2022
Chúa đó
22.4 Thứ Sáu trong tuần Bát Nhật Lễ Phục Sinh
Cv 4:1-12; Tv 118:1-2,4,22-24,25-27; Ga 21:1-14
Chúa đó
Sau khi nhận tin báo từ Maria Madalêna là các ông sẽ được thấy Đức Giêsu phục sinh tại Galilê (x. Mt 28,10). Tuy nhiên, ngày và giờ thì không biết, nên trong khi chờ đợi, các ông đã tranh thủ đi đánh cá. Tuy nhiên, lần ra quân đầu tiên của các ông đã thất bại.
Thánh sử Gioan trình thuật: họ thức suốt đêm để đánh cá, nhưng tới sáng, họ vẫn trắng tay, không bắt được con cá nào!
Vì thế, họ sửa soạn giặt lưới để đi nghỉ sau một đêm vất vả cực nhọc. Đúng lúc ấy, Chúa Giêsu hiện ra và đứng trên bãi biển gọi các ông với những từ rất thân thương, gần gũi: “Này các chú, không có gì ăn ư”. Khi họ đáp không có, Đức Giêsu truyền lệnh cho họ thả lưới bên phải mạn thuyền thì sẽ bắt được cá. Kết quả đúng như lời Đức Giêsu nói. Tổng tất cả là 153 con. Ngay lập tức, người môn đệ được Đức Giêsu thương mến nhận ra Thầy của họ và reo lên: “Chúa đó!”.
Tin Mừng chúng ta vừa nghe, tác giả cho biết đây là lần thứ ba Đức Giêsu hiện ra với các môn đệ. Tuy nhiên, lần này có những điểm đặc biệt vì ngoài việc củng cố niềm tin, chúng ta thấy có những tình tiết khác:
Thứ nhất, vâng lời Chúa thì sẽ được thành công cách mỹ mãn hơn cả suy tính của con người. Có Chúa mọi chuyện sẽ được êm đẹp. Thuyền đầy cá và lưới không rách chứng minh điều đó.
Thứ hai, qua mẻ cá lạ với 153 con, muốn nói lên các ông sẽ là lưới người như lưới cá và ơn cứu độ phải được loan đi đến với hết mọi người, mọi nơi và mọi thời.
Thứ ba, công cuộc truyền giáo là của mọi người, không riêng rẽ. Vì thế, sự hiệp nhất để cùng nhau thi hành sứ vụ là điều cần thiết. Một mình không thể chu toàn. Lưới đầy cá và phải nhờ các thuyền khác cùng kéo lên cho thấy đặc tính này.
Cuối cùng, yêu mến thì sẽ nhận ra Chúa và đi vào mối tương quan mật thiết với Ngài cách đặc biệt như Gioan.
Trình thuật sau cùng trong Tin Mừng thánh Gioan kể lại cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu phục sinh với các môn đệ ở biển hồ Tibêria. Các môn đệ trải qua một đêm thả lưới, đến sáng vẫn chưa bắt được con cá nào. Nghe tiếng Đức Giêsu từ trên bờ vọng ra: “Cứ thả lưới xuống bên phải thuyền thì sẽ bắt được cá.” Các ông thả lưới xuống, nhưng lần này không sao kéo lên được vì lưới đầy cá. Như đã có kinh nghiệm đọc ra dấu chỉ, các môn đệ nhận ra Chúa và đến với Người.
Điểm nhấn của trình thuật sau cùng này trong tin mừng Gioan là ba lần Đức Giêsu hỏi ông Phêrô: “Này anh Simon, con ông Gioan, anh có yêu mến Thầy hơn các anh em này không?” và cũng ba lần ông can đảm và khiêm tốn đáp rằng: “Thưa Thầy có, Thầy biết con thương mến Thầy.” (Ga 21, 15-17)
Chúa Giêsu và Phêrô đã có ít nhất ba năm đồng lao cộng khổ, đã cùng chia nhau biết bao thăng trầm sóng gió trong cuộc đời rao giảng Tin Mừng. Ba năm không phải là khoảng thời gian quá ngắn để có thể hiểu được lòng dạ một người vốn gần gũi bên mình. Thế nên, thật ngạc nhiên khi Thầy Giêsu lại hỏi Phêrô đến ba lần câu hỏi về tình yêu của ông dành cho Người. Vì Đức Giêsu chưa hiểu được tấm lòng Phêrô? hay là vì Phêrô đã chưa một nào lần thật lòng tuyên xưng tình yêu của mình dành cho Thầy Giêsu?
Nhiều người giải thích rằng, ba lần Chúa Giêsu gạn hỏi là một cách khéo léo để nhắc Phêrô về ba lần ông đã chối Thầy trong cuộc thương khó. Điều ấy có thể đúng. Thế nhưng rõ ràng Thầy Giêsu đến với Phêrô không phải để vặn vẹo hay hạch tội, nhưng là để dứt điểm chữa lành mặc cảm tội lỗi và để hàn gắn những đổ vỡ trong tâm hồn Phêrô. Ba lần đối diện với câu hỏi của Chúa Giêsu là ba lần Phêrô có cơ hội để xác tín về tình yêu của mình. Tình yêu ấy vượt qua những lỗi lầm sai phạm và những bất trung bất tín… Có lẽ ít khi ta thấy ông Phêrô tuyên xưng lòng mến cách điềm tĩnh và lặng lẽ như lần này, bởi tính cách của ông luôn sôi nổi, mạnh mẽ. Nhưng để thưa lên những lời như thế, Phêrô hoàn toàn cậy dựa vào ơn Chúa, vì cú vấp ngã đau thương của ông trong cuộc thương khó của Thầy Giêsu đã giúp Phêrô nhận ra mình mong manh và dễ ngã thế nào.
Kinh nghiệm của tông đồ Phêrô cho ta thấy rằng ta cần ơn đặc biệt để yêu mến và bước đi theo Chúa. Phêrô đã từng tự tin và cậy vào sức riêng. Vấp ngã và được Đức Giêsu nâng dậy giúp Phêrô hiểu mình hơn, biết Chúa hơn và nhờ đó có thể theo Chúa hơn.
Theo Chúa luôn là một hành trình riêng tư, một tương quan cá vị với Chúa. Nơi đó, chỉ có Chúa và ta. Trải qua nhiều kinh nghiệm khác nhau, thăng trầm, hăng say hay cả những vấp ngã, ta học được bài học yêu thương và lớn lên trong lòng mến. Theo Chúa trong đời sống thường ngày cũng cần những nỗ lực bản thân và ơn Chúa trợ giúp. Câu hỏi Chúa dành cho ông Phêrô “con có yêu mến Thầy không?”cũng áp dụng cho mỗi người chúng ta vào một thời điểm nào đó trên hành trình theo Chúa hoặc cũng có thể là ngay hôm nay.
Để trả lời cho Chúa, chúng ta cần nhìn vào cõi lòng mình để biết mình hơn, để nhìn ra con tim đang nghiêng về đâu giữa nhiều chọn lựa. Thật tốt lành nếu chúng ta cũng có thể thưa lên với Chúa câu nói đầy xác tín của Phêrô “Thưa Thầy, Thầy biết rõ mọi sự; Thầy biết rõ con yêu mến Thầy.” Và nếu câu trả lời không hẳn như thế, chúng ta cũng đừng vội hốt hoảng nhưng xin Chúa giúp để can đảm chọn Chúa, để con tim biết yêu mến hơn và để theo sát Chúa hơn. Ước gì Chúa tiếp tục đến với chúng ta mỗi ngày để hướng dẫn và chỉ dạy chúng ta trong những bôn ba vất vả, xin Chúa nâng đỡ khi chúng ta yếu đuối hay vấp ngã và xin Chúa thực hiện những điều kỳ diệu từ những nỗ lực bé nhỏ bình thường của chúng ta.
Trang Tin Mừng hôm nay mời gọi chúng ta hãy tin tưởng vào quyền năng của Chúa. Sống tín thác vào Ngài ngay trong những biến cố đau buồn, thất vọng nhất của cuộc đời. Sống tình hiệp nhất, yêu thương và làm chứng cho Chúa trong thời đại chúng ta hôm nay.
2022
ĐỪNG SỢ
21.4 Thứ Năm trong tuần Bát Nhật Lễ Phục Sinh
Cv 3:11-26; Tv 8:2,5,6-7,8-9; Lc 24:35-48
ĐỪNG SỢ
Sợ hãi, đó là điều hầu như không ai tránh khỏi. Bản tính tự nhiên con người “tham sống sợ chết” nên lo sợ đủ điều. Có người sợ sâu bọ, sợ gián sợ chuột. Có người sợ rắn rết, hổ sói. Có người sợ bóng đêm, sợ yêu ma quỷ quái. Nói chung, sợ hãi xuất hiện khi ta cảm thấy nguy hiểm. Sợ hãi có thể xem là một bản năng sinh tồn, nó khiến ta cảnh giác hơn. Nếu xét trong đời sống tự nhiên, có thể nói, sợ hãi là một người bạn tốt cần được đối xử tử tế.
Mặc dầu Chúa Giêsu đã tiên báo về cuộc tử nạn và phục sinh của Người ba lần, các môn đệ vẫn chưa hiểu đường lối của Ðấng Cứu thế. Biến cố của ngày Thứ Sáu Chịu nạn đã làm tiêu tan những mối hi vọng của các ông, như hi vọng Thầy mình sẽ thiết lập một vương quốc trần gian, hi vọng được một chỗ đứng trong vương quốc của nước Người. Thảm cảnh thập giá vẫn còn làm các ông hoang mang và sợ hãi. Hai môn đệ đi làng Emmau quyết định bỏ cuộc về quê. Rồi Chúa Giêsu hiện ra giải thích cho các ông hiểu lời Thánh kinh liên quan đến Người. Khi họ mời Nguời khách lạ vào nhà và lúc Người cầm lấy bánh, tạ ơn, bẻ ra và trao cho họ, họ mới nhận ra Người (Lc 24:30-31). Bình an đã được phục hồi cho họ.
Rồi hai môn đệ vội vã trở về Giêrusalem gặp Nhóm Mười Một và hai ông được bảo là Chúa đã sống lại và hiện ra với ông Simon (Lc 24:33-34). Hai môn đệ Emmau cũng thuật lại cho Nhóm Mười Một và các bạn hữu đang tụ họp về việc Chúa hiện ra với hai ông và các ông đã nhận ra Người lúc Người bẻ bánh. Lúc này Chúa lại hiện ra đứng giữa các ông và chúc: Bình an an cho các con (Lc 24:36).
Tuy nhiên các tông đồ vẫn: Kinh hồn bạt vía, tưởng mình thấy ma (Lc 24:37). Ðức Giêsu liền trấn an các ông bằng cách chứng minh căn tính của Người, chỉ cho họ tay chân của Người có xương thịt, chứ không phải là ma.
Tuy nhiên các ông vẫn chưa tin vì mừng rỡ mà lại ngỡ ngàng (Lc 24:41), Chúa mới hỏi xem các ông có gì ăn không? Rồi Chúa giải thích lời Thánh kinh cho các ông hiểu về cuộc khổ hình và phục sinh của Ðấng Cứu thế để đem lại bình an cho các ông.
Trước đó Chúa Giêsu cũng đã hiện ra với bà Maria Mácđala và mấy bà khác để trấn an các bà (Mt 28:1-10; Lc 24:1-11; Mc 16:1-11; Ga 20:1-18). Ðức Giêsu còn hiện ra với các tông đồ để củng cố đức tin của các ông và ban bình an cho các ông và trao sứ mệnh cho các ông (Mt 28:16-20; Mc 16:12-15; Ga 20:19-23). Ðặc biệt Chúa còn hiện ra với ông Tôma để phục hồi đức tin của ông đã bị dập tắt và đem lại bình an cho ông (Ga 20:24-29).
Lời chúc bình an của Chúa mang ý nghĩa đặc biệt cho người môn đệ của Chúa. Và để duy trì sự bình an, Chúa truyền cho họ rao giảng sự sám hối để được ơn tha tội (Lc 24:47) vì không thể có bình an nội tâm nếu người ta sống trong tình trạng tội lỗi. Do đó mà thánh Phêrô rao giảng sự sám hối và trở lại cùng Chúa để được ơn tha tội (Cv 3:19) và được bình an. Cũng do đó mà thánh Gioan bảo tín hữu phải xa tránh tội lỗi (1Ga 2:1) để duy trì sự bình an.
Ða số người tín hữu cũng có những lần mang những tâm trạng hoang mang, bối rối, lo lắng và sợ hãi khác nhau. Người thì lo sợ mất công ăn, việc làm, sợ phải mang bệnh tật, sợ mất sức khoẻ. Người thì lo sợ phải sống cảnh chia ly xa cách vì gia đình đổ vỡ. Người khác lo sợ những ngày giờ khủng hoảng, đen tối đè nặng trên tâm hồn. Nếu vậy thì Chúa muốn ta trút tất cả những nỗi lo âu, sợ hãi vào lòng từ ái của Chúa. Chúa muốn ta đặt trọn niềm tin cậy, phó thác vào chương trình quan phòng của Chúa. Việc tín thác vào Chúa là điều mà ta có thể học được bằng kinh nghiệm. Sau khi người ta đã thử đặt tin tưởng vào tiền của, thế lực, địa vị, và rồi cuối cùng người ta thấy không đi đến đâu, có khi còn khổ hơn nữa. Từ đó họ mới tìm đến Chúa.
Theo Thánh Kinh, do sự bất phục tùng của Adam tội đã đột nhập vào nhân loại (x. Rm 5, 12-19). Tội đã truyền lan tới tất cả mọi người, không trừ một ai, đã gieo rắc kinh hoàng và lôi kéo tất cả vào sự chết vĩnh viễn tách lìa với Thiên Chúa. Con người từ đó bị tước đoạt khỏi sự sống, bị đặt dưới ách thống trị của tội lỗi và sự chết (x Rm 7, 24-26). Bị tội lỗi và cái chết chiếm đoạt, khủng bố, con người mất đi bình an nội tại, chỉ còn là hoang mang, sợ hãi.
Thế nhưng, Chúa Giêsu Kitô đã sống lại, Ngài đã đánh bại thần chết, giải thoát con người khỏi ách thống trị tội lỗi và cái chết. Qua sự Phục Sinh của Chúa, kinh hoàng sợ hãi và sự chết từ nay đã bị khử trừ, bình an và sự sống mới được trao ban lại cho con người.
Tin mừng hôm nay, Thứ Năm trong tuần Bát Nhật Phục Sinh (Lc 24,35-48), thánh Luca thuật lại rất rõ ràng, Chúa Giêsu Phục Sinh khi hiện ra với các tông đồ, Ngài đã trao ban bình an cho các ông. Chúa Giêsu nói: “Bình an cho anh em”(Lc 24, 36). Và để trấn an Chúa Giêsu nói tiếp: “Chính thầy đây mà, hãy sờ xem” (Lc 24, 39). Rồi để chứng minh Chúa Giêsu cho các ông xem tay chân Người.
Qua các môn đệ, Chúa cũng gửi đến ta lời chào bình an. Ngày nay người ta nghe nhiều về những khao khát, ước vọng hoà bình. Nếu đi du lịch bên Do thái vào thập niên 80 của thế kỉ 20 mà gọi điện thoại, người ta sẽ nghe thấy người ở đường giây nói bên kia trả lời shalom, có nghĩa là bình an. Sự kiện đó nói lên người Do thái khao khát hoà bình như thế nào.
Trên bình diện quốc gia và quốc tế, hoà bình theo nghĩa từ điển Webster có nghĩa là tình trạng, hay thời kỳ hoà hoãn, thời kỳ đình chiến giữa các quốc gia, hoặc phe nhóm. Tuy nhiên hoà bình có nghĩa gì đối với cá nhân mỗi người? Cũng theo từ điển Webster, hoà bình có nghĩa là trạng thái tĩnh, không bị tư tưởng xung khắc đè nén, nhưng là một sự hoà hợp trong mối tương quan và liên hệ của mỗi người.
Hôm nay mỗi người chúng ta hãy vui mừng hân hoan! Vui mừng vì Chúa đã sống lại. Vui mừng vì Chúa Phục Sinh đang đến với ta. Ngài đến đem lại bình an và sự sống mới cho ta. Dường như nhiều người trong chúng ta chưa nhận thấy vì còn chậm tin. Khi Chúa Phục Sinh hiện ra với các tông đồ các ông sợ hãi vì tưởng thấy ma! Chúa nói: “Sao anh em lại hoảng hốt?” (Lc 24, 38). Cũng như các tông đồ, chúng ta còn sợ hãi là tại vì chúng ta còn ngờ vực, tối dạ, chưa tin Chúa. Chúng ta còn bất an là vì cuộc đời chúng ta thiếu vắng Chúa.
