Aenean nec eros. Vestibulum ante ipsum primis in faucibus orci luctus et ultrices posuere cubilia curae. Suspendisse sollicitudin velit sed leo.

Chuyên mục
  • Bài giảng
  • Các loại khác
  • Chia sẻ
  • Chưa phân loại
  • GH Hoàn Vũ
  • GH Việt Nam
  • Giáo dục
  • Hạnh các Thánh
  • HĐGM Việt Nam
  • Kinh Thánh
  • Phim giáo dục
  • Phụng vụ
  • Sách
  • Suy niệm Chúa nhật
  • Suy niệm hàng ngày
  • Tài liệu giáo dục
  • Tài liệu phụng vụ
  • Thần học
  • Thánh ca
  • Thánh lễ
  • Thánh lễ trực tuyến
  • Thư chung
  • Thư viện
  • Tin tức
  • Triết học
  • Tư liệu
  • UBGD Công giáo
  • Video
From Gallery
Stay Connected
UyBanGiaoDucHDGM.net
  • Trang chủ
  • Thư chung
    • HĐGM Việt Nam
    • UBGD Công giáo
  • Tin tức
    • GH Việt Nam
    • GH Hoàn Vũ
  • Phụng vụ
    • Thánh lễ
    • Thánh lễ trực tuyến
    • Suy niệm hàng ngày
    • Suy niệm Chúa nhật
    • Tài liệu phụng vụ
  • Giáo dục
    • Chia sẻ
    • Tài liệu giáo dục
  • Thư viện
    • Sách
      • Kinh Thánh
      • Triết học
      • Thần học
      • Các loại khác
    • Video
      • Bài giảng
      • Thánh ca
      • Phim giáo dục
      • Hạnh các Thánh
      • Tư liệu
  • Liên hệ
Give Online

Danh mục: Giáo dục

Home / Giáo dục
29Tháng Chín
2023

ÐI TÌM MỘT HƯỚNG LINH ÐẠO GIA ÐÌNH

29/09/2023
Anmai
Chia sẻ, Giáo dục
0
ÐI TÌM MỘT HƯỚNG LINH ÐẠO GIA ÐÌNH
Gia đình phải là môi trường chúng ta sống đạo để nên thánh trong sự cầu nguyện, yêu thương và quên mình, lao động và giáo dục. Ngoài sinh hoạt gia đình có nhiều bạn còn có cơ hội phục vụ trong các sinh hoạt của giáo xứ và xã hội.
Ở mỗi phần, tôi xin trình bày một vài đường nét linh đạo, gợi ra một số vấn đề để giúp chúng ta đi sâu vào thảo luận, đó mới là đề tài chính của chúng ta.

I * GIA ÐÌNH – NHÀ CẦU NGUYỆN

1 ) Gia đình là môi trường nên thánh.
Ngày nay người ta hay nói nhiều về nền linh đạo giáo dân. Ðiều này có nghĩa là không chỉ có các tu sĩ, giáo sĩ mới cần đến linh đạo mà ngay cả giáo dân, những người sống đời gia đình cũng cần đến những con đường để nên thánh. Nên thánh, nên trọn lành hay nói chung là sống đạo là điểm hội tụ chung của mọi tín hữu, không phân biệt giáo phẩm, tu sĩ hay giáo dân. Thế nhưng cách sống đạo của mỗi nếp, mỗi người có khác nhau.
Nếu thánh thiện là sự trọn hảo của tình yêu thì còn ở đâu hơn gia đình, vì “gia đình được hình thành bởi tình yêu và hơi thở của gia đình là yêu thương”. Ðể vững tâm trên nẻo đường thiêng liêng, chúng ta cùng xác định một vài ý nghĩa cao quý của nếp sống gia đình:

Dấu ấn tình yêu:
Bí tích Hôn Phối là dấu ấn tình yêu và chúc lành của Thiên Chúa. “Thiên Chúa đã tạo thành con người có nam có nữ, nên tình yêu của hai người đối với nhau là hình ảnh của tình yêu tuyệt đối và bất diệt mà Thiên Chúa dành cho con người… Tình yêu này đã được Thiên Chúa chúc phúc để trở nên sai trái và được thực hiện trong công cuộc chung là bảo vệ việc sáng tạo của Thiên Chúa” (Giáo Lý HTCG số 1064).

Kiện toàn nhờ ân sủng:
Con người không thể noi gương bắt chước và sống mô phỏng tình yêu của Chúa bằng sức lực đơn phương của mình. “Con người chỉ có khả năng đối với tình yêu ấy một khi cậy dựa vào ân huệ của Thiên Chúa mà thôi” (ÐGH GIOAN PHAOLÔ II, Veritatis splendor 22). Thực vậy bí tích Hôn Phối cũng có những “ân sủng riêng dành để kiện toàn tình yêu của hai người phối ngẫu, củng cố sự đơn nhất bất khả đoạn tiêu của họ.” (GLHTCG số 1641). Nhờ ân sủng khả thi này “họ giúp nhau nên thánh trong cuộc sống vợ chồng, trong sự đón nhận và giáo dục con cái” (Hiến chế về Giáo Hội số 11).

Nối bước theo Chúa:
Không chỉ các tu sĩ mà ngay cả các bạn, những giáo dân, cũng được mời gọi nối gót theo Chúa: “Trở thành môn đệ của Chúa Giêsu là chấp nhận lời mời gọi hãy thuộc về gia đình của Thiên Chúa, sống phù hợp với lối sống của Ngài ‘bằng cách làm theo ý Cha trên trời’ (Mt 12,49)” (GLHTCG 2233).
Như vậy, dù sống đời đôi bạn, các bạn cũng được kêu gọi nên thánh ngay trong môi trường là gia đình của các bạn; và để vững bước giữa những giông tố của cuộc đời, các bạn hãy biến gia đình mình thành nhà cầu nguyện.

2 ) Gia đình là Hội Thánh tại gia:
Ðức Giáo Hoàng Phaolô VI trong Tông huấn về việc tôn sùng Ðức Maria (Marialis cultus) đã gọi gia đình là ‘Giáo Hội tại gia’, là Hội Thánh thu hẹp, để nói lên đặc tính cầu nguyện nơi mỗi gia đình. Gia đình phải là nơi tụ họp để mọi người hiệp thông trong kinh nguyện, chia sẻ và sống Lời Chúa. Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II cũng nhắn nhủ: “Mỗi ngày anh chị em hãy dành một ít thời giờ để chuyện vãn với Thiên Chúa, để chứng tỏ anh chị em yêu mến Ngài cách chân thành, bởi tình yêu luôn luôn tìm cách gần gũi người mình yêu. Vậy thì cầu nguyện phải được coi trọng hơn hết mọi thứ. Ai không nghĩ tới cầu nguyện và không cầu nguyện thì không thể tự biện minh là thiếu thì giờ, nhưng cái họ thiếu chính là thiếu tình yêu” (Dix répères pour l’an 2000, Desclée de Brouwer 1994, 78-79).

Nếu cầu nguyện là quan trọng như thế thì gia đình phải làm thế nào để cùng cầu nguyện?

Cầu nguyện ‘với nhau’:
Có người nói nơi hẹn hò của mọi thành viên trong gia đình Công Giáo không chỉ là bàn cơm, hay phòng khách mà còn là bàn thờ Chúa. Cả gia đình cùng quây quần trước bàn thờ và nên một trong kinh nguyện vẫn luôn là hình ảnh đẹp và rất cần. Tuy nhiên, trong nhịp sống bận rộn và hối hả hôm nay, xem ra hình ảnh ấy càng ngày càng phai lạt. Các bạn thử bàn luận xem đâu là lý do làm cản trở việc đọc kinh chung này, có thể vượt qua hay có cách nào khác để thay thế chăng ?
Không lẽ vợ chồng nên một với nhau trong thân xác, trong tâm hồn, trong công việc mà lại không nên một trong chiều sâu nhất của đời sống đức tin và kinh nguyện?

Cầu nguyện ‘cho nhau’:
Gia đình cầu nguyện còn là cầu nguyện cho nhau xuyên qua chính những biến cố của cuộc sống gia đình: những lo âu và hy vọng, vui mừng và chán nản, thành công và thất bại, cả những cãi cọ và giảng hoà, sứt mẻ và hàn gắn… Tất cả trở thành chất liệu dù là thô sơ mộc mạc nhưng lại rất cụ thể và hữu ích vì đó là những lời kinh được thốt lên từ giữa lòng cuộc sống. Ðọc kinh như thế cũng là cách giáo dục con cái bước vào đời sống tin tưởng phó thác, thông cảm và xí xoá cho nhau để cùng tiếp xúc thân mật với Thiên Chúa.
Tôi còn nhớ mãi hồi nhỏ, khi ba tôi còn sống, ông tổ chức gia đình đọc kinh ngắn gọn rồi chia sẻ Lời Chúa. Chính trong lúc chia sẻ này, mỗi người trong gia đình tôi được tự do nói lên ngay cả những bực tức bào chữa của mình, hoặc bày tỏ thống hối rồi cuối cùng ba tôi răn dạy, giảng hoà trước khi cùng cầu nguyện chung. Phải thú nhận rằng có những buổi tối đọc kinh mà nước mắt hoà chung với lời kinh, đó là những giọt lệ của tức tối nhưng cũng là những giọt lệ của hối hận và mừng vui.

Nhắc nhau cầu nguyện:
Nếu các bạn thấy không thuận lợi để đọc kinh chung thì tại sao chúng ta lại không có bổn phận nhắc nhau cầu nguyện riêng nhỉ? Dù chỉ là một vài phút ngắn ngủi, dù chỉ là một vài cử chỉ đơn sơ như dấu thánh giá, dù chỉ là đọc lời kinh Chúa dạy như kinh Lạy Cha. Trên giường ngủ, người mẹ lại không thể dùng tay mình ghi dấu thánh giá trên con cái trước khi đặt một nụ hôn trên chúng hay sao? Vợ chồng lại không thể ghi dấu thánh giá cho nhau như vậy sao? Rất ý nghĩa và đầy ý vị đấy, các bạn hãy thử coi !
Phải thực tế một chút và cũng lãng mạn một chút mới làm cho gia đình bạn đầy hương vị và ấm cúng.

II * GIA ÐÌNH – TỔ ẤM YÊU THƯƠNG VÀ QUÊN MÌNH
Vừa rồi chúng ta nói đến gia đình sống đạo trong cầu nguyện, nhưng sống đạo đâu chỉ hạn hẹp trong những giờ kinh. Sống đạo còn được biểu hiện sâu sắc ngay trong tình yêu, bởi lẽ ‘gia đình là cộng đoàn được hình thành bởi tình yêu, với hơi thở là yêu thương và là nơi khám phá yêu thương như lẽ sống cuộc đời’.

1 ) Gia đình phải là một tổ ấm.

Làm thế nào để gia đình được hạnh phúc ?
Các sách báo đề cập nhiều đến vấn đề này. Ở đây tôi chỉ muốn nhấn mạnh sống yêu thương trong gia đình, và muốn các bạn chia sẻ: làm thế nào để trong gia đình mọi người được sống trong dòng chảy yêu thương và để từ nơi gia đình khám phá ra tình thương?
Sống thế nào để gia đình thực sự là mái ấm, càng xa càng nhớ, càng ở trong càng cảm nghiệm thấm thía mà không bao giờ muốn xa rời. Ðừng để gia đình mình thành ngục tù mà trong đó bố mẹ hay con cái đều muốn đi cho khuất mắt, cho yên thân. Ngục tù ấy có thể có nơi gia đình quá nuông chiều, nghĩa là có tình thương nhưng là tình thương không đúng cách, hoặc nơi gia đình có cha mẹ nghiện ngập, cờ bạc và thường đi đôi với thái độ thô lỗ, hành hạ nhau, hoặc nơi gia đình không có sự thuận hoà, ‘ông ăn chả, bà ăn nem’. Cả ba loại gia đình ấy đều không có tình thương. Khi gia đình không còn là mái ấm tình thương, người cha không còn ngó ngàng đến vợ con, người mẹ bỏ mặc chồng con xoay sở, và con cái chẳng còn thiết tha đến gia đình. Mọi thành viên trong gia đình đã bị tước đoạt cơ hội khám phá ý nghĩa đích thực của đời sống để rồi biến cuộc đời thành những chuyến đi vô định.
Vậy lối sống đạo tình thương nơi gia đình đặt trên cơ sở nào, hay đúng hơn phải tự đặt câu hỏi: tôi đã sống thế nào đối với mọi người trong gia đình ?

2 ) Gia đình cũng là nơi từ bỏ mình.
Từ bỏ đây không bao giờ có nghĩa là bỏ nhà, nhưng có thể nói theo nhận xét của của nhà phân tâm học V. Frankl: gia đình chính là nơi cho con người cảm nghiệm hằng ngày lối sống ra khỏi bản thân để đến với người khác, lo cho người khác, và cũng nhờ đó, khám phá ý nghĩa cuộc đời là hy sinh cho nhau và sống cho nhau.
Tình yêu là cho đi tất cả, cho đi cái sâu thẳm nhất là ‘cái tôi’ của mình. Tình yêu ấy không có lựa chọn nào khác ngoài lựa chọn bước theo Chúa Kitô: “Ai muốn theo Tôi, hãy từ bỏ chính mình, vác thập giá hằng ngày mà theo tôi” (Mc 8,34). Gia đình Công Giáo không thể đi ra ngoài con đường đó đâu ! Lúc này chúng ta có thể nói mạnh như F. Varillon: “Tiêu chuẩn chắc chắn và duy nhất cho sự đúng đắn về mặt thiêng liêng là thập giá. Tất cả những gì dẫn đến thập giá đều mang chất Kitô nghiêm túc. Tất cả những gì loại trừ thập giá hay bóp méo chỉ là giả hiệu”. Vợ chồng phải chấp nhận bị mài dũa, bỏ đi những gì mà mình cho là đúng mới có thể nên một và hài hoà. Phải bỏ mình nhiều lắm thì khoảng cách giữa cha mẹ và con cái mới nhích lại gần sự đầm ấm yên vui.
Giáo dân ta thường nói: “Thánh giá Chúa gửi đến cho gia đình”. Ðó cũng là một lối nhìn của đức tin. Nhưng thánh giá đâu chỉ là những khó khăn thử thách như thế ! Thánh giá còn là quà tặng mỗi ngày nếu hiểu thánh giá là từ bỏ chính mình. Khi thể hiện tiếng gọi bỏ mình trong đời sống gia đình là chúng ta tin rằng nỗ lực ấy không luống công vô ích nhưng đơm hoa kết trái cho cuộc sống an vui và hạnh phúc lâu dài.
Như vậy, nên thánh là yêu thương và từ bỏ, yêu thương đến mức trọn hảo, và từ bỏ đến chỗ hy sinh chính mình vì tình yêu đòi hỏi đến vô cùng vô tận, nhưng tình yêu cũng bao dung tất cả, tha thứ tất cả, chịu đựng tất cả ngay trong lao động và giáo dục.

III * GIA ÐÌNH – NƠI LAO ÐỘNG VÀ GIÁO DỤC.
Chúng ta đã nói đến con đường nên thánh bằng cầu nguyện, bằng nỗ lực sống yêu thương, giờ đây chúng ta bàn đến nên thánh bằng mồ hôi nước mắt, bằng bàn tay và khối óc, bằng lời nói và gương lành. Ðó là cả nhà cùng làm việc và trau dồi nhân cách.

1 ) Gia đình là động cơ để lao động hết mình.
Trong hầu các thư của các bạn gửi đến cho tôi cáo lỗi về sự chậm trễ hay, lý do đều là quá bận rộn công việc không còn thời giờ rảnh rang để ngồi viết cho nhau. Tôi tự hỏi điều gì đã khiến các bạn phải lao nhọc đến thế ? Ðúng là miếng cơm manh áo, đúng là lo cho vợ cho con, đúng hơn là các bạn phải gánh vác mọi trách vụ gia đình. (Hy vọng rằng tôi không phải nghe nói: ‘Anh ấy chẳng lo đến gia đình gì cả, tối ngày nhậu nhẹt, cờ bạc…’).
Bắt đầu đời gia đình là bắt đầu đời sống lao nhọc và lo lắng. Lo lắng vì phải tìm kế sinh nhai, phải lo cho con cái nên người, và khổ nhọc vì phải cố gắng hơn, phải làm hết mình vì tổ ấm và tương lai của gia đình mình. Có thể nói không ai trong các bạn mà không ưu tư về khả năng, công việc và sự nỗ lực của mình. Thế nhưng tôi muốn các bạn trao đổi với nhau: Tại sao những thất bại cứ xui sẻo đeo đuổi từng người? Làm sao để tạo được niềm tin nơi những người gầy dựng cơ nghiệp cho mình ? Có cần thiết phải tức tốc vượt qua từ kinh tế lệ thuộc đến kinh tế độc lập cho gia đình mình không?

Lao động hết mình:
Người ta thường nói: sống bao lâu không quan trọng, điều cần thiết là sống như thế nào Ở đây tôi cũng muốn nói: thành công hay thất bại nhiều khi vượt quá sức con người, nhưng điều quan trọng và cốt yếu là tôi đã làm việc như thế nào Không thể đổ lỗi vì bạn bè mà chểnh mảng gia đình, không thể vì việc chung mà bỏ việc nhà, và không thể vì sự nhàn hạ cá nhân mà bắt gia đình phải khổ cực. Dĩ nhiên chúng ta không loại bỏ những khía cạnh khác trong lao động như hoàn cảnh cơ may, khôn ngoan tính toán … để có thể ‘ăn nên làm ra’. Ðây là điều tự vấn lương tâm của mỗi người.

Lao động quên mình:
Tôi biết có bạn lúng túng trong vấn đề này, có người kinh tế lệ thuộc mà vẫn tự do độc lập, và có người kinh tế độc lập mà vẫn tùy thuộc. Tôi nghĩ là phải đánh tan mặc cảm lệ thuộc trong lao động của mình. Ðừng quá quan trọng vấn đề tùy thuộc hay độc lập, nhưng hãy tự hỏi:

tôi có biết quên mình vì người khác không?
Có dám cùng nhau hy sinh để nghĩ đến nội ngoại, quên bản thân mình mà lo cho anh chị em mình không?
Vấn đề chỉ có thể giải quyết được nếu như có tình yêu ở trong lao động. Ky cóp cả đời mà chỉ lo giữ riêng cho mình thì khác nào đưa hai bàn tay nhỏ bé ra mà giữ nước, nước sẽ vụt khỏi kẽ tay mà đi mất. Tốt hơn hãy hoà mình vào dòng sông chảy của tình thương.

Lao động trong niềm tin:
Nếu tạo sự tun tưởng làm ăn lâu dài là cần thiết thì lao động trong cái nhìn của đức tin còn quan trọng hơn. Nếu không có ánh sáng đức tin soi dẫn, lao nhọc đời này rồi cũng có lúc mù mờ, ngột ngạt làm con người mất hướng, chao đảo trong thất bại và ngay cả trong thành công. Cái nhìn đức tin sẽ giúp chúng ta xác định hướng đi trong lao động.
Theo Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II “Lao động phải giúp con người trở nên tốt hơn, chín chắn hơn về tinh thần, có trách nhiệm hơn, để con người thể hiện được ơn gọi của mình trên trái đất như một ngôi vị tuyệt đối duy nhất và trong cộng đồng nhân loại cơ bản là gia đình”. Theo công đồng Vatican II (Giáo Hội 41), lao động là con đường dẫn tới sự thánh thiện vì nó cho ta cơ hội để hoàn thiện chính mình, giúp đỡ mọi người và làm cho cả xã hội và thiên nhiên tiến bộ.
Dù công việc làm ăn có chiếm nhiều thời gian trong đời sống gia đình, nhưng không vì đó mà lơ là vấn đề giáo dục.

2 ) Gia đình là nơi lớn lên trong nhân cách.
Theo dõi báo đài chúng ta thấy không biết bao nhiêu cảnh đổ vỡ gia đình,ngoại hôn, ly dị, bất hiếu, bụi đời … Thảm cảnh gia đình đe doạ đến hạnh phúc mọi người. Quan tâm đến vấn đề này thì không thể không để mắt đến giáo dục trong gia đình. Không chỉ con cái mới cần được giáo dục, mà ngay cả bậc làm cha mẹ cũng cần được lớn lên trong nhân cách của gia đình mình.

Thiết tưởng chúng ta cần nhìn vào mẫu gương gia đình Nagiarét để tìm ra những nét chỉ đạo cho gia đình.


Thánh Giuse, người chồng và người cha:
Giuse là một tranh thanh niên trẻ trung yêu đời, chàng cũng ước mơ một gia đình hạnh phúc như cô bạn Maria vậy. Họ đã chọn nhau để xây dựng tổ ấm, thế nhưng chương trình và ý định Thiên Chúa đã can thiệp kịp thời vào đời sống của Giuse và Maria nên mọi sự đã xoay chiều đổi hướng.
Thánh Giuse vẫn là một người chồng, chồng của Ðức Maria, đấng được Thiên Chúa tuyển chọn để đưa Ngôi Lời vào đời. Giuse chính là chỗ cậy dựa của Maria, là người chia sẻ buồn vui trong mọi biến cố của gia đình. Giuse vẫn một lòng yêu thương kính trọng với những săn sóc đầy tình nghĩa đậm đà mà chắc hẳn Maria hằng phải để tâm suy niệm trong lòng.
Thánh Giuse vẫn là một người cha, người cha của Ðấng Cứu Ðộ nhân loại. Chắc hẳn Ðức Giêsu đã phải cảm nghiệm được tình thương săn sóc của cha mình là thánh Giuse. Là người chồng, người cha trong mái ấm gia đình Nagiarét, nhân cách của thánh Giuse đã lớn lên theo một định hướng rõ rệt: âm thầm thực hiện tất cả những gì Thiên Chúa muốn, bất chấp những khó khăn vất vả và khó hiểu nữa.
Như thế, thánh Giuse không còn sống cho riêng mình nhưng sống cho vợ con, cho kế hoạch của cứu độ của Thiên Chúa và cho cả chúng ta ngày nay.

Ðức Maria, người vợ và người mẹ:
Ðức Trinh Nữ Maria vẫn là người vợ – người vợ theo pháp lý của thánh Giuse – vẫn một lòng yêu thương và kính trọng bạn mình trong ý định quan phòng của Thiên Chúa để con trẻ Giêsu được lớn lên trong mái ấm gia đình. Sự kiện Ðức Maria để tâm cất giữ Lời Chúa trong lòng mà Phúc Âm hay nhắc tới, cho phép chúng ta suy diễn Mẹ Maria cũng luôn lắng nghe tâm tư dự tính của chồng con. Thật vậy, Ðức Maria sắp sinh nở mà vẫn cùng thánh Giuse về quê quán khai sổ theo lệnh của chính quyền, đang thời con mọn mà vẫn lên đường tìm nơi ẩn nấp an toàn cho tính mạng của con trẻ Giêsu khỏi sự săn lùng của vua Hêrôđê, và Mẹ cũng không thể không lo lắng khi con trẻ Giêsu không về lễ cùng với thánh Giuse. Tất cả cho thấy Ðức Maria đã tỏ ra dũng cảm, phấn đấu trước những trắc trở của cuộc đời, dung hợp được ý muốn của Thiên Chúa với ý định của chồng mình là thánh Giuse.
Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trong thông điệp ‘Thân Mẫu Ðấng Cứu Thế” số 46, cũng làm nổi bật nhân cách của Ðức Maria như: “khả năng trao ban hết mình vì tình yêu, sức mạnh chịu đựng những phiền muộn, trung thành vô bờ bến và tận tụy không biết mệt mỏi”. Chắc chắn ân phúc của Thiên Chúa hằng đổ đầy trên Ðức Maria trong tình gia đình, thương con thương chồng, cùng chồng nuôi con khôn lớn.

Ðức Giêsu, người con hiếu thảo:
Phúc Âm Luca (2,52) chỉ ghi lại vỏn vẹn: “Ðức Giêsu, ngày càng khôn lớn, và được Thiên Chúa cũng như mọi người thương mến”. Duy chỉ câu đó cũng cho thấy Ðức Giêsu lớn lên trong nhân cách là con hiếu thảo trong gia đình, là trẻ ngoan nơi thôn xóm Nagiarét, là chú thợ mộc chăm chỉ bên cạnh cha mình là Giuse, và nhất là Con chí ái của Cha trên trời.
Cứ nhìn vào cách thế xưng hô và xử sự của Ðức Giêsu với Cha trên trời, chúng ta sẽ hiểu được tấm lòng hiếu thảo của Ngài đối với cha mẹ trần thế là thánh Giuse và Ðức Maria. Ðối với Chúa Cha, Ngài là người Con hoàn toàn tuỳ thuộc vào Cha, một sự tuỳ thuộc đầy lòng yêu mến, tin tưởng toàn diện và tuyệt đối, và coi lương thực dinh dưỡng của mình là làm theo ý Cha (Ga 4,34). Còn đối với cha mẹ trần thế, chắc chắn Ðức Giêsu cũng đầy lòng yêu mến và vâng phục, như Phúc Âm Luca đã minh chứng.
Cứ coi thái độ của Ngài tranh luận với người Do Thái thì biết. Ðức Giêsu rất tôn trọng Luật dạy qua Môsê phải thảo kính cha mẹ (Tl 5,1), đến nỗi Ngài phải phẫn nộ trước cách giải thích bất kính của các người Pharisêu và kinh sư. Theo họ, các của cải dành để giúp đỡ cha mẹ là ‘co-ban’, nghĩa là lễ vật dâng cho Thiên Chúa, và một khi đã giải thích là của dâng cho Thiên Chúa thì không ai được phép dùng của ấy mà phụng dưỡng cha mẹ nữa (Mc 7,10-12). Thử hỏi như thế không phải là bất hiếu sao, không phải là ruồng bỏ cha mẹ có toan tính sao ? Một con người có nhân cách như Ðức Giêsu, làm sao có thể chấp nhận được cách hành xử tệ bạc ấy !
Ðức Giêsu đã hấp thụ được lối sống đạo từ nơi gia đình, đời sống của Ngài phản ánh tâm tình đạo đức của thánh Giuse và Ðức Maria mà chúng ta dễ nhận ra qua những sinh hoạt của Ngài tại Hội Ðường và xã hội.

IV * GIA ÐÌNH TRONG XỨ ÐẠO VÀ XÃ HỘI

1 ) Giáo xứ là hình ảnh của gia đình Thiên Chúa.
Trước đây thần học thường khai triển Giáo Hội là “Nhiệm Thể Chúa Kitô”, rồi Giáo Hội là “Dân Thiên Chúa”, … và bây giờ Giáo Hội là “Gia đình Thiên Chúa”. Huấn quyền trong sách Giáo Lý mới nói rõ: “Tổ ấm gia đình là một nơi tự nhiên dành để giáo hoá con người về tình liên đới và các trách nhiệm đối với cộng đoàn” (GLHTCG 2224), và “họ đạo là cộng đồng Thánh Thể và là trung tâm sinh hoạt phụng vụ của các gia đình Kitô hữu, đó còn là nơi đặc biệt để các trẻ em và các cha mẹ học giáo lý” (GLHTCG 2226).
Trong lãnh vực sinh hoạt giáo xứ này, tôi thấy có nhiều bạn đã hăng say dấn thân phục vụ, đã mở rộng sinh hoạt của gia đình mình sang sinh hoạt của xứ đạo, và coi xứ đạo là gia đình mình. Dĩ nhiên trong lãnh vực này còn đầy dẫy những khó khăn và cản trở sẽ đặt ra khi các các bạn chia sẻ hoạt động tông đồ của mình. Khó khăn cản trở ấy có thể đến từ nhiều phía về khả năng, tuổi tác, đối tượng hợp tác, kế sinh nhai …
Chia sẻ để hiểu rõ chỗ đứng của mình thì chuyện ‘ăn cơm nhà, vác ngà voi’ không còn là cản trở cho sinh hoạt phục vụ xứ đạo và xã hội, và kết quả của việc tông đồ không còn làm chúng ta quá lo lắng nhưng chủ yếu là cách thế làm việc tông đồ của mỗi người.

2 ) Gia đình là ‘tế bào nguyên thủy của sinh hoạt xã hội’.
Tại sao sách Giáo Lý mới (s 2207) gọi gia đình là ‘tế bào nguyên thủy của sinh hoạt xã hội’? Không có gia đình thì không có xã hội. Một xã hội phủ nhận vai trò của gia đình là một xã hội bị hổng chân, chẳng mấy chốc sẽ sụp đổ. Một xã hội có gia đình tốt làm nền tảng sẽ phát triển tốt đẹp. Do đó, dấn thân vào đời sống xã hội là trách nhiệm và nghĩa vụ chính đáng và cao cả của mỗi người.
ÐGH Gioan Phaolô II kêu gọi giáo dân phải “can đảm chứng tỏ lòng tin cậy ở Thiên Chúa, Chúa Tể của lịch sử, và chứng tỏ tình yêu của mình đối với xứ sở bằng cách gắn bó đoàn kết với nhau vì công cuộc phục vụ lương thiện và vô vị lợi trong lãnh vực xã hội” (Dix répères pour l’an 2000, DB 1994, 187). Sự tham gia phục vụ lương thiện và vô vị lợi này của Ðức Gioan Phaolô II còn được giải thích qua sách Giáo Lý là “tự nguyện và quảng đại dấn thân vào các trao đổi xã hội tùy theo chỗ đứng và vai trò của mình lo cho công ích vì bổn phận này gắn liền với phẩm giá của nhân vị con người” (GLHTCG 1913).
Trong các bạn, ai cũng giữ một địa vị nào đó trong xã hội. Có người làm việc cho nhà nước, có người làm việc tư nhân, cũng có người lo việc công ích từ thiện, nhưng tất cả đều trực tiếp hay gián tiếp xây dựng bộ mặt đất nước và xã hội ngày càng tốt đẹp.
Ðó là một đôi điều suy nghĩ của tôi về vấn đề gia đình sống đạo. Chắc chắn đây không hẳn là mô hình lý tưởng mà chỉ là một gợi ý suy tư và thảo luận, chia sẻ và đảm nhận bằng cuộc sống của mỗi người.
Hướng về thiên niên kỷ thứ ba, chúng ta càng phải chuẩn bị ráo riết hơn nữa để tìm cho gia đình mình một hướng linh đạo thích hợp, một nếp sống gia đình thấm nhuần Phúc Âm, và nỗ lực xây dựng con người mới trong gia đình của Thiên Chúa.
Nguyện xin Thánh Giuse cùng với bạn ngài là Ðức Maria, hỗ trợ mỗi người chúng ta trong đời sống đạo hôm nay để dòng chảy yêu thương luân chuyển xuyên suốt mọi hoạt động của chúng ta.

Lm. Phaolô Phạm Công Phương
Read More
27Tháng Chín
2023

Đừng kìm nén những giọt nước mắt

27/09/2023
Anmai
Chia sẻ, Giáo dục
0

Đừng kìm nén những giọt nước mắt

Nước mắt thường được xem như biểu hiệu của sự yếu đuối, nhưng thực ra nó là dấu hiệu của sự trưởng thành. 

Trong Kinh Thánh con người thường hay khóc: Có những giọt nước mắt tang thương, ăn năn, buồn bã và vui mừng. Vua Đavít đẫm lệ khi leo lên Núi Ô-liu vì ông bị chính con trai của mình là Absalom phản bội (2 Sam 15, 30). Còn ông Giuse lại mừng phát khóc vì tìm thấy các anh em của mình sau nhiều năm lưu vong (St 42, 24). Có người phụ nữ hối lỗi, nhỏ những giọt lệ ăn năn dưới chân Chúa Giêsu (Lc 7, 38). Thánh Phêrô cũng từng khóc cay đắng vì đã chối bỏ Chúa ba lần (Lc 22, 62). Phaolô viết thư gửi các tín hữu Côrintô, cũng như cho người khác, “trong nước mắt” để nói với họ về tình cảm của ngài (2 Cor 2, 4). Chính Chúa Giêsu cũng thế, Ngài than khóc cho thành Giêrusalem hoặc kìm nén vì động lòng thương trước mộ của Ladarô (Lc 19,41). Chúa Giêsu xác định phúc lành qua bài giảng trên núi “Phúc thay ai biết khóc than”, thế nhưng tại sao nhiều người trong chúng ta lại kìm nén những giọt nước mắt?

Cậy trông vào Chúa không làm vơi đi nỗi buồn 

Con người không muốn khóc lóc vì họ không muốn tỏ ra yếu đuối, họ luôn được dạy rằng “Bạn đừng bao giờ khóc trước mặt mọi người”. Người ta cũng không muốn cho thấy cảm giác thực của họ hiện ra sao, vì sợ gây ra nỗi đau cho người thân hoặc khiến nỗi buồn của chính họ thêm trầm trọng. Người ta tránh khóc than vì họ không muốn lôi kéo sự chú ý về bản thân họ và dường như họ đang tỏ ra cho thấy những vấn đề của họ. Nhiều khi chúng ta cảm thấy nước mắt chả ăn khớp gì với niềm cậy trông vào Chúa Kitô: “Xin đừng đau buồn, nếu bạn yêu mến tôi”, thánh Augustinô đã từng viết như thế khi ám chỉ về cái chết của mình.

Nhưng nếu cái chết là một bi kịch, cũng như những tình huống khác khiến chúng ta cảm thấy đau lòng, thì niềm cậy trông của chúng ta vào Chúa không loại trừ điều đó. Phục sinh không loại trừ ngày Thứ sáu Tuần Thánh. Xác quyết về tình yêu của Thiên Chúa và niềm vui xuất phát từ Chúa không ngăn cản được đau khổ do bởi sự chia cách, những thất bại và tất cả các kiểu đau buồn phát xuất từ lòng thương dành cho người khác. Trái lại, tình yêu khiến một người dễ bị tổn thương. Được gần Chúa thì đừng che lòng – vì nó chỉ khiến ta dễ mủi lòng hơn thôi. Cậy trông không làm cho chúng ta trở nên siêu phàm, lơ lững trong tình trạng tách ra khỏi sự đau khổ và gây đau khổ cho nhiều người. Càng gia tăng sức mạnh của Chúa Thánh Thần, chúng ta càng ít lo lắng khi chạm phải khổ đau.

Đừng kìm nén những giọt nước mắt 

Nếu Chúa đã ban cho chúng ta khả năng khóc, thì đó là khả năng chúng ta nên sử dụng. Chẳng có gì khó chịu hơn cảm giác đau đớn vì người chúng ta yêu thương và chứng kiến họ cắn răng chịu đựng nó thay vì bày tỏ nỗi đớn đau của mình. Khóc lóc không phải là thiếu niềm tin.

Vậy khóc lóc có phải là biểu hiệu của sự yếu đuối? Đúng vậy, và chúng ta hãy vui vì điều đó! Nó nhắc nhở chúng ta biết rằng chúng ta luôn cần đến Chúa và cần đến anh chị em mình. Như Charles Dickens đã viết: “Chúng ta đừng bao giờ xấu hổ vì những giọt nước mắt của mình, bởi vì chúng là cơn mưa quét đi bụi đất che phủ con tim khô cứng của chúng ta” –

Christine Ponsard/Aleteia
Sao Nguyễn chuyển ngữ
Read More
18Tháng Chín
2023

Chuyện sống ở nhà hưu…

18/09/2023
Anmai
Chia sẻ, Giáo dục
0

Chuyện sống ở nhà hưu…

 

Mình ở nhà hưu được hơn 3 năm rồi. Tuổi đời đã trên 83 kể luôn 9 tháng 10 ngày trong bụng mẹ. Linh mục được hơn 50 năm.  Sống ở nhà hưu vui hay buồn? Thưa : Vui có buồn có. Mà ở đâu lại không như vậy? Nhưng nhà hưu mình đang ở thì vui là gấp bội.

 

Về nhân sự: Cả nhà không tới 10 người. Cao tuổi nhất là 97, thấp nhất là vừa hơn 80! Đủ miền: Hà Nội có, Thái Bình có, Bùi Chu có, Nghệ An có, Quảng Nam có, Bình Định có. Hầu hết là đã hơn 50 năm linh mục. Có vị vừa tạ ơn 65 năm linh mục! Ăn chung với nhau: sáng, trưa, chiều. Có vị được đề nghị để đưa thức ăn vào tận phòng, để khỏi phải đi lại vì tuổi cao phải chống gậy,  nhưng cha nhất định không chịu, vì ăn chung để mà chuyện trò cho vui, trớ trêu thay là vị này lại điếc hơi bị nhiều! Nhưng tai điếc chứ miệng đâu có điếc! Bản thân mình đây cũng khá điếc: nghe thì tiếng được tiếng mất, chứ mà “nổ” thì không thiếu phát nào! Hầu hết các vị cao tuổi hơn mình. Các vị là gương tốt cho mình về sự hòa đồng, về sự chịu đựng và về sự đạo đức…

Về nhà ở: Mình làm cha xứ hơn 40 năm, phòng mình ở nhà hưu bây giờ ngon lành hơn các phòng mình đã từng ở tại các giáo xứ. Rộng rãi, tiện nghi, tiện lợi cho người cao tuổi… Muốn sắm đồ đạc gì thì cũng tha hồ có chỗ! Có hành lang trước – sau; thích nhất là hành lang sau, rất ư là rộng rãi. Có vị còn kê bàn làm việc, có bếp mini, có treo lồng nuôi chim, có treo hoa phong lan… Thích hơn nữa là nhìn xuống hoa viên có bonsai, có hoa các loại, có bể nuôi cá cảnh… Có vị còn làm những bức tranh trên tường rất ý nghĩa bằng gạch tận dụng đủ màu rất bắt mắt! Có vị đã bố trí chỗ tiếp khách trên hành lang sau phòng, chơi cờ tướng hoặc domino, kể cả đôi lúc cũng nhâm nhi lai rai… Tại hoa viên này có hang đá Đức Mẹ, nhỏ mà rất xinh, có tượng thánh Micae, có thánh Martino Porres. Ngày nào mình cũng lâm râm cầu nguyện những nơi này. Hoa viên này là một nơi rất yên tĩnh, một thế giới riêng biệt. Thích lắm lận.

Về chuyện ăn uống: Phải thừa nhận rằng: Ăn ở nhà hưu ngon hơn, đầy đủ hơn khi mình còn ở xứ đạo. Hiện giờ người nấu bếp là một nữ tu và một cô phụ bếp, cả hai là người Thượng. Rất thương các cha già. Rất tận tụy. Có những thứ rất đặc sản: măng le chua, rau rừng, cà đắng… Đôi lần thấy cả một dĩa dế chiên đầy luôn! Cuối cùng không còn chút nào! Chắc là do đã ăn quen miệng khi xưa! Nghe nói tới 200 ngàn một ký lô. Đặc sản mà! Có lần mình bộc bạch trong bữa ăn rằng thì là ăn ở nhà hưu sang hơn ăn ở nhà xứ, các vị đều ô–kê ngay. Có ai cho các vị quà gì thì cũng đều mang đến nhà cơm ăn chung. Các nhà hàng Công giáo cũng hay mang đến nhà bếp món này món nọ rất đặc sản. Đức cha hay cha quản lý cũng thường xuyên gởi cho các “cha cố” cái này cái nọ. Tình nghĩa lắm!

 

Chăm sóc cho các cha là một linh mục và 2 thầy dòng Mẹ Chúa Cứu Chuộc (Đồng Công): Dọn lễ, giúp lễ, chưng hoa, tài xế, hớt tóc; thức đêm chăm sóc khi có người đau bệnh hoặc tại nhà hoặc tại nhà thương; trồng rau sạch cho bữa ăn; sai đâu đánh đó, kể cả đánh… cờ tướng! Các cha nhà hưu rất biết ơn nhà dòng. Ba vị cha thầy này to con và rất khỏe, bế lên bế xuống các vị đau bệnh dễ như chơi vậy. Dòng này chuyên chăm sóc các cha hưu hoặc đau yếu bệnh tật.

Về công việc: Nghỉ hưu nhưng không nghỉ việc. Có vị còn dịch Kinh Thánh, hoặc sẵn sàng dạy tiếng Thượng cho các sơ mới đến trong giáo phận, đi dâng lễ các nơi khi cần… Nhiều người lại thích đi xưng tội với các cha già. Tiếp khách liên tục, nhất là tiếp và giúp đỡ giáo dân người Thượng nghèo mà xưa các vị là cha xứ. Bản thân kẻ này, ngày nào cũng dậy lúc 4 giờ và dâng lễ cho các nhà nội trú người sắc tộc ở xa nhà thờ, xong rồi còn dạy nhân bản, nhắc nhở các em việc học hành. Phải lễ 5 giờ sáng để các em còn kịp giờ đi học. Khi còn ở giáo xứ, phải lo công việc mục vụ, thời giờ cho người nghèo ít thôi; về nhà hưu, toàn thời gian là cho người nghèo. Đi đâu cũng thấy người nghèo, gặp người bệnh, cần phải giúp. Đấy, nhà hưu mình là như vậy.

Chuyện thời sự: Giờ cơm là giờ thông tin mọi sự kiện trên cả thế giới. Từ chuyện đạo đến chuyện đời. Nào là chiến sự ở Úc-rai-na; rồi bóng đá trên thế giới, ai thua ai thắng, tiền thưởng bao nhiêu; hoặc có hoa hậu nào đó phát biểu dại khôn làm sao, nhà hưu này đều thông suốt cả! Bài giảng của Đức Thánh Cha cho giới trẻ hôm lễ Hiển Dung ở Bồ Đào Nha xa xôi về 3 từ của bài Tin Mừng là Tỏa Sáng, Lắng Nghe, Đừng Sợ được ngài khai triển rất hay cũng được nhà hưu bàn tới. Hưu thì có giờ hơn để đọc, để nghe, thành ra nó như thế! Vui chứ?

 

Thấy có một nguyên tắc sống không thành văn nhưng rất cần cho đời sống chung: Đất sinh cỏ già sinh tật. Mỗi người mỗi tính. Vừa rồi có một vị trong nhà để câu này trên một bản gỗ trước phòng: Nỗ lực xê xích, gay go co kéo . Ý nói là mỗi người nên tự xê xích tuy có gay go, để có thể ngồi chung với người khác. Đừng chỉ bắt người khác phải làm vừa lòng mình. Mình rất thích nguyên tắc này vì nó cần thiết cho việc sống chung.

UNESCO là tổ chức văn hóa – giáo dục của Liên Hiệp Quốc có đề cập đến mục đích của việc học hành: Thứ nhứt là học để Hiểu Biết (To Know). Thứ hai là học để hành động (To Do). Thứ ba (mà mình rất thích) là học để Sống Chung (To live Together). Thứ tư là học để khẳng định mình (To Be). Như vậy cho nên, để sống chung với người khác được thì cũng phải học. Có bao giờ chúng ta nghĩ đến chuyện này không? Giáo lý Công giáo dạy để sống chung với tha nhân thì phải biết yêu thương và tôn trọng họ.

Thật tình mà nói: Niềm Vui và Hạnh Phúc của cuộc đời phát xuất tự lòng mình là chính. Không mua nó ngoài chợ hoặc ở siêu thị được đâu.

 

Lm Phêrô Nguyễn Vân Đông – GP Kon Tum

Read More
07Tháng Chín
2023

Khi nào đến ngày tận thế?

07/09/2023
Anmai
Chia sẻ, Giáo dục
0

Khi nào đến ngày tận thế?

 

 

 

Hỏi: Chúng ta vẫn tin Thiên Chúa sẽ đến lần thứ hai vào ngày tận thế. Nhiều người vẫn thắc mắc khi nào tới ngày đó? Chiến tranh thế giới thứ ba, dịch bệnh trên toàn thế giới, ngày mặt trời hết năng lượng, v.v?

 

Trả lời:

Câu hỏi trên đây là một trong những vấn đề lớn mà các nhà thần học quan tâm. Thậm chí người bình dân cũng muốn tìm hiểu hoặc thắc mắc về ngày tàn của vũ trụ. Nếu như thế giới có ngày bắt đầu, hẳn là nó cũng có ngày tàn cuộc. Đó là lối nói bình dân, dễ hiểu. Về phương diện khoa học vật lý thiên văn, các cuộc nghiên cứu cho thấy tuổi thọ của vũ trụ, cụ thể: trái đất là giới hạn. Một ngày nào đó năng lượng mặt trời cạn kiệt, trái đất cũng không còn sự sống. Hoặc nhiều giả thuyết đưa ra rằng: chiến tranh thế giới thứ 3 với bom nguyên tử có thể hủy hoại hành tinh này. Hoặc tới một ngày, dịch bệnh sẽ hủy diệt loài người trên mặt đất này. Sau cùng nhưng chưa hết, chẳng may một hành tinh nào đó va chạm vào trái đất, đó cũng là ngày tàn của quả địa cầu.

Bạn thân mến,

Trên đây là những nguyên do có thể hiểu được trái đất có ngày kết thúc. Vấn đề là phải chăng ngày đó là lúc Đức Giêsu đến lần thứ hai?

Sau thời gian chờ đợi Đấng Cứu Thế, Thiên Chúa đã nhập thể nơi Đức Giêsu Kitô. Ngài là Con Thiên Chúa xuống thế, chịu chết, phục sinh và đã về trời. Theo đó, Giáo hội thời các Tông đồ mời gọi các tín hữu hãy tin vào Đức Giêsu. Hơn nữa, Giáo hội còn mời gọi mỗi tín hữu hãy ăn năn, thống hối và sửa đổi đời sống để sẵn sàng cho ngày Chúa lại đến lần thứ hai. Điều này được ghi lại trong bản tuyên xưng Đức Tin từ thời các Tông Đồ: “Và Người sẽ đến để phán xét kẻ sống và kẻ chết.” Đó là ngày quang lâm mà Giáo hội diễn tả việc Chúa Giêsu Kitô ngự đến lần thứ hai trong vinh quang, phán xét nhân loại vào ngày Cánh Chung. (x. Mc 13,24–27, Kinh Tin Kính).

Ngày nay nhiều nhà thần học thường nhắc đến cụm từ: “cánh chung cận kề”. Nhiều người cho rằng sứ điệp của Đức Giêsu và của các tông đồ dường như loan báo về ngày tận thế sắp xảy đến. Thậm chí người ta có cảm tưởng đó cũng chính là trọng tâm lời rao giảng của Đức Giêsu cũng như của Giáo hội sơ khai. Hẳn nhiên nếu xét về mặt thời gian, điều ấy vẫn chưa xảy ra. Hơn 2000 năm đã trôi qua, chúng ta chưa thấy ngày ấy xuất hiện. Bởi thế Rudolf Bultmann[1] có lý khi cho rằng: “Con người tân tiến ngày nay chẳng còn ai tin vào chuyện “tận thế” trong ngày Chúa lại đến để xét xử.”[2]

Nếu ta nói Đức Giêsu lại đến trong vinh quang lần hai, thì vinh quang ấy đã thể hiện ngay biến cố Phục Sinh. Lúc này Ngài không mang thân xác thuộc sự sống tự nhiên. Trên hết Đức Giêsu phục sinh trong bình diện của sự sống mới mẻ, khác biệt và vĩnh viễn. Với Ngài, lúc này lịch sử và thời gian không còn chi phối nữa. Ngài luôn là sự sống và trường cửu. Bởi đó, chỉ có con người mới có ngày cuối cùng, thế giới mới có ngày tận thế.

Trong ý nghĩa tận thế, chúng ta hiểu ngày thế giới vật lý và vũ trụ này sẽ kết thúc. Giáo hội cũng hiểu lịch sử nhân loại hoặc thế giới con người sẽ chấm dứt. Như vậy, tận thế có nghĩa là thế giới con người sẽ có một kết thúc do Thiên Chúa định đặt. Theo lối nhìn của nhà thần học Teilhard de Chardin[3], Thiên Chúa là điểm đầu và là điểm kết của thế giới này. Ngài là Anpha và Ômêga. Ngôi Hai Thiên Chúa đang đưa nhân loại hướng về điểm Ômêga này.

Dù có những thăng trầm, chúng ta cần thừa nhận lịch sử con người phải là tiến về phía trước. Tới một thời điểm nào đó, người ta gọi là ngày tận cùng, tận thế. Chúng ta cũng có thể gọi đó là điểm Ômêga. Từ điểm đó, chính Đức Giêsu đến lần thứ hai để tạo nên một thế giới mới, và điều này cũng đồng nghĩa với sự chấm dứt thế giới cũ. Khi đó là trời mới đất mới. Lúc ấy Người lau sạch mọi nước mắt khỏi mắt họ, không còn chết nữa, không còn khóc lóc, kêu ca, đau khổ nữa, vì vũ trụ cũ đã qua đi. (x. Kh 21,1–4).

Khi chiêm ngắm thế giới vũ trụ, lịch sử con người và thân phận của nó, chúng ta phải thừa nhận: vận mệnh của thế giới không tùy thuộc ở chúng ta mà là trong bàn tay của Thiên Chúa. Chúng ta không làm chủ được thế giới. Con người càng không sống mãi trên mặt đất này. Trên hành trình đó, chính Đức Giêsu đã đến để mở ra con đường cứu độ cho mỗi người. “Ai tin Thiên Chúa sẽ được sống muôn đời.” (Ga 3,7–15). Và Thiên Chúa sẽ đến vào ngày sau hết. Vì thế với niềm hy vọng, chúng ta hạnh phúc chờ đón ngày ấy. Ðó ngày Thiên Chúa đưa “thời gian tới hồi viên mãn là quy tụ muôn loài trong trời đất dưới quyền một thủ lãnh là Ðức Kitô.” (Eph 1,9–10).

Với tâm thế trên, chắc chúng ta không quá sợ hãi trong ngày tận thế. Giáo hội ngày nay không cho rằng ngày Đức Giêsu đến lần thứ hai là “Ngày thịnh nộ”. Thực vậy, Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI phê bình quan niệm “Ngày thịnh nộ” khi cho rằng: “Ngày đó lại khiến con người có thể chết khiếp ví đau đớn, kinh hoàng, nghĩ đến là rùng mính khiếp sợ. Việc Chúa đến chỉ còn là phán xét, đe dọa mọi người, vì đó là ngày giải quyết mọi công nợ. Lối nhìn như thế rõ ràng đánh mất những gì là cốt yếu nhất của Thiên Chúa tốt lành.”

Trái lại, người tín hữu được mời gọi xin Chúa hãy đến, “Maranatha”. Đó là ngày của niềm vui và vinh thắng, vì Chúa chúng ta lại đến trong vinh quang. Thay vì sợ hãi trong viễn tượng của ngày tận thế, người theo Chúa hẳn sẽ ngỡ ngàng hạnh phúc, vì một lần nữa, Thiên Chúa không bỏ dân Người. Ước sao ai cũng cảm nghiệm được sự bình an và hạnh phúc vì Thiên Chúa luôn đặt tay lên chúng ta và nói: “Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ!” (Mc 6,45–52).

Tới đây, hy vọng câu trả lời sáng thêm đôi chút. Để cụ thể, chúng ta thấy có lần các môn đệ cũng hởi Đức Giêsu về thời điểm Thầy khôi phục vương quốc Ítraen. Người đáp: “Anh em không cần biết thời giờ và kỳ hạn Chúa Cha đã toàn quyền sắp đặt, nhưng anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần khi Người ngự xuống trên anh em.” (Cv 1,6–8).

Thiết tưởng lời nhắn trên đây của Đức Giêsu thật quan trọng để mỗi chúng ta sống hạnh phúc trong hiện tại. Số là chúng tôi từng gặp nhiều người hoang mang về vấn đề ngày tận thế. Cực đoan hơn nữa, họ chẳng muốn làm gì, mà chỉ chờ ngày Chúa đến trong sợ hãi. Mặt khác, trên mạng Internet đang có quá nhiều bài viết về vấn đề này. Hy vọng các bạn trẻ, mỗi giáo dân cẩn trọng hơn với những trang Web có bài liên quan đến chủ đề này. Đó là những nhánh giáo phái chủ trương ngày tận thế đang đến gần. Lồng trong đó, chúng tôi thấy có biết bao thông tin khiến người đọc hoang mang!

Thay vì trả lời ngày tận thế khi nào đến, chúng ta hãy chú tâm vào sứ điệp của Đức Giêsu mời gọi chúng ta dẫn thân cho Nước Thiên Chúa ngay trong hiện tại. Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI giải thích:

“Vì Đức Giêsu hết sức nhấn mạnh đến chữ “bây giờ” nên đối với những ai biết nhìn sâu vào vấn đề, sẽ thấy “thì tương lai” không còn là điều chính yếu nữa. Vì thế, dù chính Đức Giêsu có nghĩ đến tương lai hay đến một Vương Quốc của Thiên Chúa, nhưng ý nghĩa của nó có thể hiểu như lời mời gọi hãy quyết định: phải dấn thân ngay trong hiện tại, ngay bây giờ.”[4]

Xin Thiên Chúa luôn ở cùng bạn và tôi, ở đây và lúc này!

 

 

Giuse Phạm Đình Ngọc SJ

Read More

Điều hướng bài viết

  • Previous page
  • Page 1
  • …
  • Page 8
  • Page 9
  • Page 10
  • …
  • Page 153
  • Next page
Bài viết mới nhất
Phụ nữ Công giáo trẻ mang đức tin vào cuộc sống hàng ngày trực tuyến
09/05/2026
‘Mẹ tôi là Why’ của tôi: Mối liên kết không thể phá vỡ của Fernando Mendoza với mẹ và trận chiến của bà với MS
09/05/2026
Đức Giáo Hoàng Leo XIV Thực Hiện Cuộc Hành Hương Thánh Mẫu Nhân Kỷ Niệm 1 Năm Làm Giáo Hoàng
09/05/2026
Video nổi bật
https://www.youtube.com/watch?v=Td144YDsaGo
Sự kiện sắp tới

There are no upcoming events at this time.

Ủy ban Giáo dục Công giáo – Trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.

Liên hệ

72/12 Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, TP.HCM Get Directions

Phone: +84 931 436 131

Email: [email protected]

Ban chuyên môn
  • Ban Tài liệu và Truyền thông
  • Ban Giáo chức
  • Ban Kỹ năng và Giá trị sống
  • Ban Khuyến học
  • Ban Học viện Thần học
  • Ban Hội Học sinh – Sinh viên
Chuyên mục
  • Tin tức
  • Thư chung
  • Giáo dục
  • Phụng vụ
  • Thư viện
Bản quyền © 2020 thuộc về Ủy Ban Giáo Dục HĐGM VN. Design by JT.