2021
Về việc sử dụng bài hát “Chúa chăn nuôi tôi” của nhạc sĩ Phanxicô làm Thánh vịnh đáp ca
Nhiều lần, khi tham dự các thánh lễ an táng, hay cầu cho người qua đời, chúng tôi nhận thấy ở khá nhiều nơi, người ta sử dụng bài hát Chúa chăn nuôi tôi của nhạc sĩ Phanxicô trong phần Thánh vịnh đáp ca. Bài hát có giai điệu khá hay, nhưng lời bài hát chỉ lấy một số ý từ Tv 23 (22), chứ không phải chính bản văn Lời Chúa, nên không thể sử dụng làm Thánh vịnh đáp ca. Khi có dịp thuận tiện, chúng tôi thường nhắc nhở những người chọn bài hát, các chủng sinh và nữ tu, về việc này. Tuy nhiên, chúng tôi thấy cần phải trình bày vấn đề này ở phạm vi rộng rãi hơn để tránh những sai sót không đáng có trong các cuộc cử hành phụng vụ.
Một số những qui định phụng vụ
Bài Thánh vịnh đáp ca được xác định là một thành phần trong phụng vụ Lời Chúa. Quy chế tổng quát sách lễ Rôma, ở số 57, đưa ra hướng dẫn như sau:
“Trong các bài đọc, bàn tiệc lời Chúa được dọn ra cho các tín hữu và các kho tàng Thánh Kinh được mở ra cho họ. Bởi thế, nên giữ thứ tự các bài đọc Thánh Kinh để cho người ta thấy rõ sự thống nhất của cả hai giao ước và lịch sử cứu độ, cũng không được phép thay thế các bài đọc và thánh vịnh đáp ca vốn chứa đựng lời Chúa, bằng các bản văn khác ngoài Thánh Kinh.”
Sau đó, cũng Quy chế trên đây hướng dẫn cụ thể hơn về Thánh vịnh đáp ca, ở số 61:
“Sau bài đọc thứ nhất là thánh vịnh đáp ca, bài ca này là thành phần trọn vẹn của phụng vụ lời Chúa và rất quan trọng về mặt phụng vụ và mục vụ, vì giúp suy niệm lời Chúa. Thánh vịnh đáp ca phải thích hợp với mỗi bài đọc và thường phải lấy từ Sách Bài đọc.”
Bên cạnh đó, chúng tôi cũng tìm được thắc mắc của Đức cha Phaolô Nguyễn Văn Hoà về vấn đề này, với tư cách là Giám mục phụ trách Uỷ ban thánh nhạc toàn quốc, gửi cho Bộ Phụng tự và Kỉ luật bí tích ngày 10-11-2008. Câu trả lời liên quan đến lời văn Thánh vịnh đáp ca trong thư của Bộ nêu trên, ngày 3-2-2010, như sau:
“Về bản văn của các Thánh vịnh Đáp ca bằng tiếng Việt, Ngài có trình bày những khó khăn trong việc soạn các âm điệu vì tiếng Việt có tới sáu dấu, bởi vậy việc cho các dấu của ngôn ngữ hòa hợp với các nốt nhạc qủa rất khó. Bộ hiểu nỗi khó khăn này, nhưng đồng thời, Bộ cũng tin tưởng rằng Ủy ban Thánh Nhạc thuộc Hội đồng Giám mục sẽ tìm ra những giải đáp thỏa đáng để có được những âm điệu hay và xứng hợp cho các bản văn này (xin xem Huấn dụ De Liturgia Romana et Inculturatione [Về Phụng vụ Roma và việc Hội nhập văn hóa], 25 /01/ 2004, số 40).
Nếu mỗi âm điệu đều đòi hỏi phải sửa đổi đôi chút bản văn, cho dù là những lời rất đơn giản, thì tình trạng của các bản văn phụng vụ chính thức này cuối cùng sẽ ra sao? Bản văn phụng vụ chắc chắn sẽ lộn xộn. Các nhạc sĩ công giáo Việt Nam khi được các Đức Giám mục yêu cầu sáng tác các âm điệu cho các bản văn phụng vụ, thì cũng được yêu cầu chấp nhận hy sinh cần thiết trong việc soạn các âm điệu theo các chuẩn mực của Giáo Hội liên quan đến vấn đề.”[1]
Như vậy, những qui tắc phụng vụ đều nhấn mạnh rằng Thánh vịnh đáp ca là một phần của phụng vụ Lời Chúa và nếu có dệt nhạc, bản văn phải được lấy từ Sách Bài Đọc.
Đối chiếu lời bài hát Chúa chăn nuôi tôi của nhạc sĩ Phanxicô
Ở đây, chúng tôi sẽ không tiến hành công việc đối chiếu theo kiểu hàn lâm, tức là so sánh lời bài hát với các bản văn Kinh Thánh bằng tiếng Hípri hay tiếng Latinh. Chúng tôi sẽ đặt lời bài hát Chúa chăn nuôi tôi của nhạc sĩ Phanxicô bên cạnh bản dịch Sách Bài Đọc được ấn hành năm 1973 và bản dịch Kinh Thánh của Nhóm Các Giờ Kinh Phụng Vụ (CGKPV) để độc giả tiện so sánh.
THÁNH VỊNH 23 (22)
| Bản dịch 1973[2] | Bản dịch CGKPV[3] | Lời bài hát[4] |
| Tv 22,1-3a.3b-4.5.6
Xướng 1: Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi, trên đồng cỏ xanh rì, Người thả tôi nằm nghỉ. Tới nguốn nước, chỗ nghỉ ngơi, Người hướng dẫn tôi, tâm hồn tôi, Người lo bồi dưỡng. Đáp (1): Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi. Hoặc đọc (4a): Dù bước đi trong thung lũng tối, tôi không lo mắc nạn, vì Chúa ở cùng tôi. 2: Người dẫn tôi qua những con đường đoan-chánh, sở dĩ vì uy danh Người. Dù bước đi trong thung lũng tối, tôi không lo mắc nạn, vì Chúa ở cùng tôi, cây roi và cái gậy của Người, đó là điều an ủi lòng tôi. 3: Chúa dọn ra cho tôi mâm cỗ, ngay trước mặt những kẻ đối phương: đâu tôi thì Chúa xức dầu thơm, chén rượu tôi đầy tràn chan chứa. 4: Lòng nhân từ và ân sủng Chúa theo tôi, hết mọi ngày trong đời sống: và trong nhà Chúa tôi sẽ định cư cho tới thời gian rất ư lâu dài. |
1Thánh vịnh. Của vua Đa-vít.
CHÚA là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì. 2Trong đồng cỏ xanh tươi, Người cho tôi nằm nghỉ. Người đưa tôi tới dòng nước trong lành 3và bổ sức cho tôi. Người dẫn tôi trên đường ngay nẻo chính vì danh dự của Người. 4Lạy Chúa, dầu qua lũng âm u con sợ gì nguy khốn, vì có Chúa ở cùng. Côn trượng Ngài bảo vệ, con vững dạ an tâm. 5Chúa dọn sẵn cho con bữa tiệc ngay trước mặt quân thù. Đầu con, Chúa xức đượm dầu thơm, ly rượu con đầy tràn chan chứa. 6Lòng nhân hậu và tình thương CHÚA ấp ủ tôi suốt cả cuộc đời, và tôi được ở đền Người những ngày tháng, những năm dài triền miên. |
ĐK: Chúa chăn nuôi tôi, Chúa chăn nuôi tôi, Chúa đưa tôi đi qua mọi nẻo đường. Người đưa tôi đi lên núi cao say sưa gió biển, vui uống suối miền Nam, vững tâm qua rừng mịt mù.
TK1: Người đưa tôi đi lên vườn trái ngát xanh trên đồi. Người dẫn tôi về tựa trùng khơi buông gió dìu mây trời. Người sắp cho tôi yến tiệc thơm hương hoa, Người rót cho tôi ly rượu thắm chan hòa. Đầu tôi người xức dầu thơm nồng nàn. TK2 : Lòng không lo âu tuy vào giữa núi vây quân thù. Lòng vẫn êm đềm dù trời đêm thung lũng đầy sương mù. Cùng Chúa tôi đi suốt đời luôn hiên ngang. Nhờ Chúa tôi vui bao ngày tháng huy hoàng. Trần gian tươi thắm mùa xuân địa đàng. TK3: Đời tôi trăm năm trong cuộc sống biết bao thăng trầm. Nghìn cõi xa gần vòng thời gian đưa mãi nhịp xoay vần. Này áo với cơm, đây bài thơ ươm mơ. Này xác với thân mang nặng tấm linh hồn. Đời tôi ôi Chúa hiểu sâu ngọn nguồn. TK4: Dù bao chông gai tin vào Chúa vẫn luôn an bài. Lòng chẳng u hoài chờ bình minh lên giã từ đêm dài. Hạnh phúc cho tôi giữa đời không đơn côi. Vạn lý xa xôi có Người dẫn đưa về. Đời tôi mây trắng nhẹ trôi về trời. |
Một vài nhận xét
Trước hết, khi đối chiếu các bản văn trên đây, độc giả có thể dễ dàng nhận ra rằng bản văn Sách Bài Đọc năm 1973 và bản văn CGKPV quả thực là hai bản dịch khác nhau của Tv 23, trong khi lời bài hát Chúa chăn nuôi tôi của nhạc sĩ Phanxicô rõ ràng không phải là bản dịch, mà chỉ được gợi hứng từ Thánh vịnh này. Nhạc sĩ đã lấy ra một số cách diễn tả và hình ảnh từ Tv 23 để dệt thành lời bài hát.
Theo những qui định đã được ghi nhận ở phần trên, nhận xét này khiến chúng tôi đi đến nhận xét thứ hai: Bài hát Chúa chăn nuôi tôi của nhạc sĩ Phanxicô không thể được dùng làm Thánh vịnh đáp ca, vì lời bài hát không phải bản văn Lời Chúa. Thiết tưởng việc dùng một bản văn của con người, dù bản văn đó được gợi hứng từ Lời Chúa, để thay thế Lời Chúa là một việc làm khó có thể biện minh và không thế chấp nhận được trong truyền thống phụng vụ của Hội Thánh công giáo.
Chúng tôi cũng ghi nhận rằng những người chọn bài hát có lẽ không chú ý đến những qui tắc phụng vụ, cũng không mấy quan tâm đến việc lời bài hát có phải là bản văn Lời Chúa hay không. Bài hát này được chọn làm Thánh vịnh đáp ca đơn giản vì người ta vẫn thường chọn những bài hát Chúa chăn nuôi tôi cho phần này trong thánh lễ. Hơn nữa, giai điệu bài hát của nhạc sĩ Phanxicô lại khá hay, những lời ca mượt mà hấp dẫn.
Do vậy, bài viết của chúng tôi chỉ muốn là một lời nhắc nhở để những ai có trách nhiệm chọn bài hát trong phụng vụ lưu ý, nhằm tránh những sai sót không đáng và không nên có. Tóm lại, bài hát Chúa chăn nuôi tôi của nhạc sĩ Phanxicô có thể được dùng vào những thời điểm khác trong phụng vụ, nhưng không thể dùng bài hát này làm Thánh vịnh đáp ca trong thánh lễ.
[1] Trích từ trang điện tử simonhoadalat.com, truy cập ngày 15-10-2021.
[2] Sách bài đọc trong Thánh lễ ngoại lịch, (Sài Gòn 1973), trang 236.
[3] Kinh Thánh ấn bản 2011, (Hà Nội 2011), trang 1145.
[4] Đại chủng viện thánh Giuse Sài Gòn, Tuyển tập thánh ca Laudato Si, (Thành phố Hồ Chí Minh 2018), trang 176-177.
2021
PHẤN ĐẤU QUA CỬA HẸP VÀO NƯỚC TRỜI
27 22 X Thứ Tư Tuần XXX Thường Niên.
Rm 8,26-30; Lc 13,22-30.
PHẤN ĐẤU QUA CỬA HẸP VÀO NƯỚC TRỜI
Thiên Đàng hay Nước Thiên Chúa là ‘nơi’ Thiên Chúa dành sẵn cho con người sống hạnh phúc cùng Ngài. Từ khi sa ngã phạm tội, ‘cửa’ Thiên Đàng đã đóng lại đối với con người. Khi Chúa Kitô chịu chết trên thập giá và để ban ơn cứu độ thì cánh cửa ấy lại được mở ra, nhưng không phải cánh cửa thênh thang dễ dãi mà là cánh cửa hẹp. Ai muốn vào Nước Chúa đều được Ngài vui mừng đón nhận nhưng phải “chiến đấu để qua cửa hẹp mà vào.”
Sở dĩ phải qua cửa hẹp bởi không phải tất cả những gì ta đang sở hữu đều có thể mang vào Thiên Đàng. Có những thứ của cải có thể hữu dụng hoặc tăng giá trị cho ta trong cuộc sống trần gian, nhưng lại là một thứ ‘hành lý cồng kềnh’ khi đi qua cánh cửa hẹp để vào Thiên Đàng. Chỉ một thứ mà chúng ta mang bao nhiêu cũng không dư đó là tình yêu.
Vậy thì những gì cản trở ta vào Nước Trời, tại sao ta không loại bỏ? Và tại sao ta không “bán đi” những sự đời này để mua sắm lấy những tài sản sẽ tồn tại vĩnh cửu ở đời sau, nơi mối mọt không thể đục khoét, nơi kẻ trộm không thể lấy đi (Lc 12, 33)?
Chúa Giêsu đã tự ví mình là cửa chuồng chiên : “Tôi là cửa cho chiên ra vào” (Ga 10, 7). Người đòi những ai muốn vào Nước Thiên Chúa phải bước qua cửa hẹp : “Hãy chiến đấu để qua được cửa hẹp mà vào”. Theo thánh Phaolô : “Bước qua cửa hẹp” là phải chiến đấu đến cùng, phải đi con đường hẹp của thập giá, phải can đảm chống lại sự cám dỗ của ma quỷ, thế gian và xác thịt, đồng thời luôn làm theo thánh ý Chúa Cha như lời Chúa Giêsu : ”Không phải bất cứ ai thưa với Thầy : “Lạy Chúa ! Lạy Chúa !” là được vào Nước Trời cả đâu ! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy, là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi” (Mt 7, 21).
Bước qua cửa hẹp là chọn sống theo các đòi hỏi của Tin Mừng : là đi con đường chật hẹp, leo dốc ít người muốn theo, là đường thánh giá mà Đức Giêsu đã xin bỏ ý riêng để vâng phục ý Chúa Cha (Lc 22, 41). Người cũng đòi các môn đệ phải chọn cửa hẹp noi gương Người : “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo (Lc 9, 23).
Bước qua cửa hẹp đòi phải loại trừ “cái tôi” : Ở đây là chiến đấu với “cái tôi” ích kỷ của mình, cái tôi nặng nề vì những vun quén cá nhân, “cái tôi” phình to ra vì sự tự mãn tự kiêu và tham vọng cao. Thật ra cửa vào sự sống không hẹp bao nhiêu, nhưng đã trở nên hẹp vì “cái tôi” quá to. Cần phải làm cho “cái tôi” ấy nhỏ lại mới được vào Nước Trời (Mt 18, 3). “Cái tôi” của chúng ta luôn có khuynh hướng bành trướng do sự thu tích tri thức, tiền bạc, khả năng. Cả kinh nghiệm, tuổi tác, chức vụ cũng có thể làm cho “cái tôi” ấy bị xơ cứng và phình to ra.
Để trở nên như trẻ nhỏ, chúng ta cần phải đươc ơn Chúa dần dần biến đổi nên khiêm nhường tự hạ hơn (Mt 18, 3-7). Đây là một cuộc chiến đấu với chính mình. Khi huỷ mình ra không, ta sẽ dễ đi qua cửa hẹp và dễ vào trong Nước Trời. Hãy noi gương khiêm hạ của Gioan Tẩy giả khi trả lời các môn đệ về tương quan giữa ông với Đấng Thiên Sai Giêsu : “Người phải nổi bật lên, còn thầy phải lu mờ đi” (Ga 3, 30).
Phải chiến đấu mới vào được Nước Trời : Đời sống Kitô hữu là một cuộc chiến đấu liên tục để vượt qua “cái tôi” ích kỷ và phải nhanh chân chiến đấu để vào Nước Trời trước khi quá muộn. Ơn Cứu độ là của Chúa ban cho, nhưng đòi ta phải kiên trì cầu xin và biết giơ tay đón nhận. Ước gì đừng bao giờ chúng ta tự hào vì mình đã biết Chúa, nhưng phải luôn khiêm hạ, đơn sơ như trẻ thơ để Chúa biết và thừa nhận ta khi nói với chúng ta : “Khá lắm ! Hỡi người đầy tớ tài giỏi và trung thành ! Được giao ít mà anh đã trung thành, thì tôi sẽ giao nhiều cho anh. Hãy vào mà hưởng niềm vui của chủ anh !” (Mt 25, 21).
“Ta không biết các ngươi” : Nhiều người Do thái đã đến chậm khi cửa Nước Trời đã đóng lại. Họ gõ cửa đòi vào. Họ tưởng mình chắc sẽ có một chỗ nơi bàn tiệc Nước Trời, vì họ đã từng ngồi đồng bàn với Chúa Giêsu, và đã nhiều lần nghe Người giảng dạy, đã chứng kiến các phép lạ Người làm. Thế nhưng họ đã bị Chúa từ chối : “Ta không biết các anh từ đâu đến. Cút đi cho khuất mắt Ta, hỡi những quân làm điều bất chính !” (Lc 13, 27). Chúa cũng có thể nói với mỗi người chúng ta như vậy, nếu chúng ta dù có chăm chỉ học hỏi Kinh thánh và cầu nguyện, có siêng năng xưng tội rước lễ, nhưng lại không thực hành theo Lời Chúa dạy, không chịu mở cửa tâm hồn để mời Chúa vào làm chủ cuộc đời của ta.
Có khi nào chúng ta nghĩ rằng mình cũng ở trong số những người bị đuổi đi cho khuất mắt Chúa và trong số những quân làm điều bất chính nói trên hay không ? Lời chữa mình của người Do thái cũng có thể là của nhiều tín hữu chúng ta hôm nay : Vì chúng ta đã từng năng dự thánh lễ và nghe giảng lời Chúa, từng là thành viên Hội đồng Mục vụ hay Ban Chấp Hành các hội đoàn công giáo tiến hành… Nhưng điều quan trọng Chúa đòi phải có là phẩm chất đức tin chứ không phải chỉ là danh hiệu tín hữu. Phẩm chất của người Kitô hữu là sống theo Lời Chúa dạy và luôn chiến đấu loại bỏ các thói hư để có thể vào được Nước Trời ngang qua cửa hẹp.
Để bước qua một cánh cửa hẹp, chúng ta phải tập thói quen bác ái : luôn quên mình để sống khiêm nhường phục vụ tha nhân, quyết tâm loại trừ các thói hư cồng kềnh không thể lọt vào Nước Trời là tham lam tiền bạc, tranh giành nhau địa vị cao thấp, ham hưởng thụ các lạc thú bất chính: nhậu nhẹt thâu đêm suốt sáng, cờ bạc cá độ gây tán gia bại sản… Những thói hư cồng kềnh đó còn là thói ích kỷ, làm ngơ trước nỗi đau của tha nhân bên cạnh…
Vất bỏ những thói hư nói trên quả thật không dễ dàng, vì đây là một cuộc “chiến đấu” nội tâm trường kỳ đầy khó khăn. Tuy vậy, chúng ta không được nản lòng, vì xác tín rằng : có Chúa Kitô luôn đồng hành với chúng ta. Người sẽ cử Thánh Thần đến ở lại với chúng ta nếu chúng ta biết cầu xin và sẵn sàng đón nhận ơn Thánh Thần. Vào giờ chết của chúng ta, Chúa Giêsu sẽ đón nhận chúng ta vào dự bàn tiệc Nước Trời với tổ phụ Ápraham là “Cha các tín hữu”.
2021
Thứ Tư Tuần XXX – Mùa Thường Niên
Thứ Tư Tuần XXX – Mùa Thường Niên
Ca nhập lễ
Tv 104,3-4
Tâm hồn những ai tìm kiếm Chúa,
nào hoan hỷ.
Hãy tìm Chúa và sức mạnh của Người,
chẳng khi ngừng tìm kiếm Thánh Nhan.
Lời nguyện nhập lễ
Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, xin cho chúng con được thêm lòng tin cậy mến và biết yêu chuộng những điều Chúa truyền dạy, hầu đáng hưởng những gì Chúa hứa ban. Chúng con cầu xin …
Bài đọc
Mọi sự đều sinh lợi ích cho những ai yêu mến Thiên Chúa.
Bài trích thư của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Rô-ma.
26 Thưa anh em, có Thần Khí giúp đỡ chúng ta là những kẻ yếu hèn, vì chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho phải ; nhưng chính Thần Khí cầu thay nguyện giúp chúng ta, bằng những tiếng rên siết khôn tả. 27 Và Thiên Chúa, Đấng thấu suốt tâm can, biết Thần Khí muốn nói gì, vì Thần Khí cầu thay nguyện giúp cho dân thánh theo đúng ý Thiên Chúa.
28 Chúng ta biết rằng : Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh lợi ích cho những ai yêu mến Người, tức là cho những kẻ được Người kêu gọi theo như ý Người định. 29 Vì những ai Người đã biết từ trước, thì Người đã tiền định cho họ nên đồng hình đồng dạng với Con của Người, để Con của Người làm trưởng tử giữa một đàn em đông đúc. 30 Những ai Thiên Chúa đã tiền định, thì Người cũng kêu gọi ; những ai Người đã kêu gọi, thì Người cũng làm cho nên công chính ; những ai Người đã làm cho nên công chính, thì Người cũng cho hưởng phúc vinh quang.
Đáp ca
Tv 12,4-5.6 (Đ. c.6a)
Đ.Lạy Chúa, con tin cậy vào tình thương Chúa.
4Lạy Chúa là Thiên Chúa của con,
xin đoái nhìn và thương đáp lại,
toả ánh sáng cho đôi mắt rạng ngời,
để con khỏi ngủ giấc ngàn thu ;
5để kẻ thù con không thể nói :
“Ta đã thắng nó rồi”,
và đối thủ không được mừng vui
vì thấy con gục ngã.
Đ.Lạy Chúa, con tin cậy vào tình thương Chúa.
6Phần con đây, con tin cậy vào tình thương Chúa,
được Ngài cứu độ, lòng con sẽ vui mừng.
Con sẽ hát bài ca dâng Chúa, vì phúc lộc Ngài ban.
Đ.Lạy Chúa, con tin cậy vào tình thương Chúa.
Tung hô Tin Mừng
- 2 Tx 2,14
Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a. Thiên Chúa đã dùng Tin Mừng mà kêu gọi chúng ta, để chúng ta được hưởng vinh quang của Chúa chúng ta là Đức Giê-su Ki-tô. Ha-lê-lui-a.
Tin Mừng
Lc 13,22-30
Thiên hạ sẽ từ đông tây nam bắc đến dự tiệc trong Nước Thiên Chúa.
✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.
22 Khi ấy, trên đường lên Giê-ru-sa-lem, Đức Giê-su đi ngang qua các thành thị và làng mạc mà giảng dạy. 23 Có kẻ hỏi Người : “Thưa Ngài, những người được cứu thoát thì ít, có phải không ?” Người bảo họ : 24 “Hãy chiến đấu để qua được cửa hẹp mà vào, vì tôi nói cho anh em biết : có nhiều người sẽ tìm cách vào mà không thể được.
25 “Một khi chủ nhà đã đứng dậy và khoá cửa lại, mà anh em còn đứng ở ngoài, bắt đầu gõ cửa và nói : ‘Thưa ngài, xin mở cho chúng tôi vào !’, thì ông sẽ bảo anh em : ‘Các anh đấy ư ? Ta không biết các anh từ đâu đến !’ 26 Bấy giờ anh em mới nói : ‘Chúng tôi đã từng được ăn uống trước mặt ngài, và ngài cũng đã từng giảng dạy trên các đường phố của chúng tôi.’ 27 Nhưng ông sẽ đáp lại : ‘Ta không biết các anh từ đâu đến. Cút đi cho khuất mắt ta, hỡi tất cả những quân làm điều bất chính !’
28 “Bấy giờ anh em sẽ khóc lóc nghiến răng, khi thấy các ông Áp-ra-ham, I-xa-ác và Gia-cóp cùng tất cả các ngôn sứ được ở trong Nước Thiên Chúa, còn mình lại bị đuổi ra ngoài. 29 Thiên hạ sẽ từ đông tây nam bắc đến dự tiệc trong Nước Thiên Chúa.
30 “Và kìa có những kẻ đứng chót sẽ lên hàng đầu, và có những kẻ đứng đầu sẽ xuống hàng chót.”
Lời nguyện tiến lễ
Lạy Chúa, xin nhìn đến lễ vật chúng con dâng để tỏ lòng kính tôn thần phục và xin cho lễ tạ ơn này góp phần làm vinh danh Chúa. Chúng con cầu xin …
Lời Tiền Tụng
Lạy Chúa là Cha chí thánh, là Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, chúng con tạ ơn Chúa mọi nơi mọi lúc, nhờ Ðức Ki-tô, Chúa chúng con, thật là chính đáng, phải đạo và đem lại ơn cứu độ cho chúng con.
Vì chính Người, khi sinh ra đã đổi mới con người cũ, khi chịu khổ hình, đã tẩy xoá tội lỗi chúng con, khi từ cõi chết sống lại, đã khai lối vào chốn trường sinh, và khi lên cùng Chúa là Cha, Người đã mở cửa Nước Trời.
Vì thế, cùng với toàn thể Thiên thần và các thánh, chúng con hát bài ca chúc tụng Chúa và không ngừng tung hô rằng:
Thánh! Thánh! Thánh! …
Ca hiệp lễ
Tv 19,6
Chúng ta hãy vui mừng vì ơn Chúa cứu độ,
phất cao cờ mừng danh Chúa chúng ta.
Lời nguyện hiệp lễ
Lạy Chúa, xin cho chúng con được hưởng nhờ trọn vẹn ơn thiêng của bí tích chúng con vừa cử hành để nhờ thánh lễ tưởng niệm Ðức kitô chịu thương khó, chúng con được sống lại với Người. Người hằng sống và hiển trị muôn đời …
2021
DỤ NGÔN NƯỚC TRỜI
26 21 X Thứ Ba Tuần XXX Thường Niên.
Rm 8,18-25; Lc 13,18-21.
DỤ NGÔN NƯỚC TRỜI
Khi giảng dạy cho dân chúng về Nước Trời, Chúa Giêsu thường dùng những dụ ngôn, những kiểu so sánh, cách nói ẩn dụ với những hình ảnh quen thuộc trong đời sống hàng ngày của họ. Qua hai dụ ngôn về hạt cải và men trong bột, thánh Luca muốn trình bày cho chúng ta về sức mạnh lan tràn của Nước Thiên Chúa và khả năng làm biến đổi của Lời Thiên Chúa.
Quả vậy, “Nước Thiên Chúa giống như chuyện một hạt cải người nọ lấy gieo vào trong vườn mình. Nó lớn lên và trở thành cây, chim trời làm tổ trên cành được”. Cải ở vùng Thánh Địa là một loại cây, tuy có hạt rất nhỏ nhưng khi gieo vào đất tốt, cây cải mọc cao lớn, cành lá xum xuê, chim trời đến cư ngụ và làm tổ. Điều này muốn diễn tả, Nước Thiên Chúa là một “sự lớn dần”, là một cái gì “mọc lên” … Đó là một sự phát triển không thể cầm giữ nỗi, người ta không thể cản ngăn, vì đó chính là sức mạnh của sự sống.
Cũng vậy, “Nước Thiên Chúa giống như chuyện nắm men bà kia lấy vùi vào ba đấu bột, cho đến khi tất cả bột dậy men”. Men dùng để dậy bột làm bánh là một dẫn chứng rất thân thuộc và bình dị đối với mỗi gia đình người Do Thái. Chỉ cần một chút men được trộn vào bột và một khi bột đã ngấm men (dậy men), thì cả khối bột sẽ trương nở ra rất nhiều. Thực vậy, Tin Mừng nước Thiên Chúa một khi đã len lõi được vào tâm hồn con người và được rao giảng đến đâu là ở đó lòng người được biến đổi.
Chúa Giêsu đã lấy một vài vật bình dị, điển hình trong cuộc sống làm ví dụ như hạt cải, nắm men để nói về sức mạnh và sự phát triển của nước trời. Như hạt cải là tinh hoa mầm sống của cây cải, nó chỉ như hạt tấm nhỏ nhưng lại có khả năng phát triển thành cây cải cao lớn (cây cải ở Palestine không phải như cây rau cải bé nhỏ bình thường ở Việt Nam, nó có thể cao tới 3m) làm nơi ẩn náu cho chim trời; hay như nắm bột men nhỏ người đàn bà vùi vào ba đấu bột – men ở trong bột thì người ta không thể nhìn thấy nó, nhưng nó lại có khả năng làm cho cả khối bột dậy men; thì nước Thiên Chúa cũng thế, ban đầu rất nhỏ bé nhưng vẫn âm thầm phát triển lớn mạnh và sự hiện diện của nước Thiên Chúa có khả năng làm biến đổi thế giới. Như hạt là tinh hoa của cây, tinh hoa của nước Thiên Chúa chính là tình yêu.
Ngôi Lời như hạt giống tình yêu được gieo vào lòng thế giới. Và Lời tình yêu đó vẫn tiếp tục được rao truyền và vang xa mãi đến tận cùng trái đất. Chúa Giê-su Ngôi Lời nhập thể đã chẳng nói chính Người là nước trời đó sao (Mt 12, 28; Lc 11,20) Nước của Người là nước Tình yêu. Những biểu hiện của tình yêu thường rất tinh tế, nhạy bén qua sự hy sinh, xả thân, khiêm nhu, chịu lụy, khoan dung…. Người ta có thể rất mạnh mẽ ở những lãnh vực nào đó nhưng lại rất mềm yếu trong Tình yêu. Một viên tướng có thể thét ra lửa trước mặt binh sĩ, nhưng lại trở nên mềm mại yếu đuối trước người yêu – một nữ nhân vạn lần yếu đuối hơn ông ta.
Tuy nhiên tình yêu có sức mạnh mãnh liệt như sách Diễm ca có nói: “Nước lũ không thể dập tắt tình yêu, sóng cồn chẳng tài nào vùi lấp” (Dc 8,7). Chính vì thế mà Đức Giê-su Ki-tô – tình yêu nhập thế đã cam chịu chết vì yêu. Trước mặt người đời Người có thể bị coi là điên dại, là yếu đuối, là thất bại, nhưng kỳ thực Người đã chiến thắng sức mạnh của hỏa ngục là hận thù và sự chết để đưa con người tới sự sống bất diệt; nước tình yêu của Người vẫn kiên cường đứng vững và phát triển qua bao sóng gió, bão táp của kẻ thù bách hại và tồn tại đến thiên thu vạn đại.
Trong kinh lạy cha, người Ki-tô qua bao thế hệ vẫn nguyện cầu cho “Danh Cha cả sáng, Nước Cha trị đến, Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời”; và trong cuộc sống người Ki-tô hữu vẫn luôn được mời gọi sống điều mình nguyện xin, trở nên cánh tay nối dài của Lời tình yêu qua việc sống đúng bản chất của mình – thực hiện những hành vi yêu thương từng ngày; có thể là những hành vi rất âm thầm, khiêm nhu và nhỏ bé nhưng lại có sức biến đổi con người, biến đổi môi trường như “nắm men vùi trong bột làm cho tất cả khối bột dậy men.” Trên bình diện khác, người ta thường nói đến sức mạnh của sự đồng tâm, hiệp lực, và tình yêu chính là nội lực mạnh mẽ nhất của sức mạnh đó. Có tình yêu là có sự đồng tâm; Có tình yêu là có sự hiệp nhất – một sự hiệp nhất trong đa dạng, chân chính và phong phú có khả năng làm nên muôn việc diệu kỳ.
Tình yêu đã khiến cho một Tê-rê-sa Hài đồng Giê-su bé nhỏ, âm thầm nơi nhà kín trở thành một vị thánh tiến sĩ bổn mạng các xứ truyền giáo. Tình yêu đã khiến cho mẹ Tê-rê-sa Calcutta, một nữ tu nhỏ bé được cả thế giới gọi bằng ‘Mẹ’ với lòng kính trọng, nể phục…. Cũng vậy, nước trời có sức phát triển, lan rộng là nhờ tình yêu: tình yêu hy sinh, tình yêu dâng hiến, tình yêu phục vụ, quên mình cách vô vị lợi – đó là tình yêu mà Chúa Giêsu đã dùng cả cuộc đời để rao giảng và minh chứng và di ngôn lại cho các môn sinh của người.
Sứ điệp Tin Mừng nuớc Thiên Chúa thoạt đầu xem ra không có sức hấp dẫn gì đối với người nghe, cụ thể là đối với người Do Thái thời đó, họ đã từ chối lời của Đức Kitô và từ chối chính Ngài. Nhưng một khi nước Thiên Chúa được rao giảng cho con người thì sứ điệp Tin Mừng đó sẽ tự len lõi vào trong tâm hồn con người và tự lớn lên. Sự phát triển không ngừng của Hội Thánh Chúa cho chúng ta niềm xác tín ấy, và cũng chính điều đó mà chúng ta khẳng định “truyền giáo” là một trong những đặc tính của Giáo Hội. Dù bị bắt bớ, dù bị từ chối và khinh chê nhưng Giáo Hội vẫn tiếp tục rao giảng Lời Thiên Chúa cho con người, vì Giáo Hội tin vào sức sống mãnh liệt của Thánh Thần Chúa sẽ thực hiện điều kỳ diệu.
Do đó, qua hai dụ ngôn “hạt cải” và “men trong bột” hôm nay cũng mời gọi mỗi chúng ta tin tưởng và phó thác vào Thiên Chúa, vì Chúa luôn quan phòng và đang hoạt động âm thầm trong Hội Thánh, cũng như trong mỗi người chúng ta. Nhờ đó, chúng ta an tâm, kiên trì và bền đỗ trong mỗi ngày trong sứ mạng truyền giáo của mình.
