2020
Đọc lại sách Xuất Hành: Vụ con bê bằng vàng
ĐỌC LẠI SÁCH XUẤT HÀNH
VỤ CON BÊ BẰNG VÀNG
Tội tổ tông thứ nhất xảy ra trong vườn Địa Đàng, con người nghe Xa-tan xúi giục, nghi ngờ tình yêu thương của Thiên Chúa. Đã nghi ngờ tình yêu thì mọi thứ bị đảo lộn. Những gì là quà tặng của tình yêu mất hết giá trị, và người ta đi tìm cái khác bù lại. Cái gì cũng tin, trừ tình yêu mình đã từ chối. Tin rằng một thứ trái cây lại có sức đem cho người ta hơn cả những gì đã mất: cho mình trở nên như những vị thần. Đó là cái ảo tưởng dai dẳng trong lòng con người từ đó tới nay. Lịch sử cứu độ từ Vườn Địa Đàng tới nay vẫn là sự vật lộn giữa thật và giả, giữa Thiên Chúa thật và ngẫu tượng. Xưa thì ngẫu tượng là những vật vô tri tay người ta làm ra, rồi đến của cải, quyền lực. Người ta có thể “sát tế” cả đến con cái mình, dân tộc mình, ngày nay thì có thể sát tế cả nhân loại cho thần quyền lực, thần tiền tài. Ngẫu tượng ngày nay còn có cả những con người bằng xương bằng thịt, có sức cuốn hút cả một thế hệ, người ta dùng chính cái tên “thần tượng” để gọi và người ta thèm nên giống thần tượng của mình, từ mái tóc, từ cách đi đứng. Thần tượng kiểu nào cũng làm con người vong thân. Điều nghịch lý là Thiên Chúa giải phóng, còn ngẫu tượng bắt người ta làm nô lệ, nhưng người ta lạ cứ thích làm nô lệ hơn.
Đoàn dân nô lệ được Thiên Chúa sai Mô-sê đưa ra khỏi Ai cập chỉ tin vào Thiên Chúa khi đã thấy xác của đoàn quân đuổi theo mình phơi trên bờ biển, nhưng vừa thiếu bánh thiếu nước, thèm con cá, miếng thịt, quả dưa quả bí, củ hành củ tỏi là đã muốn đánh đổi tự do lấy bụng no! Đoàn dân nô lệ vừa được ngóc đầu lên muốn có “tất cả và ngay lập tức”. Thiên Chúa cũng kiên nhẫn săn sóc họ như một đứa trẻ (x. Xh 16-17).
Đến núi Xi-nai, Thiên Chúa muốn nâng phẩm giá cho họ bằng một Giao Ước, nhận họ làm dân của Ngài (x. Xh 19-24), vì Ngài trung thành với lời đã hứa cho Áp-ra-ham, người “bạn của Thiên Chúa”. Bấy lâu nay họ chỉ biết các ngẫu tượng của Ai-cập, chưa biết Thiên Chúa của tổ tiên họ. Thiên Chúa cho họ thấy sự uy nghi siêu việt của Thiên Chúa bằng cuộc hiển linh trên núi Xi-nai để phán dạy họ. Họ sợ hãi, xin Mô-sê làm trung gian nói với họ bằng tiếng nói của loài người. Thiên Chúa cũng chiều ý họ. Sau khi ông Mô-sê đã rao cho họ nghe Luật của Giao Ước thì họ nghe và chấp nhận. Ông Mô-sê cử hành nghi lễ kết ước. Thiên Chúa gọi ông Mô-sê lên núi để lãnh “hai tấm bia chứng ước; những bia ấy viết cả hai mặt. Những bia ấy là do Thiên Chúa làm ra, chữ là chữ của Thiên Chúa, khắc trên các bia.”
Ông Mô-sê ở lại trên núi bốn mươi ngày đêm, biệt vô âm tín. Dân sốt ruột. Trước khi lên núi, ông Mô-sê đã giao cho A-ha-ron, người anh đã giúp ông từ đầu cuộc vận động giải phóng ở Ai-cập tới nay, làm đại diện ở với dân. Ngồi chờ cả tháng trời họ mất kiên nhẫn. Họ đến gặp ông đại diện lâm thời đang ngồi đó và yêu cầu: “Xin ông đứng lên, làm cho chúng tôi một vị thần để dẫn đầu chúng tôi, vì chúng tôi không biết chuyện gì đã xảy ra cho cái ông Mô-sê này, là người đã đưa chúng tôi lên từ đất Ai-cập.” Họ muốn có một vị thần dân đầu mà họ điều khiển được, thay vì Thiên Chúa uy nghi trên núi khiến họ sợ hãi và không thể điều khiển.
Ông A-ha-ron không hề thắc mắc hay phản kháng. Ông có ngay sáng kiến để thỏa mãn yêu cầu của dân khi nhìn họ đeo những đồ trang sức bằng vàng dân đã đoạt của người Ai-cập. “Ông A-ha-ron nói với họ: “Hãy gỡ các khuyên vàng mà vợ và con trai con gái anh em đeo ở tai, rồi đem đến cho tôi.” 3Toàn dân gỡ các khuyên vàng đeo tai và đem đến cho ông A-ha-ron. 4Ông lấy vàng từ tay họ trao cho, đem đúc và dùng dao mà gọt đẽo thành một con bê[1]. Có vẻ ông A-ha-ron thạo nghề kim hoàn!
Ông khỏi cần nói gì thêm. Thấy con bê bằng vàng ông vừa hoàn thành, dân bộc phát tung hô: “Đây là thần của ngươi đã đưa ngươi ra khỏi Ai-cập.” Vuốt râu đắc ý, ông dựng bàn thờ trước tượng con bê, rồi tuyên bố: “Mai có lễ kính Đức Chúa”. Dân nhiệt liệt hưởng ứng: “Ngay hôm sau, họ dậy sớm, dâng tiến những của lễ toàn thiêu và những lễ vật kỳ an. Dân ngồi xuống ăn uống, rồi đứng lên bày trò vui chơi.”
Ông Mô-sê bị thả trôi sông, được công chúa cứu, lớn lên trong hoàng cung. Sau đó trốn sang đất Ma-đi-an. A-ha-ron sinh trước cái lệnh tàn ác kia, nên thanh thản lớn lên trong gia đình. Ông mang theo ký ức về các ngẫu tượng, các buổi lễ hội của Ai-cập. Những ký ức kia và tay nghề giúp ông thỏa mãn yêu cầu của dân thật dễ dàng.
Sách Xuất Hành không nói gì đến đời sống tôn giáo của đám dân nô-lệ này suốt mấy trăm năm lưu lạc bên Ai-cập. Nhưng sách Ê-dê-ki-en cho thấy :
« Hỡi con người, xưa có hai người đàn bà là con cùng một mẹ. 3Chúng đã đàng điếm ở Ai-cập ; ngay từ thời thơ ấu, chúng đã đàng điếm. Ở đó, chúng đã bị bóp vú, bị nắn ngực còn trinh. 4Tên của chúng : chị là O-ho-la, em là O-ho-li-va. Chúng đã thuộc về Ta và sinh được một bầy con trai con gái. Đây là tên của chúng : O-ho-la là Sa-ma-ri và O-ho-li-va là Giê-ru-sa-lem. » (23,2-4).
Vậy thì tượng con bê bằng vàng và lễ hội không phải là sáng kiến của ông A-ha-ron, nhưng chỉ là bắt chước dân Ai-cập thôi. Điều mỉa mai là vàng đoạt của dân Ai cập lại thành ông thần đưa dân nô lệ ra khỏi Ai-cập. Nếu nhớ lại câu chuyện của bà tổ Ra-khen khi theo chồng trốn về bên nội thì ta thấy cái mỉa mai còn sâu sắc hơn nữa (x. St 31). Bà Ra-khen lấy trộm các tượng thần của cha mang theo. Khi cha đuổi theo và hỏi tội Gia-cóp : « Sao con lại lấy trộm các thần của cha ». Gia-cóp chẳng biết gì về việc vợ đã làm, nên khẳng khái trả lời : « Nếu cha tìm thấy các thần của cha nơi người nào, thì người ấy không được sống nữa. » Trong khi ông La-ban lục lọi trong lều thì bà Ra-khen cho các thần trú ẩn dưới yên lạc đà rồi thản nhiên ngồi lên trên. Cha tới thì bà viện cớ « ngày phụ nữ của con » để xin miễn đứng lên. Ông La-ban chịu thua. Bà tổ thì cho thần của tổ tiên núp ở nơi hiểm hóc nhất, con cháu bốn trăm năm mươi năm sau thì lấy vàng của Ai-cập đúc tượng thần Ai-cập mà đặt lên bàn thờ[2] !
Ông Mô-sê còn ngây ngất ở trên núi thì Thiên Chúa báo cho ông biết và bảo ông xuống ngay. Thiên Chúa cho ông biết kế hoạch mới : xóa sổ dân phản loạn này và cho ông thay thế. Ông liền van xin, và đưa ra hai lý do : một là thể diện của Thiên Chúa trước mặt dân Ai-cập, hai là sự trung thành của Thiên Chúa với lời đã hứa cho Áp-ra-ham, I-xa-ác và Gia-cóp. Lập tức « ĐỨC CHÚA đã thương, không giáng phạt dân Người như Người đã đe. »
Ông Mô-sê ôm hai tấm bia đi xuống núi. Vậy khi đến gần trại, ông thấy con bê và những bọn người đang nhảy múa. Ông Mô-sê nổi cơn thịnh nộ : Ông ném các tấm bia đang cầm trong tay và đập vỡ dưới chân núi. 20Ông lấy con bê họ đã làm, đốt đi, tán nhuyễn ra, rắc lên mặt nước, rồi bắt con cái Ít-ra-en uống.
Rồi ông chất vấn ông đại diện A-ha-ron, được một câu trả lời « ngây thơ cụ » :
Ông Mô-sê bảo ông A-ha-ron : “Dân này đã làm gì ông mà ông đưa họ tới chỗ phạm một tội lớn như thế ?” 22Ông A-ha-ron nói : “Xin ngài chớ bừng bừng nổi giận ; chính ngài biết : dân này có khuynh hướng xấu. 23Họ nói với tôi : Xin ông làm cho chúng tôi một vị thần để dẫn đầu chúng tôi, vì chúng tôi không biết chuyện gì đã xảy ra cho cái ông Mô-sê này, là người đã đưa chúng tôi lên từ đất Ai-cập. 24Tôi nói với họ : Ai có vàng ? Họ đã gỡ đồ vàng đeo tai và đưa cho tôi ; tôi ném vào lửa, và đã ra con bê này.”
Đỉnh cao của phản ứng : Mô-sê kêu gọi thánh chiến. Đám con cháu Lê-vi nhiệt thành theo ông. Tắm máu. Sau đó ông tuyên dương cộng trạng và tấn phong đám người nhiệt thành :
Ông Mô-sê nói: “Hôm nay, anh em được phong chức để phục vụ ĐỨC CHÚA, vì kẻ thì đã hy sinh con mình, kẻ thì đã hy sinh anh em mình, khiến Người chúc phúc cho anh em hôm nay.”
Nghe mà nổi da gà ! Họ được phong chức vì đã hy sinh con mình, anh em mình chứ không phải chính mình. Bình tĩnh suy nghĩ thì chúng ta thấy phản ứng sắt máu này hoàn toàn là sáng kiến của ông Mô-sê chứ không phải lệnh của Thiên Chúa. Ông năn nỉ cho dân, Thiên Chúa nhận lời ngay và tuyên bố tha rồi.
Ông Mô-sê tự ý đập vỡ bia chứng ước tức là tự tiện tuyên bố « giao ước đã vỡ ». Chưa hết, ông còn tự ý tuyên bố thánh chiến, gây ra cuộc tắm máu. Ông phải dạy cho dân biết đường lối của Thiên Chúa, thế mà chính ông lại chẳng làm theo. Thiên Chúa tha, nhưng Mô-sê không tha !
Qua một đêm lắng xuống, hôm sau :
Ông Mô-sê trở lại với ĐỨC CHÚA và thưa : “Than ôi, dân này đã phạm một tội lớn ! Họ đã làm cho mình một tượng thần bằng vàng! 32Nhưng giờ đây, ước gì Ngài miễn chấp tội họ ! Bằng không, thì xin Ngài xoá tên con khỏi cuốn sách Ngài đã viết.” 33ĐỨC CHÚA phán với ông Mô-sê : “Kẻ nào phạm tội làm mất lòng Ta, Ta sẽ xoá tên nó khỏi cuốn sách của Ta. 34Bây giờ, ngươi hãy đi, đưa dân tới nơi Ta đã chỉ cho ngươi. Này thiên sứ của Ta sẽ đi trước mặt ngươi ; nhưng đến ngày Ta trừng phạt, Ta sẽ trừng phạt chúng vì tội đã phạm.” (32,31-34)
Hôm qua Thiên Chúa đã tuyên bố tha rồi mà, sao ông còn năn nỉ nữa, lại còn xin được thế mạng cho dân. Có vẻ như vì ông đã không tha nên ông tưởng Thiên Chúa cũng không tha. Thiên Chúa chẳng cần lấy mạng ông như ông đã lấy mạng ba ngàn người hôm qua. Cái mạng của ông cứ để đó, còn xài được. Thiên Chúa ra lệnh cho ông tiếp tục việc của ông là đưa dân đi tới Đất Hứa, và để bảo đảm cho ông đừng tự hành động theo cơn nóng giận thì « thiên sứ của Ta sẽ đi trước mặt ngươi ». Việc trừng phạt là của Thiên Chúa chứ không phải của ông, và Thiên Chúa không nóng vội như ông. « Đến ngày trừng phạt Ta sẽ trừng phạt ». Thế là rõ ràng. Đường lối của Mô-sê không phải là đường lối của Thiên Chúa. Mô-sê còn phải học cho biết đường lối của Thiên Chúa.
Mô-sê đã vỡ mộng với ông anh « ngây thơ cụ », hở ra một chút là làm hỏng việc, nên khi nghe Thiên Chúa ra lệnh đi tiếp, thì xin Thiên Chúa cho người đồng hành.
Ông Mô-sê thưa với ĐỨC CHÚA : “Xin Ngài coi, chính Ngài đã phán với con : ‘Hãy đưa dân ấy lên, vậy mà Ngài lại không cho con biết Ngài sẽ cử ai đi với con. Tuy nhiên chính Ngài đã phán : Ta biết đích danh ngươi, và hơn nữa ngươi đã được nghĩa với Ta.’ 13Vậy bây giờ, nếu quả thật con đã được nghĩa với Ngài,
xin khấn tỏ cho con biết đường lối của Ngài, để con biết Ngài, và được nghĩa với Ngài.
Xin cũng coi dân tộc này là dân của Ngài.” 14
ĐỨC CHÚA phán : “Đích thân Ta sẽ đi, và Ta sẽ cho ngươi được nghỉ ngơi.”
Đến đây ta hiểu rõ điều ông Mô-sê cầu xin. Ông anh « ngây thơ cụ » vẫn cùng đi với ông bấy lâu nay đã tỏ ra không biết đường lối của Thiên Chúa, mà bản thân ông cũng vừa ngộ ra là mình cũng chẳng biết gì hơn. Điều ông xin là được biết đường lối của Thiên Chúa để biết Thiên Chúa. Hôm Thiên Chúa gọi ông từ trong đám lửa, ông đã chẳng biết Người, nên ông xin biết tên của Người để có thể trả lời cho dân khi họ hỏi. Thiên Chúa đã cho ông cái tên dễ hiểu để nói với dân : « Thiên Chúa của Áp-ra-ham, Thiên Chúa của I-xa-ác, Thiên Chúa của Gia-cóp », nhưng các cụ tổ đã chết từ mấy trăm năm trước, nên nghe vậy thì biết vậy thôi, đâu có đánh thức được các cụ dậy mà hỏi.
Câu chuyện vừa rồi đã cho ông thấy rằng đường lối của Thiên Chúa mình còn chẳng biết, nói chi là biết chính Thiên Chúa. Qua vụ con bê vàng này ông được « phá ngu » : ngộ ra rằng mình chưa biết Thiên Chúa. Thiên Chúa biết đích danh ông, nhưng ông chưa biết Thiên Chúa. Nhưng ông năn nỉ lần thứ ba : « xin cũng coi dân tộc này là dân của Ngài » cho thấy là ông vẫn còn nghi ngờ về ơn tha thứ của Thiên Chúa. Thiên Chúa có tha thì mới sai ông tiếp tục dẫn nhọ đi chứ. Một lần nữa ông tỏ ra chưa biết Thiên Chúa và cũng chưa biết đường lối của Thiên Chúa.
Ông muốn xin đi đường tắt để biết Thiên Chúa :
“Xin Ngài thương cho con được thấy vinh quang của Ngài.” 19Người phán : “Ta sẽ cho tất cả vẻ đẹp của Ta đi qua trước mặt ngươi, và sẽ xưng danh Ta là ĐỨC CHÚA trước mặt ngươi. Ta thương ai thì thương, xót ai thì xót.” 20Người phán : “Ngươi không thể xem thấy tôn nhan Ta, vì con người không thể thấy Ta mà vẫn sống.” 21ĐỨC CHÚA còn phán : “Đây là chỗ gần Ta ; ngươi sẽ đứng trên tảng đá. 22Khi vinh quang của Ta đi qua, Ta sẽ đặt ngươi vào trong hốc đá, và lấy bàn tay che ngươi cho đến khi Ta đã đi qua. 23Rồi Ta sẽ rút tay lại, và ngươi sẽ xem thấy lưng Ta, còn tôn nhan Ta thì không được thấy.”
Thiên Chúa trả lời thẳng cho ông rằng điều ông vừa xin thì không thể được, nhưng điều ông đã xin trước là đúng : « biết đường lối của Thiên Chúa để biết Thiên Chúa. » Muốn biết đường lối của Thiên Chúa thì hãy chờ Ngài đi qua rồi nhìn lưng Ngài, nghĩa là đi đàng sau Thiên Chúa. Với cụ tổ Áp-ra-ham thì Thiên Chúa truyền : « Ngươi hãy bước đi trước mặt Ta và hãy sống hoàn hảo ». Cụ Tổ luôn tin lời Thiên Chúa và làm theo, nên có thể bước đi trước mặt Thiên Chúa, đã nên hoàn hảo và được gọi là « bạn của Thiên Chúa ». Mô-sê được trao nhiệm vụ dẫn dòng dõi Áp-ra-ham về Đất Hứa thì phải nhìn sau lưng Thiên Chúa để biết đường lối. Thiên Chúa đã hứa : « Này thiên sứ của Ta sẽ đi trước mặt ngươi » (32,34).
Ông Mô-sê đã tự tiện đập vỡ hai bia đá Thiên Chúa ban và bằng cử chỉ này tự ý tuyên bố là Giao Ước đã vỡ. Thiên Chúa truyền cho ông : « Ngươi hãy đẽo hai bia đá giống như hai bia trước. Và Ta sẽ ghi lại trên đó những lời đã ghi trên các bia trước mà ngươi đã đập vỡ. Ngươi hãy chuẩn bị sẵn sàng cho sáng ngày mai.
Ngay từ sáng, ngươi hãy lên núi Xi-nai và đứng chờ Ta ở đó, trên đỉnh núi. 3Không ai được lên với ngươi ; cũng không ai được xuất hiện trên khắp vùng núi ; ngay cả bò bê hay dê cừu cũng không được ăn cỏ trên sườn núi đó.” 4Vậy ông Mô-sê đẽo hai bia đá giống như những bia trước ; rồi sáng sớm ông thức dậy và lên núi Xi-nai theo lệnh của ĐỨC CHÚA, tay mang hai bia đá.
5 ĐỨC CHÚA ngự xuống trong đám mây và đứng đó với ông. Người xưng danh Người là ĐỨC CHÚA. 6ĐỨC CHÚA đi qua trước mặt ông và xướng : “ĐỨC CHÚA ! ĐỨC CHÚA ! Thiên Chúa nhân hậu và từ bi, hay nén giận, giàu nhân nghĩa và thành tín, 7giữ lòng nhân nghĩa với muôn ngàn thế hệ, chịu đựng lỗi lầm, tội ác và tội lỗi, nhưng không bỏ qua điều gì, và trừng phạt con cháu đến ba bốn đời vì lỗi lầm của cha ông.” 8Ông Mô-sê vội vàng phục xuống đất thờ lạy 9và thưa : “Lạy Chúa, nếu quả thật con được nghĩa với Chúa, thì xin Chúa cùng đi với chúng con. Dân này là một dân cứng đầu cứng cổ, nhưng xin Ngài tha thứ những lỗi lầm và tội lỗi của chúng con, và nhận chúng con làm cơ nghiệp của Ngài.”
10ĐỨC CHÚA phán : “Này Ta sắp lập một giao ước. Trước mặt toàn dân của ngươi, Ta sẽ làm những việc lạ lùng chưa hề được thực hiện trong một nước hay một dân nào. Toàn dân ở chung quanh ngươi sẽ thấy việc ĐỨC CHÚA làm, vì điều Ta sắp dùng ngươi mà làm thì thật đáng sợ. 11Hãy giữ kỹ điều Ta truyền cho ngươi hôm nay.
Mấy điều cần chú ý khi đọc lại toàn chương 34 này.
1/ Lần trước Thiên Chúa truyền tụ họp toàn dân dưới chân núi. Lần này thì hoàn toàn chỉ có một mình ông Mô-sê : không ai được cùng lên núi với ông và cũng không ai được xuất hiện trên khắp vùng.
2/ Đức Chúa đến, tự xưng danh là Đức Chúa, rồi đi qua trước mặt ông và xướng… Lần trước Ngài chỉ nói « Ta thương ai thì thương, xót ai thì xót ». Lần này dài hơn : 6ĐỨC CHÚA đi qua trước mặt ông và xướng : “ĐỨC CHÚA ! ĐỨC CHÚA ! Thiên Chúa nhân hậu và từ bi, hay nén giận, giàu nhân nghĩa và thành tín, 7giữ lòng nhân nghĩa với muôn ngàn thế hệ, chịu đựng lỗi lầm, tội ác và tội lỗi, nhưng không bỏ qua điều gì, và trừng phạt con cháu đến ba bốn đời vì lỗi lầm của cha ông. Thiên Chúa như đang nói cho ông nghe nhiều hơn về đường lối của Thiên Chúa. Một đàng thì Thiên Chúa nhân nghĩa… với muôn ngàn thế hệ, chịu đựng… một đàng thì khi phạt là phạt ba bốn đời. Muốn thấy Thiên Chúa phạt thì chịu khó chờ qua muôn ngàn thế hệ ! Rõ ràng là cách hành xử theo cơn nóng giận của ông chẳng giống Thiên Chúa một tí nào. Sau này sách ngôn sứ I-sai-a sẽ nói : « Trời cao hơn đất chừng nào thì đường lối của Ta cũng cao hơn đường lối của các ngươi, và tư tưởng của Ta cũng cao hơn tư tưởng của các ngươi chừng ấy !» (Is 55,9)
3/ Thiên Chúa nhắc lại cho ông luật Giao Ước, rồi truyền cho ông chép :
“Hãy ghi chép những lời này, vì dựa trên chính những lời này mà Ta đã lập giao ước với ngươi và với Ít-ra-en.”
28Ông ở đó với ĐỨC CHÚA bốn mươi ngày bốn mươi đêm, không ăn không uống, và ông viết trên những tấm bia các điều khoản của giao ước, tức là Thập Điều.
4/ Ông Mô-sê từ trên núi Xi-nai xuống, tay cầm hai tấm bia Chứng Ước, khi xuống núi, ông Mô-sê không biết rằng da mặt ông sáng chói bởi đã đàm đạo với Thiên Chúa. 30Khi ông A-ha-ron và toàn thể con cái con Ít-ra-en thấy ông Mô-sê, thì này đây da mặt ông sáng chói, nên họ sợ không dám lại gần ông. 31Ông Mô-sê gọi họ : ông A-ha-ron và các đầu mục của cộng đồng trở lại với ông, và ông nói chuyện với họ. 32Sau đó, toàn thể con cái Ít-ra-en lại gần ông, và ông truyền cho họ tất cả những điều ĐỨC CHÚA đã phán với ông trên núi Xi-nai. 33Nói với họ xong, ông lấy khăn che mặt đi.
Lần này ông đã được ơn soi sáng bên trong và ánh sáng của Thiên Chúa tỏa ra trên khuôn mặt ông. Trong ánh sáng ấy, ông truyền lại cho dân tất cả những điều Đức Chúa đã phán với ông trên núi. Nói xong, ông lấy khăn che mặt đi, như để làm dấu rằng từ nay ông không nói, không hành động theo con người cũ của ông nữa.
5/ Từ đó ông thay đổi nhịp sống để làm người trung gian trung thành, mở khăn che mặt ra để nghe Thiên Chúa truyền, ra nói lại cho dân, rồi lại che mặt : « Khi vào trước nhan ĐỨC CHÚA để đàm đạo với Người, thì ông bỏ khăn cho đến lúc trở ra ; ông trở ra và nói lại với con cái Ít-ra-en những mệnh lệnh ông đã nhận được. 35Con cái Ít-ra-en nhìn mặt ông Mô-sê thấy da mặt ông sáng chói ; ông Mô-sê lại lấy khăn che mặt, cho đến khi vào đàm đạo với Thiên Chúa. »[3]
Một ngôn sứ giống như Mô-sê
Hơn bốn trăm năm sau ta lại gặp một « ngôn sứ giống như Mô-sê », đó là ông Ê-li-a. Ông được sai đến trong bối cảnh mà chính ông kể với Thiên Chúa khi quay lại ngọn núi nơi Thiên Chúa đã đến nói với Mô-sê :
Ông vào một cái hang và nghỉ đêm tại đó. Có lời ĐỨC CHÚA phán với ông : “Ê-li-a, ngươi làm gì ở đây ?” 10Ông thưa : “Lòng nhiệt thành đối với ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa các đạo binh, nung nấu con, vì con cái Ít-ra-en đã bỏ giao ước với Ngài, phá huỷ bàn thờ, dùng gươm sát hại các ngôn sứ của Ngài. Chỉ còn sót lại một mình con mà họ đang lùng bắt để lấy mạng sống con.” 11Người nói với ông : “Hãy ra ngoài và đứng trên núi trước mặt ĐỨC CHÚA. Kìa ĐỨC CHÚA đang đi qua.” Gió to bão lớn xẻ núi non, đập vỡ đá tảng trước nhan ĐỨC CHÚA, nhưng ĐỨC CHÚA không ở trong cơn gió bão. Sau đó là động đất, nhưng ĐỨC CHÚA không ở trong trận động đất. 12Sau động đất là lửa, nhưng ĐỨC CHÚA cũng không ở trong lửa. Sau lửa có tiếng gió hiu hiu. 13Vừa nghe tiếng đó, ông Ê-li-a lấy áo choàng che mặt, rồi ra ngoài đứng ở cửa hang. Bấy giờ có tiếng hỏi ông : “Ê-li-a, ngươi làm gì ở đây ?” 14Ông thưa : “Lòng nhiệt thành đối với ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa các đạo binh, nung nấu con, vì con cái Ít-ra-en đã bỏ giao ước với Ngài, phá huỷ bàn thờ, dùng gươm sát hại các ngôn sứ của Ngài. Chỉ sót lại một mình con mà họ đang lùng bắt để lấy mạng con.”
Ông « quên » nói là ông cũng đã dùng gươm chém 450 ngôn sứ của thần Ba-an !
Thiên Chúa nhẹ nhàng dạy dỗ ông : Ngài không ở trong gió bão lớn, động đất, lửa… Ngài đến trong tiếng gió hiu hiu như xưa trong vườn Địa Đàng, cả sau khi con người phạm tội đầu tiên (St 3,8).
Tuy vậy sau đó ông còn khiến lửa từ trời xuống đốt hai toán lính vua sai đến tìm ông nhưng lại hỗn xược với ông (2V 1,9-15). Sau này không thấy ngôn sứ nào hành xử như vậy nữa, phải chờ đến các môn đệ của Chúa Giê-su mới lại có hai người muốn làm môn đệ của ông, toan khiến lửa từ trời xuống đốt cả một làng ở Sa-ma-ri chỉ vì họ không chịu tiếp đón Chúa. Chúa quay lại quở trách hai ông (Lc 9, 53-56)[4].
Mấy chương sách Xuất Hành xoay quanh vụ « Con bê bằng vàng » cho thấy rằng ông Mô-sê, người được Thiên Chúa sai đến giải phóng dân nô lệ và thiết lập Giao Ước Xi-nai cũng chưa biết đường lối của Thiên Chúa, lại càng không biết dung nhan của Thiên Chúa. Qua kinh nghiệm sắt máu, rồi đối diện với lòng nhân hậu thương xót của Thiên Chúa ông mới biết phải xin cho được « biết đường lối của Thiên Chúa để biết Thiên Chúa ». Muốn biết đường lối của Thiên Chúa thì đừng che mặt, hãy mở khăn che mặt ra để cho ánh sáng của Thiên Chúa chiếu soi và nhìn theo cách Thiên Chúa hành xử.
Lạy Chúa, xin dò xét để biết rõ lòng con,
xin thử con cho biết những điều con cảm nghĩ.
24Xin Ngài xem con có lạc vào đường gian ác
thì dẫn con theo chính lộ ngàn đời. (Tv 138/139,23-24)
Nhớ bài thánh ca “Xin chỉ cho con đường đi của Chúa,
xin dạy bảo con nước bước của Người…”
[1] Trong sa mạc Xi-nai hiện nay, trên núi Sê-ra-bít En Kha-đem, vẫn còn dấu vết hoang tàn của ngôi đền thờ thần Ha-do của người Ai-cập từ hơn hai ngàn năm trước CGS. Trên đầu kèo đầu cột còn thấy khắc hình con bò. Thung lũng dẫn tới đền thờ này đây những hình vẽ, chữ viết lưu niệm hành hương của nhiều dân khác nhau, nên gọi là Oa-đi Mu-kha-táp. Sách Khôn Ngoan dành bốn chương (12-15) nói về việc thờ ngẫu tượng ở Ca-na-an và Ai-cập.
[2] Coi những châm biếm khác trong sách Khôn ngoan 12-15; Is 46,1-2; Tv 115/113B,4-7
[3] Sau này khi Chúa Giê-su hiển dung trên núi thì ông Mô-sê sẽ cùng với ông Ê-li-a, “hai vị hiện ra, rạng ngời vinh hiển, và nói về cuộc xuất hành Người sắp hoàn thành tại Giê-ru-sa-lem” (Lc 9,30-31; x. Mt 17,3; Mc 9,4). Thánh Phao-lô sẽ nhắc chi tiết này để so sánh: “Đấng ban cho chúng tôi khả năng phục vụ Giao Ước Mới, không phải Giao Ước căn cứ trên chữ viết, nhưng dựa vào Thần Khí. Vì chữ viết thì giết chết, còn Thần Khí mới ban sự sống. 7Nếu việc phục vụ Lề Luật –thứ Lề Luật chỉ đưa đến sự chết và được khắc ghi từng chữ trên những bia đá– mà được vinh quang đến nỗi dân Ít-ra-en không thể nhìn mặt ông Mô-sê được, vì mặt ông chói lọi vinh quang –dù đó chỉ là vinh quang chóng qua–, 8thì việc phục vụ Thần Khí lại không được vinh quang hơn sao? 9Vì việc phục vụ án chết mà còn được vinh quang như thế, thì việc phục vụ đức công chính lại chẳng vinh quang hơn lắm sao? 10So với vinh quang tuyệt vời này, thì vinh quang xưa kia chẳng vinh quang gì. 11Thật vậy, nếu cái chóng qua mà còn được vinh quang, thì cái còn mãi lại chẳng vinh quang hơn sao? 12Vì có một niềm hy vọng như thế mà chúng ta thật vững dạ an lòng. 13Chúng ta không làm như ông Mô-sê lấy màn che để dân Ít-ra-en khỏi thấy khi nào cái chóng qua kia chấm dứt” (2Cr 3,6-13).
[4] Đến thời « Tòa Án Giáo Hội » thì không cần chờ lửa từ trời, nhưng lấy lửa ngay trong bếp để đốt « quân rối đạo ». Tạ ơn Chúa vì Giáo Hội không còn có thể thi hành thứ quyền ghê gớm đó nữa. Nhưng cái não trạng thì vẫn còn đó dai dẳng, cả sau Công Đồng Va-ti-ca-nô II !
Giê-ru-sa-lem, ngày lễ thánh Giu-se Lao Động 2020
L.m. Giu-se Nguyễn công Đoan S.J.
2020
Bảy hành động giúp bạn nên thánh mỗi ngày
Bảy hành động giúp bạn nên thánh mỗi ngày
TÔI NÊN THÁNH Ư?
BẢY HÀNH ĐỘNG GIÚP BẠN NÊN THÁNH MỖI NGÀY
Rất nhiều người trong Giáo hội nói: “Tôi nên thánh ư ? Không, việc đó dành cho người khác, không phải tôi”. Như thể họ không tin rằng Chúa có thể đổi mới mọi sự, rằng đối với Ngài không có gì là không thể. Nếu điều này có thể đi vào lòng trí của thánh Augustinô và thánh Phanxicô, thì cũng có thể đi vào tâm hồn bạn.
Bạn chỉ cần tin khi Ngài nói với bạn rằng bạn có thể nên thánh, rằng bạn đã được chuẩn bị cho một nơi trên thiên đàng. Và câu hỏi đặt ra bây giờ là, làm thế nào tôi có thể nên thánh trong cuộc sống hàng ngày? Tôi phải làm gì? Công thức là gì? Chà, không có một công thức duy nhất, vì sự thánh thiện mang nét cá nhân, nghĩa là sự thánh thiện của bạn không giống với tôi hay của người khác.
Lời kêu gọi bạn nên thánh là duy nhất và bạn phải khám phá nó. Ở đây tôi xin gợi ý bảy hành động mà bạn có thể thực hiện trong ngày để đến gần với sự thánh thiện. Bảy hành động cụ thể mà nếu bạn áp dụng vào thực tế, có thể giúp bạn nhanh chóng hướng về Chúa. Hãy chú ý.
- Kiểm soát và điều khiển các giác quan
Có các giác quan bên trong và các giác quan bên ngoài. Những cái bên trong là ý thức, trí tưởng tượng, trí nhớ và ước muốn, những cái bên ngoài là thị giác, khứu giác, xúc giác, vị giác và thính giác. Nhờ các giác quan, chúng ta có thể biết thế giới xung quanh và cho chúng ta một hình ảnh tinh thần về nó. Chúng ta nhớ về quá khứ, chúng ta tưởng tượng tới tương lai, chúng ta nhận thức được ý tưởng của mình và chúng ta đánh giá các tình huống.
Nhưng đôi khi các giác quan của chúng ta dễ đi theo con đường của chúng, như những con ngựa hoang, không được dẫn dắt. Để nên thánh, chúng ta cần phải chịu trách nhiệm về đời sống và các giác quan của mình. Có những âm thanh không giúp ích cho chúng ta, chúng ta hãy tập bỏ qua. Có những hình ảnh không để chúng ta yên, chúng ta hãy tập buông chúng ra. Ăn nhiều dẫn đến háu ăn, chúng ta hãy tập để lại một chút thức ăn…vv.
Tương tự với giác quan nội tâm: đôi khi chúng ta tưởng tượng nhiều điều về người khác, chúng ta tạo ra những lâu đài trong không khí vốn không có thật và chúng ta có thể mất cảm giác thực tế. Vì vậy, nếu bạn làm chủ các giác quan của mình và kiểm soát chúng, bạn có thể tập trung vào những gì cần thiết, vào những gì quan trọng.
Hãy để Chúa thấm vào cuộc sống của bạn và hướng dẫn các giác quan của bạn đến với Ngài, đồng thời cố gắng tránh tiếp xúc với những gì làm tổn thương tâm hồn bạn và lấy đi sự bình an trong tâm hồn. “Mắt có nhìn bao nhiêu cũng chẳng thấy gì lạ, tai có nghe đến mấy cũng chẳng thấy gì mới.” (Gv 1, 8). “Dù ăn, uống hay làm bất cứ điều gì, anh em hãy làm tất cả vinh danh Thiên Chúa” (1 Cr 10, 31).
- Xét mình liên tục
Xét mình có nghĩa là nhìn vào bản thân, vào những phản ứng, suy nghĩ, hành vi, ý tưởng, hành động của mình… vv. Biết mình có đi đúng hướng hay không. Nếu những gì tôi làm giúp người khác nên thánh hoặc làm họ chậm lại. Chúng ta phải sống với thái độ xét mình liên tục, biết chúng ta đang đi đâu, chúng ta đang ở đâu, tại sao chúng ta làm những việc này… v.v.
Đối với điều này, cần dành thời gian, có một vài phút để suy nghĩ về đời mình. Có thể là khi đi bộ, hoặc ngồi ở một nơi yên tĩnh. Nếu bạn xét mình, bạn sẽ hiểu rõ hơn về bản thân và bằng cách này bạn sẽ có thể biết những gì bạn phải cải thiện và / hoặc thay đổi.
Đây có thể là một bước nhỏ cho con người, nhưng là một bước nhảy vọt cho sự thánh thiện. Người Hy Lạp đã đặt một cụm từ rất khôn ngoan trong đền thờ: “Hãy tự biết mình”, vì họ nghĩ rằng khôn ngoan nhất là biết hoàn thành nhiệm vụ này. Nếu biết chính mình, bạn sẽ có thể dự đoán được nhiều điều và bạn sẽ biết cách phản ứng với những khó khăn và vấn đề bằng sức mạnh và lòng can đảm.
Xin mời bạn đọc Thánh vịnh 139 (138), giúp bạn bước vào tâm tình xét mình:
“Lạy Chúa, xin dò xét để biết rõ lòng con,
xin thử con cho biết những điều con cảm nghĩ.
Xin Ngài xem con có lạc vào đường gian ác
thì dẫn con theo chính lộ ngàn đời”. (Tv 139, 1.23-24).
- Tìm kiếm và xây dựng hòa bình xung quanh
Bạn có thể là một tác nhân cho hòa bình ở mọi lúc mọi nơi: trong công việc, trong vòng tròn bạn bè, trong gia đình, luôn là điểm nối gắn kết và hòa bình cho người khác. Giúp giải quyết xung đột qua đối thoại và thanh thản về tinh thần. Điều này rất quan trọng, đó là một trong những điều tuyệt vời: “Phúc cho xây dựng hòa bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa” (Mt 5, 9).
Trở thành người xây dựng hòa bình sẽ mang lại cho bạn sự bình an, tuy nhiên, một sự bình an không như thế gian ban tặng, đó là sự bình an mà chỉ có Thiên Chúa mới có thể ban cho bạn. Có hàng triệu tình huống mà bạn có thể xây dựng hòa bình: xung đột gia đình, tranh chấp tạm thời, tranh luận thắng thua, vấn đề việc làm, khác biệt về quan điểm…v.v.
Ngay cả trên phương tiện truyền thông xã hội, bạn có thể là một người xây dựng hòa bình tuyệt vời, và có một nhu cầu rất lớn đối với những người như vậy trong môi trường kỹ thuật số. Nếu bạn muốn trở nên thánh thiện, hãy tìm kiếm sự bình an nội tâm, làm mọi lúc mọi nơi, sống đối diện với Chúa, đừng sợ hãi và tin tưởng rằng thành quả của nỗ lực này sẽ là sự bình an đến từ Chúa, một sự bình an lâu dài. “Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không theo kiểu thế gian. Anh em đừng xao xuyến cũng đừng sợ hãi” (Ga 14,27).
- Giữ gìn miệng lưỡi
Hãy suy nghĩ về những gì bạn nói trước khi nói hoặc viết. Đôi khi chúng ta có thể làm tổn thương sâu sắc ai đó bằng cách chỉ cần gõ một vài nút trên bàn phím, bạn có thể tránh điều đó bằng cách suy nghĩ cẩn thận về những gì bạn sẽ viết. Vấn đề này mở rộng trong các mạng xã hội, nơi tính nhạy cảm là rất lớn và đôi khi người ta không có không gian để đối thoại trung thực.
Do đó, hãy chú ý để tất cả những gì bạn nói phù hợp với người khác, nó sẽ giúp ích cho người thân cận. Nếu bạn định nói những điều vô nghĩa, tốt hơn là giữ im lặng. Nếu bạn định dùng miệng để nguyền rủa, tốt hơn nên im lặng và không khơi lên một làn sóng lăng mạ. Tôi đảm bảo với bạn khi quan tâm đến lời nói của mình, chúng ta có thể lớn lên trên đường đức hạnh và thánh thiện.
Thật tốt khi trên hết bạn học cách kiểm soát miệng lưỡi mình, phúc hay họa cũng từ miệng mà ra. Nhờ đó, chúng ta chúc lành và động viên. Bạn chọn con đường nào, nên thánh không hề dễ nhưng không phải là không thể.
“Thật thế, mọi loài thú vật và chim chóc, loài bò sát và cá biển, thì loài người đều có thể chế ngự và đã chế ngự được.8 Nhưng cái lưỡi thì không ai chế ngự được: nó là một sự dữ không bao giờ ở yên, vì nó chứa đầy nọc độc giết người.9 Ta dùng lưỡi mà chúc tụng Chúa là Cha chúng ta, ta cũng dùng lưỡi mà nguyền rủa những con người đã được làm ra theo hình ảnh Thiên Chúa”(Gc 3, 7-9)
- Truyền cảm hứng cho người khác
Đây là nguồn sức mạnh tinh thần. Khi chúng ta khuyến khích người khác, chúng ta khuyến khích chính mình. Và nó giúp chúng ta thấy được sức nặng thực sự của những khó khăn trong cuộc sống. Đôi khi chúng ta nói: “Cố lên, mọi sự sẽ ổn thôi”, “Đừng lo lắng, hãy phó dâng trong tay Chúa”, nhưng bạn có thực sự tin vào điều đó không? Bạn có thực sự tin rằng mọi thứ sẽ qua đi và Chúa sẽ quan tâm đến khó khăn của bạn?
Có lẽ việc động viên người khác sẽ giúp bạn xây dựng đức tin của mình và tin vào những lời hứa của Thiên Chúa. Thánh Phaolô viết cho các Kitô hữu ở Thêxalônica: “Thưa anh em, chúng tôi khuyên nhủ anh em: hãy khuyên bảo người vô kỷ luật, khích lệ kẻ nhút nhát, nâng đỡ người yếu đuối, và kiên nhẫn với mọi người.” (1 Tx 5,14).
Anh em giúp đỡ lẫn nhau, chừng nào chúng ta còn là con cái Chúa. Tôi đảm bảo với bạn rằng nếu bạn động viên an ủi người khác, nâng đỡ kẻ yếu bằng sức mạnh của Chúa Giêsu và bạn luôn có những lời khích lệ cho những người đau khổ, bạn sẽ tiến thẳng vào sự thánh thiện của cuộc sống. Hãy thử và bạn sẽ thấy, bạn có thể nên thánh qua những chi tiết nhỏ như thế.
“Bổn phận của chúng ta, những người có đức tin vững mạnh, là phải nâng đỡ những người yếu đuối, không có đức tin vững mạnh, chứ không phải chiều theo sở thích của mình.2 Mỗi người chúng ta hãy chiều theo sở thích kẻ khác, vì lợi ích của họ, và để xây dựng.3 Thật vậy, Đức Ki-tô đã không chiều theo sở thích của mình” (Rô-ma 15: 1-3)
- Sống trong niềm vui
Đó là niềm vui của Đấng Phục sinh. Thế giới có thể sụp đổ xung quanh chúng ta, nhưng niềm vui đến từ Chúa thì luôn còn mãi. Đó là một niềm vui sâu sắc, nó không phải là kết quả của khoảnh khắc mà là của chính sự sống. Niềm vui này sẽ khuyến khích chúng ta chinh phục những đỉnh cao của đời sống tâm linh, để leo lên những đỉnh núi của sự thánh thiện.
Niềm vui của Chúa Giêsu thì “truyền nhiễm”, nó lan tỏa nhanh hơn bất kỳ loại virus nào. Và nhất là, nó vô tư miễn phí, Chúa ban cho bạn, bạn không phải mua và không thể mua được. Làm sao có được niềm vui này ? Hãy sống trong sự thật, trong sự chân thành của con cái Chúa, biết được những ưu – khuyết điểm của mình.
Hãy đối diện với Chúa như người bạn và thú tội với Ngài, rằng với tình yêu thương xót, Ngài sẽ tha thứ và cho bạn niềm vui trong tâm hồn. Đừng sợ niềm vui của Chúa. Thánh Thomas More nói: “Không có gì có thể xảy ra với tôi mà Chúa không muốn. Và tất cả mọi sự mà Ngài muốn, cho dù nó có vẻ tồi tệ như thế nào đối với chúng ta, thực sự là điều tốt nhất”.
Đây là niềm vui đích thực, khi biết rằng tôi được Chúa yêu thương và hướng dẫn. Để trở thành một vị thánh bạn cũng phải làm việc vì hạnh phúc của mình. “Anh em hãy vui luôn trong niềm vui của Chúa. Tôi nhắc lại: vui lên anh em!… Và bình an của Thiên Chúa, bình an vượt lên trên mọi hiểu biết, sẽ giữ cho lòng trí anh em được kết hợp với Đức Ki-tô Giê-su.” (Phl 4, 4.7).
- Hãy nhớ đến Chúa Giêsu Kitô
Hãy có Chúa Giêsu trong suy nghĩ, lời nói và việc làm của bạn. Hãy để Ngài hướng dẫn, nâng đỡ, bổ sức và là nguồn động viên của bạn. Nếu bạn đặt Ngài vào giữa các hoạt động của bạn, bạn có thể bình tĩnh, bởi vì Ngài ở bên bạn. Nếu để Ngài rời khỏi cuộc sống của bạn, sẽ rất khó để bạn tìm thấy sự bình yên bên trong mà bạn mong muốn.
Vì vậy bạn nên thay đổi một số thói quen. Bạn có thể tìm kiếm nhạc Công giáo trên Spotify và nghe thường xuyên, theo dõi những người có ảnh hưởng Công giáo, có thể xem các kênh truyền hình Công giáo hoặc các chương trình trực tuyến hoặc phim về các vị thánh, danh sách này có thể giúp bạn. Và từng chút một, bạn sẽ nên giống với những gì thuộc về Chúa.
Dần dần bạn sẽ đi vào cầu nguyện, chiều sâu gặp gỡ Chúa, bạn sẽ gia tăng kết hiệp với Ngài. Nhưng điều cần thiết là cuộc đời bạn phải được “Kitô hóa”. Tôi khuyên điều này cho tất cả những ai muốn đến gần Chúa hơn, nếu bạn sửa đổi thói quen theo môi trường và bạn làm cho nó trở nên Kitô hơn, bạn sẽ dễ dàng thích những gì thuộc về Chúa hơn.
Hãy can đảm, nên thánh là có thể, bạn có thể thực hiện một số điều chỉnh trong ngày và biến đổi nó cho Chúa. “Anh hãy nhớ đến Đức Giê-su Ki-tô, Đấng đã sống lại từ cõi chết… Nếu ta cùng chết với Người, ta sẽ cùng sống với Người. Nếu ta kiên tâm chịu đựng, ta sẽ cùng hiển trị với Người. Nếu ta chối bỏ Người, Người cũng sẽ chối bỏ ta. Nếu ta không trung tín,
Người vẫn một lòng trung tín, vì Người không thể nào chối bỏ chính mình.” (2 Tm 2, 8.11-13).
Hãy quyết tâm, hôm nay bạn có thể bắt đầu nên thánh!
Tôi hy vọng rằng bảy hành động mà bạn có thể thực hiện hàng ngày đây sẽ giúp bạn ngày càng trở nên thánh thiện. Tôi chắc chắn rằng nếu bạn Kitô hóa cuộc đời mình, bạn sẽ đi đúng hướng. Có nhiều điều cần thay đổi, hãy trình bày với Chúa và Ngài sẽ giúp bạn. Điều quan trọng là bạn quyết định nên thánh, rằng điều này cũng dành cho bạn.
Chúa muốn bạn nên thánh trong cuộc sống, trong công việc, trong gia đình, trong mối quan hệ xã hội của bạn, ở đó Chúa muốn bạn đặt Ngài vào trung tâm và để Ngài biến đổi tất cả. Hãy can đảm lên, bạn có nhiều anh chị em cầu nguyện giúp để bạn có thể tìm thấy Ngài. Xin Chúa chúc lành cho bạn và đồng hành với bạn! Lm. H. Edgar Henríquez Carrasco
Minh Duyên dịch từ Catholic-link.com
2020
28 cách người Nhật dạy con
28 CÁCH NGƯỜI NHẬT DẠY CON
1. Trẻ em không cần phải quá thông minh. Thông minh, học giỏi không hẳn là một điều tốt, cái chính là cần có nhân cách tốt.
2. Môi trường nuôi dạy con cái là rất quan trọng. Khó có thể dạy dỗ một đứa trẻ nên người trong một gia đình hay xung đột, một trường học nhiều trẻ hư hay một khu phố có tệ nạn.
3. Không bao giờ hình thành cho trẻ một thói quen xấu. Không thỏa hiệp lợi ích ngắn hạn để hình thành thói quen xấu cho con. Ví dụ như: đứa trẻ không ăn, đừng bao giờ bật tivi cho con xem để xúc cơm. Để đạt được mục đích cho con ăn được thêm vài thìa gạo, mẹ sẽ phải đánh đổi bằng một thói quen xấu rất khó bỏ.
4. Tôn trọng trẻ em, biết đồng cảm với trẻ.
5. Luôn nói sự thật với con. Chỉ cần chú ý đến kỹ năng nói và cách nói là được. Không bao giờ tỏ ra “ngoại giao”, nói dối với người khác trước mặt con trẻ.
6. Không bao giờ thỏa hiệp với con dù biết trẻ sẽ mè nheo, phản đối. Thỏa hiệp chỉ khiến kết quả tồi tệ hơn.
7. Chế độ ăn uống cho con phải cân bằng
8. Trẻ con không bao giờ để mình bị chết đói. Không cần ép con ăn, lo con đói.
9. Bữa ăn phải được diễn ra trong ghế ăn. Không ngồi thì không ăn.
10. Bổ sung canxi cho trẻ nếu không thiếu thì không cần. Chỉ cần cho con chạy nhảy dưới ánh mặt trời, tắm nắng thường xuyên là được.
11. Cho trẻ mặc quần áo nên mặc nhiều lớp. Như vậy khi con nóng có thể cởi bớt, lạnh có thể khoác thêm. Chơi thể thao toát mồ hôi có thể bỏ ra.
12. Xác định con lạnh hay không bằng cách kiểm tra cổ.
13. Cho trẻ ăn trái cây thường xuyên và mỗi ngày.
14. Con có quyền quyết định những việc liên quan đến con.
15. Khi con được 4,5 tuổi, hãy dạy con cách tiêu tiền và cho con tiền tiêu vặt hàng tuần.
16. Ai cũng có thể bị bệnh, bị ốm. Do vậy khi một đứa trẻ bị cảm lạnh, bệnh nhẹ, đừng hoảng sợ. Không cần quá hoang mang.
17. Nếu việc con làm không ảnh hưởng đến sự an toàn của con, đến lợi ích của người khác, thì không được quá can thiệp vào hành vi của con.
18. Để trẻ chơi thoái mái, không giục giã.
19. Không phải cứ cái gì nguy hiểm cũng cấm con không được tiếp cận. Nên cho con biết nguy hiểm là như thế nào, xảy ra ở đâu, làm thế nào để tránh. Cho con tiếp cận với nguy hiểm trong phạm vi kiếm soát.
20. Cần để con có cơ hội tư trải nghiệm càng nhiều càng tốt. Không nên nói trước kết quả với con. Hãy để bé tự khám phá, biết hậu quả, biết cách thành công, biết cả thất bại.
21. Dạy trẻ học cách chờ đợi.
22. Dạy trẻ chịu trách nhiệm về hành động của mình.
23. Dạy trẻ cách cho đi và nhận lại là quá trình hai chiều. Người nhận cũng phải biết ơn.
24. Hiện nay trong xã hội có rất nhiều phương pháp giáo dục sớm. Nếu không thực sự hiểu, không biết làm thế nào thì đừng làm và đừng ép con.
25. Phải đảm bảo mỗi ngày đều có thời gian dành cho con, chơi với con.
26. Luôn có cách khiến con cười ít nhất vài lần một ngày để duy trì tâm trạng tốt.
27. Dạy trẻ cách đối mặt với thất bại. Con có thể không hài lòng, có thể bỏ cuộc, có thể cố gắng làm tiếp một lần nữa. Nhưng dứt khoát không khóc, không được suy sụp.
28. Không bao giờ được đánh, tấn công bạn trước. Trong nhà trẻ, có thể thu hút sự chú ý của cô giáo và các bạn khác bằng cách hét lên…
[Lụm lặt]
2020
Trưởng thành trong đời tu

TRƯỞNG THÀNH NÓI CHUNG
Có một khái niệm về sự trưởng thành như sau:
Đó là khi tôi lớn lên,
Tâm hồn tôi trở nên mạnh mẽ
Để tôi can đảm đối diện cuộc đời.
Đôi mắt tôi đủ sáng,
Để tôi thấy đường mình đi.
Đôi chân tôi đủ khoẻ,
Cho tôi có thể tự bước.
Tôi có thể chạy thật xa,
Khi tôi gặp phải rắc rối.
Nhưng đó đâu phải cách,
Tôi có thể làm hoài
Rồi tôi phải đối mặt
“Phải”chứ không là “sẽ”
Dù chuyện gì có xảy ra
Trong lòng tôi sẽ được giải phóng,
Khỏi những ưu phiền bấy lâu nay…
Trưởng thành là vậy sao?[1]
Cách chung, trưởng thành không có nghĩa là khi chúng ta lớn lên về mặt thể xác thì đương nhiên chúng ta trưởng thành. Nhưng trưởng thành đòi hỏi cần phải có nhiều yếu tố, ở nhiều cấp độ và trên nhiều phương diện khác nhau. Có người trưởng thành về phương diện này nhưng lại chưa trưởng thành về phương diện khác. Chẳng hạn, một người dù đã 40 tuổi nhưng không có khả năng suy luận và phán đoán, thì không thể nào nói là người đó trưởng thành. Nhưng, nếu một người cũng 40 tuổi và có khả năng phán đoán và suy luận, mà lại có một lối sống bê bối, áp dụng sai lệch những phán đoán và suy luận, thì có thể nói người đó mới trưởng thành về mặt thể lý và trí năng, song chưa thực sự trưởng thành về mặt luân lý và tinh thần. Như vậy, người trưởng thành thật sự thì cần phải trưởng thành cả về lý trí và ý chí.
TRƯỞNG THÀNH TRONG ĐỜI TU
Trước tiên, Giáo luật hiện hành đòi hỏi sự trưởng thành ở một mức độ nào đó nơi các ứng sinh trước khi bước vào nhà tập (x. Can. 642). Sự trưởng thành này sẽ giúp cho các ứng sinh đảm nhận nếp sống riêng của tu hội sau này. Tuy nhiên, sau khi khấn, người tu sĩ có trưởng thành hơn và trưởng thành tới mức độ nào là chuyện khác. Cũng vậy, xét về khía cạnh giáo luật, chỉ những tu sĩ khấn trọn mới được xem là những người trưởng thành, là thành viên chính thức của nhà dòng và có quyền để đảm nhận các chức vụ trong dòng (x. Can.623 và 651,1). Nhưng trên thực tế, các tu sĩ đã khấn trọn có thực sự trưởng thành trong đời tu về mặt tâm linh, tình cảm và đời sống cộng đoàn là chuyện khác.
Do đó, trong đời sống tu trì, một tu sĩ không thể được gọi là trưởng thành nếu như họ chưa hiểu được tính chất năng động, phong phú và những mục đích thiết yếu của đời tu là gì. Cũng vậy, giống như trưởng thành ở ngoài đời, một tu sĩ dù đã biết được đâu là đặc tính và bản chất của đời sống tu trì, nhưng lại xao lãng, thiếu thiện chí để đạt tới những mục đích của đời tu, thì tu sĩ đó chưa thực sự trưởng thành trong đời tu. Do đó, một tu sĩ có thể rất trưởng thành về khía cạnh nhân loại (ngoài đời), nhưng không ắt hẳn trưởng thành về khía cạnh tu trì (trong nhà tu)[2].
Sau đây một vài dấu chỉ cho thấy một tu sĩ trưởng thành trong đời tu. Khi một người nào đó quyết định chọn bậc sống tu trì, thì cũng từ lúc này người đó phải học cách biết từ bỏ. Từ bỏ những điều – cả những điều tốt, mà không còn phù hợp với đời sống tu trì. Do đó, cần phải biện phân đâu là những điều tùy phụ và thiết yếu trong đời tu.
Phân biệt đâu là tùy phụ và thiết yếu trong đời tu
Đời sống tu sĩ là một hành trình theo Chúa Kitô qua việc tự nguyện tuyên giữ ba Lời khuyên Phúc âm. Cho nên, sự trưởng thành tu trì cũng là một quá trình tiệm tiến. Vì thế, có thể mới đầu người tu sĩ rất khó phân biệt đâu là những điều tùy phụ và thiết yếu trong đời tu. Nghĩa là, thoạt đầu ta cho những điều thiết yếu là tùy phụ và ngược lại. Rồi trong thực hành, khi không đạt được những điều tùy phụ, người tu sĩ cảm thấy xáo trộn và đau buồn nặng nề. Nhưng dần dà, nhờ ơn Chúa soi sáng, thoát khỏi não trạng tu trì trẻ con, họ có một sự trưởng thành tu trì trong việc phân biệt đâu là là điều thiết yếu và tùy phụ trong đời tu.
Vậy đâu là những điều thiết yếu và tùy phụ trong đời tu? Đó là: “Thiết yếu là phải sống sự tận hiến cho Chúa sao cho thực hiện được mục đích của việc tận hiến ấy. Còn lợi ích và thỏa mãn cá nhân ở đời này chỉ là tùy phụ”[3].
Điều này là bởi vì, khi Chúa ban ơn gọi cho người tu sĩ và khi người tu sĩ đáp trả lại ơn gọi đó, Chúa mời gọi người tu sĩ tận hiến cho Ngài. Trong Kinh Thánh, danh từ consecratio (Latinh) có thể hiểu về hai phía: Thiên Chúa và con người. Từ phía Thiên Chúa: Ngài yêu ai đó, nên đã chọn lựa họ, dành riêng họ cho mình (xc. Gr 1,5). Từ phía con người: ý thức được tiếng gọi của Chúa, đương sự dâng hiến trót đời cho Chúa. Cho nên, trong tiếng Việt, “thánh hiến” muốn nói đến sáng khởi về phía Thiên Chúa; “tận hiến” nói đến sự đáp trả về phía con người. Do đó, không có gì cần thiết và thiết yếu hơn – đối với người đã tận hiến cho Chúa, là đạt tới mục đích của việc tận hiến. Nó vừa là ý muốn của Thiên Chúa (thánh hiến) đáp trả lại của con người qua một bậc sống dành riêng cho Chúa (tận hiến). Kinh nghiệm cho thấy sự bình thản của người tu sĩ trong đời sống tu trì tùy thuộc rất nhiều vào việc họ có thiện chí đạt tới mục đích thiết yếu này không.
Một khi người tu sĩ ý thức và có thiện chí cố gắng đạt tới mục đích thiết yếu của việc tận hiến cho Chúa, thì lúc đó những lợi ích và thỏa mãn riêng tư chỉ là thứ tùy phụ. Và vì nó chỉ là tùy phụ nên sẽ nó có vai trò thứ yếu trong đời sống tu trì. Có hay không thì không quan trọng. Chúng ta lấy ví dụ về một người tu sĩ trưởng thành về phương diện tâm linh – đây là nét nổi bật của đời sống tu trì. Trưởng thành về tâm linh là hành vi cuốn hút con người lao mình về Thiên Chúa, cố gắng hướng tầm mắt và cõi lòng về Thiên Chúa, đó chính là hành vi cao cả và sung mãn nhất của tinh thần – hành vi này chỉ đạo toàn bộ mọi sinh hoạt rộng lớn của người tu sĩ.[4] Một khi người tu sĩ trưởng thành trong chiều sâu tâm linh, thì trong mỗi thái độ hay cử chỉ của họ khi đối diện với những biến cố quan trọng cũng như trong những hoàn cảnh bình thường trong cuộc sống, họ biết sống hết mình với bổn phận của người tu sĩ, còn sự thành công, thất bại tùy thuộc vào Thiên Chúa trong niềm vui và hạnh phúc.[5]
Nhận ra yêu sách chính yếu của đời tu
Như chúng ta biết một trong những đặc điểm nổi bật của người tu sĩ dòng đó là việc tuyên khấn, tuyên giữ ba lời khuyên Phúc âm. Đó là: “Lời khấn tu trì khác hẳn với các lời khấn khác vì nó làm nên một đời sống đặc biệt, thực hành các lời khuyên của Phúc âm và mô phỏng hoàn hảo nhất đời sống trần gian của Chúa Giêsu và tinh thần đã phấn khích Ngài.”[6]
Như vậy, tuyên khấn, đây là một hành vi chứng tỏ lòng quảng đại triệt để, bởi vì trong từng giây phút của cuộc đời dâng hiến, người tu sĩ sẽ sống khoảnh khắc ấy liên tục qua dòng thời gian. Thật ra, người tu sĩ vẫn có thể hy sinh làm điều thiện và lợi ích cho tha nhân vì lòng yêu mến Chúa. Nhưng nếu chỉ dựa trên yếu tố con người thì chưa đủ. Vào những lúc khó khăn, đau buồn, chán nản trong đời tu, người tu sĩ sẽ dễ đánh mất lòng quảng đại và thiện chí. Cho nên, yêu sách chính yếu của sự trưởng thành trong đời tu là: “Ta phải sống tận hiến cho Chúa một cách trung thành có suy luận, được ước muốn, bền vững, bình thản, được đặt trên những lý do siêu nhiên.”[7] Và chỉ có những yêu sách này mới không bao giờ khuyết diện. Cho dầu mọi trở ngại, nhưng những yêu sách đó vẫn hướng dẫn và nâng đỡ người tu sĩ trong hết mọi hoàn cảnh.
Chúng ta vừa nói về sự trưởng thành trong đời tu được thể hiện qua việc phân định đâu là những điều thiết yếu và tùy phụ trong đời tu. Còn một dấu chỉ khác, cũng khá quan trọng, để chỉ cho thấy người tu sĩ trưởng thành trong đời tu: sống ba lời khuyên Phúc âm.
Dấu chỉ nổi bật và minh thị nhất là bình thản và bền vững trong việc tuân giữ ba lời khuyên Phúc âm. Dĩ nhiên, đứng trên phương diện con người, sẽ vẫn có những thiếu sót và yếu đuối trong việc sống ba lời khấn. Nhưng với một tu sĩ trưởng thành, cho dù có gặp những khó khăn, thậm chí hy sinh trong việc tuân giữ ba lời khấn, song họ vẫn sống đời dâng hiến cách vui vẻ, bình thản và trung thành. Một cách cụ thể, với đức khó nghèo, người tu sĩ không chỉ nghiêm chỉnh sống siêu thoát, mà còn thể hiện đức khó nghèo bằng cách đi tìm những tài sản siêu nhiên ngay khi còn sống ở trên đời này. Còn về lời khấn khiết tịnh, sự trưởng thành trong đời tu thường biểu hiện qua sự trưởng thành về mặt tình cảm.
Nghĩa là, người tu sĩ trưởng thành về mặt tình cảm luôn có khả năng của sự độc lập về mặt tình cảm, không lệ thuộc vào tình cảm, tức là không để tình cảm bị chi phối điều khiển bởi cảm giác, nhưng bởi lý trí và ý chí.[8] Cũng vậy, một người tu sĩ trưởng thành thực sự trong đời tu, đặc biệt về mặt tình cảm, họ sẽ biết đặt sự quân bình, hài hòa giữa cảm xúc và lý trí về những biến cố xảy ra trong đời sống tu trì. Do đó, nếu có những biến cố như: chưa được khấn trọn, chưa được thụ phong linh mục, thi rớt,…, người tu sĩ trưởng thành trong đời tu sẽ biết chấp nhận đó là những thất bại, nhận trách nhiệm là của chính mình. Ngược lại, những người thiếu trưởng thành đời tu, sẽ có những phản ứng tiêu cực như nóng nảy, trách móc, than thân trách phận,…
Kế tiếp là về lời khấn tuân phục, người trưởng thành trong đời tu luôn thâm tín rằng vâng phục là thực thi ý Chúa, dù có phải hy sinh nhưng vẫn bình thản. Như chúng ta biết, lời khấn vâng phục luôn mang hai khía cạnh[9]: một khía cạnh tiêu cực và là một khía cạnh tích cực. Khía cạnh tiêu cực hệ tại ở: lời ta đoan hứa với Chúa sẽ tuân phục bề trên chính thức của Hội dòng trong tất cả những điều các vị đó truyền phù hợp với giáo luật và hiến pháp. Còn khía cạnh tích cực là: việc người tu sĩ tận hiến, thánh hiến cho Chúa ý chí của mình như một tài năng tác động mà có khả năng hành động lệ thuộc. Do đó, cả khả năng hành động cùng với các hành vi của nó đều được thánh hiến cho Thiên Chúa. Cho nên, người tu sĩ trưởng thành trong đời tu sẽ hướng tới khía cạnh tích cực của việc tuân phục. Có như vậy, họ sẽ giữ lời khấn cách bình thản và vui vẻ, và sẽ vững vàng hơn trên con đường dâng hiến. Điều này được nói rõ sau: “Bằng việc tuyên hứa lời khấn vâng phục, các tu sĩ hiến tế Thiên Chúa ý muốn riêng mình làm hy sinh, nhờ đó họ được kết hợp mật thiết với ý chí cứu độ của Chúa một cách vững vàng.”[10]
Như chúng ta biết, từ sau Công đồng Vaticanô II, các văn kiện của Tòa thánh về đời sống tu sĩ đều với tựa đề “De Religiosis” (religieux, religiosus). Thật ra, từ này đã xuất hiện từ thời Trung cổ, từ “religiosus” là một tính từ mà nó gắn liền với “religio” (nhân đức thờ phượng), nhằm nhấn mạnh rằng tu sĩ là hiến dâng cho Chúa qua việc phụng thờ Thiên Chúa.[11] Việc phụng thờ Thiên Chúa chỉ được thể hiện khi người tu sĩ biết sống tuân giữ kỷ luật hội dòng và bản thân cách nghiêm ngặt. Hơn thế nữa, đi theo Chúa là một hành trình, cho nên việc tuân giữ kỷ luật hội dòng và bản thân cũng phải được tuân giữ một cách đều đặn và quân bình. Do đó, một dấu chỉ khác cho thấy người tu sĩ trưởng thành trong đời tu là sống tiết độ.
Sống tiết độ
Tiết độ là (moderation) trong tiếng Anh. Từ điển Oxford Advanced Leaner’s Dictionary, Oxford University Press, đã định nghĩa như sau: “The quality of being reasonable and not being extreme”. Còn thế nào là một hành động “moderate”, thì cũng theo từ điển này định nghĩa như sau: “to become or make something become lessmextreme, severe, etc). Như vậy, tiết độ là một việc làm dung hòa cho có chừng mực, và tránh thái quá hoặc bất cập. Để được như vậy, ta phải kìm hãm, xa tránh những xúc cảm và thu hút, tức những kích thích từ nội tại và ngoại tại trong cuộc sống.Và như vậy, tiết độ không phải là nhân đức hay đức tính dễ làm và dễ thực hiện, bởi vì nó trực tiếp liên quan đến cả thể lý, tâm lý và tâm linh con người.
Ngoài ra, “tiết độ là đức tính luân lý giúp ta điều tiết sức lôi cuốn của những lạc thú và sử dụng chừng mực những của cải trần thế. Tiết độ giúp ý chí làm chủ các bản năng và kiềm chế các ham muốn trong tiến hành chính đáng.”[12] Trong Cựu ước khen ngợi đức tiết độ như sau: “Con đừng buông theo tham vọng của con, nhưng hãy kiềm chế các dụng vọng” (Cn 18,30). Còn Tân ước gọi tiết độ là “chừng mực” hay “điều độ”, nghĩa là chúng ta phải sống “chừng mực, công chính và đạo đức ở thế gian này” (Tt 2,12).
Dĩ nhiên, chúng ta không bàn tới ý nghĩa tiết độ trong Cựu ước. Vì đi tu là từ bỏ rồi, từ bỏ những danh vọng lạc thú ở đời này để tìm hạnh phúc đời sau. Ý muốn nhấn mạnh về sự tiết độ ở đây là người tu sĩ cần sống có “chừng mực”, “điều độ” trong đời tu. Sự chừng mực và điều độ này được biểu hiện qua qua rất nhiều khía cạnh như: kỷ luật, kinh nguyện, học hành, ăn uống, ngủ nghỉ,… Nhìn vào thực tế, chúng ta thấy không thiếu những tu sĩ sống không điều độ trong đời tu. Có những người học nhiều quá đến nỗi không nhớ ngày nào thi! Kết quả là cho dù học nhiều nhưng vẫn rớt. Cũng vậy, trong kinh nguyện cần có sự đều đặn hằng ngày. Mặc dù, có những lúc, người tu sĩ cảm thấy chán nản không muốn bước vào nhà nguyện. Không cảm thấy hứng thú gì hết khi nguyện gẫm hay cầu nguyện với Chúa. Nhưng đối với một người tu sĩ trưởng thành, cho dù chán nản, không hứng thú với Chúa trong cầu nguyện, họ vẫn vào nhà nguyện. Họ vẫn nguyện gẫm bởi vì có thể lúc này chán Chúa, nhưng ít ra họ vẫn tuân giữ các giờ đạo đức cách đều đặn.
Vì thế, có thể nói rằng, nếu một người tu sĩ thực sự trưởng thành khi họ sống có quân bình trong kỷ luật, giờ đạo đức, ăn uống, học hành và ngủ nghỉ. Ngược lại, người tu sĩ nào mà có những lúc thì qua đạo đức, đọc kinh rất sốt sắng, nhưng lại bữa có bữa không, thì có thể nói người tu sĩ đó chưa trưởng thành trong đời tu. Bởi vì người tu sĩ trưởng thành không tuân giữ kỷ luật, các giờ đạo đức theo ngẫu hứng: vui thì tuân giữ, buồn thì không. Nhưng người tu sĩ trưởng thành sẽ cố gắng tuân giữ kỷ luật ngay cả trong những lúc chán nản nhất, đau buồn nhất và một cách đều đặn.
Tạm kết
Trưởng thành không đơn giản là sự lớn lên về mặt thể chất mà là sự chín chắn từ trong nhận thức và tư tưởng. Nếu một ngày nào đó một người nào đó chợt nhận ra cuộc đời không chỉ là một màu hồng mà còn đi kèm theo nhiều gam màu khác nữa, nhưng người đó vẫn mỉm cười bước tiếp và biến những khó khăn thành cơ hội để tự hoàn thiện mình, thì lúc đó người đó đã thật sự trưởng thành rồi đấy. Đó một sự trưởng thành ngoài đời, trưởng thành về khía cạnh nhân loại.
Đời tu là một hành trình tiệm tiến đi theo Chúa trên con đường ở trần gian. Trên hành trình này ắt sẽ có những cuộc va chạm, đố kỵ mang tính con người. Do đó, trên hành trình đi theo Chúa, ngoài những những con đường chan chứa niềm vui và hạnh phúc, thì cũng có những con đường đầy bao đau khổ, cô đơn và nước mắt. Bên cạnh con đường mùa xuân với muôn màu hoa nở tươi thắm, vẫn có con đường tàn héo khô cằn của mùa hè nắng cháy. Sẽ có những lúc người tu sĩ cảm nghiệm không khí ấm áp, dễ chịu của mùa thu nhưng cũng đã phải nếm chịu cái rét giá lạnh, cô đơn khi mùa đông về trên con đường đi theo Chúa. Một cách nào đó, khi người tu sĩ nhận ra tất cả những đặc tính khác nhau trên con đường đi theo Chúa, nhưng họ vẫn bình thản vui vẻ đón nhận và chấp nhận, thì người tu sĩ đó có thể được gọi là đã trưởng thành trong đời tu. Nhưng điều quan trọng hơn cả, người tu sĩ trưởng thành thật sự trong đời tu là khi họ biết phân biệt đâu là những điều tùy phụ và thiết yếu trong đời tu. Một khi có sự nhận thức như vậy, họ luôn luôn cố gắng đạt tới những điều thiết yếu, còn những những điều tùy phụ có hay không không quan trọng. Điều thiết yếu là tận hiến cho Chúa cách bền vững và trung thành.
Ngoài ra, người tu sĩ trưởng thành trong đời tu sẽ biểu hiện ra việc bình thản và vui vẻ trong việc tuân giữ ba lời khuyên Phúc âm. Đó biểu hiện minh thị và căn bản nhất của một người tu sĩ trưởng thành. Rồi người tu sĩ trưởng thành cũng cần sống tuân giữ kỷ luật cách đều đặn, ăn uống và nghỉ ngơi có điều độ và chừng mực. Kế tiếp, người tu sĩ trưởng thành trong đời tu còn thể hiện qua mối liên hệ với bề trên, sống đức ái, đời cộng đoàn, và yêu mến tinh thần, đoàn sủng và truyền thống lành mạnh của hội dòng.
Ngày nay chúng ta đang sống trong một xã hội mà đang cần những người làm chứng cho sự hiện diện của Thiên Chúa. Với thực trạng và nhu cầu như vậy, Giáo hội mời gọi những ai theo đuổi ơn gọi tu trì cần phải nhận ra vai trò ngôn sứ của mình để dấn thân làm chứng cho tình yêu dâng hiến và loan báo Tin Mừng cách hiệu quả. Để chu toàn sứ mạng này, đòi hỏi người tu sĩ phải trưởng thành trong ơn gọi của mình, nghĩa là phải được huấn luyện về mọi khía cạnh và phương diện. Người tu sĩ cần phải được huấn luyện về khía cạnh: tri thức, tâm lý và tâm linh để họ trở thành những con người quân bình giữa ý chí và cảm xúc, vững vàng trong ơn gọi của mình, và sẵn sàng đảm nhận những trách nhiệm mục vụ cần thiết cho Giáo hội và xã hội. “Họ cần được giáo dục để biết yêu mến sự thật, để biết trung thành, biết kính trọng mọi người, để có ý thức công bằng, để trung thực trong lời nói, để chân thành cảm thông, để trở thành những con người nhất quán, và đặc biệt là để có sự quân bình trong phán đoán và trong thái độ ứng xử.”[13]
Thật vậy, sự trưởng thành luôn mang tính năng động thúc giục những ai theo đuổi ơn gọi tu trì hướng tới chân trời hoàn thiện. Nó không nhất thiết phát triển theo tuổi tác, mà nó biểu lộ qua sự quân bình của từng cá nhân được huấn luyện theo từng cấp độ, để có những khả năng hiểu biết và thích ứng được sự phát triển trọn vẹn trên bình diện cảm quan, cũng như trên bình diện tri thức. Do đó, việc huấn luyện người tu sĩ trưởng thành trong đời tu là một quá trình liên tục và cả đời. Bất cứ một tu sĩ nào cũng được mời gọi tự huấn luyện mình để trở thành người tu sĩ trưởng thành trong đời tu trong mọi thời điểm.
Bertrand Nguyễn Thanh Hoài
[1] http://yume.vn/bin_bon18/article/truong-thanh-la-gi.35C23338.html.
[2] Xc. Paolo Provera, C.M . Thánh Hiến Cuộc Đời. Bản dịch của Nguyễn Duy Lễ, 259.
[3] Paolo Provera, C.M. Thánh Hiến Cuộc Đời. Bản dịch của Nguyễn Duy Lễ, 262.
[4] Chiều Kích Chiêm Niệm của Đời Tu, số 1.
[5] Tông Huấn Đời Sống Thánh Hiến, số 5.
[6] Paolo Provera, C.M Thánh Hiến Cuộc Đời. Bản dịch của Nguyễn Duy Lễ, 11.
[7] Paolo Provera, C.M Thánh Hiến Cuộc Đời. Bản dịch của Nguyễn Duy Lễ, 263.
[8] Xc. Charles Serrao, OCD. Biện Phân Ơn Gọi Tu Trì – Đào Tạo Hướng Đến Sự Thay Đổi. Bản dịch Lm. Dom. Nguyễn Đức Thông. CssR, 105.
[9]Xc. Paolo Provera, C.M Thánh Hiến Cuộc Đời. Bản dịch của Nguyễn Duy Lễ, 173.
[10] PC, 14
[11] Xc. Phan Tấn Thành. Giải Thích Giáo Luật tập 2, 390.
[12] GLCG, số 1809.
[13] PDV số 43
