Aenean nec eros. Vestibulum ante ipsum primis in faucibus orci luctus et ultrices posuere cubilia curae. Suspendisse sollicitudin velit sed leo.

Chuyên mục
  • Bài giảng
  • Các loại khác
  • Chia sẻ
  • Chưa phân loại
  • GH Hoàn Vũ
  • GH Việt Nam
  • Giáo dục
  • Hạnh các Thánh
  • HĐGM Việt Nam
  • Kinh Thánh
  • Phim giáo dục
  • Phụng vụ
  • Sách
  • Suy niệm Chúa nhật
  • Suy niệm hàng ngày
  • Tài liệu giáo dục
  • Tài liệu phụng vụ
  • Thần học
  • Thánh ca
  • Thánh lễ
  • Thánh lễ trực tuyến
  • Thư chung
  • Thư viện
  • Tin tức
  • Triết học
  • Tư liệu
  • UBGD Công giáo
  • Video
From Gallery
Stay Connected
UyBanGiaoDucHDGM.net
  • Trang chủ
  • Thư chung
    • HĐGM Việt Nam
    • UBGD Công giáo
  • Tin tức
    • GH Việt Nam
    • GH Hoàn Vũ
  • Phụng vụ
    • Thánh lễ
    • Thánh lễ trực tuyến
    • Suy niệm hàng ngày
    • Suy niệm Chúa nhật
    • Tài liệu phụng vụ
  • Giáo dục
    • Chia sẻ
    • Tài liệu giáo dục
  • Thư viện
    • Sách
      • Kinh Thánh
      • Triết học
      • Thần học
      • Các loại khác
    • Video
      • Bài giảng
      • Thánh ca
      • Phim giáo dục
      • Hạnh các Thánh
      • Tư liệu
  • Liên hệ
Give Online

Danh mục: Tài liệu giáo dục

Home / Giáo dục / Tài liệu giáo dục
04Tháng Bảy
2023

CẨM NANG HƯỚNG DẪN SỐNG HẠNH PHÚC CỦA ĐỨC THÁNH CHA PHANXICÔ

04/07/2023
Anmai
Giáo dục, Tài liệu giáo dục
0

CẨM NANG HƯỚNG DẪN SỐNG HẠNH PHÚC CỦA ĐỨC THÁNH CHA PHANXICÔ

Vào tháng 11.2022, Đức Thánh Cha Phanxicô đã xuất bản một cuốn sách bằng tiếng Ý có tựa đề “Ti voglio felice. Il centuplo in questa vita – Tôi muốn bạn hạnh phúc: Gấp trăm lần trong cuộc đời này”. Với 8 chương, cuốn sách bao gồm những suy tư và ý tưởng chính của Đức Thánh Cha như là cẩm nang nhằm giúp mọi người sống hạnh phúc hơn.

 

CẨM NANG HƯỚNG DẪN SỐNG HẠNH PHÚC
CỦA ĐỨC THÁNH CHA PHANXICÔ

Isabella H. de Carvalho

WHĐ (27.06.2023) – Vào tháng 11.2022, Đức Thánh Cha Phanxicô đã xuất bản một cuốn sách bằng tiếng Ý có tựa đề “Ti voglio felice. Il centuplo in questa vita – Tôi muốn bạn hạnh phúc: Gấp trăm lần trong cuộc đời này”. Với 8 chương, cuốn sách bao gồm những suy tư và ý tưởng chính của Đức Thánh Cha như là cẩm nang nhằm giúp mọi người sống hạnh phúc hơn.

Dưới đây là 10 phương thế để sống hạnh phúc hơn được rút ra từ tập sách của Đức Thánh Cha:

1. Hãy trở nên thánh thiện bằng việc để mình được tự do!

Trong chương thứ nhất có tiêu đề: “Hạnh phúc là một món quà được lãnh nhận”, Đức Thánh Cha giải thích:

“Đừng sợ trở nên thánh thiện. Sự thánh thiện sẽ không lấy đi năng lượng, sức sống hay niềm vui của bạn. Trái lại, bạn sẽ trở thành người mà Chúa Cha đã nghĩ đến khi dựng nên bạn, và bạn sẽ trở nên trung thực với chính con người sâu xa nhất của mình”.

Theo ngài, để nên thánh, chúng ta phải thoát khỏi những điều đang trói buộc chúng ta trong cuộc sống.

“Rất nhiều lần chúng ta nghĩ về sự thánh thiện như một điều phi thường, giống như có những thị kiến hoặc những lời cầu nguyện rất cao siêu. […] Trái lại, nên thánh là một điều gì đó rất khác: Đó là tiến tới sự thánh thiện, tiến tới ánh sáng, và tiến tới ân sủng được ban tặng cho chúng ta. […] Nhưng để bước đi như vậy, cần phải được tự do và cảm thấy tự do, thay vì quá nhiều thứ biến chúng ta thành nô lệ”.

2. Đặt máy định vị (GPS) của bạn hướng tới một điểm đến tuyệt vời: hướng lên cao!

Đức Thánh Cha khuyến khích chúng ta nên có những khát vọng lớn lao và đừng sa lầy vào những vấn đề của trần thế, bởi vì “Thiên Chúa không bao giờ ngừng tin tưởng bạn, dù chỉ một giây” do đó, bạn cũng đừng bao giờ ngừng tin tưởng bản thân mình. Bạn có thể tự vấn: “Tại sao tôi phải nỗ lực hết sức để làm những điều người khác không tin”? Hoặc: “Làm sao tôi có thể ‘bay lên’ trong một thế giới dường như không ngừng bị ghì xuống bởi những vụ bê bối, chiến tranh, gian lận, bất công, hủy hoại môi trường, sự thờ ơ với những người cần được giúp đỡ, vỡ mộng trước những người lẽ ra phải làm gương? Đối diện với những câu hỏi này, thì đâu là câu trả lời?”

Đức Thánh Cha khích lệ: “Bạn chính là câu trả lời. Chính bạn, hỡi các anh chị em của tôi”.

“Này các bạn, các bạn không được dựng nên để ‘sống qua ngày’, để dành cả ngày cho việc cân bằng giữa bổn phận và ý thích; các bạn được dựng nên để bay vút lên cao. […] Các bạn sẽ nhận ra điều này khi ngước nhìn lên trời lúc cầu nguyện, và nhất là khi chiêm ngưỡng Chúa Giêsu trên thập giá. Các bạn sẽ nhận ra rằng, từ trên thập giá Chúa Giêsu không bao giờ lên án nhưng ôm lấy bạn và khích lệ bạn, bởi vì Người tin tưởng bạn ngay cả những khi bạn không còn tin tưởng vào chính mình. […] Hãy đặt máy định vị của cuộc đời bạn hướng tới một điểm đến tuyệt vời: hướng lên cao!

3. Bơi ngược dòng nhưng không chống lại người khác

Trong một thế giới mà sự chia rẽ về chính trị, xã hội, văn hóa và kinh tế tạo ra những bè phái ngày càng đối nghịch nhau, Đức Thánh Cha kêu gọi chúng ta “hãy tìm kiếm sự can đảm mà chúng ta cần để bơi ngược dòng” và trở nên giống Chúa Giêsu hơn.

“Thử thách hàng ngày không phải là bơi ngược dòng chống lại người khác, giống như kiểu của những người luôn cho mình là nạn nhân, những người theo thuyết âm mưu, và những người luôn đổ lỗi cho người khác; mà là chống lại dòng chảy tai hại của tính ích kỷ, khép kín và cứng nhắc của chính mình, vốn thường tìm kiếm những nhóm người có cùng chí hướng để tồn tại. Không phải chống lại người khác nhưng, thay vào đó, là bơi ngược dòng để trở nên giống Chúa Giêsu hơn. Vì Chúa Giêsu dạy chúng ta hãy đối phó với cái ác chỉ bằng sức mạnh dịu dàng và khiêm tốn của điều tốt. […] Tôi khuyến khích các bạn hãy là những nhà cách mạng, hãy lội ngược dòng; và hãy nổi dậy chống lại nền văn hóa coi mọi thứ là nhất thời và rốt cuộc là tin rằng bạn không có khả năng chịu trách nhiệm, không có khả năng yêu thương thực sự. […] Nhưng hãy can đảm để trở nên hạnh phúc”.

4. Hãy giữ cho ngọn lửa yêu mến Đức Kitô luôn sống động

Đức Thánh Cha khuyến khích đừng quên cảm giác lần đầu tiên chúng ta “phải lòng với Chúa Giêsu” và hãy quay trở lại với cảm giác đó trong những lúc khó khăn.

“Chúa không muốn những người nam, nữ miễn cưỡng đi theo Người mà trong lòng không có chút niềm vui nào. Chúa Giêsu muốn người ta hiểu rằng được ở với Người mang lại niềm hạnh phúc vô biên, niềm hạnh phúc có thể được đổi mới mỗi ngày trong cuộc đời chúng ta. […] Chúng ta trở thành những người rao giảng của Chúa Giêsu không phải bằng cách mài giũa vũ khí hùng biện: Bạn có thể nói, nói, và nói… nhưng nếu không còn điều gì khác…. Thì làm sao chúng ta có thể trở thành những người rao giảng về Chúa Giêsu? Bằng cách giữ cho đôi mắt của chúng ta lấp lánh hạnh phúc đích thực”.

Ngài giải thích:

“Vì lý do này, giống như Đức Trinh Nữ Maria, Kitô hữu hãy giữ cho ngọn lửa tình yêu của mình sống động: đó là yêu mến Chúa Giêsu. Chắc chắn cuộc sống luôn có đó những thử thách; nhưng chúng ta vẫn cần phải tiến lên cho dù lạnh giá, gió ngược, và nhiều cay đắng. Các Kitô hữu biết con đường dẫn đến ngọn lửa thánh thiêng đã bừng cháy nơi họ một lần và mãi mãi”.

5. Học cách phân biệt tiếng của Thiên Chúa và tiếng của ma quỷ

Đức Thánh Cha cho chúng ta một số lời khuyên về cách phân biệt giữa tiếng Thiên Chúa thúc giục chúng ta làm điều tốt và tiếng ma quỷ cố gắng cám dỗ chúng ta làm điều ác.

“Người ta có thể học cách phân biệt hai tiếng nói này: Thiên Chúa và ma quỷ nói hai ngôn ngữ khác nhau, nghĩa là Thiên Chúa và ma quỷ có những cách trái ngược nhau để gõ cánh cửa trái tim của chúng ta.

Tiếng của Thiên Chúa không bao giờ ép buộc: Thiên Chúa tự đề xuất, và không áp đặt chính mình. Trái lại, tiếng của ma quỷ dụ dỗ, tấn công, cưỡng ép: Nó khơi dậy những ảo tưởng chói lọi, những cảm xúc đầy hấp dẫn nhưng thoáng qua. […] Tiếng của Thiên Chúa là tiếng nói có chân trời, trong khi tiếng nói của ma quỷ dẫn đến chân tường, dồn bạn vào một góc”.

Ngoài ra, ngài giải thích rằng ma quỷ “muốn chúng ta tập trung vào nỗi sợ hãi về tương lai hoặc nỗi buồn về quá khứ” trong khi Thiên Chúa nói với chúng ta về hiện tại và truyền cảm hứng giúp chúng ta tiến bước.

Cuối cùng, ngài nói thêm rằng Thiên Chúa và ma quỷ sẽ gợi ra những câu hỏi khác nhau trong tâm trí chúng ta: Thiên Chúa sẽ hỏi: “Điều gì tốt cho tôi?” trong khi nhiều khả năng ma quỷ sẽ hỏi: “Tôi cảm thấy muốn làm gì?”

6. Hãy nhớ rằng đối lập với “Tôi” là “Chúng ta”, không phải “Bạn”

Đức Thánh Cha cũng cho chúng ta một cách khác để suy nghĩ và liên hệ với những người xung quanh chúng ta — bằng cách xem họ như những đối tác tiềm năng để cùng xây dựng một cộng đoàn hòa bình, thay vì những kẻ thù riêng lẻ.

“Kinh thánh cho chúng ta biết rằng những giấc mơ vĩ đại là những giấc mơ có khả năng đơm hoa kết trái, có khả năng gieo rắc hòa bình, tình huynh đệ, niềm vui, giống như hôm nay: ngay tại đây, đó là những giấc mơ vĩ đại vì coi mọi người như là ‘chúng ta’. Một lần kia, có một linh mục hỏi tôi: “Hãy cho con biết, từ đối lập với ‘Tôi’ là gì. Và tôi đã ngây thơ rơi vào cái bẫy và nói rằng ‘ngược lại với “Tôi” là “Bạn”‘ – ‘Không, thưa Đức Thánh Cha: Đây là mầm mống của chiến tranh. Đúng ra, ngược lại với “Tôi” là “Chúng ta”’. Nếu tôi nói: Đối lập với “Tôi” là “Bạn”, tôi tạo ra chiến tranh; nếu tôi nói đối lập với ích kỷ của bản thân là “chúng ta”, thì tôi tạo ra hòa bình; tôi tạo ra cộng đoàn, tôi mang đến những giấc mơ về tình bạn, về hòa bình”.

“Chúng ta đừng từ bỏ những giấc mơ vĩ đại. Chúng ta đừng chỉ giải quyết những gì là cần thiết. Chúa không muốn chúng ta thu hẹp tầm nhìn của mình hoặc dừng lại bên vệ đường cuộc đời. Ngài muốn chúng ta dũng cảm và vui vẻ chạy đua hướng tới những mục tiêu cao cả. Chúng ta không được dựng nên để mơ về những kỳ nghỉ hay những ngày cuối tuần, nhưng để biến những giấc mơ của Thiên Chúa thành hiện thực trên thế giới này. Thiên Chúa ban cho chúng ta có khả năng ước mơ, để chúng ta có thể đón nhận vẻ đẹp của cuộc sống”.

7. Hãy tiến về miền Galilê!

Đức Thánh Cha dùng ví dụ về các môn đệ đi đến Galilê sau khi Đức Kitô phục sinh như một sự khích lệ đối với chúng ta về một đức tin sống động và tích cực tiến về phía trước và không bám chặt vào quá khứ.

“Những người phụ nữ đang tìm Chúa Giêsu tại ngôi mộ; họ đến đây để nhớ lại những gì họ đã trải nghiệm với Người, mà giờ đây đã qua đi mãi mãi. […] Có một loại đức tin có thể trở thành ký ức về một điều gì đó đã từng tốt đẹp, giờ đây chỉ còn là sự hồi tưởng. Nhiều người – trong đó có chúng ta – trải qua một ‘đức tin về ký ức’ như thể Chúa Giêsu là một người nào đó trong quá khứ […]. Một đức tin được hình thành từ những thói quen, những điều từ quá khứ, những kỷ niệm thời thơ ấu đáng yêu, nhưng không còn là một đức tin lay động bản thân hay thách thức bản thân nữa. Trái lại, đi đến Galilê có nghĩa là nhận ra rằng đức tin, nếu là một đức tin sống động, thì phải thúc giục bản thân phải lên đường trở lại. Đức tin phải đổi mới hàng ngày những bước đầu tiên của cuộc hành trình, sự ngạc nhiên của cuộc gặp gỡ đầu tiên. Và đức tin phải tiếp tục tin tưởng, không nghĩ rằng mình đã biết tất cả, nhưng chấp nhận sự khiêm tốn của những người để cho mình ngạc nhiên trước đường lối của Thiên Chúa. Chúng ta thường sợ hãi trước những điều ngạc nhiên của Thiên Chúa. […] Vậy thì chúng ta hãy đến Galilê để khám phá ra rằng Thiên Chúa không thể bị cất đi trong ký ức tuổi thơ của chúng ta, nhưng Ngài đang sống động và đầy bất ngờ”.

Đức Phanxicô nhấn mạnh Galilê không phải là một nơi hư cấu mà là bối cảnh cuộc sống của chúng ta: “Chúa Phục Sinh đang mời gọi các môn đệ của Người hãy đến đó ngay bây giờ: Người yêu cầu chúng ta hãy đến Galilê, đến ‘Galilê’ đích thực của cuộc sống hàng ngày, đến những con đường chúng ta đi lại hàng ngày, những ngóc ngách của thành phố chúng ta. Ở đó, Chúa đi trước chúng ta và hiện diện trong cuộc sống của những người xung quanh chúng ta, những người chia sẻ cuộc sống hàng ngày, nơi ở, công việc, khó khăn và hy vọng của chúng ta”.

8. Hãy thương xót (vì bạn cần được xót thương)

Đức Thánh Cha nhắc nhở chúng ta rằng chúng ta cần phải có lòng thương xót đối với người khác bởi vì chúng ta cũng cần được xót thương và chúng ta sẽ bị phán xét dựa trên lòng thương xót.

“Vậy tôi xin các bạn hãy tái khám phá những việc làm thương xót về mặt thể lý: cho kẻ đói ăn; cho kẻ khát uống; cho kẻ rách rưới ăn mặc; viếng kẻ liệt cùng kẻ tù rạc; cho khách đỗ nhà; chuộc kẻ làm tôi; và chôn xác kẻ chết. Đồng thời, chúng ta cũng đừng coi thường những việc làm thương xót về đàng thiêng liêng: lấy lời lành mà khuyên người; mở dậy kẻ mê muội; yên ủi kẻ âu lo; răn bảo kẻ có tội; tha kẻ dể ta; nhịn kẻ mất lòng ta; và cầu cho kẻ sống và kẻ chết”.

Đức Thánh Cha giải thích:

“Như bạn có thể thấy, lòng thương xót không chỉ bao hàm việc trở thành một ‘người tốt cũng không phải chỉ là sự đa cảm. Nhưng lòng thương xót là thước đo tính xác thực của chúng ta với tư cách là môn đệ của Chúa Giêsu, và tính khả tín của chúng ta với tư cách là Kitô hữu trong thế giới ngày nay”.

“Lòng thương xót của Thiên Chúa là sự giải thoát và là hạnh phúc của chúng ta. Sống trong lòng thương xót, và vì thế, chúng ta không thể không có lòng thương xót. Lòng thương xót là không khí mà chúng ta hít thở nên đừng trở nên quá nghèo nàn để có thể đặt ra bất kỳ điều kiện nào. Chúng ta cần phải tha thứ vì chúng ta cần được thứ tha”.

9. Chúng ta chỉ có thể mang lên Thiên đàng những gì mình đã chia sẻ với người khác

“Bạn không thể làm tôi hai chủ: Thiên Chúa và tiền của”, Đức Thánh Cha lặp đi lặp lại nhiều lần trong chương thứ IV, có tiêu đề “Hạnh phúc không phải chỉ là sống qua ngày”. Ngài mời gọi chúng ta đừng đặt tất cả sự an toàn của mình vào của cải trần thế.

“Một tâm hồn xao xuyến vì ham muốn của cải là một con tim đầy khao khát của cải nhưng trống rỗng về Thiên Chúa. Đó là lý do tại sao Chúa Giêsu thường cảnh báo những người giàu có, bởi vì họ rất mạo hiểm khi đặt sự an toàn của mình vào của cải thế gian này, trong khi đó, sự an toàn, sự an toàn tối hậu, là ở nơi Thiên Chúa”.

“Nếu mỗi người chúng ta làm giàu không phải cho riêng mình mà là để phục vụ người khác, thì trong trường hợp này, trong hành động liên đới này, sự quan phòng của Thiên Chúa trở nên hữu hình. Nhưng nếu một người chỉ tích lũy cho riêng mình, thì điều gì sẽ xảy ra khi họ được Thiên Chúa gọi ra khỏi đời này? Chẳng ai có thể mang theo tài sản của mình, bởi vì – như bạn biết đấy – tấm khăn liệm không có túi! Chia sẻ luôn luôn tốt hơn, vì chúng ta chỉ có thể mang theo mình lên Thiên đàng những gì chúng ta đã chia sẻ với người khác”.

10. Mỗi ngày hãy nhớ rằng Thiên Chúa yêu thương bạn

Đức Thánh Cha nhấn mạnh:

“Thiên Chúa yêu chúng ta nhiều đến nỗi Ngài vui mừng và hài lòng về chúng ta. Ngài yêu chúng ta bằng tình yêu nhưng không, nghĩa là một tình yêu vô hạn và không mong được đền đáp.

Sự thật tiên quyết mà tôi muốn nói với từng người trong các bạn là: ‘Thiên Chúa yêu thương bạn’. Dù bạn đã nghe hay chưa về điều này thì cũng không có gì khác biệt. Tôi muốn nhắc bạn về rằng: Thiên Chúa yêu thương bạn. Đừng bao giờ nghi ngờ điều này, bất kể điều gì có thể xảy đến với bạn trong cuộc sống. Trong mọi khoảnh khắc, bạn đều được Thiên Chúa yêu thương vô hạn”.

Nt. Anna Ngọc Diệp, OP
Dòng Đa Minh Thánh Tâm

Read More
04Tháng Bảy
2023

ĐỂ TRÁNH NHỮNG XUNG KHẮC VỢ CHỒNG KHI CHĂM SÓC CHA MẸ GIÀ

04/07/2023
Anmai
Giáo dục, Tài liệu giáo dục
0

ĐỂ TRÁNH NHỮNG XUNG KHẮC VỢ CHỒNG KHI CHĂM SÓC CHA MẸ GIÀ

Ai trong chúng ta có được hạnh phúc khi trưởng thành mà vẫn còn cha mẹ? Ai trong chúng ta có được hạnh phúc để báo hiếu cha mẹ trong tuổi già của các ngài, dù đó là về vật chất, y tế, hoặc tình cảm? Ai trong chúng ta gặp phải mâu thuẫn giữa việc chăm sóc cha mẹ già yếu với việc chăm lo cho gia đình của riêng mình?Nếu câu trả lời đều là “Có” thì những chia sẻ dưới đây có thể là một gợi ý hữu hiệu cho chúng ta trong hoàn cảnh thực tế của mình.

 

ĐỂ TRÁNH NHỮNG XUNG KHẮC VỢ CHỒNG
KHI 
CHĂM SÓC CHA MẸ GIÀ

Marie Lucas

WHĐ (29.06.2023) – Ai trong chúng ta có được hạnh phúc khi trưởng thành mà vẫn còn cha mẹ? Ai trong chúng ta có được hạnh phúc để báo hiếu cha mẹ trong tuổi già của các ngài, dù đó là về vật chất, y tế, hoặc tình cảm? Ai trong chúng ta gặp phải mâu thuẫn giữa việc chăm sóc cha mẹ già yếu với việc chăm lo cho gia đình của riêng mình?Nếu câu trả lời đều là “Có” thì những chia sẻ dưới đây có thể là một gợi ý hữu hiệu cho chúng ta trong hoàn cảnh thực tế của mình.

Khi cha mẹ già yếu, không còn khả năng tự lập được nữa, thì việc con cái đã trưởng thành cần phải nâng đỡ cha mẹ là điều tất nhiên. Dù thế, theo Geneviève de Leffe, một chuyên viên tư vấn hôn nhân: “Việc chọn chăm sóc, lưu tâm tới những lựa chọn, quản lý tiền bạc, lo các thủ tục hành chính, sắp xếp việc đi lại, nghỉ dưỡng cho cha mẹ già, thường là tốn rất nhiều thời gian của chúng ta”. Nếu vậy thì, chúng ta phải dung hoà thế nào trong việc chăm sóc cha mẹ và quan tâm đến người bạn đời của mình? Đây là một vấn đề tế nhị và thực tế. Cần nhạy cảm với những dấu hiệu khó khăn trong mối tương quan để tránh hiệu ứng “nồi áp suất” và giữ cho hôn nhân không bị rạn nứt.

Đề phòng với tình trạng quá tải cảm xúc

Có một mối nguy hiểm đó là tình trạng quá tải cảm xúc. Theo lời kể của Pauline: “Chồng tôi chỉ trích tôi là người quá lệ thuộc vào tình cảm của cha mẹ. Anh ấy cảm thấy khó đối diện với việc tôi luôn phải chăm sóc cha mẹ mình”. Pauline là người hết mực yêu quý bố mẹ, nên nhiều lúc cảm thấy bị giằng co giữa hai tình yêu của đời mình: chồng và cha mẹ già.

Đôi khi, hình thức dính bén mang tính cảm xúc này bị cường điệu hóa, dựa trên bổn phận của sự hiếu thảo đối với cha mẹ, trong đó người bạn đời chỉ can dự rất ít. Chuyên gia tư vấn hôn nhân nhận xét:

“Trong những trường hợp như vậy, người chồng/vợ thường lưu tâm đến thực tế là người bạn đời của mình đa mang quá nhiều việc. Điều này trước hết dẫn đến nhiều cuộc cãi vã và dần khiến hôn nhân của họ ngày càng lòng lẻo, thậm chí đến mức bị gãy đổ”.

Một khó khăn khác có thể xảy ra là sự tập trung thái quá của cả hai vợ chồng vào việc chăm sóc cha mẹ. Ở vào thời điểm mà hôn nhân thường bị suy yếu vì con cái lớn khôn và sống xa nhà, đôi vợ chồng bù đắp cho sự trống vắng này bằng cách chăm sóc cha mẹ già quá mức. Điều này là không lành mạnh và có thể khiến cặp đôi xao lãng trong việc giữ gìn mối tương quan hôn nhân lành mạnh của chính họ.

Cuối cùng, có nguy cơ thực sự dẫn đến cuộc sống song song vào thời điểm cụ thể này. Florence nhớ lại: “Gần đây, mẹ tôi cần sự hiện diện của tôi nhiều hơn. Tôi mệt mỏi cả về thể chất lẫn tinh thần đến nỗi không còn đủ sức để nói chuyện với, Thomas, chồng mình nữa”. Ngoài ra, việc dành hết sự quan tâm cho cha mẹ già có thể chiếm hết tâm trí của bạn, gây ra sự lo âu và mất kiên nhẫn đối với người chồng/vợ của bạn. Pauline thừa nhận một cách rõ ràng: “Việc chăm sóc cha mẹ khiến tôi trở nên cáu kỉnh, hung hãn, và mệt mỏi cả về thể chất lẫn tinh thần”.

Thật khó để có một sự hiện diện phù hợp với cha mẹ già vì điều này có thể dễ dàng dẫn đến việc trở nên đồng phụ thuộc hoặc xung đột. Nhà tham vấn hôn nhân giải thích: “Trong cả hai trường hợp, đều có tác động tiêu cực đến hôn nhân, khiến người bạn đời cảm thấy bị xa cách hoặc bất lực trước sự trung thành đối lập nhau bị đe dọa”.

Vậy thì chúng ta có thể làm gì?

Đối với Pauline, điều cần thiết là phải phản ứng kịp thời trước những dấu hiệu thoạt đầu cho thấy người bạn đời của mình không thoải mái khi mình dành thời gian chăm sóc cha mẹ già. Ngay khi bạn cảm thấy chồng/ vợ mình không thể chịu đựng được nữa, bạn cần điều chỉnh lại cách sắp xếp mọi thứ. Bạn có thể thử cải thiện khả năng trao đổi, gọi điện thoại cho vợ/chồng mình khi xa nhau. Và, tất nhiên, bạn cần lắng nghe Chúa Thánh Thần!

Thật vậy, sự giao tiếp và sắp xếp rất quan trọng. Jehanne, người cũng rơi vào tình huống khó khăn này, cho biết.

“Miễn là bạn nói ra rằng có những điều hiệu quả và có những điều không hiệu quả, nhờ đó, sẽ có thể làm chủ tình hình. Sự sắp xếp cũng giúp ngăn mọi thứ vượt khỏi tầm kiểm soát. Ví dụ, trong nhà của chúng tôi, mỗi chúng tôi đều chăm sóc mẹ của mình và mỗi người đưa ra quyết định với anh chị em ruột của mình mà không gây ra sự xáo trộn”.

Đối thoại, thích nghi, thực tế, và cầu nguyện

Trong vai trò là người tham vấn hôn nhân, Leffe đưa ra lời khuyên:

Bước đầu tiên là tham gia đối thoại như là một người chồng/vợ, thể hiện cảm xúc và tình cảm của mình, điều này đôi khi có thể nảy sinh mâu thuẫn nhưng sẽ giúp cặp đôi hiểu nhau hơn. Việc đối thoại tạo điều kiện cho mỗi người bộc lộ tâm tư, nhún nhường một chút, và do đó, hiểu rõ hơn về nhu cầu thực sự của cha mẹ bạn.

Bạn cũng cần phải biết cách thích nghi. Mọi thứ đều mở ra trước mắt: cuộc sống nghề nghiệp, các mối tương quan, bệnh tật, tuổi già… Đừng tự mình bám víu vào một chế độ chăm sóc cụ thể. Bạn có thể phải tự cải thiện các giải pháp mới nếu cần.

Điều cần thiết nữa là xác định và nhận thức được thời gian thực sự cần dành cho cha mẹ già, và tác động của thời gian đó đối với người bạn đời, và đối với cuộc sống của cặp vợ chồng. Và hãy nhớ yêu cầu sự giúp đỡ và chấp nhận giới hạn của chính mình.

Cậy trong vào Chúa qua cầu nguyện

Cuối cùng, điều quan trọng là cùng nhau dành thời gian chất lượng cho cha mẹ già, cho người bạn đời, và cho cả gia đình. Chúng ta không nên quên nhận sự giúp đỡ khi cần, dù là với tư cách cá nhân hoặc như một đôi vợ chồng. Các nhà trị liệu, các nhóm hỗ trợ và các chuyên viên có thể giúp chúng ta tìm thấy sự thoải mái ,và trên hết, giúp chúng ta tìm ra cách sống tốt đẹp hơn trong mối tương quan của chúng ta với cha mẹ lẫn người bạn đời của mình.

Cuối cùng, điều thiết yếu là phải thường xuyên cầu nguyện xin sự nâng đỡ của ơn thánh. Chắc chắn, mọi thứ sẽ dần trở nên rõ ràng hơn.

Trên tất cả, chúng ta cần nhắc nhớ mình rằng: Việc dành thời gian chăm sóc cha mẹ già chỉ là một giai đoạn trong cuộc đời. Chẳng bao lâu nữa, cha mẹ chúng ta sẽ hoàn tất hành trình cuộc đời, và đến lượt mình, chúng ta cũng đến lúc chuẩn bị lên đường về nhà Cha.

Nt. Anna Ngọc Diệp, OP
Dòng Đa Minh Thánh Tâm

Read More
03Tháng Bảy
2023

Người môn đệ Chúa Giêsu và mạng xã hội

03/07/2023
Anmai
Giáo dục, Tài liệu giáo dục
0
Người môn đệ Chúa Giêsu và mạng xã hội
Ngày 28 tháng 05 năm nay 2023, lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống, Bộ Truyền Thông của Tòa thánh Vatican chính thức công bố tài liệu có tựa đề Hướng tới sự hiện diện tròn đầy: một suy tư mục vụ về việc tham gia vào truyền thông xã hội. Đây là một tài liệu khá dài, gồm 82 số, chia thành 4 phần chính: (1) Cảnh giác với những cạm bẫy trên các xa lộ kỹ thuật số; (2) Từ nhận thức tới gặp gỡ thực; (3) Từ sự gặp gỡ tới cộng đồng; (4) Một phong cách đặc sắc.
Tài liệu không phải là một nghiên cứu và hướng dẫn về kỹ thuật nhưng là một suy tư mục vụ về việc nên tham gia mạng xã hội như thế nào, “một suy tư chung về các kinh nghiệm kỹ thuật số, khuyến khích các cá nhân lẫn các cộng đoàn có một cách tiếp cận đầy tính sáng tạo và xây dựng, củng cố một nền văn hóa tương thân tương ái” (số 5).
Để được như thế, Tài liệu chọn dụ ngôn Người Samari nhân hậu trong Tin Mừng Luca làm ánh sáng soi đường dẫn lối những suy tư. Về mặt kỹ thuật, nếu so sánh thời Chúa Giêsu sống và thời đại ngày nay, dĩ nhiên có sự cách biệt rất lớn. Ngày xưa, Chúa Giêsu rao giảng trực tiếp, giữa thiên nhiên, không thính phòng, không hệ thống âm thanh; ngày nay hoàn toàn khác với những phương tiện truyền thông ngày càng hiện đại. Thế nhưng Lời Chúa là Lời vĩnh cửu cho con người ở mọi nơi mọi thời, vì thế dụ ngôn Chúa kể xưa kia vẫn là nguồn sáng soi dẫn các môn đệ Chúa ngày nay trên xa lộ kỹ thuật số, để sự hiện diện và tham gia của chúng ta góp phần làm cho thế giới kỹ thuật số “nhân bản” hơn.
Thật vậy, một đàng mạng xã hội ngày nay mở ra cho con người những tương tác mới nhưng đàng khác lại có nguy cơ đẩy chúng ta vào một thế giới phân cực và phân mảnh: “Sự phân hóa trên mạng xã hội đang trở nên gay gắt hơn bao giờ. Các nền tảng vốn hứa hẹn xây dựng cộng đồng và mang thế giới lại gần nhau hơn hóa ra lại đào sâu thêm các hình thức chia rẽ khác nhau” (số 12). Một đàng mạng xã hội tràn ngập các thông tin và hình ảnh luôn mới mẻ, đàng khác lại có nguy cơ đẩy chúng ta đến tình trạng quá tải thông tin, làm chúng ta dễ mất tập trung và mất dần khả năng suy tư sâu sắc: “Nền văn hóa kỹ thuật số có một thách thức đáng kể về nhận thức, đó là chúng ta mất khả năng suy nghĩ sâu sắc và có hướng đích. Chúng ta lướt qua bề mặt và vẫn ở trên cạn, thay vì suy ngẫm sâu xa các thực tại” (số 33).
Để vượt lên trên nghịch lý này, cần có thái độ lắng nghe trong tĩnh lặng: “Trong các môi trường giáo dục hoặc công việc cũng như trong các gia đình và cộng đồng, ngày càng có nhu cầu tách mình ra khỏi các thiết bị kỹ thuật số. “Sự thinh lặng” trong trường hợp này có thể được so sánh với một “sự giải độc kỹ thuật số”, không chỉ đơn giản là một sự rút lui mà là một cách để gắn kết sâu xa hơn với Thiên Chúa và với người khác” (số 34). Nhờ sự lắng nghe ấy, chúng ta có thể đi vào cuộc gặp gỡ chân thực với người khác và xây dựng tình liên đới: “Việc sử dụng mạng xã hội bổ sung cho một cuộc gặp gỡ bằng xương bằng thịt, cuộc gặp gỡ ấy trở nên sống động qua thân thể, trái tim, đôi mắt, ánh nhìn và hơi thở của người kia. Nếu mạng được dùng như một sự mở rộng hay một sự kỳ vọng một cuộc gặp gỡ như vậy, thì khái niệm mạng không bị phản bội và vẫn là một nguồn lực cho sự hiệp thông” (số 47).
Với tình hiệp thông và liên đới, chúng ta tham gia mạng xã hội để chữa lành và hòa giải thay vì kích động hận thù và hủy diệt lẫn nhau: “Tất cả chúng ta có thể là kẻ bỏ đi qua trên xa lộ kỹ thuật số – chỉ đơn giản là “được kết nối” – hoặc chúng ta có thể làm điều gì đó giống như người Samari kia, cho phép các kết nối phát triển thành những cuộc gặp gỡ thực sự” (số 47). Trong thực tế, “đã có những diễn tả mạnh mẽ về cộng đồng chăm sóc trong bối cảnh kỹ thuật số. Ví dụ, có những nhóm được quy tụ để hỗ trợ những người khác trong hoàn cảnh ốm đau, mất mát, đau buồn, cũng như những nhóm huy động sự đóng góp từ cộng đồng cho người gặp khó khăn, và những nhóm cung cấp sự hỗ trợ tâm lý và xã hội giữa các thành viên. Tất cả những nỗ lực này có thể được coi là ví dụ về “sự thân cận trong thế giới kỹ thuật số” (số 57).
Tài liệu còn mời gọi chúng ta nghĩ xa hơn nữa: “Mạng xã hội không phải là cứng ngắc. Chúng ta có thể thay đổi nó… Cùng nhau, chúng ta có thể thúc bách các công ty truyền thông xem xét lại vai trò của họ và cho phép internet trở thành một không gian công cộng thực sự. Những không gian công cộng được cấu trúc tốt sẽ có thể thúc đẩy hành vi xã hội tốt hơn. Do đó, chúng ta cần xây dựng lại các không gian kỹ thuật số để chúng trở thành những môi trường lành mạnh và nhân văn hơn” (số 58).
Theo Đức Thánh Cha Phanxicô, nét đặc trưng trong phong cách của Thiên Chúa là “gần gũi, đồng cảm, dịu dàng”. Đây cũng là những thái độ căn bản mà người môn đệ Chúa Giêsu cần có khi bước vào mạng xã hội, nhờ đó việc tham gia mạng xã hội của chúng ta trở thành “một cuộc gặp gỡ cá vị, từ trái tim đến trái tim, vết thương của người khác và của chúng ta có thể được chữa lành, và “niềm vui của chúng ta được nên trọn vẹn” (2Ga 12).
Tài liệu Hướng tới sự hiện diện tròn đầy đã được chuẩn bị công phu, mất nhiều thời gian, là “kết quả suy tư của các chuyên gia, giáo viên, các nhà lãnh đạo và chuyên viên trẻ, các giáo dân, giáo sĩ và tu sĩ” (số 5). Vì thế Tài liệu này là tài liệu đáng cho mọi tín hữu đọc và học hỏi, cách riêng các mục tử cần biết đến để đồng hành với anh chị em giáo dân, nhất là giới trẻ, trong thời đại ngày nay.
Gm. Phêrô Nguyễn Văn Khảm
Read More
21Tháng Năm
2023

Yếu đuối thành sức mạnh

21/05/2023
Anmai
Giáo dục, Tài liệu giáo dục
0

Yếu đuối thành sức mạnh

“Khi tôi yếu chính là lúc tôi mạnh”; “sức mạnh được hoàn hảo trong sự yếu đuối”. Những câu như thế thường được trích làm chìa khóa cho sự trưởng thành tâm linh, nhưng chúng ta có thật sự hiểu những câu đó muốn nói gì không? Có ai hiểu được không?

Có. Nếu chúng ta không thể hiểu gì về điều đó, Thiên Chúa đã không nói về nó cho chúng ta. Thiên Chúa không phí lời. Đó là một mầu nhiệm vĩ đại, nhưng mầu nhiệm không phải là điều chúng ta không thể hiểu, nhưng là điều chúng ta không thể hiểu được bằng lí trí của mình, khi không có sự mặc khải của Thiên Chúa. Đó cũng là điều chúng ta không thể hiểu hết, nhưng là điều chúng ta có thể hiểu được một phần. Hiểu được một phần không hoàn toàn là bóng tối. “Chúng ta nhìn qua một tấm kính, cách lờ mờ”.

Chìa khóa để hiểu mầu nhiệm sức mạnh được hoàn hảo trong sự yếu đuối là thập giá của Chúa Kitô. Không có thập giá, nó không phải là mầu nhiệm nhưng là sự phi lí, là bóng tối.

Nhưng những người không phải Kitô hữu như Lão Tử, nhà thần bí và thi sĩ vĩ đại Trung Hoa, dường như đã hiểu mầu nhiệm sức mạnh được hoàn hảo trong sự yếu đuối khá sâu sắc, ít nhất trong một số khía cạnh của nó, mà không cần biết đến Chúa Kitô hay thập giá.

Có lẽ họ hiểu một mầu nhiệm tương tự và có liên quan nhưng không hoàn toàn giống. Hoặc có lẽ họ hiểu điều đó qua Đức Kitô và thập giá của Người, mặc dù một cách không ý thức và rõ ràng. Làm sao chúng ta biết ranh giới của thập giá kéo dài đến đâu? Vòng tay của thập giá rất rộng. Đức Kitô là “ánh sáng đến thế gian và chiếu soi mọi người” (Ga 1,9) bằng mặc khải tự nhiên, sự khôn ngoan tự nhiên và luật tự nhiên được lương tâm nhận biết. Khi một vị Lão Tử, hoặc một Socrates, hoặc một Đức Phật thâm hiểu một chân lí vĩnh cửu, các vị ấy làm được vậy là nhờ ánh sáng của Đức Kitô, Ngôi Lời vĩnh cửu, Người là Lời trước khi nhập thể hay là sự mặc khải của Thiên Chúa. Ngài vẫn là đấng (ngôi vị) ấy, nhưng không mang bản tính nhân loại, nhập thể.

Tất cả chân lí là chân lí của Ngài. Nhưng Chúa Giêsu nhập thể là mặc khải dứt khoát của Thiên Chúa, là gương mặt của Thiên Chúa hướng về chúng ta trong sự thân mật tột cùng. Chúng ta biết nhiều về một người thông qua gương mặt của người đó hơn là lưng hoặc bàn chân của họ. Vì vậy, chúng ta hãy nhìn vào mặc khải chung cuộc, dứt khoát và trọn vẹn ấy của Thiên Chúa mà chúng ta hiện có ‒ Đức Kitô và thập giá của Người ‒ để cố gắng làm sáng tỏ nghịch lí về sức mạnh đến từ sự yếu đuối. Câu hỏi của chúng ta là: Làm sao sự yếu đuối lại làm cho chúng ta mạnh mẽ nhờ thập giá? hoặc, làm sao sự yếu đuối của thập giá làm cho chúng ta mạnh mẽ?

Đây là hai câu hỏi, chứ không phải một. Câu thứ nhất có tính lí thuyết và không thể trả lời. Câu thứ hai có tính thực tế và có thể trả lời.

Câu hỏi thứ nhất là: Nó hoạt động như thế nào? Bằng kĩ thuật tâm linh, siêu nhiên nào mà cỗ máy là sự yếu đuối tạo ra sản phẩm là sức mạnh? Thập giá hoạt động như thế nào?

Các nhà thần học đã nghiên cứu về điều đó trong gần hai nghìn năm, và không có sự đồng thuận rõ ràng trong Kitô giới, không có câu trả lời rõ ràng đầy đủ, chỉ có những điều loại suy. Phép loại suy lành mạnh của Thánh Anselmô là sự dữ chiếm hữu chúng ta và Đức Kitô đã trả giá để chuộc chúng ta về. Các Giáo phụ đầu tiên đã đưa ra một phép loại suy như trận chiến vũ trụ: Đức Kitô đã xâm chiếm lãnh thổ bị kẻ thù chiếm đóng – trước hết là mặt đất, sau đó, vào Thứ Bảy Tuần Thánh, đến âm phủ, và đánh bại ma quỷ cùng các thế lực tội lỗi và sự chết của hắn. Khi đó có một Chủ nghĩa thực tiễn Mỹ mang tính đơn sơ thú vị của mục sư thuộc Southern Free Will Baptist cho rằng: “Satan bỏ phiếu chống lại bạn, và Chúa Giêsu bỏ phiếu ủng hộ bạn, còn bạn đưa ra lá phiếu quyết định”. Những ẩn dụ này hữu ích, nhưng chúng chỉ là những biểu tượng, những sự tương tự thôi. Chúng ta hầu như không biết cách thức hoạt động của điện, làm sao chúng ta có thể biết sự cứu chuộc hoạt động như thế nào?

Tuy nhiên, câu hỏi thứ hai có thể trả lời chắc chắn hơn. Đó là câu hỏi thực tế: Tôi phải sống như thế nào; Tôi nên cư xử như thế nào liên quan đến sự yếu đuối? Tôi nên thể hiện thập giá như thế nào trong cuộc sống của tôi? Bởi vì thập giá ở ngay trong cuộc sống của tôi. Nó không phải là một điều kì dị mà là một sự thật phổ quát đã nhập thể, không chỉ là một sự kiện chỉ xảy ra một lần là xong ở bên ngoài tôi trong không gian và thời gian, ở Israel vào năm 29 Công nguyên, cách tôi 8.000 dặm và 2.000 năm, nhưng đó cũng là một sự kiện đang tiếp diễn bên trong tôi, hay đúng hơn tôi ở trong đó.

Có hai sai lầm ngang nhau và trái ngược nhau khi trả lời câu hỏi này: Tôi sẽ thể hiện mầu nhiệm thập giá này như thế nào trong cuộc đời tôi? Đó là chủ nghĩa nhân văn và chủ nghĩa ẩn dật, chủ nghĩa hiếu động và chủ nghĩa thụ động. Chủ nghĩa nhân văn nói rằng tất cả đều là hành động của con người, rằng chúng ta phải tranh đấu và vượt qua sự yếu đuối, thất bại, thua thiệt, bệnh tật, cái chết và đau khổ. Chúng ta phải vượt qua thập giá. Nhưng rốt cuộc chúng ta không bao giờ vượt qua được. Chủ nghĩa nhân văn là Don Quixote phóng ngựa đối đầu với xe tăng.

Chủ nghĩa ẩn dật, hay thuyết định mệnh, quan niệm một cách đơn giản là: Hãy chịu đựng nó, hãy chấp nhận nó. Nói khác đi, đừng là con người. Hãy đi “nhẹ nhàng vào đêm tối tốt lành đó”, đừng “tức giận, nổi xung vì ánh sáng lụi tàn”.

Kitô giáo còn nghịch lí hơn chủ nghĩa nhân văn và thuyết định mệnh ‒ chủ nghĩa nhân văn cứ vậy mà chối bỏ; còn thuyết định mệnh thì cứ vậy mà chấp nhận. Có một nghịch lí kép trong câu trả lời của Kitô giáo về sự nghèo khó, đau khổ và cái chết. Sự nghèo khó phải được chống lại và giảm bớt, nhưng nó là mối phúc. Giúp đỡ người nghèo thoát khỏi sự tàn phá của sự nghèo khó là một trong những nhiệm vụ thiết yếu của Kitô hữu. Nếu chúng ta chối bỏ sự khó nghèo, chúng ta không phải là Kitô hữu, chúng ta không được cứu độ (Mt 25, 41-46). Tuy nhiên, chính những người giàu có mới là những người cần được thương xót và đáng thương, như Mẹ Têrêsa đã nói với Harvard những lời gây sửng sốt: “Đừng gọi đất nước của tôi là một nước nghèo. Ấn Độ không phải là nước nghèo. Mỹ là nước nghèo, một nước nghèo về tinh thần”. Người giàu khó được cứu rỗi (Mt 19,23), trong khi những người có tâm hồn nghèo khó, nghĩa là những người vui lòng nghèo khó, những người không dính bén của cải, thì được chúc phúc (Mt 5,3).

Cũng thấy được thái độ bộ đôi đầy nghịch lí ấy trong Kitô giáo đối với cái chết. Cái chết một mặt là sự dữ lớn lao, là “kẻ thù cuối cùng” (Cr 15,26), là dấu vết và hình phạt của tội lỗi. Đức Kitô đến để đánh bại nó. Tuy nhiên, cái chết cũng là cánh cửa dẫn đến sự sống đời đời, dẫn vào thiên đàng. Đó là cỗ xe ngựa vàng do vị vua vĩ đại gửi đến đón cô dâu Lọ Lem của ngài.

Đau khổ cũng là một nghịch lí. Một mặt nó cần được xoa dịu, mặt khác nó là mối phúc. Các thánh là thánh chủ yếu vì hai lí do: họ có tình yêu anh hùng và lòng trắc ẩn đối với những người thân cận, nghĩa là, họ cống hiến hết mình để xoa dịu những nỗi đau khổ của người khác. Nhưng họ cũng yêu mến Thiên Chúa đến nỗi họ chấp nhận và dâng hiến những đau khổ của riêng mình một cách anh dũng và thậm chí còn lấy làm vui nữa. Họ vừa chiến đấu với đau khổ vừa chấp nhận đau khổ. Họ năng động hơn những người theo chủ nghĩa nhân văn và dễ chấp nhận hơn những người theo chủ nghĩa ẩn dật. Cả ba ‒ nghèo khó, cái chết và đau khổ ‒ đều là những hình thức của sự yếu đuối. Vấn đề yếu đuối là vấn đề chung và phổ quát hơn. Chẳng hạn, sự đau khổ tự nó không phải là không chịu đựng được như sự yếu đuối, vì chúng ta sẵn sàng chịu lấy những đau đớn như việc sinh con chỉ với điều kiện chúng được chọn lựa cách tự do, trong khả năng của chúng ta ‒ nhưng ngay cả những nỗi đau và bất tiện nhỏ, như trễ chuyến bay hay bị dầm đâm ngón tay, cũng khiến chúng ta cảm thấy quá sức chịu đựng nếu chúng được áp đặt lên chúng ta ngược lại ý muốn của chúng ta. Chúng ta thà chạy một dặm cách tự do còn hơn bị buộc phải chạy một dãy nhà. Kierkegaard nói: “Nếu tôi có một người đầy tớ khiêm tốn, khi tôi xin anh ta một li nước, thay vào đó, anh mang đến những loại rượu đắt tiền trên thế giới được rót vào một cái li đúng kiểu, tôi sẽ sa thải anh ta, để dạy anh rằng niềm vui thực ở chỗ làm theo cách của riêng tôi”.

Alfred Adler là môn đệ lập dị của Freud đã rời bỏ thầy của mình vì vấn đề trung tâm này: đâu là mong muốn cơ bản nhất của con người; Adler đã khám phá ra đó không phải là thú vui, như Freud nghĩ, mà là sức mạnh.

Ngay cả Thánh Tôma Aquinô cũng ngầm đồng ý, vì khi ngài xem lại và loại bỏ tất cả những ứng viên không thích hợp và có vẻ thần tượng cho vị trí hạnh phúc tối cao của con người, tất cả những thứ chúng ta theo đuổi thay vì Thiên Chúa, ngài nhận xét rằng chúng ta bị quyền lực thu hút bởi vì nó có vẻ thần thánh nhất. (Tuy nhiên, điều này dễ gây lầm lẫn vì quyền năng của Chúa là sự tốt lành của Ngài). Quyền lực là câu trả lời của Thánh Augustinô về lí do ngài đi ăn trộm những quả lê cứng, không ăn được và không bán được khi còn là một cậu bé. Cái ngài muốn không phải là niềm vui hay tiền bạc mà là quyền lực, quyền lực để không bị đặt dưới luật “ngươi không được trộm cắp”, quyền lực để bất tuân luật pháp và dường như thoát khỏi nó. Chúng ta khổ sở dưới sự ràng buộc.

À, nhưng bản chất của chúng ta là sự ràng buộc. Nói cho cùng, chúng ta chỉ là những thọ tạo, không phải là người sáng tạo; hoàn toàn hữu hạn, không vô hạn; phải chết, không bất tử; ngu dốt, không biết tất cả. Tất cả những điều này là các hình thức của sự yếu đuối, chúng không phải là những điểm yếu ngẫu nhiên và có thể tránh được mà là những điểm yếu bẩm sinh và cần thiết cho chính con người chúng ta với tư cách là những thụ tạo. Khi bực bội với những hạn chế của sự yếu đuối, chúng ta bực bội với chính con người mình.

Thậm chí trước khi chúng ta bắt đầu cố gắng thoát khỏi vấn đề của chúng ta về sức mạnh từ sự yếu đuối, trước tiên chúng ta phải nhìn vào trong đó cách sâu hơn và rõ ràng hơn. Có ba nhược điểm liên quan nhưng khác biệt cần xem xét.

Trước tiên, có sự yếu đuối do đứng thứ hai, đóng vai phụ, đáp ứng thay vì khởi xướng, theo sau thay vì dẫn đầu, vâng lời thay vì ra lệnh. Chúng ta có bực tức chống lại điều này thì quả là chuyện hoàn toàn ngu xuẩn, vì chính Thiên Chúa cũng có sự yếu đuối này! Từ muôn đời Chúa Con vâng phục Chúa Cha. Điều gì Ngài làm trên trần gian, Ngài đã làm trong cõi vĩnh hằng. George MacDonald đã trình bày như sau: “Ngài đã làm, trong thời tiết gay gắt ở những vùng xa xôi, điều Ngài đã làm từ đời đời nơi quê nhà trong vinh quang”. Chưa có ai từng vâng phục hơn Đức Kitô.

Do đó, vâng lời không phải là dấu hiệu của sự thấp kém. Đáp ứng, hát bè, đóng vai phụ, không hạ thấp phẩm giá, vì Đức Kitô, Thiên Chúa bởi Thiên Chúa, là Đấng vâng lời hoàn hảo. Trong đó, chúng ta có một trong những cuộc cách mạng đáng kinh ngạc và triệt để nhất mà thế giới đã từng được nghe, và vẫn chưa hiểu. Phụ nữ vẫn phẫn nộ vì là phụ nữ, nghĩa là, về mặt sinh học phải tiếp nhận sự thụ tinh của nam giới, cần sự bảo vệ và lãnh đạo của nam giới, bởi họ nghĩ điều này khiến họ thấp kém hơn. Trẻ con khó chịu phải vâng lời cha mẹ, và công dân khó chịu phải phục tùng chính quyền dân sự, vì cùng một lí do: họ nghĩ rằng sự vâng lời đánh dấu sự kém cỏi của họ. Không phải vậy.

Đức Kitô trước đến giờ ngang hàng với Chúa Cha trong mọi sự; nhưng Đức Kitô đã vâng lời và thậm chí bây giờ vẫn đang vâng lời Chúa Cha. Có vai trò khác nhau không có nghĩa là khác nhau về giá trị. “Sự yếu đuối” của sự vâng phục không đến từ sự thấp kém mà đến từ sự bình đẳng về giá trị.

Con cái cũng phải vâng lời cha mẹ. Tuy nhiên, con cái không thua kém cha mẹ về đạo đức hay tâm linh. Mệnh lệnh phải vâng lời không hạ thấp phẩm giá nhưng giải phóng ‒ nếu chúng ta đang nói về sự vâng phục “trong Đức Kitô”. Trên thế giới, quyền lực thống trị, và kẻ mạnh đặt mình lên trên kẻ yếu. Ở đó, vâng phục thực sự là dấu hiệu thấp kém về quyền lực. Nhưng không phải trong Hội Thánh. Ở đây, mọi thứ khác hẳn: “Anh em biết: thủ lãnh các dân thì dùng uy mà thống trị dân, những người làm lớn thì lấy quyền mà cai quản dân. Giữa anh em thì không được như vậy: Ai muốn làm lớn giữa anh em, thì phải làm người phục vụ anh em. Và ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ anh em. Cũng như Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mt 20, 25-28).

Chúa Giêsu ngang hàng với Chúa Cha, nhưng Ngài vâng phục. Nếu sự kiện đơn giản nhưng có tính cách mạng đó được hiểu và đánh giá đúng, chúng ta sẽ có một thế giới mới ‒ không phải thế giới nô lệ và áp bức cổ xưa, cũng không phải thế giới Phương Tây hiện đại bị mất gốc và rối loạn, cào bằng trái tự nhiên và đầy cạnh tranh vì oán hận. Thay vào đó, chúng ta sẽ có tình thương.

Tình thương làm nên sức mạnh. “Sự yếu đuối” của Đức Kitô trong sự vâng phục Chúa Cha đã làm cho Người mạnh mẽ vì đó là sự vâng phục vì thương. Nếu Đức Kitô đã không vâng theo ý muốn của Đức Chúa Cha, khi Satan cám dỗ Người trong hoang địa, Ngài sẽ mất sức mạnh, như Samson, và yếu ớt chịu thua kẻ thù của mình. Sự vâng phục là một dấu hiệu của thiên tính nơi Người. Chúng ta cũng vậy: nếu chúng ta hoàn toàn vâng phục Chúa Cha, chúng ta được biến đổi thành những người dự phần vào bản tính Thiên Chúa. Bởi vì sự hối cải, đức tin và phép rửa tội, ba công cụ giúp cho sự biến đổi đó, đều là những hình thức vâng phục. Chúng ta được truyền phải hối cải, tin tưởng và chịu phép rửa.

Hình thức thứ hai của “sự yếu đuối” chỉ dành riêng cho chúng ta, không phải cho Đức Kitô, nhưng hình thức thứ hai này cũng không phải để gây khó chịu. Đó là sự hữu hạn của chúng ta, là thuộc tính thọ tạo của chúng ta. Chúng ta được tạo dựng. Do đó, chúng ta phụ thuộc vào Thiên Chúa về mọi thứ, về chính sự tồn tại của chúng ta và tất cả những gì phát sinh từ đó. Không có gì chúng ta có là của riêng chúng ta bởi vì chính con người chúng ta không phải là của chúng ta. Thiên Chúa sở hữu chúng ta. (Vì vậy, tự tử là hành vi trộm cắp). Chúng ta không có quyền vượt lên trên Thiên Chúa. Không có tạo vật nào, kể cả tổng lãnh thiên thần vĩ đại nhất, vượt trên Thiên Chúa.

Không có thụ tạo nào là toàn năng, cũng không có thụ tạo nào hoàn toàn bất lực. Ngay cả một thiên thần cũng không thể tạo ra vũ trụ hay cứu rỗi một linh hồn, và ngay cả một hạt cát cũng có thể thể hiện Thiên Chúa, có thể chọc tức một ngón chân và một bộ não, và có thể quyết định một trận đánh và một cuộc chiến.

Ngay cả trong cõi vĩnh hằng không một thọ tạo nào có thể làm cạn kiệt và khám phá hết tình thương của Ngài. Thiên Chúa sẽ luôn luôn hơn nữa. Chúng ta sẽ không bao giờ mất đi niềm vui vô song do sự khiêm tốn, và do sự tôn sùng. Thật ngớ ngẩn làm sao khi lấy làm bực bội vì “sự yếu đuối” đó.

Và thật ngớ ngẩn khi oán trách cách Thiên Chúa và thiên nhiên bù đắp cho sự yếu đuối đó, bằng sự phụ thuộc lẫn nhau, liên đới, hợp tác, vị tha. Chúng ta mang gánh nặng cho nhau, như vậy là chu toàn luật Đức Kitô (Gl 6,2). Tôi nghĩ cụm từ “luật của Đức Kitô” có nghĩa lớn hơn tuân theo các lệnh truyền của Đức Kitô; tôi nghĩ nó có nghĩa là sống sự sống của Đức Kitô. Tôi nghĩ luật của Chúa Kitô giống như luật trọng lực hơn là luật của vùng đất này. Những quả táo rơi hoàn thành luật trọng lực, còn việc mang gánh nặng cho nhau hoàn thành luật của Đức Kitô.

Hôn nhân là ví dụ hàng đầu của việc mang gánh nặng cho nhau. Đàn ông cần đàn bà, như Thiên Chúa đã tuyên bố lúc tạo dựng: “Đàn ông ở một mình thì không tốt” (St 2,18). Còn đàn bà cần đàn ông. Ngày nay, cả đàn ông lẫn đàn bà thường hay oán ghét nhu cầu đó. Đó là sự nổi loạn chống lại luật của Đức Kitô, được ghi trong luật tự nhiên của con người. Chính hình ảnh của Thiên Chúa được minh định trong sách Sáng thế 2,27 là “người nam và người nữ”.

Cuối cùng, hình thức yếu đuối thứ ba mà người ta phải chống lại: sự yếu đuối do tội lỗi và những hậu quả của nó. Hữu hạn là tốt, nhưng sa ngã thì không. Tất cả chúng ta đều bất thường, không còn ở trạng thái tự nhiên. Ở đây, chúng ta cần nổi loạn chống lại con người của mình, vì con người của chúng ta đây không phải tự nhiên, không phải là cái do Chúa tạo thành. Việc chúng ta không hài lòng với sự yếu đuối về mặt luân lí và tâm linh của mình ngầm chứng tỏ rằng chúng ta biết một điều gì đó tốt hơn ‒ về một tiêu chuẩn mà chúng ta dùng để đo lường bản thân, cuộc sống và thế giới của mình, và thấy là chúng thiếu sót. Chính ký ức của chúng ta về vườn Địa đàng đã gây ra cuộc tranh cãi giữa người yêu hiện tại của chúng ta với thế giới, với vùng hoang địa “phía đông vườn Địa đàng” (St 3,24).

Chính bởi vì chúng ta yếu đuối về luân lí nên chúng ta được truyền phải cầu xin “chớ để chúng con sa chước cám dỗ”, nghĩa là, sa vào thử thách và khó khăn. Bởi vì tất cả chúng ta, đều có điểm giới hạn của mình. Nếu Thiên Chúa không rút ngắn những ngày Đại nạn, thì cả các thánh cũng không chịu nổi và được cứu rỗi (Mt 24,22).

Chúng ta không chỉ yếu đuối về luân lí mà còn yếu kém về mặt trí tuệ: dốt nát, khờ dại, ngu ngốc. Tội lỗi không đơn thuần là sự ngu xuẩn như Plato dạy, và chắc chắn nguyên nhân của nó không chỉ là sự thiếu hiểu biết như Plato dạy, mà vì sự thiếu hiểu biết không phải là nguyên nhân của tội lỗi, nó là hậu quả của tội lỗi.

Thân xác chúng ta cũng yếu đuối vì tội lỗi. Một khi linh hồn tuyên bố độc lập với Thiên Chúa, Đấng là nguồn gốc của mọi sự sống và sức mạnh, thì thể xác trở nên yếu đuối vì nó càng độc lập với linh hồn, là nguồn sự sống của nó. Do đó, sự chết là kết quả tất yếu của tội lỗi. Giống như nam châm. Thiên Chúa là nam châm giữ hai vòng sắt, thể xác và linh hồn, lại với nhau. Lấy nam châm ra và các vòng rơi ra. Một khi xa lìa Thiên Chúa, chúng ta làm được gì ngoài việc chịu chết? Và một khi chúng ta kết hợp với Thiên Chúa, chúng ta sẽ làm gì nếu không phải là sống đời đời?

Chúng ta nên chấp nhận vâng phục Đức Chúa Cha như là “điểm yếu” đầu tiên của chúng ta, và chúng ta nên nhận sự hữu hạn là “điểm yếu” thứ hai của mình, nhưng liệu chúng ta có nên chấp nhận “điểm yếu” thứ ba, tức là tội lỗi của chúng ta không? Có và không. Tội lỗi giống như bệnh ung thư. Khi mắc bệnh ung thư, chúng ta nên chấp nhận sự thật đó bằng trí tuệ chứ không phải bằng ý chí của chúng ta. Chúng ta nên chấp nhận sự thật, chứ không phải sự tốt đẹp của bệnh ung thư, bởi vì bệnh ung thư là không tốt. Hãy chấp nhận nó về mặt lí thuyết, nhưng không phải về mặt thực tế. Ở mức độ thực tế, chúng ta nên chống lại nó. Đối với tội lỗi cũng vậy.

Người ta thường nhầm lẫn về điểm đơn giản này. Ngay cả một tư tưởng vĩ đại như Carl Jung dường như cũng rơi vào sự nhầm lẫn chết người này khi ông bảo chúng ta “chấp nhận mặt tối của chính mình, bóng tối của chúng ta”. Không! Thiên Chúa đã phải chết và chịu đựng những sự khủng khiếp của hoả ngục để cứu chúng ta khỏi mặt tối đó. Làm sao chúng ta dám “chấp nhận” nó trong khi Đấng Thánh đã tuyên chiến vĩnh viễn với nó? Làm sao chúng ta dám trung lập khi Thiên Chúa chia phe hẳn hoi? Làm sao chúng ta dám đóng vai Chamberlain ở Munich trước những phát minh quái quỷ? [Hai thủ tướng Anh và Pháp là Neville Chamberlain và Edouard Daladier ký hoà ước Munich với lãnh đạo đảng Quốc xã Adolf Hitler ngày 30/9/1938. Thoả thuận này ngăn chặn chiến tranh nổ ra nhưng giao Czechoslovakia cho Đức chiếm đóng (ND)]. Chỉ có một số phận thích hợp cho sự yếu nhược tâm linh như vậy. Hãy tra trong sách Khải huyền 3,16. Đừng ai cố ăn thứ Thiên Chúa đã nôn ra.

Bây giờ tôi sẽ đi vào những lĩnh vực sâu hơn, gai góc hơn về vấn đề chúng ta đang suy gẫm.

Yếu đuối của chúng ta trở thành sức mạnh khi Thiên Chúa bước vào sự yếu đuối của chúng ta. Như bác sĩ gây mê bệnh nhân để bệnh nhân không còn là người khoẻ mà thành người bệnh, thành thụ động, để không nhảy dựng trên bàn mổ, Thiên Chúa làm chúng ta yếu đi để Ngài có thể thực hiện những ca phẫu thuật trên chúng ta, nếu không chúng ta không thể làm được.

Điều này đặc biệt đúng về cái chết. Cái chết là cuộc phẫu thuật triệt để, và chúng ta phải được gây mê cách triệt để hầu đón nhận nó. Thiên Chúa muốn thâm nhập vào trái tim của chúng ta, con người sâu thẳm nhất của chúng ta. Trái tim của chúng ta phải ngừng đập để hoạt động đó diễn ra.

Cũng nguyên tắc ấy hoạt động trong những cách thấp hơn trước cái chết, trong những cái chết nhỏ. Thiên Chúa phải đánh gục chúng ta trước để cứu chúng ta khỏi chết đuối, vì chúng ta vùng vẫy một cách ngu xuẩn. Ngài phải đập vỡ những món đồ chơi chúng ta đang cầm trên tay để lấp đầy bằng niềm vui của Ngài.

Đến đây là tốt rồi. Nguyên tắc đó khá nổi tiếng. Nhưng khi chúng ta tìm đến các nhà thần bí, và rồi khi chúng ta đọc thứ ngôn ngữ kì lạ của họ về việc “hóa ra không”, tuyệt đích của sự yếu đuối, chúng ta lắc đầu khó hiểu và nghi ngờ. Tuy nhiên, ý nghĩa về “sự hư vô” trước Thiên Chúa của các nhà thần bí không là gì khác hơn chính nguyên tắc được đưa đến kết luận hợp lí của nó. Nếu sức mạnh của Chúa lấp đầy chúng ta khi chúng ta yếu đuối, và sự vĩ đại của Chúa lấp đầy chúng ta khi chúng ta nhỏ bé, thì tất cả của Chúa sẽ lấp đầy chúng ta khi chúng ta không là gì cả.

Nhưng chúng ta phải phân biệt hai loại “không là gì”. Các nhà thần bí phương Đông dường như nói rằng linh hồn là “hư không” vì nó không có thật. Họ nhìn qua “ảo ảnh” về cá nhân. Họ dường như nói rằng chúng ta thực sự không phải là thụ tạo, trừ Thiên Chúa. Bởi vì tất cả đều là Thiên Chúa nếu bạn là một người tin vào thuyết phiếm thần. Điều đó đơn giản là sai, vì Thiên Chúa đã tạo ra chúng ta khác biệt với chính Ngài.

Thay vì vậy, “sự hư không” của các nhà thần bí Kitô giáo có nghĩa là không có ý riêng và không còn chú ý đến bản thân. “Đừng theo ý con, nhưng xin cho ý Cha thể hiện” là công thức cơ bản dành cho mọi sự thánh thiện, không chỉ dành cho các nhà thần bí. Trong đây không có gì đặc biệt là thần bí. Nhưng khi, được Thiên Chúa mê hoặc qua việc nếm trước cảnh tượng hạnh phúc của thiên đàng, nhà thần bí được ban ơn dường như mất hết ý thức về chính mình, ông dường như không là gì đối với chính mình, bởi vì ông không còn nhìn vào mình nữa, mà chỉ nhìn vào Thiên Chúa. Nhưng, tất nhiên, ông vẫn có đó, vì phải có một cái tôi để thực hiện hành động quên mình. Ai đang quên? Chắc chắn không phải Thiên Chúa, vì sự toàn tri thì không quên.

Nhà thần bí Kitô giáo trải nghiệm một niềm hạnh phúc trong sự yếu đuối hoàn toàn đến mức hư không này, vì đó là sự tin tưởng hoàn toàn, nghỉ ngơi hoàn toàn trong vòng tay của Chúa, được Cha ôm lấy. Do đó, tất cả lo lắng và sự quan tâm đến bản thân đều tan biến. Đây là sự khiêm tốn hoàn toàn. Vì kiêu ngạo là tội lỗi đầu tiên, tội lỗi của ma quỷ, nên khiêm nhường là nhân đức đầu tiên.

Kiêu ngạo không có nghĩa là quan điểm phóng đại về giá trị của bản thân; đó là sự phù phiếm. Kiêu ngạo nghĩa là đóng vai Thiên Chúa, đòi làm Thiên Chúa. “Thà cai trị địa ngục còn hơn phục vụ trên thiên đường,” đây là câu nói mà Satan dùng để biện minh cho sự nổi loạn của mình trong Paradise Lost [Thiên đàng đã mất] của Milton. Đó là công thức kiêu ngạo. Kiêu ngạo lúc nào cũng là “ý tôi thể hiện”.

Khiêm tốn là “ý Cha thể hiện”. Khiêm tốn là tập trung vào Thiên Chúa, chứ không vào bản thân. Khiêm tốn không phải là đánh giá quá thấp bản thân. Khiêm tốn là quên mình. Một người khiêm tốn không bao giờ nói với bạn rằng anh ta tệ như thế nào. Anh ấy bận nghĩ về bạn đến nỗi không thể nói về bản thân mình. Đó là lí do tại sao khiêm tốn là một niềm vui và rất gần với nhãn quan hạnh phúc, nơi mà chúng ta sẽ say mê Thiên Chúa đến nỗi chúng ta hoàn toàn quên mình, giống như các nhà thần bí. Khi kết hợp hai điều này – hoàn toàn muốn “không phải ý con mà là ý Cha được thực hiện” và biết hoàn toàn quên mình – có lẽ chúng ta có thể bắt đầu hiểu làm thế nào các nhà thần bí tìm thấy niềm vui vô song khi trở thành hư không. Đó là cảm giác hồi hộp bí ẩn mà chúng ta cảm thấy khi hát dâng Chúa Thánh Thần: “Hãy thổi, thổi, thổi cho đến khi tôi còn sống/ Nhưng đó là hơi thở của Chúa Thánh Thần thổi trong tôi”.

Rất khó để nói về việc này, về sự ngây ngất. Thi thoảng nghe chuyện đó có vẻ ngớ ngẩn. Nó rất dễ bị hiểu lầm. Nó không thể được giải thích bằng ngôn ngữ thông thường. Nó giống như đang yêu vậy. Nó đang yêu. Nó không phải một ý tưởng, cần giải thích. Đó là một trải nghiệm, để được sống, hoặc ít nhất để được đồng cảm, với tâm và trí mở rộng.

Thập giá liên quan đến điều này như thế nào? Ngoài việc cứu chúng ta khỏi tội lỗi, thập giá còn biểu lộ bản chất ngây ngất nơi Ba Ngôi Thiên Chúa, đó là Thần Khí của tình yêu tự hiến giữa Cha và Con, là chính bí mật của sự sống nội tại của Thiên Chúa. Thập giá, mà Đức Kitô đã cắm như một thanh gươm vào lòng đất trên đồi Canvê, được giữ bằng cán gươm trên thiên đàng. Thiên đàng đã rèn lưỡi kiếm đó. Thập giá đã gây chiến với tội lỗi và sự chết trong thời gian, nhưng nó bày tỏ sự bình an và sự sống trong cõi đời đời.

Xin cho “ý Cha, không phải ý con, được thể hiện” không chỉ là điều khó khăn nhất trong các việc chúng ta có thể làm (đó là điều mà tội lỗi đã làm cho chúng ta), nhưng còn là điều vui sướng và tự do nhất mà chúng ta có thể làm (đó là điều mà ân sủng đã ban tặng cho chúng ta). Có cả nghìn tỉ thí nghiệm đã chứng minh một điểm vượt qua tất cả nghi ngờ: rằng bất cứ khi nào chúng ta nhắm đến hạnh phúc như thể chúng ta là Thiên Chúa, bằng cách phát huy năng lực và sự kiểm soát của mình, chúng ta sẽ kết thúc trong bất hạnh, cho dù chúng ta có được thứ mình muốn hay không. Vì nếu có được nó, chúng ta đâm chán; và nếu không đạt được, chúng ta thất vọng. Nhưng bất cứ khi nào chúng ta trở thành hư không, trở nên hoàn toàn yếu đuối, bất cứ khi nào chúng ta nói và nói hoàn toàn thật lòng: “Xin đừng theo ý con, nhưng xin cho ý Cha được thể hiện”, chúng ta tìm thấy hạnh phúc, niềm vui và bình an lớn lao nhất có thể có trên thế giới này. Tuy nhiên, cho dù đã có hàng nghìn tỉ thực nghiệm xác nhận chân lí này, chúng ta vẫn tiếp tục thử những trải nghiệm khác để tìm kiếm hạnh phúc bên ngoài Thiên Chúa và bên ngoài sự phục tùng Thiên Chúa, do đó chúng ta liên tục bán đi quyền được hưởng niềm vui vốn có của mình. Nói cách khác, chúng ta bị điên. Tội lỗi là sự điên rồ.

Trọng tâm của Hồi giáo là sự thật mạnh mẽ mà chúng ta vừa thấy. “Hồi giáo” mang hai ý nghĩa: “phục tùng” và “bình an” (cùng nguồn gốc với từ “shalom” [trong tiếng Do Thái]). Quy phục Thượng đế (“Allah”, “Đấng”) là con đường dẫn đến hòa bình. Dante trình bày điều này chỉ bằng năm từ trong một dòng và được T.S. Eliot cho là hoàn hảo và sâu sắc nhất trong tất cả các áng văn chương: “Theo ý Chúa, ta bình an” (In his will, our peace).

Sự yếu đuối này chính là sức mạnh của Thiên Chúa, là bí mật về sự toàn năng của Thiên Chúa. Thiên Chúa toàn năng không phải vì Ngài có thể tạo ra vũ trụ hay làm các phép lạ. Thiên Chúa toàn năng vì Ngài là tình yêu, vì Ngài có thể khuất phục chính mình, vì Ngài có thể yếu đuối. Không một người hữu thần nào ngoại trừ Kitô hữu hiểu được bí mật sự toàn năng. Một Thiên Chúa mà chỉ có một mình thì không thể hoàn toàn toàn năng.

Chỉ có Thiên Chúa Ba Ngôi, chỉ có vị Thiên Chúa, Đấng có thể liên tục trút bỏ chính mình cho chính mình, mới có thể toàn năng.

Chúng ta thường nghĩ về Chúa Cha là nguồn sự toàn năng, nhưng thật ra cả ba ngôi vị đều cần thiết cho sự toàn năng. Sự toàn năng chỉ phát sinh khi chúng ta đến với Chúa Thánh Thần là tình yêu giữa Chúa Cha và Chúa Con dành cho nhau. Khi Thánh Thần được thổi vào trong chúng ta, thì cả Ba Ngôi vào trong chúng ta, và sống sự sống của Ngài trong và qua chúng ta. Thánh giá vinh quang của Chúa Ba Ngôi vĩnh cửu và thánh giá đẫm máu trên đồi Canvê hòa quyện trong tâm hồn và cuộc sống của chúng ta khi chúng ta tham dự vào niềm vui nơi tình yêu Thiên Chúa và vào sự đau khổ mang lại ơn cứu độ của Thiên Chúa.

Chuyển ngữ: Martin Lâm
(theo: peterkreeft.com)

Read More

Điều hướng bài viết

  • Previous page
  • Page 1
  • …
  • Page 5
  • Page 6
  • Page 7
  • …
  • Page 66
  • Next page
Bài viết mới nhất
THƯ MỜI THAM DỰ HỘI THẢO “NÂNG CAO TINH THẦN DẤN THÂN PHỤC VỤ VÀ TÁI CẤU TRÚC TRƯỜNG MẦM NON CÔNG GIÁO”
28/03/2026
THƯ GỬI SINH VIÊN, HỌC SINH CÔNG GIÁO NHÂN DỊP MỪNG LỄ CHÚA PHỤC SINH 2026
28/03/2026
CHÚNG TA ĐANG SỐNG, HAY CHỈ ĐANG TỒN TẠI?
27/03/2026
Video nổi bật
https://www.youtube.com/watch?v=Td144YDsaGo
Sự kiện sắp tới

There are no upcoming events at this time.

Ủy ban Giáo dục Công giáo – Trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.

Liên hệ

72/12 Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, TP.HCM Get Directions

Phone: +84 931 436 131

Email: [email protected]

Ban chuyên môn
  • Ban Tài liệu và Truyền thông
  • Ban Giáo chức
  • Ban Kỹ năng và Giá trị sống
  • Ban Khuyến học
  • Ban Học viện Thần học
  • Ban Hội Học sinh – Sinh viên
Chuyên mục
  • Tin tức
  • Thư chung
  • Giáo dục
  • Phụng vụ
  • Thư viện
Bản quyền © 2020 thuộc về Ủy Ban Giáo Dục HĐGM VN. Design by JT.