2021
Hôn nhân đồng tính dưới cái nhìn Công Giáo [1]
Hôn nhân đồng tính dưới cái nhìn Công Giáo [1]
Những năm gần đây các phòng trào bênh vực những người trong cộng đồng LGBT [2] một ngày càng gia tăng. Các cuộc biểu tình nổi dậy để đòi quyền lợi mà những người LGBT phải được hưởng, trong đó có quyền yêu cầu công nhận hôn nhân đồng tính hợp thức hóa dân sự.
Kết quả mà cộng đồng đạt được tính đến 2017 đã có hơn 25 quốc gia công nhận hôn nhân đồng tính[3]. Đặc biệt đánh dấu lớn nhất khi Tòa án tối cao Hoa Kỳ đã đưa ra luật liên bang về bình đẳng hôn nhân vào năm 2015. Hôn nhân đồng tính đã được hợp pháp hóa tại 37 trong số 50 tiểu bang Hoa Kỳ, cùng Quận Columbia, trước khi có phán quyết năm 2015.
Tại Việt Nam nếu Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 kết hôn đồng giới là một trong năm trường hợp cấm. Thì nay Luật hôn nhân và gia đình 2014 đã cởi mở hơn kết hôn đồng giới không còn thuộc trường hợp bị cấm. Thay vào đó, Luật mới chỉ quy định: Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người có cùng giới tính (Điều 8). Đây được xem là một bước tiến khả quan, tín hiệu vui mừng của cộng đồng LGBT tại Việt Nam.
Vậy có nên việc công nhận hôn nhân đồng tính có nên hay không? Chắc có lẽ tùy vào ý thức hệ của mỗi người, tổ chức, quốc gia, tôn giáo mà có những cái nhìn khác nhau. Ta không thể bắt buộc người này phải công nhận, hay bắt người kia không công nhận. Thái độ đối thoại trong việc này rất cần thiết, tránh các thái độ thái hóa đi quá mức ở những trạng thái lên án gây rắc, hay chống đối một cách bạo động.
Thế thì trong giáo hội Công giáo xem những người đồng tính ra sao, họ có giá trị trong giáo hội hay không? Hôn nhân đồng tính được giáo hội công nhận hay không? Hướng đi nào cho người đồng tính khi họ là những người Công giáo
Để trả ba câu hỏi trên, đề tài đưa ra các lý thuyết sau để trả lời. Cụ thể:
- Lý thuyết chức năng luận
Với lý thuyết chức năng cá thểMalinowski cho rằng môi trường càng bất trắc thì những lo lắng tâm lý càng tăng, và người ta lại càng có khuynh hướng dùng đến lễ nghi và ma thuật [17]. Từ lý thuyết này đề tài đưa ra giả thuyết rằng: Khi người đồng tính có xu hướng tính dục khác lạ với những người dị tính. Họ là những thành phần bị xã hội lên án xem là dị ngượm, không được người khác chấp nhận…dẫn tới tình trạng cô lập. Thế nên họ rất cần tổ chức lên tiếng bênh vực họ. Tôn giáo là phương thế họ dùng để lắp đầy nổi khát vọng này.
Giáo hội Công giáo cho rằng con người là hình cảnh của Thiên Chúa, “con người có phẩm giá của một ngôi vị, không phải chỉ là một cái gì đó mà là một ai đó” [5,101], thế nên dù là nam hay nữ hay đồng tính cũng là một con người mà “hình ảnh sống động của Thiên Chúa” [5,99].
Giáo hội Công giáo hoàn toàn không lên án người đồng tính, nhưng xem họ là những đứa con cần yêu thương hơn trong lòng Giáo hội là Mẹ của tín đồ. Sách giáo lý số 2358 đã nói lên tinh thần này: “Đừng quên một số người đã có khuynh hướng đồng tính luyến ái thâm căn. Đối với đa số những người này, khuynh hướng lệch lạc ấy là một thử thách. Chúng ta phải đón nhận họ với lòng tôn trọng, thông cảm và tế nhị, tránh đối xử bất công. Cả những người này cũng được mời gọi thực hiện ý Chúa trong cuộc sống”
Giáo hội mời gọi con cái mình là những người đồng tính sống đúng ơn gọi của mình, vác thập giá đời mình trong niềm hy vọng. Sách giáo lý số 2359 của Hội thánh Công giáo nói rõ: “Những người đồng tính luyến ái cũng được mời gọi sống khiết tịnh. Họ có thể và phải cương quyết tiến dần đến sự toàn thiện Ki-tô giáo nhờ kinh nguyện và ân sủng bí tích, nhờ biết tự chủ để củng cố tự do nội tâm và nhờ sự nâng đỡ của một tình bạn vô vị lợi”.
Bên cạnh đó Công giáo còn cho rằng mỗi tín đồ đều được mời gọi nên thánh theo bậc sống của mình. Không phải chỉ Giáo hoàng, Giám Mục, Linh mục hay tu sĩ nam nữ mới được mời gọi nên thánh. Mà cả những người lập gia đình dị tính cũng được mời gọi, đặc biệt hơn là những người con đồng tính trong giáo hội càng được mời gọi nên thánh.
Trong Hiến chế tín lý về Giáo hội Lumen Gentium, chương IV Giáo dân đã đề cập đế việc này: “Trong giáo hội không phải tất cả mọi người đều cùng đi theo một con đường như nhau, nhưng tất cả đều được kêu gọi nên thánh, và đã nhận được một đức tin như nhau nhờ sự công chính của Thiên Chúa” [4,130], “Tất cả mọi người trong Hội thánh, hoặc thuộc hàng giáo phẩm cũng như những kẻ được họ coi sóc, cũng đều được kêu gọi nên thánh” [4,142], “Tất cả mọi tín hữu, dù thuộc bất cứ bậc sống hay hoàn cảnh nào, đều được kêu gọi đạt đến sự sung mãn của đời sống Kitô hữu và sự trọn lành của đức ái” [4,143], “tất cả mọi Kitô hữu đều được kêu gọi và thậm chí có nghĩa vụ phải luôn tìm kiếm sự thánh thiện và trọn lành trong bậc sống của mình” [4,151].
Từ những phân tích trên đề tài tiên liệu những người đồng tính thuộc tín đồ Công giáo sẽ có điểm tựa đời mình, gắn bó với tôn giáo của mình. Chấp nhận số chung với số phận một cách hạnh phúc, từ đó cống hiến cho đời. Bên cạnh đó những người dị tính có cái nhìn cảm thông hơn đối với những người đồng tính.
Đối với lý thuyết chức năng xã hội thì Brown cho là tôn giáo gây ra những âu lo cũng nhiều như làm giảm âu lo: thí dụ như vì niềm tin tôn giáo đã ăn sâu vào tâm trí mà người ta âu lo hệ quả khi qua đời vì đã gây ra «tội».
Nếu vừa được phân tích bên trên với chức năng cá thể, Công giáo được xem là mãnh đất màu mỡ cho người đồng tính sinh sống. Thì đến chức năng xã hội thì dường như Công giáo trở thành mãnh đất khô cằn thiếu nước cho người đồng tính, khi họ thực hiện các hành vi quan hệ đồng tính.
Sách giáo lý Công giáo số 2357 dạy rằng: “…..Căn cứ vào Kinh Thánh vốn xem chúng như những suy đồi nghiêm trọng ( x.St 19,1-29; Rm 1,24-27; 1 Cr 6,10; 1Tm 1,10 ), truyền thống HộiThánh luôn tuyên bố :”Các hành vi đồng tính luyến ái tự bản chất là thác loạn” ( x. CDF, décl “persona humana” 8 ). Các hành vi này nghịch với luật tự nhiên vì loại bỏ chủ đích truyền sinh của hành vi tính dục, cũng không xuất phát từ nhu cầu bổ túc thực sự về tình cảm và tính dục. Những hành vi này không thể chấp nhận được trong bất cứ trường hợp nào.”
Từ lý thuyết chức năng xã hội đề tài đưa ra giả thuyết như sau: Vì nhu cầu công khai hóa xu hướng tính dục, mà những người đồng tính Công giáo phải từ bỏ nhà thờ, các bí tích, nghi thức sinh hoạt tôn giáo chỉ vì sợ tội, xem đó là trái ngược với tôn giáo và mặc cảm với cộng đoàn nơi sinh hoạt. Đề tài cũng tiên liệu ngày càng mất tín đồ, hay những người đồng tính có hành vi quan hệ đồng tính kín hay công khai hóa sẽ sống trong lo sợ, dấu kín, sống không thật….
- Lý thuyết Tân Mác-Xít và Cấu Trúc Luận
Đối với hai lý thuyết này sẽ giải mã câu hỏi số hai trong câu hỏi nghiên cứu, và đây trọng tâm của tiểu luận.
Ý thức hệ và sự thống trị về ý thức hệ (ideological hegemony) trong luận điểm của Antonio Gramsci. [17]
Hệ thống tổ chức của Công giáo rất chặt chẽ, không chỉ ở tín điều, luân lí, phẩm trật mà ngay cả hệ thống giáo huấn của hội thánh. Từ bộ giáo luật, các công đồng, các thông điệp hay các giáo huấn của bộ trong hệ thống giáo hội.
Cụ thể mỗi tín đồ đều được giáo huấn qua các lớp giáo lí, từ khi biết đọc biết viết tín đồ đã được học giáo lý. Mô hình tổ chức như một trường thực thụ, thi cử để lên lớp qua các học phần khác nhau về giáo lí phù hợp với độ tuổi. Khi trưởng thành sẽ được tham gia các lớp về hôn nhân Công giáo, để học hỏi về quan niệm về hôn nhân dưới cái nhìn của Công giáo. Hay khi lập gia đình, dù người kết hôn với tín đồ có Công giáo hay không, thì vẫn bắt buộc người phối ngẫu đó tìm hiểu mục đích và ý nghĩa hôn nhân Công giáo. Đặc biệt các buổi hành lễ linh mục cũng truyền tải thông điệp qua bài giảng về quan niệm của giáo hội Công giáo về hôn nhân.
Vậy hệ thống luân lý Công giáo về hôn nhân ra sao?
Trong Công đồng Vaticanô II văn kiện đã dành ra một chương khá lớn để nói về phẩm giá cao quý của hôn nhân và gia đình trong Hiến Chế Mục Vụ Gaudium et Spes (“Vui mừng và Hi vọng”). Đặc biệt lưu tâm đến vấn đề truyền sinh, tình yêu, giáo dục.
Bộ giáo luật 1983 ở điều 1053 quy định “giao ước hôn nhân” dành cho “một người nam và một người nữ” mục đích của hôn nhân “sinh sản” và “giáo dục con cái” và “chính Chúa Kitô đã nâng giao ước hôn nhân giữ hai người đã được rửa tội lên hàng bí tích” [3,333]. Đặc tính hôn nhân Công giáo được điều 1504 chỉ rõ mang tính “đơn nhất” và “bất khả phân ly” [3,333]. “Sự đồng thuận của ý chí”, “chấp nhận nhau qua một giao ước bất khả thu hồi” [3,333] được điều 1057 nói đến. Điều 1141 cũng nói đến trường hợp tháo gỡ khi hôn nhân không thành sự theo giáo luật và lí do “tử vong” [3,353]. Điều 1059 nói rõ “Hôn nhân của những người Công giáo bị chi phối không chỉ luật Thiên Chúa mà còn luật của Giáo hội Công giáo nữa” [3,333]. Trong Giáo hội Công giáo có hai loại luật đó là luật Thiên Chúa và luật Hội thánh. Đối với luật Thiên Chúa là luật không bao giờ được thay đổi, còn luật Hội thánh có thể thay đổi.
Về vấn đề mục vụ cho hôn nhân Bộ giáo luật hết sức lưu ý đến việc giáo huấn, điều 1063 quy định rất chi tiết: “…1. Bằng việc rao giảng, huấn luyện giáo lý thích hợp cho vị thành niên, thanh niên và người lớn, kể cả qua việc xử dụng các phương tiện truyền thông xã hội, ngõ hầu các tín hữu được giáo dục về ý nghĩa của hôn nhân Kitô giáo và về nghĩa vụ của vợ chồng và của cha mẹ Công Giáo; 2. Bằng việc chuẩn bị riêng cho những người sắp kết hôn để đôi bạn được sửa soạn để lãnh nhận sự thánh thiện và những bổn phận của bậc sống mới; 3. Bằng việc cử hành phụng vụ hôn phối cách chu đáo, để làm sáng tỏ rằng đôi bạn trở thành dấu chỉ và tham dự vào mầu nhiệm hiệp nhất và tình yêu phong phú giữa Chúa Kitô và Giáo Hội; 4. Bằng sự giúp đỡ cho đôi bạn sống trung thành với giao ước vợ chồng, đễ mỗi ngày họ thêm thánh thiện và hoàn hảo hơn trong đời sống gia đình.” [3,335]
Bộ giáo luật còn đưa ra những trường hợp ngăn trở tiêu hôn nói riêng và nói chung, nghi thức hôn nhân, hôn nhân hỗn hợp. Còn những điều được nói ở trên nhằm truyền tải một thức hệ về hôn nhân Công giáo một cách ngắn gọn và đầy đủ nhất.
Học thuyết xã hội của Giáo hội Công giáo cho rằng “gia đình là tế bào sống động của xã hội”, “cộng sự với Đấng tạo hóa” [5,163] trong việc truyền sinh. Trong Tông huấn Hậu thượng Hội đồng Christifideles Laici, Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolo II nói Gia đình là “chiếc nôi của sự sống và tình yêu” [5,163]. Gia đình là “thánh điện của sự sống” [5,177], gia đình có vai trò “cổ vũ và xây dựng nền văn hóa sự sống” [5,177]. Bởi thế hôn nhân Công giáo loại bỏ và lên án các hình thức “triệt sản và phá thai” [5,178], cũng như các “phương pháp ngừa thai dưới nhiều hình thức khác nhau” [5,179]. Nói thế không phải mọi hình thức ngừa thai đều không được chấp, giáo hội mời gọi tín đồ cân nhắc, trách nhiệm trước khi truyền sinh, và có thể dựa vào “trật tự nhân học, người ta được phép vận dụng sự tiết dục định kì trong thời gian có thể mang thai của người phụ nữ.” [5,179] Giáo hội lên án sựu can thiệp của “kỹ thuật sinh sản” [5,180] để “tách rời hành vi kết hợp vợ chồng ra khỏi hành vi sinh sản” [5,180], chẳng hạn: “gieo tinh” [5,180], “thụ tinh nhân tạo đồng nguồn” [5,180]. Vì xem kết quả “đứa trẻ đó được sinh ra là kết quả của một hành vi công nghệ hơn là kết quả tự nhên của một hành vi nhân linh” [5,180]
Không chỉ thế học thuyết xã hội Công giáo còn cho rằng “gia đình phải được đặt trên xã hội và quốc gia” [5,166] vì chính là gia đình là điều kiện khởi nguồn sự sống và giúp cho xã hội phát triển các chức năng khác. Việc kết hợp tạo thành gia đình “không phải là kết quả của những thỏa thuận giữa con người với nhau, cũng không phải là kết quả của những quy định pháp lý” [5,167] mà là do “quyết định của Thiên Chúa” [5,167]. Một đằng hôn nhân Công giáo “nhắm tới việc sinh sản và giáo dục con cái” [5,169], nhưng bên cạnh đó “hôn nhân không được lập ra chỉ vì lí dó sinh sản” [5,169], mà nó còn đề cao đến “tính bất khả phân ly của hôn nhân và giá trị hiệp thông của hôn nhân vẫn còn nguyên vẹn” [5,169] vì có những cuộc hôn nhân vì lí do khách quan mà không thể thực hiện thiên chức làm cha làm mẹ. Những trường hợp này giáo hội mời gọi tín đồ “chấp nhận nuôi những đứa trẻ bị bỏ rơi hay bằng cách thực hiện những công tác phục vụ theo nhu cầu cần thiết của người khác” [5,169].
Như đã đề cập ngoài năng truyền sinh, bất khả phân ly của hôn nhân Công giáo, thì nhiệm vụ giáo dục cũng không kém. Thật vậy học thuyết xã hội Công giáo nhấn mạnh gia đình chính là: “cộng đồng yêu thương và liên đới, nơi duy nhất thích hợp để dạy dỗ và truyền đạt các giá trị văn hóa, đạo đức, xã hội, tâm linh và tôn giáo, rất cần cho các thành viên của gia đình và xã hội được phát triển và hạnh phúc” [5,182], “gia đình đóng một vai trò hoàn toàn độc đáo và không thể thay thế được trong việc dạy dỗ con cái” [5,182]. Trách nhiệm của các bậc almf cha làm mẹ phải làm sao đó “cung cấp một sự giáo dục toàn diện” [5,182], “đặc biệt trong việc giáo dục giới tính” [5,182].
Đây là một trong chuỗi ý thức hệ xuyên suốt về hôn nhân trong đời sống giáo hội Công giáo. Như thế thấy được rằng hôn nhân Công giáo chỉ chấp nhận sự kết hợp tự nhiên giữa một người nam và một người nữ. Không chấp nhận các hành vi quan hệ đồng tính hay hôn nhân đồng tính. Vì một số đặc tính chỉ có hôn nhân giữa người nam và người nữ mới đáp ứng được đó là việc truyền sinh, giáo dục đúng nghĩa, để gìn giữ các giá trị gia đình mang lại cho xã hội và giáo hội.
Đó là hệ thống ý thức hệ về hôn nhân của Công giáo, thế thì đằng sau ý thức hệ đó có điều gì diễn ra trái ngược không? James Scott trong sách Domination and the Arts of Resistance chịu ảnh hưởng của Erving Goffman, đặt nghi vấn về sự thống trị của ý thức hệ. James Scott cho rằng ngoài việc xem các diễn ngôn trên sân khấu (diễn ngôn trước công chúng) thì cũng xem diễn ngôn phía sau hậu trường (diễn ngôn kín). [17]
Ngay cả phía sau hậu trường về tính đơn nhất bất khả phân ly, giữa người nam và người nữ hôn nhân Công giáo đã từng xảy ra. Đó là trường hợp ly khai Anh giáo do vua Enricô VIII năm 1533 khởi xướng vì tính đơn nhất bất khả phân ly của Kitô giáo. Thế thì việc cổ võ hôn nhân đồng tính buộc giáo hội Công giáo phải chấp nhận đã diễn ra như thế nào trong giáo hội Công giáo.
Những năm gần đây việc những phe phái ủng hộ hôn nhân đồng tính đòi buộc giáo hội Công giáo phỉa chấp nhận, đã hết sức tâm huyết dùng cả phương tiện truyền thông, để lên tiếng đã kích giáo hội Công giáo về vấn đề này. Điều đáng nói ở đây nó không xãy ra ngoài giáo hội, mà nó còn xuất phát từ bên trong giáo hội.
Cụ thể các giám mục hoa kỳ đã lên tiếng về sự giảng dạy sai lầm của linh mục dòng tên James Martin về các vấn đề quan hệ đồng tính và hôn nhân đồng tính. Được biết Linh mục Martin là tác giả của cuốn “Building a Bridge: How the Catholic Church and the LGBT Community Can Enter into a Relationship of Respect, Compassion, and Sensitivity”, nghĩa là “Xây dựng một nhịp cầu: Làm thế nào Giáo Hội Công Giáo và Cộng đồng LGBT có thể tiến vào một mối quan hệ Tôn trọng, Cảm thông, và Nhạy Cảm”[4].
Vào tháng 03 năm 2019 giáo hội Công giáo tại Đức, Hồng y Reinhard Marx Tổng Giám Mục của Munich và Freising, và là chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Đức đã tuyên bố rằng Giáo Hội Công Giáo ở Đức đang bắt đầu một “tiến trình công nghị với hiệu lực ràng buộc” để bàn thảo lại các vấn đề luật độc thân linh mục, vấn đề phong chức linh mục cho phụ nữ, giáo lý về đạo đức tình dục, , chủ nghĩa giáo sĩ trị và các kết hiệp đồng tính, trong đó có hôn nhân đồng tính. Sau khi công bố Giáo hoàng Phanxico đã gửi thư cảnh báo tiến trình công nghị này, Giáo hoàng nói: “chỉ tập trung vào việc xem xét các cấu trúc chứ không được linh hoạt bởi sứ mệnh thiết yếu của Giáo Hội là truyền bá đức tin.” “chủ nghĩa tân Pelagiô” [dựa vào sức riêng của mình] khi “tìm cách điều chỉnh cuộc sống của Giáo Hội theo luận lý hiện tại.” Hệ quả là chúng ta có thể có “một cấu trúc giáo hội gọn gàng và thậm chí là được ‘hiện đại hóa’, nhưng không có linh hồn và hấp lực truyền giáo”.[5] Cũng xin nói thêm Hồng y Reinhard Marx là một trong chín cố vấn cho Giáo hoàng, và với tiến trình công nghị với hiệu lực ràng buộc có nghĩa là không cần tòa thánh phê chuẩn. Thế nên việc này xảy ra có thể một cuộc ly khai sẽ xãy ra, được gọi Đức giáo, khi các điều khoản trong công nghị trái ngược với giáo huấn với giáo hội hoàn vũ.[6]
Lý thuyết tân Mác-xít cho ta thấy chính ý thức hệ mà Công giáo không chấp nhận hôn nhân đồng tính, dù có những cuộc nổi dậy một cách ngấm ngầm phía sau hậu trường (James Scott), hay trước sân khấu. Hay nói khách khác có những tiếng nói đi ngược lại giáo huấn về hôn nhân, từ bên trong giáo hội Công giáo. Đã gây tiếng vang khác mạnh, để giáo hội Công giáo một lần nữa nhìn lại giáo huấn này.
Việc tiếng nói đi ngược lại giáo huấn của giáo huấn Công giáo về hôn nhân không mới xãy ra trong thời kì hiện nay, mà đó đã có từ lâu. Thế nên từ những năm 1986 Bộ giáo lí đức tin đã gửi thư cho các giám mục tại giáo hội địa phương về mục vụ người đồng tính[7]. Mà tiền thân của thư này đã được đề cập tới trong “Tuyên ngôn về một số vấn đề liên quan đến đạo đức tính dục” của Thánh Bộ ban hành ngày 29 tháng 12 năm 1975.[8]
Trãi qua biết nhiêu thăng trầm từ bên ngoài đến bên trong phía giáo hội, nhưng giáo hội Công giáo vẫn trung tín trong giáo huấn của mình, tại sao giáo hội Công giáo không thay đổi, lí do nào. Đừng vội kết án Công giáo là cổ hũ hay lạc hậu, hay nặng hơn cố chấp trong giáo huấn. Việc tìm hiểu lí do là việc cần làm trước khi quy kết các điều trên.
Lý thuyết cấu trúc luận cho rằng trước khi đánh giá một vấn đề nào đó, cần tìm hiểu cái người ta nghĩ, cái ý nghĩa bên trong. Việc tìm hiểu này phải đặt trong quan hệ đối ngẫu (opposition) với những hiện tượng hay biểu tượng khác trong hệ thống [17]. Từ lý thuyết này ta có thể đưa ra các cặp đối ngẫu giữa hôn nhân dị tính với hôn nhân đồng tính dưới cái nhìn Công giáo như sau:
Như đã đề cập bên trên hôn nhân Công giáo là hôn nhân kết hợp giữa một người nam và một người nữ, sự kết hợp này không nằm ở sự thỏa thuận của đương sự, hay chứng nhận pháp lý mà do sự quyết định của Thiên Chúa. Thế nên hôn nhân Công giáo không chỉ là hôn nhân tự nhiên nữa, mà nó vươn tới siêu nhiên, vì nó là một bí tích của Công giáo. Từ đó ta thấy được rằng hôn nhân là cộng sự viên đắc lực của thượng đế để truyền sinh một cách tự nhiên và giáo dục con cái theo sự hướng dẫn của Thiên Chúa thông qua quyền bính của giáo hội.
Hôn nhân đồng tính không bao giờ có đặc tính này. Có những ý kiến đưa ra là những cặp hôn nhân đồng tính có thể xin con nuôi, hoặc sinh sản nhân tạo, mang thai hộ… nói chung làm mọi cách để có con. Nhưng họ bỏ quên một yếu rất quan trọng, con cái được sinh ra phải là kết quả của sự yêu thương, chứ không phải là một món hàng của giới y khoa, vì con người là một nhân vị chứ không phải là cái gì đó. Vì thế “sự thụ tinh ngoài thân thể vợ chồng luôn thiếu các ý nghĩa và giá trị được biểu lộ trong ngôn ngữ thể xác và sự kết hợp giữa nhân vị” [9,61]. Cũng xin nói thêm ngay cả những cặp hôn nhân dị tính cũng không được áp dựng các hình thức này, khi họ là những cặp vợ chồng son sẻ. Tính nhân quyền trong ý thức hệ của Công giáo rất cao, không ai có thể can thiệp vào công trình của Đấng tạo hóa, và hoàn toàn tôn trọng nhân phẩm của con người dù đó là một sinh linh nhỏ bé.
Trường hợp xin con nuôi là trường hợp được những cặp hôn nhân đồng tính chọn lựa để xây dựng và duy trì đời sống gia đình. Nhưng vấn đề đặt ra ở đây liệu đứa trẻ được nuôi dạy trong môi trường có hưởng đủ quyền mà một con người được hưởng hay không. Liệu đứa trẻ đó có chấp nhận được trong gia đình mình có hai người đàn ông là cha mình, hay hai người nữ là mẹ mình. Hay tồi tệ hơn khi gọi người nam là mẹ mình, người nữ là cha mình. Giá trị văn hóa, định nghĩa về gia đình có cần tái định nghĩa lại hay không? Quả thật là một sự khó khăn dành cho tất cả mọi người, ngay cả những người đồng tính đắn đo muốn xây dựng một gia đình.
Từ lý thuyết Tân Mác-Xít và Cấu trúc luận, đề tài đưa ra giả thuyết Công giáo sẽ không bao giờ chấp nhận hôn nhân đồng tính, vì các đặc tính truyền sinh, yêu thương, giáo dục mà hôn nhân Công giáo mang lại. Bên cạnh đó sẽ còn nhiều cuộc nổi dậy từ bên ngoài đến bên trong giáo hội, sự đấu tranh giữa các phe cấp tiến và bảo thủ để chống đối quyết định này. Tiên liêu sẽ các cặp hôn nhân đồng tính là những tín đồ Công giáo sẽ từ bỏ nhà thờ, chết trong sự rời xa giáo hội. Các chương trình mục vụ cho người đồng tính từ bên trong giáo hội sẽ diễn ra. Để nhằm giữ lại và giáo huấn cho người đồng tính hiểu được giá trị của họ, mà sống đúng với ơn gọi của họ. Ngoài ra gìn giữ hôn nhân của Công giáo trước thế tục hóa.
- Lý thuyết lựa chọn duy lí
Nếu các tín đồ Công giáo có thể thấm nhuần các giáo huấn của Công giáo về đồng tính thì chắc chắn sẽ không bao giờ xãy ra các sự việc được đề cập bên trên. Một số tín đồ hay tổ chức trong và ngoài giáo hội không chấp nhận, có hướng chọn cách sống khác, nặng hơn là trái ngược với giáo huấn của Giáo hội về quan hệ đồng tính và hôn nhân đồng tính. Bên cạnh đó cũng có những tín đồ sống kép kín, giả dối, che dấu xu hướng tính dục để được vị thế trong xã hội và giáo hội.
Fredrik Barth (1928 – 2016) nhà nhân học đương đại cho rằng: “Mô hình sản sinh này dựa trên khái niệm quan hệ xã hội là những giao dịch (transaction), trong đó những đối tác có những lựa chọn chiến lược chứ không chỉ thể hiện vai trò hay vị thế theo quy ước đạo đức”[17]. Áp dụng lý thuyết này về các trường hợp những người đồng tính không muốn công khai xu hướng tính dục, nên đã chấp nhận các cuộc hôn nhân dị tính, để che đậy thân phận, bị áp lực từ gia đình, xã hội hay giữ vững vị thế trong hệ thống xã hội.
Việc này còn nguy hại hơn khi nó xâm nhập vào môi trường chủng viện nơi đào tạo các chủng sinh trở thành các linh mục, giám mục tương lai. Đây là những trường hợp mà đương sự không thể sống được đời sống vợ chồng, mà chấp nhận sống môi trường tu trì để che đậy xu hướng tính dục. Dẫn tới các cuộc quan hệ hôn nhân đồng tính trong môi trường chủng viện, hay các cuộc tình đồng giới ngoài chủng viện. Chẳng hạn: “Hồng y McCarrick đã lạm dụng với trẻ giúp lễ, với các chủng sinh và linh mục trẻ dưới quyền.”[7,33]. “Giáo hoàng Biển Đức XVI đã sa thải gần 800 linh mục vì xâm phạm tình dục trẻ em.” [7,39]… Từ đó có những thế lực chống đối giáo hội Công giáo lợi dụng công kích truyền thông về việc bỏ luật độc thân của linh mục và cổ vũ hôn nhân đồng tính. Tạo ra những bằng chứng giả để tố cáo các vị đứng đầu trong việc chống lại hôn nhân đồng tính, trong đó có Hồng y George Pell là một những việc điển hình.
Hồng y George Pell là người đứng đầu trong chiến dịch chống lại hôn nhân đồng tính, Hồng y bị cáo buộc đã lạm dụng tình dục trẻ em, Hồng y phải ngồi tù 400 ngày bắt đầu tháng 2 năm 2019. Mới đây Hồng y George Pell đã được các thẩm phán của Toà án Tối cao của Úc thông báo quyết định đảo ngược phán quyết kết tội Đức Hồng y George Pell về tội lạm dụng tính dục trẻ vị thành niên của tòa cấp dưới, tuyên bố ngài vô tội và được trả tự do ngay lập tức.[9]
Thế nên Công giáo ngày càng kỹ lưỡng chọn lựa các ứng sinh trưởng thành về tính dục. Bộ giáo luật 1983 giáo hội Công giáo số 1024 quy định: “Chỉ người nam đã chịu phép Rửa Tội mới được lãnh nhận bí tích truyền chức cách hữu hiệu.” [3, 323]. Các ứng viên phải phân định rõ ràng trước khi nhận thiên chứ này, không nên cố chấp che đậy, sớm muộn đương sự cũng phải tự mình tỏa hiện ra xu hướng tính dục của mình.
Năm 2013 linh mục Krzysztof Charamsa đã bị sa thải khỏi Bộ giáo lí đức tin, vì linh mục đã thừa nhận mình là người đồng tính và đã có người yêu với tờ báo Ý Corriere della Sera và báo chí Ba Lan. Sau khi bị bãi chức linh mục Krzysztof Charamsa trực thuộc giáo phận Pelplin, Ba Lan.[10]
Ngày nay không ít các cặp hôn nhân Công giáo đã đổ vỡ vì một trong hai người đồng tính, hay các cặp hôn nhân mới vì áp lực xã hội và giáo hội đã nhắm mắt che đậy đầy duy lí về xu hướng tính dục đồng tính. Hay nó nặng hơn khi hai đương sự là người đồng tính thuộc tín đồ Công giáo thỏa thuận thực hiện nghi thức hôn nhân Công giáo để phủ lắp dư luận. Hệ quả mang lại là phá vỡ sự thiêng liêng của hôn nhân Công giáo, dẫn đến xúc phạm bí tích, hôn nhân không thành sự.
Vậy hướng đi nào cho người đồng tính. Lập gia đình với người khác giới thì không sống được, cùng giới thì không được công nhận, dấn thân vào con đường tu trì thì không được đón nhân. Chỉ còn một phương thế là chấp nhận đời sống độc thân, sống đứng với ơn gọi đặc biệt dành riêng cho mình.
Từ lý thuyết duy lí đề tài đưa ra giả thuyết, nếu người tín đồ sống trong môi trường nhiều áp lực về ý thức hệ và không thể chống cự lại thì người tín đồ Công giáo tiếp tục các hành vi che đầy sự thật tính dục đồng tính, mà sống và hành động như những người dị tính. Kế tiếp các cuộc hôn nhân Công giáo của những người đồng tính vô hình chung vô hiệu, và các chủng viện ngày càng gia tăng các ứng sinh là những người đồng tính, nếu không có phương án tuyển chọn phù hợp.
Tiên liệu giáo hội Công giáo ngày càng sẽ để ý hơn với những người đồng tính, mà có hướng mục vụ cụ thể để hướng dẫn. Để tạo ra môi trường các tín đồ phân định trước những quyết định của mình, hỗ trợ các tín đồ sống đúng ơn gọi theo giáo huấn của giáo hội.
Cao Dương Cảnh
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Equipes Notre (Nguyễn Anh Tuấn dịch) (2008), Tình yêu và hôn nhân, Phương đông.
- Gioan Phaolo II (Nguyễn Anh Tuấn) (2018), Thần học về thân xác, Tôn giáo
- Hội đồng Giám mục Việt nam (2007), Bộ giáo luật, Tôn giáo.
- Hội đồng Giám mục Việt Nam (2012), Công đồng Vaticanô II, Tôn giáo
- Hội đồng Giám mục Việt nam (2007), Tóm lược học thuyết xã hội của Giáo hội Công Giáo, Tôn giáo
- Richard Parker và Peter Aggleton (biên tập) (2013), Văn hóa, xã hội và tình dục , Văn hóa – Thông tin.
- Trần Minh Huy (2019), Linh mục và tu sĩ sống trưởng thành tình cảm và tình dục trong bối cảnh Giáo hội và xã hội hôm nay, Hồng đức
- Trần Ngọc Ánh (2015), Nhân học Kitô giáo (2 tập), Phương đông
- Trần Quốc Dũng (2017), Đạo đức sinh học (tập 2), Phương đông
Các tài liệu trang web
- conggiao.info
- vaticannews.va
- conggiao.info
- youtube.com
- simonhoadalat.com
- tgpsaigon.net
- tgpsaigon.net
Tài liệu powerpoint
- “Lý thuyết Nhân học” của Lương Văn Hy, Đại học Toronto
[1] Đây là một phần của tiểu luận cuối môn Lý thuyết Nhân học, đề tài nghiên cứu hôn nhân đồng tính với luân lí Công giáo. Bài viết mang tính chất cá nhân, thế nên chắc chắn bài còn nhiều thiếu xót, cũng có thể sai lầm. Xin quý đọc giả rộng lòng bỏ qua va xin góp ý về mail [email protected]
[2] “LGBT” là tên viết tắt của “đồng tính nữ (Lesbian), đồng tính nam (Gay), song tính (Bisexual) và chuyển giới (Transgender)”
[3] Xem thêm: dantri.com.vn
[4] Xem thêm: conggiao.info
[5] Xem thêm: vaticannews.val
[6] Xem thêm: conggiao.info. Và youtube.com
[7] Xem thêm: simonhoadalat.com
[8] Xem thêm: tgpsaigon.net
[9] Xem thêm: vaticannews.va
[10] Xem thêm: gplongxuyen.org
2021
Đồng tính và hôn nhân đồng tính
Đồng tính và hôn nhân đồng tính
Từ nhiều thập kỷ nay, trong những nước có ít nhiều tự do, thấy rộ lên trào lưu luyến ái đồng tính (homosexuel). Ở một góc phố tối nào đó của một đô thị phồn hoa, người ta có thể bắt gặp một cô đĩ đực đứng chờ khách.
Táo bạo hơn, nhiều cặp đồng tính quyết định sống chung như vợ chồng thực thụ, bất chấp dư luận, lại còn đòi pháp luật phải chính thức công nhận Hôn nhân đồng tính của họ nữa. Ngày nay trên thế giới, không những chỉ những nước Âu Mỹ, mà một số nước đang phát triển cũng đã công nhận hôn nhân đồng tính, thậm chí công nhận “giới tính thứ ba”, tức giới tính của người chuyển giới.
Hôn nhân đồng tính và giao hợp đồng tính đặt ra cho Giáo hội nhiều vấn đề gai góc, cả về mặt luân lý lẫn mục vụ. Hôn nhân đồng tính có phản tự nhiên hay không? Nếu chứng minh được đồng tính có nền tảng ở cấu trúc cơ thể, thì tự nhiên sẽ được quan niệm thế nào đây? Bằng như nếu coi đây là rối loạn giới tính hay bệnh tâm thần, thì thay vì khinh rẻ, chúng ta lại phải cảm thông và tỏ lòng thương xót nữa.
Hôn nhân đồng tính tự nó mở vào Gia đình đồng tính. Và hẳn là người ta muốn có con. Nếu đây là con nuôi, thì bố mẹ đồng tính có đáng là tấm gương cho con cái soi vào, khiến chúng nên người hay không ? Bằng như vợ chồng đồng tính muốn sinh con một cách tự nhiên, thì họ lại phải chuyển giới đến độ thay đổi hẳn thân xác, thành như một thân xác khác, thì thủ biến (manipulation) đến mức ấy có động chạm đến nhân phẩm không nữa ?
Để có giải đáp cho biết bao câu hỏi như thế, bắt đầu chúng ta nên tìm hiểu tiến trình của sự hình thành giới tính trong thiên nhiên và ý nghĩa của nó, kế đến xem do đâu mà có việc ứng xử đồng tính ngược chiều với hướng nhắm của sự phân giới tính ấy.
Tiến trình hình thành giới tính và mục đích của nó
Ai cũng biết sự phân tính đực-cái, nam-nữ nhắm mục đích bào tồn giống nòi. Cứ nhìn vào sự tiến hóa trong sinh sản, bắt đầu từ loại đơn bào đến con người, một tiến hóa kéo dài cả triệu triệu năm, chúng ta sẽ thấy đúng như vậy.
Loại đơn bào như giun chỉ việc tự xẻ làm hai là đủ cho một thành hai con rồi. Có điều cứ lâu lâu lại phải diễn ra cái gọi là tiếp hợp (conjugaison) giữa những con đơn bào ấy để duy trì khả năng sinh sản bằng phân đôi nói trên. Phải chăng tiếp hợp đã có gì như cọ sát âm dương bằng hình thức tối giản đơn ? Chỉ biết rằng khi cơ thể sinh vật đã phức tạp và hoàn thiện đủ, thì tiếp hợp sẽ nhường chỗ cho thụ tinh : cái trứng hợp tử phải do hai giao tử đực cái kết lại mà thành, như nhụy đực và nhụy cái của bông hoa chẳng hạn.
Khi mà cơ thể đã phức tạp nhiều và hoàn thiện hẳn, cũng là khi cá thể tính của sinh vật (động vật) đã xác định hoàn toàn, thì đực sẽ là cả con chó, con heo này, và cái sẽ là toàn con chó kia, con heo kia, rất rõ. Khi ấy, thì thụ tinh sẽ là qua giao hợp của một con đực và một con cái. Cũng khi ấy, chức năng sinh sản đã phân cách hẳn với các chức năng sinh lý khác.
Vâng, đúng là sự phân tính nhắm mục đích bảo tồn nòi giống nơi những sinh vật thượng đẳng.
Có điều nơi con người, tuy phân tính vẫn nhắm sinh sản, nhưng không chỉ sinh sản.
Lần theo tiến trình văn minh hóa nơi loài người, ai nấy đều thấy rõ : nữ và nam không hoàn toàn bị cuốn theo cơn lốc bảo tồn nòi giống như động vật nữa. Tình cảm rồi sẽ chi phối họ mạnh hơn xác thịt. Vâng, con ngườii văn minh đến với nhau bằng tình cảm trước tiên. Do sự tương ái nam nữ ấy, hai bên bị hút vào nhau để muốn sống chung trọn đời với nhau. Và đây là gia đình, nó ngày càng hướng về sự trường tồn vĩnh viễn : không chỉ sự khăng khít giữa hai vợ chồng, mà sự khăng khít ấy nối dài sang những đứa con, đứa cháu dễ thương, chúng không chỉ được đùm bọc, nuôi dưỡng, che chở, mà còn được giáo dục nên người. Và tình gia đình thâm sâu ấy biểu hiện nơi con cháu bằng đức Hiếu, vươn rộng đến thân thích thành họ hàng, vươn cao đến ông bà trong tục Thờ gia tiên.
Quả vậy, sư phân tính nơi con người, nhất là với đạo làm người, không chỉ nhắm mục đích sinh sản, mà còn vì một cái gì thiêng liêng hơn, nó đi đôi với phẩm giá người. Vâng, nếu chỉ để duy trì nòi giống thôi, thì gặp gỡ qua đường cũng xong, như giữa hai con heo, con mèo ấy, chứ đâu cần đến thủy chung, hẹn non thề biển, đâu cần đến chữ Hiếu và những bổn phận giữa vợ chồng với nhau, giữa con cái với mẹ cha, giữa cháu chắt với ông bà, v.v…
Thế nhưng cái gia đình lý tưởng mà sự phân tính nhắm nơi con người ấy sẽ gặp rắc rối với hôn nhân đồng tính, khi mà sống chung thì có, nhưng tông tộc trường tồn thì không, bởi không còn con cháu nối dõi tông đường nữa.
Do đâu mà có hiện tượng đồng tính nghịch thường như thế ?
Nguồn gốc Đồng tính nơi Lưỡng tính ?
Theo sử gia tôn giáo danh tiếng Mircea Eliade, rất nhiều dân tộc như Ấn Độ, Ba Tư, Ai Cập, Bắc Âu có huyền thoại ngàn xưa về Con người lưỡng tính (Androgyne). Phải chăng từ muôn xưa, người ta nghĩ rằng sự Toàn vẹn thần thánh của Con người là ở chỗ nó chưa phân chia thành hai, nam riêng nữ riêng ? Chỉ vì Con người toàn vẹn ấy bị xẻ làm hai, nên hai nửa mới khốn khổ tìm nhau, cũng là tìm lại sự toàn vẹn nguyên sơ của mình. Câu truyện Sáng thế thư chương II có lẽ cũng là sao chép huyền thoại ấy từ vùng Lưỡng hà (Ba tư) : Thiên Chúa lấy bụi đất làm nên Con người (số ít) (c.7). Rồi để con người khỏi cô độc và có trợ tá phù hợp, Thiên Chúa đã lấy xương sườn của con người mà làm nên một phụ nữ (c.18,22).
Sự lưỡng tính ấy mới là của thân xác, nhà phân tâm học Carl Gustav Jung rồi sẽ đưa nó vào cả tâm hồn nữa. Theo ông, thì người nam cũng có hồn nữ là Anima (giống cái), người nữ cũng có hồn nam là Animus (giống đực). Nghĩa là từ sâu thẳm của tâm hệ (psyché), ai nấy đều có cả Animus lẫn Anima.
Bây giờ, với khoa học phát triển, chúng ta thử xem sự lưỡng tính ấy có thật ở nền tảng là cơ thể hay không.
Trước tiên, trong cơ thể của bất cứ ai cũng có đủ cả hocmon nam testosterone lẫn hocmon nữ oestradiol. Có điều nam giầu testosterone hơn, và nữ giầu oestradiol hơn, thế thôi. Thế mà, như chúng ta thấy, hai hocmon ấy thiết yếu bậc nhất cho chức năng sinh dục. Chúng lại còn tác động vào vùng não nó điều khiển ứng xử giới tính (comportements sexuels) nữa. Nói tóm lại không ai là nữ hay nam tuyệt đối, và điều này đi đúng với quy định của nguyên lý Âm-dương : « dương trung hữu âm, âm trung hữu dương » xét về cả hai mặt Khí và Lý.
Giới tính cũng được quyết định ở ADN nữa. Vâng, một nam nhân bình thường thì mang cặp nhiễm sắc thể XY, trong khi nữ nhân bình thường có cặp nhiễm sắc thể XX. Vâng, bình thường là như vậy. Còn bất bình thường là khi một phụ nữ thay vì XX lại có XY, một đàn ông thay vì XY lại có XX. Mà không phải hiếm lắm đâu. Thật vậy, cứ 20.000 nam thì có một XX (nên vô sản) ; cứ 100.000 nữ thì có một XY (cũng vô sản luôn) ; thêm vào đấy, cứ 30.000 người thì có một lưỡng tính (hermaphrodite), nghĩa là có cả hai cơ quan sinh dục đực cái khác nhau[1], do đó có xáo trộn giới tính tự nhiên.
Như thế, xem ra thứ ứng xử giới tính của người đồng tính, thứ ứng xử ấy có nguồn gốc ở sự lưỡng tính của con người, và nó có thể phát sinh hoặc do tỷ lệ hocmon đực cái biến đổi, hoặc do xáo trộn nhiễm sắc thể XX-XY, hoặc do rối loạn ở não, tại Vùng dưới đồi (Hypothalamus). Riêng về tỷ lệ hocmon đực-cái, để thí nghiệm, người ta đã bơm thêm testosterone vô một con chuột cái, và nó có thể đi nhảy một cô chuột cái khác.
Nói tóm lại, đồng tính có nguồn gốc thứ nhất ở sự lưỡng tính của cơ thể con người, và nguồn gốc thứ hai do trục trặc chức năng của Hypothalamus, tức não giữa. Quả thế, có ba lớp não : lớp ngoài, lớp trong cùng, và lớp đứng giữa hai lớp ấy. Hypothalamus hay Vùng dưới đồi thuộc não giữa. Nó có nhiều nhân hay noyau, trong đó có noyau ventromedian và aire préoptique médiale chúng điều khiển ứng xử giới tính, cái trước thúc ứng xử nữ và cản ứng xử nam, cái sau kích ứng xử nam và ngăn ứng xử nữ… Nói rõ hơn, sự luyến ái đồng tính có nguồn gốc ở cơ thể, xét cả về mặt giải phẫu học (anatomique) lẫn hình thái học (morphologique). Dĩ nhiên, môi trường (xã hội, giáo dục, tâm lý) cũng góp phần không nhỏ vào việc kìm hãm hay phát triển sự đồng tính ấy.
*
Người ta có thể đặt vấn đề : Do đâu mà ngày xưa không thấy nói đến đồng tính, mà ngày nay nó lại rộ lên như một phong trào vậy ?
Ngày xưa hay ngày nay ở chốn thôn dã, mấy ai đủ dũng khí để sống ngược với dư luận đây ? Xã hội nhìn ai là nam hay nữ, thì người ấy bị đóng cứng vào đấy, không thể thoát ra được. Để rồi khi đã tuổi cập kê, cha mẹ dựng vợ gả chồng cho xong, thì dù ngược lại với xu hướng riêng, người đồng tính cũng đành chịu vậy, và họ cứ sinh con đẻ cái như người bình thường, để rồi cái xu hướng luyến ái đồng tính tư riêng sẽ bị chôn vùi qua năm tháng. Chỉ thỉnh thoảng trong các khu nội trú nam sinh khép kín, mới thấy đôi ba luyến ái đồng tính, nhưng có lẽ chỉ vì lâu không gặp nữ, nên một nam sinh mới bị hấp dẫn bởi một nam sinh có dáng dấp nữ nhi đôi chút, thế thôi.
Thật ra, thì xưa kia tại Mỹ châu, nhất là Phi châu, cũng thấy có nói đến đồng tính, nhưng không nhiều, và người ta thường coi đó như một thứ bệnh, một rối loại tâm thần chẳng hạn. Lại xem ra sách Levi (18.22 ; 20.13) và thư Roma (1.27) cũng nhắc tới giao hoan đồng tính, nhưng có lẽ đây chỉ là loạn dâm suông.
Ngày nay, do bầu khí tự do, người ta không cần che dấu nữa, nên luyến ái đồng tính mới rộ lên, và do đó mới thấy số người đồng tính rất đông, ngoài trí tưởng tượng. Cứ nhìn vào một nước như Ấn Độ, với dân số hơn một tỷ, nay đã có tới 2 triệu người chuyển giới[2]. Chuyển giới trong một nước đang phát triển như Ấn, phải tốn tới mấy ngàn đô la Mỹ, thì mười người họa may mới có một đủ điều kiện thôi. Nên số người đồng tính phải tới hơn chục triệu là ít. Việt Nam cũng là một nước đang phát triển, thế mà nay cũng có cả ngàn người có điều kiện ra chuyển giới ở nước ngoài rồi.[3]
Chuyển giới như trên mới chỉ là tạo dáng bên ngoài, như giải phẫu ngực và hạ bộ, thế thôi, chứ chưa phải để sinh con một cách bình thường. Liệu y khoa trong tương lai có thể làm như vậy được không ?
Những khả năng hôm nay và mai ngày của việc Chuyển giới
Tạo dáng bên ngoài, cho nam có dáng nữ, bằng cách bơm ngực và thay đổi cơ quan sinh dục, thì nay người ta làm được không mấy khó khăn. Chỉ cần chịu tốn : mấy ngàn đô bên các nước nghèo, mấy chục ngàn đô bên các nước phát triển ! Chứ thay đổi bên trong, như ghép tử cung và buồng trứng là điều khác hẳn.
Việc cấy ghép tử cung và làm cho tử cung ấy sống và hoạt động được, y khoa đã nghĩ đến từ lâu, nhưng chỉ nay mới thành công bước đầu. Tạp chí Science et Vie số tháng hai năm 2015 cho biết, đây là thành công sau nhiều lấn thất bại (tr.78vt.) : thất bại do ghép được mà không mang thai nổi, hay do mang thai nổi nhưng không kết tận được ở việc sinh con !
Thật ra, ca thành công nói trên chưa phải là ghép tử cung cho một nam nhân, mà cho một nữ nhân sinh ra không tử cung và âm hộ. Có điều ghép thành công rồi, người ta được khích lệ để nghĩ đến việc nghiên cứu lấy tử cung phụ nữ đưa vô bụng một nam nhân đồng tính để người này có hạnh phúc được sinh con. Trước hết, phải tìm chỗ đủ rộng trong khoang bụng cho tử cung ghép, vì khi đã có thai, thai nhi sẽ lớn rất mau khiến tử cung trương phình lên, chèn lấn sang các cơ quan khác. Thế rồi khi thai nhi đủ lớn, lại phải có lực đẩy xuống để nó được sinh ra với nhau bọc ngoài. Ngoài ra, không chỉ cho tử cung nối với hệ mạch máu để nó sống và được nuôi dưỡng, mà còn nối với hệ thần kinh để khi thai nhi cựa quậy, người mẹ có thể sung sướng cảm nhận được.
Cho đến nay, chưa ai dám nghĩ đến việc sinh đẻ bình thường cho người vợ (đực), mà chỉ cho giao tử kết hợp ngoại môi (in vitro), rồi giải phẫu đưa vô tử cung vay mượn ấy, và khi thai nhi lớn đủ, lại phải giải phẫu để lấy nó ra, thế thôi. Nói chi đến việc ghép buồng trứng và làm sao để tới kỳ thì trứng rụng. Nói chi đến việc nối kết các cơ quan sinh sản với cơ quan sinh dục, và phối hợp nhịp nhàng hoạt động của tất cả.
Những kết luận luân lý
Như trên kia đã trình bày, sự phân tính nơi con người không chỉ nhằm mục đích sinh sản, mà vấn đề tình cảm cũng được đặt ra. Để xứng đáng với con người, quan hệ nam nữ không thể là chuyện qua đường, mà hai bên phải có ý nguyện sống chung trọn đời trong yêu thương, cũng là để chung lo cho con cái được nuôi dưỡng và giáo dục nên người.
Nếu nhìn quan hệ vợ chồng như thế, thì hẳn không có gì đáng trách khi hai người đồng tính kết thành đôi lứa để sống trọn đời với nhau, phải không ? Vâng, nếu sự tương ái được biểu lộ qua cử chỉ ôm hôn, thì không có vấn đề luân lý đặt ra, dù điều ấy xem chướng mắt người đời. Vấn đề luân lý chỉ thực sự đặt ra khi ngoài ôm hôn còn có giao hợp nữa. Bởi lẽ mục đích của giao hợp là bảo tồn nòi giống, trong khi giao hợp đồng tính chỉ là để hưởng lạc thôi.
Các bạn đồng tính có thể chất vấn :
-Thế thì tại sao luân lý lại chấp nhận giao hợp như một phương thế để làm tươi mát lại tình cảm phu thê, nhất là sau một cuộc cãi vã ?[4]
Xin thưa :
-Dẫu sao thì trong hành vi nói trên, người ta không tránh né việc sinh con !
-Không né tránh việc sinh con ư ? Thế sao trong kế hoạch hóa gia đình, Hội thánh lại chấp nhận phương pháp Billings : tránh né giao hợp trong ngày trứng rụng ? Đúng là khi áp dụng phương pháp Billings, có gì như người ta không thẳng thắn lắm, nhưng không đến nỗi nào trong hoàn cảnh phu thê bình thường và chính thức, phải không ?
*
Bây giờ đến phiên những nhà mô phạm có thể đặt ngược lại câu hỏi cho anh chị em đồng tính :
_ Sao không chữa chính sự đồng tính ấy, có phải đơn giản hơn chăng ? Hay là vì quá gắn bó với nó, người ta không muốn trị tại căn vậy ?
Đồng tính thực ra là ứng xử giới tính ngược chiều với hướng đi của giới tính cơ thể, và đây là do trục trặc về hoạt động của Vùng dưới đồi (Hypothalamus). Các nhà hảo tâm nên tài trợ cho các chương trình nghiên cứu bộ phận thần kinh giữa này, hầu biết rõ then máy của nó và tìm ra phương cách chỉnh sửa.
Bằng như ứng xử đồng tính có nguồn gốc xa hơn nơi hocmon hay nhiễm sắc thể, thì chỉ việc thay đổi nhiễm sắc thể giới tính hay bơm thêm hocmon đực hay cái, y như bơm insuline cho người bị tiểu đường vậy.
Nếu người đồng tính không muốn chữa khỏi sự ứng xử đồng tính, đành thuận theo họ để thay đổi giới tính cơ thể của họ, nhất là chuyển nam sang nữ, với việc cấy ghép tử cung và buồng trứng. Đây là công việc vô cùng khó khăn, nguy hiểm, khiến giảm thọ tới hằng chục năm, lại không biết khi thủ biến lớn đến thế, có động chạm đến phẩm giá con người hay không ?
Theo bác sỹ A. Hesnard, sự phân tính « thấm nhập toàn cơ thể sinh vật, từ tổ hợp hóa học và cơ cấu thâm sâu của mỗi tổ chức (tissu) cho đến mọi hình thái tinh tế nhất của các xu hướng thuộc bản năng và hoạt động. Chẳng những có một khoa hình thái học (morphologie) về phân tính, mà về phân tính còn có cả một khoa hóa học, một khoa hóa học tổ chức, một khoa phôi sinh học… »[5]. Vì sự phân tính ăn sâu và rộng đến thế, nên thay đổi hẳn có phải là thủ biến quá đáng, coi con người như phương tiện, chứ không phải mục đích nữa ?
Như đã nói trên, thay đổi cách ứng xử là tiện gọn nhất. Lại tránh được những rắc rối trong việc tìm người phối ngẫu luôn. Quả thế, nam đồng tính thì ai nấy đều muốn làm vợ cả, nên không dễ gì tìm được một ông chồng đồng tính thực sự. Hay là nam đồng tính lấy một nam không đồng tính ? Nhưng thử hỏi có nam nhi bình thường nào chịu lấy một người vợ đực hay không ? Hay là đành phải đi tìm một ông chồng cái, tức một người nữ đồng tính[6] muốn trở thành chồng ?
Trong khi chờ đợi chữa khỏi xu hướng đồng tính, các bạn đồng tính có thể họp thành những hiệp hội đồng tính như bên Âu Mỹ[7] để nương tựa vào nhau và giúp nhau sống khiết tịnh trong yêu thương theo đúng luân thường đạo lý.
Hoành Sơn S.J.
Bài này được viết theo gợi ý của một Đức cha đáng kính
(dongten.net 21.07.2015)
[1] Xx. Science et Vie, Avril 1997, tr.72-75.
[2] Xx. Kiến thức ngày nay, số ra ngày 10/3/2015, tr.69.
[3] Xx. nhật báo TUỔI TRẺ, số ra ngày 21-4-2015, tr.14.
[4] Xx. Hoành sơn, Thần học thiêng liêng, tập 2 tái bản, 1997, tr.432…
[5] La sexologie, Payot, 1967, tr.35, trưng dẫn trong Hoành sơn, Tính dục nhìn theo Phương Đông, Nhà xuất bản Trẻ tái bản, 2006, tr.13.
[6] Số nữ đồng tính ít hơn nam đồng tính nhiều.
[7] Như phong trào « Đavit và Jonathan »
2021
Có thể chứng minh Thiên Chúa tồn tại không?
Có thể chứng minh Thiên Chúa tồn tại không?
Tôi viết luận án tiến sĩ của tôi về giá trị của các tranh luận triết học khác nhau cố chứng minh sự tồn tại của Thiên Chúa. Liệu có thể có bằng chứng không? Các triết gia lỗi lạc, từ Anselm, đến Tôma Aquinô, Descartes, hay các triết gia đương thời như Charles Hartshorne, cho rằng có thể chứng minh sự hiện hữu của Thiên Chúa qua lập luận lý tính. Trừ việc, phần nhiều dựa vào việc chúng ta định nghĩa “chứng minh” là gì. Chúng ta chứng minh gì đó bằng cách nào?
Có một giai thoại về thánh Christopher thích hợp để làm minh họa ở đây. Christopher là người đầy thiên tư mọi mặt, trừ đức tin. Ngài mạnh mẽ về thể chất, uy lực, nhân hậu, nhẹ nhàng và được yêu mến. Ngài cũng quảng đại, dùng sức mạnh cơ bắp của mình để giúp người, nhưng dù muốn, ngài vẫn thấy khó mà tin vào Thiên Chúa. Với ngài, cái thể lý vật chất mới là thật, còn mọi thứ khác đều không thực. Do đó, ngài sống cuộc đời theo chủ nghĩa bất khả tri, không thể thật sự tin vào bất kỳ điều gì vượt ngoài những gì ngài có thể thấy, cảm nhận và sờ vào một cách thể lý.
Tuy nhiên, điều này không ngăn cản ngài dùng những thiên tư của mình, nhất là sức mạnh thể lý, để phục vụ tha nhân. Đây chính là điểm tựa, lòng quảng đại và phục vụ của ngài. Ngài dành cả đời để giúp người dân trong vùng vượt qua con sông nguy hiểm. Một đêm nọ, trong cơn bão, con thuyền bị lật úp và Christopher đã lao xuống vùng nước tối tăm để cứu một đứa trẻ. Khi đưa đứa trẻ đó lên bờ, ngài nhìn vào mặt đứa trẻ và thấy đó là khuôn mặt Chúa Kitô. Sau đó, ngài đã tin vì đã thấy dung nhan Chúa Kitô.
Giai thoại này là bài học sâu sắc cho chúng ta. Nó thay đổi quan điểm của chúng ta về vấn đề làm cách nào để cố “chứng minh” sự hiện hữu của Thiên Chúa. Nỗ lực của chúng ta để chứng minh sự hiện hữu của Thiên Chúa phải thực tế, hiện sinh và hiện thể hơn là chỉ thuần trí tuệ. Làm sao chúng ta chuyển từ chỉ tin vào những cái vật chất, chỉ tin vào hiện thực chúng ta có thể thấy, cảm nhận, sờ, nếm và ngửi, sang tin vào sự hiện hữu của những hiện thực tâm linh, thâm sâu hơn?
Trong câu chuyện của thánh Christopher có một bài học. Sống một cách chính trực và đáng trọng hết sức có thể và dùng thiên tư của mình để giúp người khác. Thì Thiên Chúa sẽ xuất hiện. Thiên Chúa không có ở kết luận của một tam đoạn luận triết học, nhưng có ở một lối sống nhào đó. Hơn nữa, đức tin không phải là câu hỏi về cảm giác cho bằng là việc phục vụ quên mình.
Trong đoạn Kinh Thánh về thánh tông đồ Tôma và những hoài nghi của ngài về việc Chúa sống lại còn có một bài học sâu xa hơn nữa. Thánh Tôma nói: “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin.” Hãy nhớ Chúa Giêsu không phản đối hay khiển trách gì trước sự hoài nghi của Tôma. Thay vào đó, Ngài dùng lại chính lời của Tôma: “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Thầy đây, có phải ma đâu”.
Đấy là thách thức cho tất cả chúng ta. “Hãy tự xem đi, Chúa có thật, đâu phải là ma!” Tuy nhiên, thách thức đó không thiên về trí tuệ cho bằng tinh thần, một thách thức rằng chúng ta phải thành thật và quảng đại.
Chủ nghĩa hoài nghi và chủ nghĩa bất khả tri, thậm chí là chủ nghĩa vô thần, không phải là vấn đề, miễn họ thành thực, không biện luận, không dối trá, sẵn sàng chấp nhận hiện thực, và quảng đại trao cả cuộc đời mình để phục vụ. Nếu có những điều kiện đó, thì Thiên Chúa, Đấng tạo thành và là nguồn của mọi hiện thực, cuối cùng sẽ trở nên đủ thật, kể cả với những người cần có bằng chứng thể lý. Câu chuyện về thánh Christopher và thánh tông đồ Tôma dạy chúng ta như thế và bảo đảm với chúng ta rằng Thiên Chúa không nổi giận cũng không bị đe dọa bởi một người theo thuyết bất khả tri thành thực.
Đức tin không bao giờ là điều chắc chắn. Và đức tin cũng không phải cảm giác chắc chắn rằng Thiên Chúa hiện hữu. Ngược lại, không có đức tin đâu phải là thấy hoang mang khi không có cảm giác chắc chắn rằng Thiên Chúa tồn tại. Với tất cả mọi người, sẽ có những đêm tăm tối tâm hồn, những lúc cảm thấy Thiên Chúa thinh lặng, những lúc cô đơn, hoài nghi, những lúc không thể dùng ý thức mà nắm bắt hay nhận ra hiện thực của Thiên Chúa. Lịch sử đức tin, như chúng ta đã thấy trong cuộc đời Chúa Giêsu và cuộc đời các thánh, cho thấy Thiên Chúa thường có vẻ đã chết, và những lúc như thế, hiện thực của thế giới theo chủ nghĩa kinh nghiệm có thể chiếm lấy chúng ta và không gì có thật ngoài những gì chúng ta có thể thấy, cảm nhận ngay lúc đó, kể cả nỗi đau của chính chúng ta.
Bất kỳ lúc nào chúng ta gặp những chuyện như thế, thì như thánh Tôma và thánh Christopher, chúng ta cần trở nên những người bất khả tri thành thật dùng sự tốt lành và sức mạnh mà Chúa ban để đưa những người khác vượt qua dòng sông khó khăn cuộc đời. Thiên Chúa không yêu cầu chúng ta có một đức tin chắc chắn, nhưng yêu cầu chúng ta phục vụ quảng đại và lâu dài. Chúng ta có sự bảo đảm, nếu chúng ta trung thành giúp nâng đỡ người khác, thì đến một ngày chúng ta sẽ thấy mình đứng trước hiện thực của Thiên Chúa đang ở với chúng ta, rằng, “Hãy tự xem đi, Ta có thật, có phải là ma đâu”.
Chúng ta có thể chứng minh Thiên Chúa tồn tại không? Trong lý thuyết thì không, nhưng trong cuộc sống thì có.
J.B. Thái Hòa dịch
2021
Chút tâm tình trước cái chết của người đau khổ
Chút tâm tình trước cái chết của người đau khổ
Thăm viếng mục vụ tại vùng miền sơn cước hết sức cần thiết đối với những ai đang thi hành sứ vụ loan báo Tin mừng cho dầu đường sá xa xôi hay cách trở. Vì bà con giáo dân ở rải rác khắp mọi vùng trong cả 3 huyện, nên khi có chuyện vui hay chuyện buồn, chúng tôi, những người đang làm mục vụ nơi đây không thể không hiện diện với họ, không thể không thăm viếng và gặp gỡ họ. Vui với người vui, khóc với người khóc (Rm 12,15) là vậy.
Chính vì thế, sáng nay, vào lúc 6h30, ngày 27/7/2021, với gần 20km, tôi cũng lên đường để đến với hoàn cảnh éo le, nghèo khổ, có bà mẹ Maria Lang Thị Quý, 85 tuổi qua đời. Bà là người có thể được coi là cô thể cô thân tuy có 5 đứa con. Cách đây 7 năm, sau khi lên nhận sứ vụ tại vùng miền đặc biệt này, tôi đã tìm ra bà và từ đó, chúng tôi đã thường xuyên thăm viếng, chu cấp thức ăn và tiền hàng tháng cho bà qua sự giúp đỡ của ân nhân. Thân thể tiều tuỵ và teo tóp của bà nói lên sự đơn chiếc và quá khổ đau cũng như đói khát. Dường như cái thập tử nhất sinh đang kề cận bà. Chúa nhật 17 thường niên 25/7, tôi đến thăm bà và lo của ăn đàng cho bà. Sáng hôm qua, bà được chăm sóc, tắm giặt và cắt tóc qua bàn tay của quý nữ tu. Buổi chiều tối hôm qua 26/7/2021, vào lúc 17h, bà đã an nghỉ cách âm thầm mà không có một đứa con nào bên cạnh. Tội nghiệp bà dù vẫn có con ở kề bên nhưng không được chăm sóc đàng hoàng và được yêu thương trìu mến, chưa nói đến những đứa con phải lấy chồng xa. Bà đã về bên Chúa. Với sự im lặng phó thác và lòng tin tuyệt đối vào Chúa, chúng ta tin rằng linh hồn bà Maria sẽ sớm Chúa thưởng về thiên đàng cùng Ngài.
Hôm nay, đến với đại gia đình tang quyến, tôi bắt gặp nhiều đứa con từ phương xa đang ngồi khóc bên linh cửu của người mẹ. Họ khóc vì không được gặp mẹ trước khi mẹ nhắm mắt lìa đời. Họ khóc vì phần nào đó vì sự lơ đãng, vô tâm và thiếu sót của đứa con đối với mẹ mình. Họ khóc vì mất đi khúc ruột, là người mẹ. Họ khóc vì hối hận vì đã không quan tâm đủ cho mẹ. Họ khóc vì sự bạc bẽo của đứa con. Liệu chăng tiếng khóc lúc này đây có làm mẹ thức dậy không? Liệu chăng tiếng khóc đó có làm cho mẹ vui hơn không? Liệu chăng tiếng khóc đó có xoá hết được những vô tâm, vô cảm của chính mình trước người mẹ khổ đau? Có lẽ mẹ cần hơn sự gần gũi, sẻ chia, quan tâm và cho mẹ ăn đôi miếng khi mẹ còn sống. Có lẽ mẹ thèm miếng khi đói, mong muốn cốc nước khi khát hơn là tiếng khóc bây giờ. Có lẽ mẹ cần hơn bao giờ hết là khi đang còn sống có con bên cạnh, có sự an ủi vỗ về khi ốm khi đau. Lúc này đây có lẽ bà mong anh chị em hiệp nhất, yêu thương và liên đới với nhau hơn. Từ nay, có lẽ bà mong muốn con cái cháu chắt sống hoà thuận, cố gắng sống tốt từng ngày hơn.
Hỡi ai còn cha còn mẹ, hãy yêu thương và quan tâm các ngài. Hãy trao yêu thương bằng cử chỉ hành động khi các ngài đang còn sống hơn là để các ngài cô đơn, buồn sầu và chết dần chết mòn. Đừng để khi các ngài tạ thế rồi, chúng ta mới sắm chiếc quan tài thật đắt tiền, sắm hoa thật nhiều, viết các bức trướng đầy dẫy, cũng như khóc than và la ó thật thảm thiết trước mọi người. Có lẽ khi sống cần hơn khi chết. Khi sống mà không hề chăm sóc, không màng tới, không quan tâm chưa muốn nói là hắt hủi, chửi rủa, đánh đập các ngài, thì khi chết mà khóc thật to, lo thật hoàng tráng các vật dụng hậu sự, xem ra người ta không ngần ngại nói rằng “đồ giả tạo”, “đồ bất hiếu”.
Tôi đang đối xử với cha mẹ của tôi như thế nào? Tôi có thường xuyên gọi điện thoại, thường xuyên thăm viếng, thường xuyên hỏi thăm, thường xuyên tiếp cận gần gũi các ngài không? Tôi có hay la ó, nạt nỗ, khinh bỉ, miệt thị hoặc đánh đập cha mẹ của tôi không? Tôi có sống tử tế, có vâng lời các ngài? Tôi có làm cho bố mẹ buồn không? Tôi có dính vào các tệ nạn xã hội và nhũng việc làm xấu để nước mắt của các ngài đã khô ráo vì tôi? Tôi đang là ai đối cha mẹ tôi: là người con gần gũi hay người xa lạ? Quả thật, đôi khi chúng ta quá dễ dàng, nhẹ nhàng và quảng đại với người lạ cũng như người ngoài, còn cha mẹ và người thân, tôi đã la mắng, khinh thường, bỏ qua, keo kiệt, bon chen và giết chết! Cha mẹ đang cần tôi khi ngài đang còn sống chứ không chỉ là đã nhắm mắt xuôi tay đâu nhé!
Linh mục Phaolô Phạm Trọng Phương
