãy cảm thông và cầu nguyện cho những người bệnh phong, và nếu có thể, chúng ta hãy giúp đỡ san sẻ. Bởi vì chính chúng ta là những người được nâng đỡ trước tiên, khi chúng ta nghĩ tới những người cùng khổ. Thật vậy, khi liên đối với người cùng khổ, chúng ta sẽ tương đối hóa những nỗi khổ của chúng ta, chúng ta thấy nhẹ nhàng hơn, chúng ta có thể ra khỏi mình để hướng về những người bất hạnh hơn; và năng động này sẽ làm cho chúng ta tự do hơn, thanh thoát hơn, bình an hơn.
Chúng ta vừa nói đến sự đau đớn tột cùng trong thân xác ; nhưng người bệnh phong còn chịu một sự đau khổ còn lớn hơn nữa là bị cách ly khỏi môi trường sống bình thường, khỏi nhà của mình, khỏi những người thân yêu, và có khi còn bị bỏ rơi luôn, không được ai nhìn nhận nữa, như Lề Luật trong sách Lê-vi truyền lệnh: “Người mắc bệnh phong phải ở riêng ra, chỗ ở của nó là một nơi bên ngoài trại” (Lv 13, 46). Như thế, người bị bệnh vừa đau khổ trong thân xác và vừa đau khổ về tinh thần, vì thiếu tình thương và sự liên đới.
Với bài tường thuật Chúa Giêsu chữa người phong hủi. Bệnh phong được người Do Thái coi như là một chứng bênh đặc biệt trầm trọng. Lời khẩn cầu của người bệnh chứng tỏ một niềm tin tưởng phi thường: “Nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch”. Anh ta gán cho ý muốn của Chúa Giêsu một quyền lực to lớn. Lời khẩn cầu này cũng vừa là một thách đố vừa chứng tỏ lối xử sự trước đây của Chúa Giêsu đã gây ra ấn tượng nào và thức tỉnh những niềm chờ mong nào. Chúa Giêsu hành động như Thiên Chúa: chỉ cần Người muốn một điều là điều ấy được thực hiện. Người phong hủi được chữa lành tức khắc.
Chàng thanh niên trong Tin Mừng hôm nay thật may mắn vì đã gặp được Đấng đang tìm anh để chạnh lòng thương anh. Thật vậy, khi gặp người phong cùi này, Chúa Giêsu đã không tránh xa, mà ngược lại, Ngài đã đến gần và chạm vào anh để anh được sạch. Không những thế, Ngài còn phục hồi nhân phẩm cho anh khi truyền cho anh đi báo với Tư Tế để được hòa nhập với cộng đồng. Xem thấy Chúa làm, chúng ta cũng được mời gọi noi gương bắt chước Chúa Giêsu hãy ra tay đón nhận và cứu giúp những ai đang lầm than khốn khổ.
Theo đó, tình thương của chúng ta không chỉ là một chút rung động trong tâm hồn nhưng phải được cụ thể hóa nơi chính đôi tay của mình. Muốn được như vậy, chúng ta hãy xin với Chúa cho đôi chân biết đi tới, đôi tay biết vươn xa, và nhất là trái tim biết rộng mở, để đón nhận những anh chị em đau khổ, bệnh tật cả về tinh thần lẫn thể xác, hầu xoa dịu những đau khổ mà anh chị em chúng ta đang phải gánh chịu. Chỉ có thế, chúng ta mới thực sự là môn đệ của Thầy Giêsu.
Ta thấy Giêsu cũng đánh đổ được huyền thoại của người đương thời với Ngài về bệnh phong cùi. Thật thế, trong quan niệm của người Do Thái lúc đó, bệnh tật là một hình phạt trực tiếp của Thiên Chúa đối với tội lỗi của con người. Người mắc bệnh phong cùi là người đã từng mắc tội ác khủng khiếp đến độ đã bị Thiên Chúa trừng phạt nặng nề. Thế nên, khi bị đẩy ra bên lề xã hội, người phong cùi không những chịu đớn đau trong thân xác, mà còn phải gánh chịu sự tủi nhục do người đồng loại gây ra. Khi chữa lành người phong cùi, Chúa Giêsu muốn nói rằng Thiên Chúa vẫn tiếp tục yêu thương con người và chính tình yêu là sức mạnh chữa trị bệnh tật cho con người.
Sứ điệp ấy của Chúa Giêsu, trải qua các thế hệ, đã có biết bao nhiêu người chuyển đạt và thực thi cho những người phong cùi trên khắp thế giới. Những bàn tay săn sóc, những lời nói an ủi, và nhất là sự hiện diện chia sẻ bên cạnh các người phong cùi. Tất cả những cử chỉ ấy là để khẳng định với những người phong cùi rằng Thiên Chúa yêu thương họ.
Tất cả chúng ta đều cảm nghiệm được rằng những đau đớn thân xác không xâu xé và đè bẹp con người cho bằng nỗi cô đơn và bị bỏ rơi. Bệnh phong cùi là tột điểm của nỗi cô đơn mà con người có thể rơi vào. Tựu trung, cô đơn cũng đồng nghĩa với vắng bóng tình yêu.
Lời Chúa trong bài Tin Mừng hôm nay mời gọi chúng ta ngừng đặt câu hỏi: tại sao lại bệnh tật, tại sao lại đủ mọi khổ đau, phải chăng là hình phạt? Bởi vì, càng đặt câu hỏi, chúng ta sẽ càng bị dồn vào ngõ bí và tự làm khổ mình. Nhưng, Lời Chúa mời gọi chúng ta thả mình vào tình thương và lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa, được thể hiện nơi Đức Ki-tô. Thật vậy, Ngài chạnh lòng thương người bệnh phong và chữa anh lành bệnh, một cách vô điều kiện; anh chỉ cần bày tỏ lòng ước ao thôi: “Thưa Ngài, nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch”.
Phép lạ chữa bệnh này mang lại cho chúng ta niềm hi vọng thật bao la cho loài người và từng người tật nguyền chúng ta. Thật vậy, trước khi nói lời chữa lành: “tôi muốn, anh hãy được sạch”, Chúa Giêsu đã chạnh lòng thương và giơ tay đụng vào anh. Thế mà, đụng vào người cùi, theo luật là bị ô uế cả trong thân xác lẫn tâm hồn.
Và đó chính là cách Chúa Giêsu chạnh lòng thương và chữa lành chúng ta. Đó là bày tỏ sự cảm thông và tình thương của Thiên Chúa đối với loài người đau khổ của chúng ta, với nỗi đau khổ của mỗi người chúng ta, nhưng không phải bằng cách lấy đi đau khổ, nhưng là mang vào mình đau khổ của con người (x. Mt 8, 7 và Rm 8, 3 ; 2Cr 5, 21 ; Gl 3, 12).
Trước khi đáp lời loài người đau khổ, Thiên Chúa nơi Chúa Giêsu, nhận lấy đau khổ của con người làm của mình. Mầu nhiệm Nhập Thể là như thế, Con Thiên Chúa mang lấy thân phận con người, một thân phận ở mức độ thấp nhất, cùng khổ nhất, cùng tận nhất về mọi phương diện.
Mỗi người trong chúng ta có thể không bị phong cùi thể xác, nhưng rất có thể chúng ta đang bị phong cùi trong tâm hồn, chúng ta hãy noi gương người phong cùi, mạnh dạn đến với Chúa, hãy mở rộng tâm hồn cho Đấng đầy yêu thương đụng chạm tới mình, để Ngài chữa lành tâm hồn phong hủi của chúng ta với đầy những thói hư tật xấu, những tội lỗi, những khô khan nguội lạnh, những thờ ơ với Chúa và vô cảm với anh chị em.
2021
VỊ NGÔN SỨ VĨ ĐẠI NHƯNG KHIÊM NHƯỜNG
24 15 Tr Thứ Năm Tuần XII Thường Niên.
SINH NHẬT THÁNH GIOAN BAO-TI-XI-TA, lễ trọng.
Không cử hành lễ cầu cho người qua đời (D3), trừ lễ an táng.
Is 49,1-6; Cv 13,22-26; Lc 1,57-66.80.
VỊ NGÔN SỨ VĨ ĐẠI NHƯNG KHIÊM NHƯỜNG
Giáo Hội thường mừng lễ các thánh vào ngày các ngài qua đời. Đó là ngày các ngài được về với Thiên Chúa, ngày sinh nhật trên thiên quốc. Đối với thánh Gioan Tẩy Giả, Giáo hội mừng kính cả ngày ngài sinh ra và cả ngày ngài tử đạo. Ngày qua đời mừng ở bậc lễ nhớ. Ngày sinh nhật với bậc lễ trọng.
Trong năm phụng vụ chỉ có 3 lễ mừng sinh nhật. Đó là Giáng Sinh của Đức Giêsu (25.12); Sinh nhật của Đức Maria (8.9) và Sinh nhật của Gioan Tẩy Giả (24.6). Cuộc đời và sứ mạng của Gioan gắn liền với cuộc đời và sứ mạng của Chúa Giêsu nên Giáo hội có lý do để sắp đặt việc mừng Sinh nhật của Vị Tiền Hô của Đấng Cứu Thế trở thành một Lễ Trọng trong niên lịch phụng vụ.
Gioan được sinh ra kỳ diệu, ơn gọi huyền nhiệm và được trao sứ vụ cao trọng trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa.
Qua sinh nhật và ơn gọi huyền nhiệm của Gioan,Thiên Chúa đã đặt ngài làm gạch nối giữa Cựu ước và Tân ước với sứ vụ đặc biệt đó là Tiền Hô cho Đấng Cứu Thế.
Từ thế kỷ thứ IV, Giáo hội đã mừng lễ sinh nhật thánh Gioan Tẩy Giả. Đây là một lễ rất lâu đời xét về mặt thời gian. Nếu như câu hỏi mà những người đương thời để bụng suy nghĩ “con trẻ này rồi sẽ nên thế nào? ” Thì ngày nay người ta vẫn không ngừng đặt ra những câu hỏi, chẳng hạn như : Tại sao lại lấy ngày 24 tháng 6 ? Và lý do gì mà Giáo hội lại mừng lễ sinh nhật Thánh Gioan cách trọng thể như thế ?
Tại sao lại lấy ngày 24 tháng 6 ?
Lý do lấy ngày 24 tháng 6 thay vì ngày 25 tháng 6 là vì theo cách tính ngày xưa, tức là theo calends (ngày mùng ), ides (ngày 15) và nones (ngày thứ chín). Dĩ nhiên, những niên hiệu này có một giá trị phụng vụ và biểu trưng hơn là một giá trị lịch sử. Chúng ta không biết chính xác ngày và năm Chúa Giêsu sinh ra, nên khi nào Gioan sinh ra chúng ta cũng không hay.
Dựa vào trang Tin Mừng, thánh Luca cho biết, khi loan báo sự sinh hạ của Chúa Kitô cho Đức Maria, thiên thần cho ngài biết bà Isave chị họ của ngài đang có thai trong tháng thứ sáu. Cho nên, Gioan Tẩy Giả phải được sinh ra sáu tháng trước Chúa Giêsu và như vậy bảng niên đại được tôn trọng cho đến ngày nay.
Thánh Augustinô nói : “ Giáo hội có thói quen lấy ngày qua đời của các vị thánh để mừng kính, vì đó là ngày sinh nhật của các thánh trên Trời. Riêng thánh Gioan Baotixita được miễn trừ khỏi qui luật bình thường đó, vì ngài đã được thánh hiến ngày từ trong lòng mẹ trước khi sinh ra, nhờ sự hiện diện của Đức Giêsu Kitô trong lòng Đức Maria Trinh Nữ Rất Thánh khi thăm Bà Thánh Isave, từ đó Giáo hội tin rằng Gioan Tẩy Giả đã được thánh hoá trong dạ mẹ nhờ sự hiện diện của Chúa Kitô. Đó là lý do Giáo hội cử hành lễ sinh nhật của ngài ”.
Là một ngôn sứ trong một đất nước đang thời nhiễu nhương, bị đế quốc Roma cai trị hà khắc, nhiều phe nhóm trong dân nổi loạn, dân chúng lầm than, Gioan cũng mang nặng những ưu tư những trăn trở yêu nước thương dân. Qua mọi thời, những Ngôn sứ chân chính luôn thao thức với vận mạng Dân tộc. Vị vua Hêrôđê, một hôn quân bạo chúa, sống loạn luân, lấy Hêrôđiađê là vợ của anh trai mình. Lương tâm ngôn sứ đã thúc đẩy, Gioan lên tiếng can ngăn và tố cáo những hành vi sai trái của nhà vua, kêu gọi vua trở về nẻo chính đường ngay. Vì thế, Gioan đã bị vua chém đầu từ trong ngục. Đụng chạm đến những hôn quân bạo chúa thì chỉ chuốc lấy họa vào thân. Thế nhưng, lương tâm ngay chính, Gioan đã khẳng khái nói lên những lời cần phải nói cho dù phải trả giá bằng chính mạng sống.
Sứ mạng Ngôn sứ thời nào cũng phải trả giá khi dám nói sự thật, khi dám đấu tranh cho công lý và dân chủ. Trước mặt người đời, Gioan là kẻ thất bại. Sứ mạng của ông không hoàn thành, bị những kẻ gian ác ghen ghét hãm hại, cuối cùng chịu chết chém trong tù. Thế nhưng Đức Giêsu đã nói về ông: “Trong các con cái người nữ sinh ra, chưa từng một ai cao trọng hơn Gioan Tẩy giả” (Lc 7,28).
Mừng sinh nhật thánh Gioan Tẩy Giả, mỗi người hãy nghĩ về ngày sinh nhật của mình. Đó là giây phút lịch sử đáng ghi nhớ nhất cuộc đời.
Ngày ấy, cha mẹ, anh chị em hân hoan, bà con lối xóm đến chúc mừng. Ai cũng muốn nhìn con trẻ, mỉm cười muốn bồng ẵm và tự hỏi: trẻ này rồi sẽ nên như thế nào, ai cũng chúc phúc và đặt niềm hy vọng. Con trẻ được cha mẹ đặt tên. Ngày được Thanh tẩy, con trẻ có một tên Thánh. Chọn một vị Thánh làm bổn mạng cho con, cha mẹ xin vị Thánh Quan thầy cầu bầu che chở con và mong con noi gương bắt chước vị Thánh ấy trên đường nhân đức.
Thánh Gioan được sinh ra trong niềm vui của cha mẹ và mọi người. Ngài đã sống trọn vẹn ơn gọi của mình. Thánh nhân để lại một mẫu gương khiêm nhường, thánh thiện cho muôn đời. Mỗi người được sinh ra và lớn lên trong vòng tay yêu thương của cha mẹ và sự quan phòng của Thiên Chúa. Mỗi cuộc đời là một huyền nhiệm trong tình thương Thiên Chúa. Mỗi lần mừng sinh nhật của mình, mỗi người chúng ta nhớ đến bao nhiêu là hồng ân Thiên Chúa ban tặng để tạ ơn và sống xứng đáng hơn.
Gioan đã trở thành vị ngôn sứ vĩ đại của Thiên Chúa, vì ngài đã trực tiếp dọn đường cho Đấng Cứu Thế. Sau thời gian sống ẩn dật trong rừng vắng, Gioan đã ra đi và thi hành sứ vụ. Ngài đã trở thành tiếng hô trong hoang địa: hãy dọn sẵn con đường cho Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi, mọi hố sâu phải lấp cho đầy, mọi núi đồi phải bạt cho thấp, đường quanh co phải uốn cho ngay… (x. Lc 3, 4-6).
Như vậy, Gioan nắm một vai trò trực tiếp có một không hai là dọn đường cho Đấng Cứu Thế. Tuy nhiên, khi ông công khai xuất hiện trước toàn dân và làm phép rửa, dân chúng đã tưởng là Đấng Cứu Thế! Lúc đó, nhiều người đã đến để thăm dò, chất vấn xem ông có phải là Đấng Kitô mà bao ngôn sứ đã loan báo, nay xuất hiện hay không? Khi đặt vấn đề ấy với ông, ông hoàn toàn phủ nhận và không những thế, Gioan còn đề cao Đấng Cứu Thế khi nói: “Có Đấng đến sau tôi, quyền năng hơn tôi. Tôi không đáng cởi dép cho Ngài” (x. Lc 3, 16). Ngài cũng nói rõ vai trò của mình là người dọn đường, vì thế, khi Đấng Cứu Thế đến thì: “Ngài phải lớn lên còn tôi, tôi phải nhỏ đi” (x. Ga 3, 30). Khi uy tín của ông lên đến đỉnh điểm, có nhiều môn đệ đi theo, lẽ ra, lúc này, ông phải tự hào và hãnh diện cũng như củng cố uy tín…! Không! Khi thấy Đức Giêsu đi ngang qua, ông sẵn sàng chỉ về phía Ngài và giới thiệu cho các môn đệ của mình, ông nói: “Đây là Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian” (Ga 1, 29).
Quả thật, Gioan là một người khiêm tốn. Điều này được chứng minh qua thân thế của ông như sau: sinh ra trong một gia đình có truyền thống Tư Tế, thượng lưu, Gioan có quyền được hưởng một cuộc sống sung túc và trưởng giả. Thế nhưng, cuộc đời của ông lại âm thầm và gắn liền với sa mạc. Thức ăn của ông là châu chấu và uống mật ong rừng. Ông sống nghèo đến độ lấy da thú làm áo che thân.
Tuy nhiên, Chúa Giêsu đã ân thưởng cho Gioan xứng với vai trò của ông, nên Ngài đã khen ngợi, công nhận Gioan là người vĩ đại khi nói: “Anh em vào sa mạc để xem gì? Một cây lau phất phơ trước gió ư?… Anh em xem thấy gì? Một vị ngôn sứ? Đúng thế, tôi nói cho anh em biết, trong con cái của người phụ nữ, không ai lớn hơn Gioan” (x. Lc 7, 28).
Thánh Gioan Tẩy giả đã nêu gương khiêm tốn và làm chứng cho Chúa. Làm chứng trong cuộc sống hôm nay chính là: Tự làm mình lu mờ đi bằng việc ít nói về mình, không khoe khoang thành tích của mình, để Chúa được lớn lên nơi tha nhân. Làm chứng cho Chúa hôm nay cũng là: sống điều độ chừng mực, tránh thói tiêu xài xa hoa lãng phí và sự chè chén say sưa. Làm chứng cho Chúa hôm nay còn là chỉ đường giúp nhiều người nhận biết và theo làm môn đệ của Chúa. Xin Chúa giúp mỗi người chúng ta luôn biết sống đơn sơ khó nghèo, can đảm làm chứng cho sự thật và không bao giờ chịu lùi bước trước những khó khăn trở ngại gặp phải trong cuộc sống hằng ngày.
2021
Tốt – xấu
23 14 X Thứ Tư Tuần XII Thường Niên.
St 15,1-12.17-18 ; Mt 7,15-20.
(Tr) Chiều: Vọng Lễ Sinh Nhật Thánh Gioan Bao-ti-xi-ta, lễ trọng.
Gr 1,4-10; 1Pr 1,8-12; Lc 1,5-17.
Tốt – xấu
Tin Mừng hôm nay là một phần của bài giảng về đạo lý mà Thánh sử Mat-thêu đã thâu tóm, tổng hợp lại và đặt ngay sau bài giảng Trên Núi như là những hành vi đạo đức mà một người môn đệ của Chúa Giêsu phải có. “Cây nào trái ấy” là chủ đề của đoạn Tin Mừng này và cũng là lời Chúa Giêsu răn dạy các môn đệ phải cẩn trọng và chú ý.
Câu 15 mở đầu với lời cảnh báo “Anh em hãy coi chừng các ngôn sứ giả…”. Chúa Giêsu báo động là có các ngôn sứ giả. Chúng ta biết trong Cựu ước, các ngôn sứ là những người được Thiên Chúa sai đến để nói Lời Chúa với dân, chẳng hạn như ngôn sứ Isaia, Jeremia…Còn đây là những người mà Chúa Giêsu nói rõ: “Họ đội lốt chiên… bên trong là sói dữ tham mồi” (c.15b). Bề ngoài trông có vẻ họ hiền lành, ngoan ngoãn, đạo đức, thánh thiện, nhưng đó chỉ là cái vỏ mà Chúa Giêsu có lần tố cáo “là những mả tô vôi”; còn lòng dạ họ như những con sói chực vồ, nuốt lấy con mồi.
Đó là những kẻ nhân danh điều tốt, sự lành mà giảng dạy điều xấu, sự ác. Những ngôn sứ giả ấy ở ngay trong lòng Giáo Hội. Trước những con người như thế, người môn đệ cần biết phân biệt đâu là thật, đâu là giả. Người môn đệ ấy không để lòng mình xuôi theo những ngụy biện giả dối.
Bằng cách nào? Chúa Giêsu nói tiếp: “Cứ xem họ sinh hoa quả nào, thì biết họ là ai”. Vậy tiêu chuẩn để phân định là xem hành động của họ, nhìn vào cuộc sống của họ có phục vụ cho Đức Ki-tô không? Đời sống của họ có chọn con đường Thập Giá của Đức Ki-tô hay theo ý riêng, sở thích của họ.
Chúa Giêsu khẳng định rõ hơn: “Ở bụi gai, không có nho mà hái? Trên cây găng không có vả mà bẻ?” (c.16). Và Ngài kết luận: “Cây tốt sinh trái tốt và ngược lại cây xấu sinh trái xấu” (c.17). Đây là định luật tất nhiên. Bởi thế nhà nông luôn vun xới, chăm bón cho cây mình xanh tươi để đạt kết quả tốt nhất. Còn những cây mọc nơi hoang địa thiếu nước, vắng người chăm bón… thì làm sao có hoa thơm trái ngọt được.
Và Chúa Giêsu nói thêm: “Cây tốt không thể sinh quả xấu, cũng như cây xấu không thể sinh trái tốt” (c.18). Đối với cây cối tự nhiên là thế. Xấu, tốt của hạt giống, cây trồng không thể thay đổi được. Nhưng đối với con người tính xấu, tốt không do bản tính vì ông cha ta có câu “Nhân chi sơ, tính bản thiện”. Ngay từ ban đầu Thiên Chúa dựng nên mọi sự đều tốt lành, nhưng vì lạm dụng tự do, con người đã sa ngã và phạm tội chống lại ý Thiên Chúa. Vì thế, tốt xấu là tùy thuộc vào trách nhiệm của mỗi người và có thể đổi thay.
Câu 19 như một lời quyết định trong ngày chung thẩm, cũng là ngày mà mỗi người trình diện trước ngai tòa Thiên Chúa để trả lời về những hành vi của mình: “Cây nào không sinh quả tốt, sẽ bị chặt đi và quẳng vào lửa” (c.19). Lời này tiên báo về cuộc sống mai hậu và cũng là lời cảnh tỉnh mỗi người chúng ta ý thức và có trách nhiệm về sự tự do của mình. Như một cây không sinh trái tốt sẽ bị bứng rễ và quẳng vào lửa, chúng ta sẽ phải trả lời về những “nén bạc” Chúa trao mà ta đã không làm sinh lợi và còn đem chôn vùi dưới đất.
Ở đây, Thánh sử Mat-thêu không có ý nhấn mạnh về ngày phán xét chung cuộc, nhưng chỉ là một lời cảnh tỉnh những người môn đệ biết phân biệt và nhận ra những con sói trong bầy chiên: “Cứ xem họ sinh hoa quả nào, thì biết họ là ai?” (c.20). Ý tưởng này được lập lại lần thứ 2 như một lời tóm kết về ý chính của đoạn Tin Mừng. Để ngay sau đó, Thánh sử trình bày về tính cách của người môn đệ chân chính như một cách đối lập làm nổi bật vấn đề.
Ta thấy nhiều người trong chúng ta lại có quá nhiều “hoa, lá, cành”, mà “quả” thì không có, hay có nhưng lại bị “sâu”. Tức là hăng say làm việc chỉ vì ham danh, huênh hoang, tự phụ, ích kỷ nên không thể sinh ra “quả” tốt được. Những người đó họ làm mọi việc vì thực dụng cá nhân, không vì yêu mến Chúa và tha nhân, nên họ chẳng khác gì chiếc phèng la kêu inh ỏi, nhưng bên trong thì rỗng tuếch.
Thánh Phaolô cũng khuyên dạy tín hữu thành Corintô như sau: “Giả như tôi nói được các thứ tiếng, giả như tôi được ơn tiên tri như tôi có đem hết tài sản mà bố thí mà không có đức mến thì cũng chẳng có ơn ích gì cho tôi” (x. 1 Cr 13,1-3). Vì thế: “Không phải những ai nói: Lạy Chúa, lạy Chúa, là được vào Nước Trời, mà chỉ những ai thực hành ý Chúa mới được vào mà thôi”.
Muốn làm được điều đó, chúng ta phải trở nên những tiên tri thật của lòng mến, chứ đừng trở nên tiên tri giả của tham sân si. Hãy trở nên con chiên hiền lành của Chúa chứ đừng trở nên sói dữ. Không được mang danh và hình ảnh của chiên, nhưng thực ra chỉ là mặt chiên, mà là dạ sói!
Chúa Giêsu tỏ lòng cảm thông và tha thứ cho những yếu hèn và vấp ngã của con người, nhưng Ngài không hề dung chấp cho thái độ giả hình của những người Biệt phái. Ngài gọi họ là những tiên tri giả, những người đội lốt chiên mà bên trong là lòng dạ của sói dữ. Họ trưng bày một bộ mặt đạo đức, nhưng cuộc sống của họ gồm toàn những hành động xấu xa.
Chúa Giêsu mời gọi chúng ta đề cao cảnh giác trước thói giả hình. Bao lâu giữa niềm tin và cuộc sống còn có khoảng cách, thì bấy lâu chúng ta vẫn còn là những kẻ giả hình; trên cây đức tin của chúng ta chỉ có những quả xấu; cuộc sống chỉ còn là những phản từ, hay nói theo ngôn ngữ quen thuộc: chúng ta làm ố danh sự đạo. Thánh Phaolô đã nhắn nhủ tín hữu Côrintô: Những người rước Mình Thánh Chúa mà vẫn tiếp tục sống trong chia rẽ và kỳ thị, là những người sống trong mâu thuẫn không thể chấp nhận được, và họ rước Mình Thánh Chúa một cách bất xứng. Bí tích Thánh Thể không thể tách rời khỏi giới răn yêu thương: người ta không thể rước Mình Thánh Chúa mà đồng thời lại sống xa lạ với anh em đang bị đói khát, đau yếu, tù đày. Từ việc rước lễ phải nẩy sinh trong chúng ta sức mạnh của niềm tin yêu khiến chúng ta cởi mở với tha nhân, có lòng từ bi đối với những người sống trong túng thiếu và quẫn bách.
Ngày nay trong Giáo Hội chúng ta không thiếu những “con sói đội lốt chiên”. Những con sói ấy len lỏi trong hàng giáo sĩ, tu sĩ, giáo dân. Trước tiên, chúng ta hãy cầu nguyện cho Giáo Hội và cho chính mỗi người chúng ta, biết nhận ra tính “sói tham mồi” trong con người mình, để khiêm tốn đi theo lối đường của Đức Kitô, theo sự hướng dẫn của Giáo Hội, để bớt đi những ngôn sứ giả, để danh Thiên Chúa được rạng rỡ vinh quang.
2021
CỬA HẸP
22 13 X Thứ Ba Tuần XII Thường Niên.
(Tr) Thánh Pau-li-nô, Giám mục Nô-la. (Đ) Thánh Gioan Phít-sơ (John Fisher), Giám mục và Thánh Tôma Mo (Thomas More), tử đạo.
St 13,2.5-18; Mt 7,6.12-14.
CỬA HẸP
“Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi; nhưng khó vì lòng người ngại núi e sông.” Câu nói của Nguyễn Bá Học có thể giúp minh hoạ cho Lời Chúa hôm nay. Con đường bị sông núi cản ngăn chẳng khác chi con đường chật hẹp, muốn vượt qua ta phải oằn mình, lách mình hoặc tìm phương thế vượt chướng ngại vật. Đó là con đường chẳng mấy ai muốn đi vì nó đòi ta phải lao nhọc, khép mình vào kỷ luật nghiêm ngặt, mà lắm khi không thấy kết quả tức thời. Đức Giê-su dạy ta đi con đường của Ngài mới có thể đạt đến sự sống đời đời. Đó là đường khổ giá mà Chúa cũng trải qua rồi mới được vinh quang phục sinh. Ngược lại, chọn “cửa rộng và đường thênh thang” là tự mình đi vào chỗ đến diệt vong.
Cánh cửa hẹp và con đường chật mà Chúa Giêsu nói đến là con đường “từ bỏ”, “vác thập giá mình mà đi theo Chúa,” con đường Ngài đã đi và sẽ dẫn ta đến Chúa Cha, đến sự sống; thế mà ít người muốn đi con đường này. Trái lại đi trên đường thênh thang con đường ăn chơi phóng túng thì thoải mái thật, nhưng lại dẫn đến diệt vong; đường này lại có quá nhiều người muốn đi. Lời cảnh báo “khó nghe” này của Chúa vẫn có giá trị cho mọi thời đại.
Trước trào lưu hưởng thụ và tục hoá của thế giới hôm nay, việc từ bỏ “cánh cửa rộng” và “con đường thênh thang” để bước qua “cánh cửa hẹp và đi trên “con đường chật” quả là một thách thức không nhỏ đối với mỗi Kitô hữu, nhất là các bạn trẻ. Nhưng hãy biết rằng con đường “sống” thì chỉ có một mà thôi, đó là “con đường Giêsu”, con đường Chúa đã đi qua! Hãy xác định con đường ta sắp đi để có thể bước tới hay chọn con đường khác. Xem lại con đường ta đang đi sẽ dẫn ta về đâu. Đối với Chúa không khi nào là quá trễ cho ta trở lại với Ngài.
Tin Mừng hôm nay là những lời dạy của Chúa Giêsu về quy luật sống. Khi tuân thủ những điều đó sẽ đem lại cho chúng ta bình an và hạnh phúc đời này cũng như đời sau.
Trong thực tế, con đường chật hẹp là con đường chẳng mấy ai muốn đi vì nó đòi chúng ta phải vất vả, đưa mình vào khuôn khổ kỷ, mà đôi khi không thấy kết quả tức thời. Đức Giêsu đã dạy chúng ta hãy đi theo con đường của Ngài thì chúng ta mới có thể đạt đến sự sống đời đời. Đó là đường khổ giá mà Chúa cũng trải qua rồi mới được vinh quang phục sinh. Ngược lại, nếu chọn “cửa rộng và đường thênh thang” là tự mình đi vào chỗ đến diệt vong.
Nếu chấp nhận đi vào “cửa hẹp” thì chúng ta phải thực hiện: khom người lại thì chui mới lọt, nghĩa là phải hạ mình xuống, sống khiêm tốn chứ không phải tự cao tự đại; tạo cho mình nhỏ lại thì mới chui qua được, nghĩa là biết trở nên con người nhỏ bé đơn sơ; bỏ bớt hành lý cồng kềnh thì mới dễ đi qua, nghĩa là bỏ bớt những gì làm ta vướng bận và lấn át chúng ta…
Cửa rộng và cửa hẹp mà Chúa Giêsu muốn nói đến trong bài Tin Mừng hôm nay là sự tự do của con người, con người có thể chọn lựa giữa sự thiện và sự ác, giữa sự chân thật và sự giả dối… Để qua được cửa hẹp, chúng ta phải bỏ mình, kiềm chế bản thân, hy sinh, nổ lực… để có thể đưa chúng ta đến với sự sống là chính Đức Kitô. Chính Ngài cũng đã chọn cho mình con đường hẹp để đến với Chúa Cha, con đường của khổ giá đã dẫn Ngài đến vinh quang phục sinh. Và ngài cũng muốn mỗi người chúng ta đi trên con đường vinh quang ấy. Cửa hẹp là hình ảnh dùng để diễn tả những khó khăn trước mắt phải cô gắng vượt qua; rồi sau đó mới đạt được kết quả tốt đẹp.
Chúa Giêsu dùng hình ảnh “cửa hẹp” và “đường chật” (Mt 7, 13-14) trong Tin Mừng hôm nay để dạy các tông đồ cần phải biết từ bỏ những ham muốn, những quyến rũ thoải mái, bất chính của bản thân mình. Thay vào đó là hãy lựa chọn những hy sinh, hãm mình, kiêng khem tiện nghi vật chất, biết từ bỏ ý riêng của bản thân, sẵn sàng vâng theo thánh ý Chúa, chấp nhận chương trình cứu độ bằng khổ nạn thập giá để rồi nhờ cuộc phục sinh của Đức Kitô đưa các ông đến sự sống đời đời.
Thiên đường có lối vào, nhưng không ai tới. Ý muốn nói: Sự chính nghĩa, điều đẹp đẽ, thiên hạ không màng.
Địa ngục không cửa, nhưng lại có người tìm đến. Cảnh báo: Điều xấu xa, tội lỗi thì mọi người lại thích làm.
Cũng vậy, đường dẫn tới Thiên đường thì chật, cửa vào thì hẹp; ít người đi. Ngược lại, đường đưa đến chỗ diệt vong thì rộng thênh thang, cửa vào thì rộng; nhiều người thích (Mt 7,14).
Con người ngày nay thích an nhàn hưởng thụ hơn là cố gắng hướng thiện, sống thánh; thích thỏa mãn bản năng của thân xác càng nhiều càng tốt; muốn hưởng thụ tiện nghi vật chất tối đa. Chỉ biết tôn thờ thân xác, của cải vật chất và xem thường đời sống tâm linh của chính mình…
Vô hình chung con người trở nên nô lệ cho thân xác, và vật chất; quên mất phẩm giá linh thánh của mình. Quên mất căn tính của mình là con của Đấng Tối Cao, được chung hưởng hạnh phúc, và có bổn phận phụng sự Người trong chân lý.
Con người ta đã quên nhớ con đường bên trong, con đường nội tâm mới thực sự dẫn con người trở về với con người thật của mình. Để dù muốn hay không, cũng phải nhận chân thực tại tự thân: Nhìn lại con người thật của mình với những hệ lụy đúng sai mà nhận ra thiện ác…
Trong bối cảnh toàn cầu hoá hôm nay, sự thành đạt, thịnh vượng, và phát triển được coi là những tiêu chí của thành công. Phải chăng “con đường chật” phải qua “cửa hẹp” của Đức Kitô đã lỗi thời, chẳng còn ai muốn đi ?
Chúa Giêsu cho ta thấy : con đường dễ dãi là con đường dẫn đến hư mất, đó là định luật chung của cuộc sống. “Hãy vào qua cửa hẹp, vì cửa rộng và đường rộng đưa đến diệt vong”. Thái độ hững hờ không thể đi đôi với những đòi hỏi của Tin Mừng; cuộc sống dễ dãi, buông thả không có chỗ đứng trong nếp sống của những người theo Chúa. Ðã một thời cùng ăn, cùng uống, cùng nghe giảng dạy, chưa phải là giấy thông hành để vào Nước Trời: “Ai nghe những lời Ta dạy mà không đem ra thực hành, thì ví được như người ngu xây nhà trên cát”. Nếu viện lý do mình là con dòng cháu giống, cũng chưa phải là lý do để được thâu nhận vào Nước Trời.
