2022
Tại sao phải xin linh mục chúc lành?
Tại sao phải xin linh mục chúc lành?

Có thể chúng ta không nhận ra rằng mình đã nhận được biết bao ân lộc từ Thiên Chúa khi có các linh mục bên cạnh mình. Vì vậy, chúng ta thường không để ý đến giá trị của phép lành mà các ngài có thể đem đến cho chúng ta, và chúng ta đang gạt bỏ truyền thống xin chúc lành này.
Thánh Gioan Maria Vianney, được giáo hội tuyên phong làm quan thầy của các linh mục đã nói rằng: “Nếu tôi gặp một linh mục và một thiên thần, tôi sẽ chào linh mục trước khi chào thiên thần. Thiên thần là bạn của Thiên Chúa, nhưng linh mục là người chiếm giữ vị trí của Chúa”.
Thay mặt Chúa Kitô [In persona Christi]
Khi được thụ phong, các linh mục hành động thay mặt Chúa Kitô, nghĩa là, đối với chúng ta các linh mục là người đại diện chính Chúa Kitô. Vì thế, thánh Gioan M. Vianney đã nói rằng linh mục là người “chiếm giữ” vị trí của Thiên Chúa, cho nên ngài xứng đáng được chào đón trước, trước cả thiên thần. Thêm nữa, vị linh mục đã nhận nơi Thiên Chúa quyền mang Chúa Kitô đến cho chúng ta, một chức năng mà ngay cả các thiên thần cũng không thể làm được.
Thật thế, trong nghi thức truyền chức linh mục có hai thời điểm quan trọng: việc đặt tay của giám mục và xức dầu trên tay của linh mục. Khi nhận dầu vào lòng bàn tay, vị linh mục đảm nhận 4 chiều kích quan trọng: đón tiếp, chúc lành, dâng lễ và thánh hiến.
Chiều kích thứ hai là chiều kích chúng ta đề cập hôm nay. Khi chúng ta xin phép lành của linh mục, cử chỉ đó muốn nói lên rằng chúng ta muốn tham dự vào việc xức dầu mà ngài đã lãnh nhận; chúng ta muốn trở thành một phần của phép lành này. Có một số người, thậm chí còn có thói quen hôn tay của các linh mục, bởi vì chính các ngài là người mang Chúa Kitô đến cho chúng ta, các ngài là công cụ của ơn sủng của Thiên Chúa dành cho các tín hữu.
Tại sao nhiều người không xin các linh mục chúc lành?
Cha Camilo Júnior, một nhà truyền giáo thuộc dòng Chúa Cứu Thế và là thành viên của ủy ban giới trẻ của Đền thờ Quốc gia cảnh báo rằng, việc không xin linh mục chúc lành phản ảnh một thực tế đó là nhiều người sẽ không còn xin cha mẹ mình chúc lành nữa.
“Xin chúc lành là một thói quen được cha mẹ dạy dỗ, vừa cho chính mình và cho gia đình của mình và cho các linh mục. Luôn luôn có những bà mẹ nói với con cái của mình “con hãy xin linh mục chúc lành”, và đứa bé đưa tay ra. Người nào không xin phúc lành nơi cha mẹ thì người đó sẽ ít bận tâm đến việc hỏi thăm cha mẹ mình”.
Do đó, đừng gạt bỏ việc xin các linh mục chúc lành và tham dự vào việc xức dầu do Thiên Chúa tặng ban. Và đừng quên cầu nguyện cho cha xứ của các bạn và các linh mục mà các bạn quen biết. Các linh mục là công cụ của Thiên Chúa giữa chúng ta, là sự phong phú mà Giáo hội ban cho chúng ta. Họ cần lời nguyện của chúng ta, và đó là cách mà chúng ta bày tỏ tấm lòng biết ơn vì các linh mục đã cống hiến cuộc đời mình cho dân Thiên Chúa, cho chúng ta.
Tác giả bài viết: G. Võ Tá Hoàng chuyển ngữ
2022
12 đặc điểm của Thánh Giuse mà mỗi người cha nên noi gương
12 đặc điểm của Thánh Giuse mà mỗi người cha nên noi gương
Hãy chiêm ngắm người cha trần thế của Chúa Giêsu để nhận ra vài lời khuyên cho các bậc làm cha.
“Với trái tim người cha”
Đây là một năm hoàn hảo để đọc Tông thư được Đức Giáo Hoàng Phanxicô soạn thảo nhân dịp kỷ niệm 150 năm ngày công bố chọn Thánh Giuse là Bổn mạng của Giáo hội Hoàn vũ. Tông thư được đặt tên là “Patris corde,” trong Tiếng Việt là: “Với trái tim người cha” (đây là cụm từ mở đầu tông thư). Năm Kính Thánh Giuse kéo dài đến ngày 8 tháng 12 năm 2021, lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội.
Khi đọc các sách Tin Mừng, chúng ta thấy khá ít tường thuật về Thánh Giuse. Tuy vậy, những tường thuật đó đủ để cho chúng ta thấy những nhân đức và những nét đặc trưng trong mối tương quan của ngài với Thiên Chúa, với Đức Trinh Nữ Maria và với Chúa Giê-su.
Trở nên một người cha tốt nhờ hiểu biết từ Thánh Giuse
Có bao giờ bạn tự hỏi làm thế nào để trở nên một người cha tốt nhờ vào gương sáng của Thánh Giuse? Trong bảng tóm tắt dưới đây, bạn sẽ tìm thấy 12 phẩm chất của Thánh cả Giuse có thể áp dụng vào cuộc sống của mỗi người cha:
- NGƯỜI “CÔNG CHÍNH”
Đối với người Do Thái, thành ngữ “người công chính” ít nhiều tương đương với việc gọi ai đó là thánh. Thánh sử Matthêu dùng nó để mô tả Thánh cả Giuse (Mt 1,19). Ngài là một người luôn tìm kiếm để thấu hiểu và sẵn sàng thực thi Thánh ý Thiên Chúa, thậm chí phải trả giá bằng sự đau khổ và hy sinh. Chẳng hạn, chúng ta thấy Người luôn tuân giữ Luật Môsê trong Lễ Tiến Dâng Chúa Hài Đồng tại Đền thờ (Lc 2: 22,27,39). Ngài cũng vâng lời với cách đáp trả bốn thị kiến trong những giấc mơ mà Ngài đã được mặc khải (x. Mt 1,20; 2: 13,19,22).
- NGƯỜI CHE CHỞ VÀ BẢO VỆ
Để bảo vệ Chúa Giêsu khỏi vua Hêrôđê, kẻ muốn giết Chúa Giêsu vì tin rằng Người sẽ chiếm đoạt ngai vàng của ông ta. Thánh Giuse quyết định chịu cảnh tha hương cùng Đức Maria và Chúa Hài đồng ở Ai Cập. Tại đó, ngài sẵn sàng sống như một người ngoại quốc trong khi là một người Do Thái (x. Mt 2,13-18) cho đến khi có điều kiện trở về quê hương Israel.
- BÌNH DỊ
Khi trở về từ Ai Cập, Thánh Giuse không hoàn toàn tin vào những gì vua Hêrôđê con có thể làm với Hài Nhi Giêsu. Vì thế, Ngài chọn một cuộc sống bình dị và không gây chú ý tại Nazareth – một ngôi làng nhỏ. Đối với người Do Thái, Galilê không phải là một nơi có thế giá: họ cho rằng “không một ngôn sứ nào xuất thân từ Galilê cả” (Ga 7:52). Và chính Nathanael đã hỏi Chúa Giêsu, “Từ Nazareth làm sao có cái gì hay được?” (Ga 1,46) Thánh Cả Giuse chọn cuộc sống bình dị để tập trung vào một điều quan trọng: đó là Đấng Mêsia có thể hoàn tất sứ mệnh cứu chuộc của Người.
- CON NGƯỜI HÀNH ĐỘNG
Thánh Giuse – một người thực tế, quyết đoán và giàu nghị lực. Ngài luôn phải đưa ra những quyết định khó khăn và quan trọng, chẳng hạn như, phải làm gì trong mối liên hệ giữa Ngài với Đức Trinh Nữ Maria khi phát hiện ra rằng Maria sắp sinh một con trai (Người là Con Thiên Chúa). Ngài phải lên kế hoạch cho chuyến đi Bêlem để đăng ký điều tra dân số trong khi Đức Maria đang mang thai. Và chúng ta có thể tưởng tượng Thánh Giuse đã phải thiết lập và tháo dỡ xưởng mộc của mình ở bất cứ nơi nào ngài đến để nuôi sống gia đình mình. Lòng nhiệt thành và quan điểm thiêng liêng của Thánh Giuse không mâu thuẫn với việc ngài là một con người hành động.
- KHIÊM NHƯỜNG
Thánh Cả Giuse chắc chắn đã cố gắng làm những gì có thể để chuẩn bị thật chu đáo cho sự giáng sinh của Hài nhi Giêsu, nhưng vì sự việc lại diễn ra tại Bêlem, nên thánh nhân phải chấp nhận rằng Đấng Messia đã phải sinh ra trong máng cỏ vì “không tìm được chỗ trong nhà trọ” (Lc. 2: 7). Ngài thích nghi và cố gắng làm những gì tốt nhất cho Con Thiên Chúa trong cảnh huống này.
- YÊU THƯƠNG
Ở bên cạnh Đức Trinh Nữ Maria, một người đàn ông có thể cư xử như thế nào khi hiểu hết được sự cao cả trong sứ mệnh của mình? Thánh nhân biết ngài đang chăm sóc Đức Mẹ một cách đặc biệt, Mẹ là mẹ của Chúa Giêsu – Đấng là Thiên Chúa thật và người thật. Ngài cũng ý thức rằng ngài mang trọng trách là cha nuôi của Đấng Messia. Chúng ta có thể thừa nhận Thánh Giuse là một người cha yêu thương, dịu dàng, gần gũi, ân cần, nhân hậu, vui vẻ, nhưng không làm giảm đi sức mạnh và quyền thế của mình.
- CAN ĐẢM
Khi biết Đức Maria sẽ là Mẹ Thiên Chúa, Thánh Cả Giuse đã nhận lấy tư cách làm cha hợp pháp của Chúa Giêsu và làm theo lời sứ thần phán: “Ngươi phải đặt tên cho con trẻ là Giêsu vì chính người sẽ cứu dân người khỏi tội lỗi của họ (Mt 1:21).
- KHIẾT TỊNH
Thánh Giuse là người thuộc dòng dõi hoàng tộc trong dân Do Thái. Lẽ ra, ngài có thể có một cuộc hôn nhân đơm hoa kết trái và có những đứa con ruột. Nhưng Thiên Chúa có một dự định khác, và Thánh Giuse được chọn làm cha “nuôi” của Chúa Giê-su. Ngài sẽ giữ khiết tịnh, sẽ bảo vệ và cư xử với Đức Maria và Chúa Giêsu với lòng tôn trọng tuyệt đối. Và Thánh nhân sẽ hiến chính bản thân mình cho sứ mệnh này với tất cả trái tim của ngài. Đó là lý do tại sao Giáo hội đã đặt Thánh Giuse làm bổn mạng của các gia đình: bởi vì ngài biết không điều gì ngoài tình yêu đích thực nên ngự trị trong một gia đình.
- THỰC HIỆN QUYỀN THẾ
Tin Mừng Thánh Luca cho chúng ta biết rằng, sau sự kiện tại Đền Thờ ở Giêrusalem (con trẻ bị thất lạc và cuối cùng được tìm thấy), Thánh Gia trở về nhà và Chúa Giêsu “sống cùng cha mẹ Người” (Lc 2:51). Thánh Giuse thi hành quyền thế trong khi biết rằng ngài đang trong vai trò làm cha của Đấng là Thiên Chúa của ngài. Và sau đó kết quả được trưng dẫn trong chính Tin Mừng: “Đức Giêsu ngày càng khôn lớn, và được Thiên Chúa cũng như mọi người thương mến.” (Lc 2:52).
- ĐỜI SỐNG NỘI TÂM
Thánh Giuse phải làm việc, đi lại, nuôi sống gia đình hàng ngày, quan tâm khách hàng trong công việc làm mộc. Nhưng ngài không bao giờ sao lãng những giờ tương giao với Thiên Chúa: thánh nhân đặt câu hỏi, tìm kiếm câu trả lời và cách giải quyết, rồi ngài vâng theo. Ngài biết rằng trong ba người (Ngài, Đức Maria, Chúa Giêsu ), ngài là người cần Chúa nhất, và ngài không ngừng cầu nguyện. Trong cuộc sống hàng ngày, ngài tương giao trực tiếp với Chúa Giêsu và Mẹ Maria! Đó là lý do tại sao Thánh nhân là bậc thầy về đời sống nội tâm: Ngài có thể hướng dẫn chúng ta trong tình yêu thương.
- CON NGƯỜI LAO ĐỘNG
Qua Tin Mừng, chúng ta biết rằng Chúa Giêsu là con của một bác thợ mộc (xem Mt 13:55). Thánh Giuse thuộc dòng dõi vua Đa-vít, nhưng ngài không giàu có và không sống cuộc sống như một người thừa kế: ngài đã làm việc bằng chính đôi tay của ngài để nuôi sống gia đình Nazareth. Ngài được biết đến như một người lao động tuyệt vời.
- ĐÔI MẮT HƯỚNG VỀ THIÊN QUỐC
Thánh Giuse dâng mình cho những kế hoạch của Thiên Chúa, vì biết rằng điều quan trọng nhất trong cuộc đời là thi hành Thánh ý Thiên Chúa. Đó là tất cả những gì sẽ đưa ngài về thiên quốc. Ngài đã dẫn đưa gia đình mình lên đường và là người đầu tiên trong 3 người hoàn tất cuộc hành trình đời mình. Thật hợp lý khi nghĩ rằng khi ngài qua đời, Chúa Giêsu và Đức Mẹ đã ở cùng ngài. Đó là lý do tại sao ngày nay chúng ta có ngài là vị thánh bảo trợ cho một một cái chết lành; chúng ta cũng mong ước rời khỏi thế giới này như vậy, được bao quanh bởi Thánh Gia.
Tác giả: Dolors Massot
Chuyển ngữ: Viết Thanh
2022
Người cha nhân hậu
27.3 Chúa Nhật thứ Tư Mùa Chay
Gs 5:9,10-12; Tv 34:2-3,4-5,6-7; 2 Cr 5:17-21; Lc 15:1-3,11-32
Người cha nhân hậu
Ta thường gọi là dụ ngôn “Người con hoang đàng”. Cách gọi này không được chính xác. Trước hết vì sự trở về của đứa con không đáng làm khuôn mẫu cho ta. Hơn nữa, xét theo bối cảnh và nội dung, Chúa Giêsu, khi kể dụ ngôn này, có ý đề cao tình yêu thương, lòng khoan dung nhân hậu của người cha.
Câu chuyện về đứa con phung phá, còn có thể được gọi là câu chuyện về tấm lòng của một người cha, hay nói đúng hơn là câu chuyện về ba cha con.
Thực vậy người con thứ chỉ là một tay giang hồ hèn nhát. Phải chi nếu vì thương cha nhớ mẹ mà anh ta trở về thì còn khá, đằng này chỉ vì đói khát, thèm ăn cả cám heo mà cũng chẳng được, thôi thì đành trở về. Mà đã trở về thì cũng phải ca mấy câu cho xong chuyện với ông già.
Dụ ngôn đứa con phung phá hay nói đúng hơn là câu chuyện về tấm lòng của một người cha, là câu trả lời trực tiếp cho những bàn tán của bọn biệt phái trước việc Chúa Giêsu thường đi lại và ăn uống với phường thu thuế và tội lỗi.
Khi đứa con xin chia gia tài, ông đã chia ngay, không so đo tính toán, không hạch sách khó khăn. Ông không nghĩ đến bản thân, không tự ái, chỉ mong sao con cái được vui lòng.
Khi con đã ra đi, ông ngày đêm thương nhớ, ngày nào cũng ra ngõ đứng chờ. Thật tội nghiệp, con ra đi chẳng nhớ nhung gì đến cha mà cha không phút giây nào ngừng thương nhớ con. Con chỉ biết tìm vui cho bản thân trong khi cha mỏi mòn trông đợi. Con chỉ biết đến tiền bạc, còn cha chẳng quan tâm gì đến tiền của, nhưng chỉ cần có con.
Cảm động nhất và cũng chan chứa tình thương nhất là phút giây gặp gỡ. Một phút giây vắn vỏi mà nói lên bao nhiêu điều về tình thương của cha. “Anh ta còn ở đàng xa thì người cha đã trông thấy”. Khi con chưa nhìn thấy cha thì cha đã nhìn thấy con. Mắt chàng trai trẻ hẳn phải tinh anh hơn mắt ông cụ đã nhoà dòng lệ vì thương nhớ chứ. Thế mà cha đã nhìn thấy con trước. Vì cha không nhìn bằng mắt nhưng nhìn bằng trái tim. Trái tim yêu thương có đôi mắt tinh tường giúp nhận ra ngay bóng người yêu dấu. Trái tim con không còn yêu thương nên nhìn chẳng thấy cha. Trái tim con khô cằn nên mắt vẫn sáng mà chẳng khác mù loà. Trái tim cha đầy ắp yêu thương nên đã loà rồi mà vẫn thấy rõ con ngay từ đàng xa.
“Ông chạnh lòng thương”. Trái tim dạt dào yêu thương quên hết tất cả lầm lỗi của đứa con. Tình cảm đầu tiên dâng lên trong tim ông không phải là tiếc xót nửa gia tài đã mất, cũng không phải là tức giận thằng con phá gia chi tử, nhưng lại là chạnh lòng thương. Yêu quá nên người cha chẳng còn nhìn thấy gì khác hơn là đứa con tiều tuỵ rách rưới. Yêu quá nên người cha chẳng nhìn thấy lầm lỗi mà chỉ nhìn thấy nỗi khổ của con. Trong trái tim ông, chỉ có tình thương dành cho con, nên vừa gặp con là tim đã rộn ràng xúc động.
“Chạy lại ôm cổ con”. Lại một cử chỉ lạ lùng. Cha không chờ con tới theo đúng lễ phép mà đã vội vàng chạy lại ôm con. Tình yêu thương thúc đẩy, niềm vui dâng dạt dào khiến người cha không chần chờ được nữa. Bất chấp thân phận cao quý của mình, ông chạy đi như một đứa trẻ được quà. Bất chấp tuổi tác của mình, ông nhanh nhẹn như một thanh niên sung sức. Đứa con tuổi còn trẻ mà sao chẳng nhanh nhẹn bằng ông già? Vì trong tim nó thiếu tình yêu. Trái tim không tình yêu cũng giống như cơ thể không sức sống. Ông già mà nhanh nhẹn vì ông không chạy bằng sức lực của đôi chân. Ông chạy bằng trái tim. Ông bay bằng tình yêu. Tình yêu chắp cánh cho ông.
“Hôn lấy hôn để”. Chẳng còn bút nào tả xiết niềm vui của người cha khi gặp lại đứa con. Những nụ hôn không ngớt đủ nói lên tình cảm dạt dào ông dành cho nó. Ông ôm chặt như để giữ không cho nó ra đi nữa.
Tấm lòng của người cha thật nhân hậu, tốt lành. Người con chỉ mong có được một chỗ ngủ, một bát cơm ăn, một tấm áo mặc. Nhưng cha anh đã quảng đại vô biên, đã đón nhận người con với niềm vui rộn rã: mặc áo mới cho con, mang giầy dép cho con, rồi mở tiệc ăn mừng.
Tình yêu của Thiên Chúa lớn hơn tội lỗi của chúng ta. Tình yêu của Ngài vượt quá mơ ước của chúng ta: “Nếu lòng chúng ta có cáo tội chúng ta, thì Thiên Chúa còn cao cả hơn lòng chúng ta, và Ngài biết hết mọi sự” (Rm 5,20).
Trở về là gặp lại niềm vui xum họp. Trở về là “tìm lại được”, là “sống lại”. Tìm lại được sự sống, đó là ý nghĩa đích thực của việc hoán cải và cũng là lý do của niềm vui sâu xa nơi người cha. Người cha vui mừng mở tiệc không phải vì từ nay đứa con trở về sẽ giúp cho ông việc nầy sẽ làm cho ông việc nọ, mà chỉ vì từ nay anh sẽ được sống và được sống hạnh phúc dồi dào. Thật là một niềm vui hoàn toàn vị tha và rộng mở của người cha bao dung, nhân hậu.
Trong khi người cha tràn đầy niềm vui đón nhận sự trở về của người con với tất cả sự bao dung rộng mở: “Em con đã chết, nay lại sống” thì lòng người anh lại đầy tị hiềm và từ chối chia sẻ niềm vui của người cha: “cái thằng con của cha kia…”
Ta thấy hình ảnh đẹp của người cha là người cha đã chờ đợi rồi ông đã chạy ra đón đứa con hư, tỏ lòng tha thứ mà không cần đứa con giãi bày lời thú tội. Ông đã dọn một bàn tiệc, tổ chức một buổi lễ… Đối với tội nhân hối cải, Thiên Chúa cũng có một thái độ tương tự. Ngài đến gặp họ. Phán quyết trong nội tâm và lòng hối cải đã là dấu hiệu của ân sủng Thiên Chúa. Kẻ lầm lạc khi tự phán quyết rồi lại quyết định trở về với Thiên Chúa, đó cũng là ân sủng.
Thiên Chúa cầu mong lại đón nhận họ. Đó là do lòng nhân hậu của Ngài. Và, nói một cách sát chữ, Ngài đem lòng yêu thương dạt dào người tội lỗi đã hối cải, quên đi quá khứ, xoá bỏ ác quả và tội vạ, và hơn nữa, cho họ được những đặc ân không ngờ, đây là mầu nhiệm khôn dò của ân sủng Người.
Mỗi người chúng ta hãy tỏ lòng biết ơn Chúa vì đã được tha thứ bằng cách ở lại trong tình yêu của Cha trên trời. Nếu chúng ta lỡ xa cách Chúa, hãy mau trở về với Ngài. Hãy cầu nguyện cho mình và anh chị em khám phá ra tình yêu của Chúa ngay giữa cuộc sống. Bắt gặp được tình yêu Thiên Chúa như Phêrô bắt gặp tia mắt của Chúa Giêsu khi chúng ta sa ngã. Chính tình yêu của Chúa mới cứu được chúng ta.

