2021
GIỮ VỮNG ĐỨC TIN CỦA CHA ÔNG
24 20 Đ Thứ Tư Tuần XXXIV Thường Niên.
THÁNH AN-RÊ DŨNG LẠC VÀ CÁC BẠN TỬ ĐẠO, lễ trọng.
Kỷ niệm ngày Tòa Thánh thiết lập hàng Giáo Phẩm Việt Nam (24/11/1960). Các tín hữu hãy cảm tạ Chúa và cầu cho Giáo Hội tại Việt Nam.
Thánh Phê-rô Bô-ri-e Cao (Pierre Rose Dumoulin Borie), Giám mục (U1838); Thánh Vi-xen-tê Nguyễn Thế Điểm, Linh mục (U1838); và Thánh Phê-rô Vũ (Võ) Đăng Khoa, Linh mục (U1838), Tử đạo.
2Mcb 7,1.20-23.27b-29 (hoặc Kn 3,1-9); Rm 8,31b-39 (hoặc Kh 7,9-17); Lc 9,23-26 (hoặc Ga 17,11b-19).
GIỮ VỮNG ĐỨC TIN CỦA CHA ÔNG
Sinh ra trong một gia đình ngoại giáo ở Bắc Ninh năm 1795, Trần An Dũng theo cha mẹ vào Kẻ Chợ, nay là Hà Nội. Tại đây vì nhà nghèo, cậu được gửi gấm cho một thày giảng nuôi nấng dạy dỗ và rửa tội với tên thánh là Anrê. Ít lâu sau, cậu Dũng xin vào chủng viện Vĩnh Trị, ở với cha chính Lan. Ngay từ đó, cậu Dũng lại siêng năng cần mẫn, có khiếu về thơ phú và giao tiếp với mọi người cách lịch thiệp hòa nhã. Có người nói rằng cậu chỉ đọc qua một đoạn sách hai lần là đã thuộc lòng.
Sau 10 năm làm thày giảng và 3 năm thần học, ngày 15-3-1823, thày Dũng được lãnh chức linh mục (cùng với lớp thánh Ngân và Nghi), rồi được bổ nhiệm làm phó xứ Đồng Chuối giúp cha Khiết. Sau đó về giúp cha Thi ba năm ở xứ Đoài, rồi lại giúp cha Thuyết ở Sơn Miêng. Cuối cùng, khi làm chánh xứ Kẻ Đầm thì bị bắt. Suốt cuộc đời linh mục, cha Dũng sống nhiệm nhặt.
Ngoài những ngày ăn chay theo luật của Giáo Hội, cha còn giữ chay suốt Mùa Chay, và nhiều khi cả các ngày thứ sáu, thứ bảy quanh năm. Thường xuyên cha chỉ dùng những thức ăn đơn giản. Cha Dũng hết mình với nhiệm vụ chủ chăn, chẳng khi nào thấy cha ngại ngùng việc gì. Cha có lòng ưu ái đặc biệt với người nghèo. Có được của cải gì, cha chia xẻ cho họ hầu hết.
Khi lệnh bách hại của vua Minh Mạng trở nên gay gắt qua chiếu chỉ toàn quốc ngày 6-1-1833, cha phải ẩn náu tại các nhà bổn đạo, sau trốn lên Kẻ Roi và lập nhà xứ ở đó. Một hôm, cha dâng lễ vừa xong thì quân lính ập tới, cha liền cởi áo lễ và ngồi lẫn trong tín hữu. Lính bắt cha như một trong 30 giáo hữu hôm đó, vì quan quân không biết cha là linh mục. Ông Tổng Thìn bỏ ra 6 nén bạc, nhận cha là thân nhân đi dự lễ để chuộc về. Từ đấy cha đổi tên là Lạc.
Lần thứ hai cha bị bắt khi đến Kẻ Sông xưng tội với cha Thi theo thói quen hàng tháng. Lý trưởng Pháp bắt được hai linh mục và mặc cả với giáo hữu phải chuộc với giá 200 quan. Các tín hữu gom góp được 100 quan nên viên lý trưởng chỉ tha cha Lạc. Thế nhưng ngay trên đường về, vì gặp mưa gió, thuyền cha phải ghé vào bờ. Căn nhà cha đang trú lại đang bị quân lính khám xét. Thế là cha bị bắt lần thứ ba và bị giải lên huyện Bình Lục cùng với cha Thi.
Một lần nữa, giáo hữu cùng Đức Cha Retord Liêu tìm cách chuộc hai cha về, nhưng lần này cha Lạc thấy ý Chúa đã định cho mình, ngài nhắn về với Đức Cha câu chuyện thánh Phêrô hai lần thoát khỏi ngục, đến lần thứ ba, Chúa Giêsu đã yêu cầu ở lại tử đạo tại Roma, và xin các tín hữu đừng lo liệu tiền chuộc làm chi nữa.
Quan huyện Bình Lục đối xử với hai vị linh mục một cách tử tế. Ông truyền dọn cơm cho hai cha bằng mâm bát của mình, bắt lý trưởng trả lại quần áo đã tịch thu và thanh minh rằng: ”Phép triều đình cấm đạo và giết các cụ, chứ không phải tôi. Tôi không có tội gì trong việc này”. Ba ngày sau, quan huyện đưa hai cha xuống thuyền chuyển về Hà Nội. Các tín hữu thương tiếc đi theo rất đông, hoặc bằng thuyền, hoặc đi bộ trên bờ. Quan lấy làm lạ hỏi: ”Đạo trưởng có cái gì mà dân chúng thương tiếc quá vậy?” Một phụ nữ gần đó đáp lại: “Thưa quan, các cha dạy chúng tôi những điều hay lẽ phải, dạy chồng hiền lành, đừng cờ bạc rượu chè, dạy vợ sống thuận thảo với chồng theo như giáo lý trong đạo”.
Hai vị linh mục khi thấy nhiều người khóc lóc tiễn đưa mình, đã dừng lại an ủi và khích lệ họ sống đạo cho tốt đẹp.
Tại Hà Nội, sau mấy lần tra hỏi, và dọa nạt hai vị chứng nhân Đức Kitô không thành công, các quan làm án xin vua xử trảm.
Thời gian trong tù, hai cha chiếm được tình cảm của lính gác, được tôn trọng và đối xử tử tế. Khi nhận được quà tiếp tế, hai cha chia cho lính canh, chỉ giữ lại những thứ tối thiểu. Mỗi buổi sáng và mỗi buổi tối, hai cha quỳ bên nhau cầu nguyện lâu giờ. Tuy các tín hữu xin được phép đưa cơm vào tù mỗi ngày, hai cha vẫn tìm cách hãm mình dặn họ đừng mang thịt hay cá làm chi, các ngài vẫn tiếp tục giữ chay ngày thứ hai, thứ tư, thứ sáu và thứ bảy. Những ngày đó, hai cha ăn thật ít, vừa đủ.
Lễ Các Thánh (1-11-1839), linh mục Trân đưa Mình Thánh Chúa vào ngục. Vừa thấy ngài, cha Lạc đã ra chào đón: ”Xin chào bác, tôi đợi bác đã lâu vì hết lương thực rồi”. Sau đó, cha cung kính rước lễ, và trao Mình Thánh cho cha già Thi.
Cuối năm 1839, khi quân lính đến công bố lệnh xử án, hai cha vui vẻ đón nhận bản án như một phần thưởng trọng hậu. Trên đường đến pháp trường, hai cha yên lặng cầu nguyện. Lúc ra khỏi cổng thành, cha Lạc chắp tay lại, hát lớn tiếng mấy câu La tinh chúc tụng Chúa. Trước phút hành quyết, người lý hình đến nói với cha: ”Chúng tôi không biết các thày tội gì, chúng tôi chỉ làm theo lệnh trên, xin các thày đừng chấp”.
Cha Lạc tươi cười trả lời: ”Quan đã truyền anh cứ thi hành”. Sau đó, hai cha xin ít phút để cầu nguyện lần chót, rồi nghiêng đầu cho lý hình chém.
Hai vị đã lãnh phúc tử đạo ngày 21-12-1839 tại bãi ngoài cửa ô Cầu Giấy (Hà Nội), giáp đường lên tỉnh Sơn Tây. Thi hài của cha Lạc được đưa về an táng tại nhà bà Lý Quý gần đó.
Và rồi ta thấy truyền thống còn ghi nhớ lịch sử chết vì đạo của Giáo hội Việt Nam rất bao quát, phức tạp ngay từ lúc ban đầu. Từ năm 1533, nghĩa là từ lúc miền Đông Nam Á Châu vừa được truyền đạo, Giáo Hội Việt Nam đã chịu bách hại suốt 3 thế kỷ, trừ một vài năm cách quãng, giống hệt ba thế kỷ bắt bớ của Giáo Hội Âu Châu thời xưa. Từng ngàn giáo dân tử đạo, từng trăm số người đã chết lưu lạc trên núi, trong rừng sâu nước độc.
Để lấy một thí dụ: trong các vị tử đạo hôm nay, đi tiên phọng có thánh Vinh Sơn Liêm, dòng Đa Minh là người Việt tử đạo đầu tiên năm 1773. Rồi tới linh mục Anrê Dũng Lạc, sinh trưởng trong một gia đình rất nghèo khó, bên lương, từ nhỏ đã phải “bán” cho một thầy giảng dậy giáo lý, nhưng rồi Chúa cho tới chức linh mục năm 1823, được bổ nhiệm chánh xứ và đương nhiên thành nhà truyền giáo trong nhiều địa hạt.
Nhiều lần đã bị lao tù, nhưng vẫn giữ được giáo dân tốt lành đem tiền chuộc về, trong khi bản thân ngài mong chờ được chết vì Chúa. “Những người chết vì đức tin ngài nói-thì phải tốn tiền đút lót cho quan quyền; thà để cho chúng tôi bị bắt và rồi tử đạo có phải hơn không?” Thực ra, vẫn một ý chí hăng say và được ơn Chúa nâng đỡ, ngài đã anh dũng chịu trảm quyết tại Hà Nội ngày 21.12.1839.
Máu các Tử Đạo là nguồn ân sủng cho chúng ta trước tiên, để chúng ta thăng tiến trong đức tin. Giữa mỗi chúng ta, đức tin của tổ tiên vẫn tiếp tục và còn truyền tụng sang nhiều thế hệ tương lai.
Đức tin này tồn tại để làm nền tảng xây dựng sự kiên trì cho tới tất cả những người là Việt Nam thuần túy sẽ trung thành với quê hương đất nước, nhưng đồng thời vẫn còn là người tín hữu của Chúa Kitô.
Mỗi Kitô hữu Việt Nam đều ý thức rằng: lời kêu gọi của Tin Mừng vẫn là phải tuân phục các thể chế loài người, để tôn thờ tình yêu Thiên Chúa bằng cách làm việc thiện, sống xứng đáng con người tự do, kiêng nể tha nhân, yêu thương anh em, kính sợ Thiên Chúa và tôn trọng công quyền và thể chế quốc gia (1 Pr 2,13-17).
2021
GÓP PHẦN XÂY DỰNG GIÁO HỘI
23 19 X Thứ Ba Tuần XXXIV Thường Niên.
(Đ) Thánh Clê-men-tê I, Giáo hoàng, Tử đạo.
(Tr) Thánh Cô-lum-ba-nô, Viện phụ.
Đn 2,31-45; Lc 21,5-11.
GÓP PHẦN XÂY DỰNG GIÁO HỘI
Người ta biết được về thánh Clêmentê, vị giáo hoàng trị vì trong 10 năm chỉ nhờ bức “thư gởi giáo hữu Côrintô” thôi. Vào thế kỷ thứ IV có lưu hành những chứng thư đầy huyền thoại. Theo đó, cha Ngài là Phaustin thuộc dòng dõi Giacop. Sinh tại Roma, được nuôi dưỡng trong Do thái giáo.
Thánh Clêmentê đã nghe theo những diễn từ của các thánh tông đồ và trở thành môn đệ các Ngài. Ngài đã theo thánh Phaolô trong các hành trình đi truyền giáo và đã trở thành đấng kế vị thứ ba của thánh Phêrô. Vua Trajanô đang bách hại các Kitô hữu biết được rằng: vị giáo hoàng đã đem được nhiều người trở lại đạo. Ông kết án Ngài phải làm việc khổ sai tại các hầm mỏ bên kia Bắc Hải, trong các miền hoang vắng. Hai ngàn Kitô hữu đẽo đá tại đây chịu cảnh khát nước thảm khốc.
Tương truyền rằng thánh Clêmentê cầu nguyện rồi lên một ngọn đồi và thấy một con chiên ghi dấu chân đúng vào chỗ có dòng nước tươi mát vọt lên làm giảm khát cho người mang án. Các bức tranh cẩn đâu tiền còn diễn lại biểu tượng một con chiên đứng trên ngọn núi xanh. Nhà vua khi biết được rằng thánh Clêmentê đã dùng lời nói và phép lạ để an ủi các Kitô hữu, liền sai các sứ giả tới cột cổ Ngài vào một cái neo rồi ném xuống biển. Lệnh đường thi hành. Nhưng trong khi các tín hữu cầu nguyện trên bờ, họ thấy dòng nước rút đi một cách lạ lùng và có thể đưa xác vị tử đạo lên đất liền.
Điều chắc chắn kính là bức thư của thánh Clêmentê đã thành một trong các tài liệu quí giá của Kitô giáo thời Chúa xưa. Các Kitô hữu Côrintô chạy đến Đức giáo hoàng để tìm hoà giải những cuộc tranh chấp, đã kính cẩn đón tiếp thư của Ngài. Những thư này được đọc cho các cộng đoàn tín hữu. Thư của thánh Clêmentê chứng thực việc thánh Phêrô đến và chịu chết ở Roma, việc Nêrô bắt các Kitô hữu làm trò mua vui.
Thánh Clêmentê là vị Giáo Hoàng thứ 3 trong lịch sử Giáo Hội Công Giáo. Ngài sống vào cuối thế kỷ thứ nhất. Người ta không được biết nhiều về thời niên thiếu của ngài. Theo nội dung bức thư gửi cho tín hữu Corintô thì ngài là một nhà hùng biện, yêu mến Thánh Kinh và thấu suốt tư tưởng của Chúa Giêsu. Theo thánh Irênê kể lại thì: Thánh Phêrô truyền ngôi cho Linô, rồi Anacle kế vị Linô và sau Anacle là thánh Clêmentê. Khi lên ngôi Giáo Hoàng, thánh Clêmentê đã làm được những việc phi thường mà một trong những việc đó là giàn xếp cuộc phản loạn của giáo hữu Corintô. Qua bức thư gửi cho họ, ta nhận thấy ngài là một vị Giáo Hoàng hiền từ, bác ái và khiêm tốn.
Dưới thời hoàng đế Trajan, thánh nhân bị bắt và bị kết án tử hình. Lý hình lấy đá cột vào cổ rồi quăng ngài xuống biển, xác thánh nhân đã được đưa về La Mã, dưới triều Ðức Giáo Hoàng Adrianô.
Trong trình thuật Tin Mừng hôm nay, chúng ta được nghe về một ngôi nhà khác – Đền thờ tại Jerusalem. Được “Trang trí với đá quí”, đối với người Dothái, nó đáng yêu, cho đến những chi tiết cuối cùng (Lc 21, 5). Vì vậy, khi Chúa Giêsu nói tiên tri, “Những gì anh em đang chiêm ngưỡng đó sẽ có ngày bị tàn phá hết, không còn tảng đá nào trên tảng đá nào.” (21, 6) đã gây sốc và khiến cho những người nghe khó chịu.
Những người Do Thái mong đợi Vị Cứu Thế – Đấng sẽ đến để bảo vệ đền thờ – đã không dự đoán được sự hủy diệt của nó. Nhưng Chúa Giêsu đã làm tiêu tan mong đợi của họ khi Người nói với họ rằng nó sẽ bị hủy diệt. Tuy nhiên, Người đến để thiết lập một ngôi Đền thờ mới trường tồn. Ngôi đền thờ đó là Giáo Hội, và Người chính là viên đá góc – là nền tảng. Phần còn lại của tòa nhà được làm bằng những viên đá sống động là chúng ta. Chúng ta còn quý hơn cả “những viên đá quí” được sử dụng trong Đền Jerusalem, và mỗi người chúng ta được mời gọi để đóng một vai trò quan trọng trong Giáo Hội.
Nỗi khổ đau của con người khởi từ vườn địa đàng hạnh phúc mà con người phá vỡ, do muốn chiếm đoạt quyền của Thiên Chúa, phản bội tình yêu.
Hạnh phúc bị gãy đổ và hệ quả của tội mà con người phải hứng chịu là sự rạn nứt trong tương quan với tha nhân, là những đau thương, mất mát, rơi vào tình trạng bi thảm của nghèo đói, hận thù, tranh chấp và hủy diệt,
Con người tưởng chừng nắm bắt được cái vĩnh cửu, hóa ra chỉ còn lại cái bấp bênh và giới hạn và kéo theo những bất ổn trong đời sống. Cuộc sống dường như trở nên một thách đố khôn nguôi cho cái thân phận hữu hạn, cho những đau khổ mà con người tự gây ra và hứng chịu.
Hiện tại trong từng giờ, và trong mỗi ngày, xã hội mà con người đang sống có quá nhiều những bất ổn, những thảm họa. Cái đói nghèo, hệ lụy của một sự mất cân bằng kinh tế, lợi nhuận, của sự bóc lột và của sự vô tâm. Thảm trạng giáo dục hình thức tạo nên những thế hệ và con người chỉ muốn sống trong gian dối, chối từ sự thật. Bạo lực nảy sinh từ sự vô giáo dục, nhưng cũng phát sinh từ những con người đánh mất tính thiện trong cõi thâm sâu. Những cuộc chiến vì nhiều lý do, chính trị hay kinh tế, và ngay cả khi cuộc chiến được khoác chiếc áo vì mục đích cao cả…cũng đều để lại những vết thương sâu hoắm nhức nhối trong tâm hồn.
Bởi vì chúng ta là một đền thờ sống động trong Đức Kitô, vì vậy, chúng ta cần sống như thế nào để làm nên một sự khác biệt, không chỉ trong cuộc sống của chúng ta, mà còn trong anh chị em của chúng ta. Chúng ta tăng thêm vẻ đẹp và sức mạnh cho toàn thể Giáo Hội qua những công việc hằng ngày, qua cách cư xử của chúng ta. Chẳng hạn như khi chúng ta biểu lộ sự kiên nhẫn đối với một trong những đứa con của mình, hoặc dành một vài phút để kiểm điểm đời sống trên trang Kinh Thánh hàng ngày – điều không chỉ làm sinh động mối quan hệ của chúng ta với Thiên Chúa nhưng còn lôi kéo chúng ta đến gần Chúa Giêsu hơn.
Thiên Chúa luôn luôn có nhiều hơn và nhiều hơn nữa những điều Người muốn thấy thực hiện trong Giáo Hội và Người cũng ban thêm ân sủng nhiều thêm hơn nữa cho chúng ta để thực hiện công việc của Người. Vì vậy, ngày hôm nay, chúng ta phải tự hỏi: “Tôi có thể làm một điều gì dù nhỏ thôi để xây dựng Giáo Hội của Chúa?” Hãy lắng nghe những gì Chúa Thánh Thần nói: nó có thể là một điều gì đó nhỏ bé, nhưng ngay cả như thế, nó cũng sẽ làm hài lòng Chúa và Người sẽ chúc lành cho dân Người.
Cuối cùng, chúng ta hãy cầu nguyện xin Chúa Giêsu sẽ tiếp tục hướng dẫn và bảo vệ Giáo Hội cũng như tất cả mọi người trong đó. Chúng ta hãy cùng nhau đóng góp ngày một nhiều hơn nữa cho sự phát triển Ngôi Đền thờ ‘Giáo hội’ của Chúa Giê-su.
2021
Thứ Ba Tuần XXXIV – Mùa Thường Niên
Thứ Ba Tuần XXXIV – Mùa Thường Niên
Ca nhập lễ
Tv 84,9
Điều Chúa phán là lời chúc bình an
cho dân Người, cho kẻ trung hiếu
và những ai hướng lòng trí về Người.
Lời nguyện nhập lễ
Lạy Chúa, xin thúc đẩy chúng con thêm hăng hái nhiệt thành cộng tác vào công trình cứu độ của Chúa, để nhờ đó, chúng con được Chúa ban ơn trợ lực dồi dào hơn nữa. Chúng con cầu xin …
Bài đọc
Đn 2,31-45
Đức Chúa Trời sẽ lập một vương quốc không bao giờ bị tiêu diệt, và nó sẽ đập tan mọi vương quốc khác.
Bài trích sách ngôn sứ Đa-ni-en.
31 Ngày ấy, ông Đa-ni-en nói với vua Na-bu-cô-đô-nô-xo rằng : “Tâu bệ hạ, ngài đã có một giấc chiêm bao. Giấc chiêm bao ấy như thế này : một pho tượng, một pho tượng lớn, sáng chói, đứng sừng sững trước mặt ngài, coi thật dễ sợ. 32 Đầu pho tượng ấy bằng vàng ròng, ngực và hai cánh tay bằng bạc, bụng và hai bắp đùi bằng đồng, 33 hai bắp chân bằng sắt, hai bàn chân nửa sắt nửa sành. 34 Ngài đang mải nhìn thì bỗng có một tảng đá tách ra, dù không có bàn tay nào đụng tới, nó đập vào pho tượng trúng hai chân nửa sắt nửa sành, khiến hai bàn chân vỡ tan ra. 35 Bấy giờ tất cả cùng vỡ tan : cả sắt, sành, đồng, bạc lẫn vàng, giống như rơm rác trên sân phơi lúa mùa hè bị gió cuốn đi không để lại dấu vết gì. Còn tảng đá làm vỡ pho tượng thì trở thành một hòn núi lớn choán hết mặt đất. 36 Đó là giấc chiêm bao, còn ý nghĩa của nó thì xin tâu trước bệ hạ. 37 Tâu bệ hạ, ngài là vua các vua, Đức Chúa Trời đã ban cho ngài vương quốc, quyền hành, thế lực và vinh quang. 38 Con cái loài người, thú vật ngoài đồng, chim chóc trên trời, dù chúng ở đâu thì Đức Chúa Trời cũng giao vào tay ngài và đặt ngài làm chủ tể mọi loài. Cái đầu bằng vàng chính là ngài vậy. 39 Sau triều đại ngài, sẽ xuất hiện một vương quốc khác kém hơn ngài. Rồi một vương quốc thứ ba nữa, vương quốc bằng đồng, sẽ thống trị cả mặt đất. 40 Còn vương quốc thứ tư vững như sắt. Cũng như sắt nghiền nát và đập tan tất cả vương quốc đó – khác nào sắt phá vỡ – cũng sẽ nghiền nát và phá vỡ tất cả. 41 Bàn chân và các ngón chân mà ngài thấy nửa bằng đất sét, nửa bằng sắt là một vương quốc sẽ bị phân chia, nhưng sẽ có một phần sức mạnh của sắt, vì ngài thấy sắt pha lẫn với đất sét. 42 Các ngón chân phần bằng sắt, phần bằng đất sét là một vương quốc nửa mạnh nửa yếu. 43 Việc ngài thấy sắt pha với đất sét nghĩa là các vương quốc sẽ làm cho các chủng tộc pha lẫn với nhau, nhưng không gắn bó với nhau được cũng như sắt không hoà lẫn được với đất sét. 44 Trong thời đại các vua này, Đức Chúa Trời sẽ lập một vương quốc không bao giờ bị tiêu diệt, vương quốc ấy không bị giao cho một dân khác, nhưng nó sẽ đập tan và tiêu diệt tất cả mọi vương quốc này, đến muôn đời nó sẽ đứng vững ; 45 cũng như ngài đã thấy tảng đá bị tách khỏi núi dù không có bàn tay nào đụng tới, tảng đá ấy đập tan cả sắt, đồng, đất sét, bạc và vàng. Thiên Chúa cao cả đã cho đức vua biết chuyện gì sẽ xảy ra sau này. Giấc chiêm bao đúng là như thế và ý nghĩa chắc chắn là như vậy.”
Đáp ca
Đn 3,57-59.60-61 (Đ. c.59b)
Đ.Muôn ngàn đời, hãy ca tụng suy tôn.
57Chúc tụng Chúa đi, mọi công trình của Chúa,
58chúc tụng Chúa đi, các thiên sứ của Người,
59chúc tụng Chúa đi, chín tầng trời thăm thẳm.
Đ.Muôn ngàn đời, hãy ca tụng suy tôn.
60Chúc tụng Chúa đi, nguồn nước tận cao xanh,
61chúc tụng Chúa đi, mọi cơ binh thượng giới.
Đ.Muôn ngàn đời, hãy ca tụng suy tôn.
Tung hô Tin Mừng
Kh 2,10c
Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a. Chúa phán : Hãy trung thành cho đến chết, và Ta sẽ ban cho ngươi triều thiên sự sống. Ha-lê-lui-a.
Tin Mừng
Lc 21,5-11
Sẽ không còn tảng đá nào trên tảng đá nào.
✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.
5 Khi ấy, nhân có mấy người nói về Đền Thờ lộng lẫy nguy nga với những phiến đá đẹp và những đồ dâng cúng, Đức Giê-su bảo : 6 “Những gì anh em đang chiêm ngưỡng đó sẽ có ngày bị tàn phá hết, không còn tảng đá nào trên tảng đá nào.” 7 Họ hỏi Người : “Thưa Thầy, vậy bao giờ các sự việc đó sẽ xảy ra, và khi sắp xảy ra, thì có điềm gì báo trước ?”
8 Đức Giê-su đáp : “Anh em hãy coi chừng kẻo bị lừa gạt, vì sẽ có nhiều người mạo danh Thầy đến nói rằng : ‘Chính ta đây’, và : ‘Thời kỳ đã đến gần’ ; anh em chớ có theo họ. 9 Khi anh em nghe có chiến tranh, loạn lạc, thì đừng sợ hãi. Vì những việc đó phải xảy ra trước, nhưng chưa phải là chung cục ngay đâu”. 10 Rồi Người nói tiếp : “Dân này sẽ nổi dậy chống dân kia, nước này chống nước nọ. 11 Sẽ có những trận động đất lớn, và nhiều nơi sẽ có ôn dịch và đói kém ; sẽ có những hiện tượng kinh khủng và điềm lạ lớn lao từ trời xuất hiện.”
Lời nguyện tiến lễ
Lạy Chúa, theo lời Chúa dạy, chúng con dâng những lễ vật này để chúc tụng Thánh Danh; cúi xin Chúa vui lòng chấp nhận, và giúp chúng con hằng tuân giữ luật Chúa truyền, hầu cũng được trở nên của lễ đẹp lòng Chúa. Chúng con cầu xin …
Ca hiệp lễ
Tv 116,1-2
Muôn nước hỡi, nào ca ngợi Chúa,
vì tình Chúa thương ta thật vững bền.
Lời Tiền Tụng
Lạy Chúa là Cha chí thánh, là Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, chúng con tạ ơn Chúa mọi nơi mọi lúc, thật là chính đáng, phải đạo và đem lại ơn cứu độ cho chúng con.
Vì khi con cái bị tội ác phân tán, Chúa đã muốn nhờ máu Con Chúa và quyền năng Chúa Thánh Thần mà quy tụ nên một về với Chúa, để khi đoàn dân Chúa được hợp nhất bởi mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi mà ca tụng thượng trí vô biên của Chúa, thì đoàn dân Chúa là Hội Thánh được nhận biết là thân thể Chúa Kitô và đền thờ Chúa Thánh Thần.
Vì thế, hiệp với ca đoàn các Thiên Thần, chúng con ca ngợi Chúa, và hân hoan tuyên xưng rằng:
Thánh! Thánh! Thánh! …
Lời nguyện hiệp lễ
Lạy Chúa, Chúa vừa cho chúng con được hạnh phúc tham dự vào sự sống của Chúa, xin dủ lòng thương đến chúng con và đừng để chúng con phải lìa xa Chúa bao giờ. Chúng con cầu xin …
2021
CHO ĐI TẤT CẢ
22 18 Đ Thứ Hai Tuần XXXIV Thường Niên.
Thánh Cêcillia, trinh nữ, tử đạo, lễ nhớ.
Đn 1,1-6.8-20; Lc 21,1-4.
CHO ĐI TẤT CẢ
Cùng với toàn thể Giáo Hội, hôm nay chúng ta mừng ngày sinh nhật trên trời của một vị thánh đã sống xa cách chúng ta cả gần 18 thế kỷ, nhưng những hình ảnh ít ỏi hiếm hoi về đời sống của vị thánh trẻ này vẫn còn thật sống động trong lòng rất nhiều người chúng ta.
Nếu phải hỏi: “Cécilia là ai ?” thì quả thực chúng ta không có được những tài liệu lịch sử chính xác và đầy đủ về vị thánh nữ trẻ trung đặc biệt này. Hồi qua thăm Roma khi viếng một trong những hang toại đạo nổi tiếng tại đó, tôi đã có dịp tận mắt nhìn chỗ mà trước đây người ta đã an táng chị. Đây là một vị trí đặc biệt, gần sát với chỗ chỗ nhiều vị Giáo hoàng cử hành thánh lễ trong những năm Giáo Hội gặp nhiều thử thách gian nan.
Truy tầm về xa hơn một chút thì người ta còn biết: Cécilia là con của những một gia đình quí phái sống tại Roma dưới thời hoàng đế Alexander Sêvêrô, một trong những vị hoàng đế khét tiếng là độc ác với những người theo đạo của Chúa lúc đó. Trong gia đình chỉ có một mình Cécilia trở lại đạo.
Tới tuổi dựng vợ gả chồng thì, Cécilia được cha mẹ hứa gả cho một chàng thanh niên cũng thuộc dòng tộc quí phái và cũng sống tại Roma tên là Valêriô. Cuộc hôn nhân lạ lùng này đúng là do Chúa xếp đặt để làm vinh danh Ngài. Valeriô và em đã bị Cécilia chinh phục. Họ đã được chính Đức Giáo hoàng Urbanô đã dạy giáo lý và rửa tội cho. Sau khi được Rửa tội, bộ ba Cécilia-Valêriô và Tiburtiô đã trở thành những chiến sĩ kiên cường trong công việc tông đồ. Họ bí mật tiếp tế cho những tín hữu bị giam giữ, cầu nguyện cho những người bị kết án, khuyến khích họ can đảm chịu cực hình. Đêm về họ lo chôn cất xác của những vị tử đạo.
Về sau chẳng may công việc của họ bị bại lộ. Họ bị bắt. Valêriô và Turbitiô chịu tử đạo trước. Còn Cécilia chịu tử đạo sau. Theo đài Chân lý Á châu ngày 22-11-1991 thì năm 1229 người ta thực hiện một cuộc cải táng phần mộ của Cécilia, người ta thấy xác của Cécilia vẫn còn nguyên vẹn. Đây là một hồng ân Chúa dành cho những con cái yêu dấu của Người.
Bà góa nghèo trong Tin Mừng hôm nay có thể nói là một người nghèo tuyệt đối. Qua nghĩa cử đơn sơ của bà, Chúa Giêsu đã khám phá ra sự quảng đại cao cả và lòng cậy trông phó thác tuyệt đối của bà vào Thiên Chúa. Mặc dù chỉ đóng góp hai đồng tiền nhỏ có giá trị 1/4 xu, nhưng bà đã cho đi tất cả những gì mình có để nuôi sống; vì thế bà xứng đáng được Chúa Giêsu khen ngợi. Tuy nhiên sự kiện và lời khen ngợi này có thể nêu lên hai vấn nạn: thứ nhất, liệu chúng ta phải nghèo về vật chất để được thuộc về Nước Thiên Chúa chăng? thứ hai, liệu người nghèo phải cho đi tất cả, kể cả những nhu yếu phẩm nếu họ muốn được Chúa khen ngợi chăng?
Chúa không dựa vào con số và kích cỡ để đánh giá một sự vật hoặc một hành vi của con người. Chúa dựa vào tấm lòng, Chúa thăm dò mức độ yêu thương, Chúa tìm hiểu cảnh sống, Chúa phân biệt ngọn nguồn từng việc người ta làm để đưa ra một nhận xét, một kết luận. Đối lại, tôi, bạn và anh chị, ta thường khá vội vàng khi quan sát, khá chủ quan khi đưa ra những nhận xét và kết luận. Con mắt và lý trí ta dễ bị “dán” vào những con số và kích cỡ, vào những trang trí hấp dẫn bề ngoài, vào những ngôn từ có trọng lượng tỷ lệ thuận với tính phô trương và khoe khoang.
Về tấm lòng: có ai quảng đại và rộng rãi hơn Thiên Chúa? Ngoại trừ tội lỗi ra, ta có gì là của chính mình? Sức khỏe, tài năng, thì giờ, của cải, người thân, … tất cả đều nhờ bởi ơn Chúa. Nước, không khí, ánh sáng, vũ trụ, trái đất, … tất cả do Chúa dựng dẵn cho ta hưởng dùng…. Vậy mà ta thường khóa chặt lòng quảng đại mình bằng những ổ khóa lớn bé mang nhãn hiệu thiếu thốn: thiếu thời gian, thiếu sức khỏe, thiếu tiền bạc, thiếu khả năng, thiếu người đồng cảm, … thiếu đủ thứ. Để rồi cuối cùng, Chúa và tha nhân, giáo hội và những người nghèo khổ, bần cùng … cứ mãi ở ngoài vòng quan sát, ở ngoài khả năng mà ta hay biện hộ rằng mình thật là lực bất tòng tâm !!!
Ðã hẳn trong Tin Mừng, người nghèo được chúc phúc, trong khi theo cách diễn tả của Chúa Giêsu người giàu có khó vào được Nước Trời. Thật ra, người nghèo được gọi là có phúc, không phải vì họ nghèo, cũng như Tin Mừng không bao giờ đề cao sự nghèo khổ, vì sự nghèo túng tự nó không làm cho ai nên thánh, có chăng chỉ những người nghèo biết chấp nhận thân phận của mình để chờ đợi từ người khác và cậy trông phó thác hoàn toàn vào Thiên Chúa. Nói khác đi, cái nghèo vật chất không phải tự nó biến sự túng thiếu thành nguồn ơn phúc, nhưng chính tinh thần nghèo khó, chính ý thức sự lệ thuộc của mình vào người khác, nhất là đặt trọn niềm tín thác vào Thiên Chúa, mới làm cho những người nghèo trở nên giầu tình người và đậm đà tình Chúa.
Bà góa nghèo trong Tin Mừng hôm nay chỉ có hai đồng tiền nhỏ để sinh sống, nhưng bà đã dâng cúng trọn vẹn cho Chúa. Có lẽ bà có được hai đồng tiền đó là do lòng hảo tâm của người khác và bà muốn biểu lộ sự tín thác của mình vào sự quan phòng của Thiên Chúa qua việc cho đi tất cả. Vấn đề đáng suy nghĩ là liệu hành động của bà góa nghèo này có giá trị trong xã hội ngày nay, nếu không phải là tạo thêm sự nghi kỵ trong xã hội? Sống trong một xã hội cạnh tranh như hiện nay, còn có một mô thức của xã hội nơi bài giảng trên núi của Chúa Giêsu được đem ra thực hành, để không ai còn bị tiền tài, danh vọng, quyền lực chi phối, nhưng mọi người đều thực hành tình liên đới, yêu thương, chia sẻ. Với lời khen ngợi hành động của bà góa nghèo, Chúa Giêsu một lần nữa muốn đảo lộn trật tự xã hội, vì Ngài không những kêu gọi sự thay đổi của từng cá nhân, nhưng còn muốn đẩy mạnh tiến trình đổi mới xã hội, nơi mọi người đóng góp tất cả những gì mình có để xây dựng và phục vụ xã hội.
Ðể sống trọn Lời Chúa hôm nay, chúng ta hãy tự hỏi: Tôi có tinh thần nghèo khó để ý thức sự lệ thuộc của tôi vào người khác và vào Thiên Chúa không? Tôi đã và đang làm gì để góp phần xây dựng một xã hội mới. Ước gì mẫu gương của bà góa nghèo phản ánh tình yêu Thiên Chúa, Ðấng trao ban tất cả cho con người, giúp chúng ta mạnh tiến trên con đường xây dựng Nước Chúa giữa lòng xã hội.
