2021
Đức Giê-su Ki-tô – Đường kiện toàn Lời Chúa
Chủ đề học hỏi và suy niệm tháng 08 năm 2021
ĐỨC GIÊ-SU KI-TÔ – ĐƯỜNG KIỆN TOÀN LỜI CHÚA
+ Pet. Nguyễn Văn Viên
Các bạn trẻ thân mến,
Tháng 7 vừa qua, chúng ta đã suy niệm chủ đề Đức Giê-su Ki-tô – Đường Kiện Toàn Lề Luật. Tháng 8 này, chúng ta cùng nhau suy niệm chủ đề Đức Giê-su Ki-tô – Đường Kiện Toàn Lời Chúa. Đây là hai chủ đề liên hệ mật thiết với nhau bởi vì lời của Thiên Chúa cũng được thể hiện qua lề luật Người. Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng nhờ lời của Thiên Chúa mà muôn vật muôn loài cũng như con người được dựng nên và lịch sử nhân loại gắn liền với lịch sử mặc khải của Thiên Chúa. Đặc biệt, dân Do-thái đóng vai trò quan trọng trong việc đón nhận, trao đổi và lưu truyền mặc khải của Người. Khi thời gian tới hồi viên mãn, Thiên Chúa đã gửi Đức Giê-su là Lời của Người đến với gia đình nhân loại để kiện toàn mặc khải, kiện toàn lời của Thiên Chúa hầu đem lại ơn cứu độ cho con người và quy tụ muôn vật muôn loài.
Trong Cựu Ước, lời của Thiên Chúa đến với dân Do-thái qua những người lãnh đạo được Thiên Chúa tuyển chọn, đặc biệt, qua các ngôn sứ. Theo các học giả Kinh Thánh, trong Cựu Ước, ‘lời’ (דָּבָר/ dabar là danh từ có chung gốc với động từ ‘nói’ (דבר/ dbr)) được dùng hơn 394 lần, còn trong Tân Ước, ‘lời’ (λόγος/ logos) được dùng khoảng hơn 300 lần. Lời của Thiên Chúa không chỉ là lời phát ra hay lời được lắng nghe mà còn được diễn tả qua các sự kiện, hiện tượng, biến cố hay hành động của Thiên Chúa nữa. Lời của Thiên Chúa trong Cựu Ước được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, chẳng hạn như những thị kiến, tiên báo, luật lệ, mệnh lệnh, cảnh cáo, khuyến khích. Lời của Thiên Chúa không chỉ cho con người mà còn cho các thiên thần hay các thụ tạo vô hình khác. Đặc biệt, lời của Thiên Chúa trong Cựu Ước được kiện toàn, được ứng nghiệm, được đầy đủ ý nghĩa (πληρόω, fulfill) nhờ Biến Cố Đức Giê-su. Trong bối cảnh Bài Giảng Trên Núi, Đức Giê-su nói rằng Người đến để kiện toàn lề luật và lời các ngôn sứ (Mt 5,17). Quả thật, Đức Giê-su đã thực thi điều đó và nội dung chính yếu của việc Người thực thi được diễn tả trong 27 cuốn sách của bộ Tân Ước, nhất là trong 4 cuốn Tin Mừng.
Để khai triển chủ đề ‘Đức Giê-su Ki-tô – Đường Kiện Toàn Lời Chúa’, chúng ta điểm qua ‘năm lời’ chính yếu của Thiên Chúa theo mặc khải Cựu Ước: (1) Lời của Thiên Chúa là lời sáng tạo: “Thiên Chúa phán: ‘Phải có ánh sáng’. Liền có ánh sáng” (St 1,3) hay: “Một lời Chúa phán làm ra chín tầng trời, một hơi Chúa thở tạo thành muôn tinh tú” (Tv 33,6); (2) Lời của Thiên Chúa là lời giao ước: “Người đã thông báo cho anh em giao ước của Người, giao ước mà Người truyền cho anh em đem ra thực hành, đó là mười lời Người viết trên hai bia đá” (Đnl 4,13) hay: “Người đã viết trên các bia điều đã viết lần trước, là mười lời Đức Chúa đã phán với anh em trên núi, từ trong đám lửa, trong ngày đại hội. Rồi Đức Chúa ban những bia đó cho tôi” (Đnl 10,4); (3) Lời của Thiên Chúa là lời qua miệng ngôn sứ: “Đừng nói ngươi còn trẻ! Ta sai ngươi đi đâu, ngươi cứ đi; Ta truyền cho ngươi nói gì, ngươi cứ nói” (Gr 1,7) hay: “Nhờ thần khí của Đức Chúa, tôi được đầy sức mạnh, công lý và can trường để loan báo cho nhà Gia-cóp biết tội phản nghịch, cho nhà Ít-ra-en biết tội lỗi của nó” (Mk 3,8); (4) Lời của Thiên Chúa là lời khôn ngoan: “Đức Khôn Ngoan kêu to ‘phàm nhân hỡi, ta mời gọi các ngươi đó, ta ngỏ lời với các ngươi, hỡi con cái loài người’” (Cn 8,3-4) hay: “Đức Khôn Ngoan hiểu biết tất cả, sẽ khôn khéo hướng dẫn con trong việc con làm, lấy quyền năng vinh hiển mà gìn giữ con” (Kn 9,11); (5) Lời của Thiên Chúa là lời dẫn lối chỉ đường: “Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường con đi” (Tv 119,105) hay: “Đến đây, ta cùng lên núi Đức Chúa, lên Nhà Thiên Chúa của Gia-cóp, để Người dạy ta biết lối của Người và bước theo đường Người chỉ vẽ” (Mk 4,2).
Theo nghĩa rộng, lời của Thiên Chúa đến với con người đồng thời với sự hiện hữu của con người (do Thiên Chúa sáng tạo) trong vũ trụ này. Tuy nhiên, lời của Thiên Chúa đến với con người cách cụ thể và rõ ràng hơn với việc Người chọn gọi Áp-ra-ham để qua ông, chương trình của Thiên Chúa ngày càng được trọn vẹn. Lời của Thiên Chúa được lưu truyền trong lịch sử dân Do-thái, dần dần được sưu tập và biên soạn. Như vậy, Kinh Thánh chính là lời của Thiên Chúa theo truyền thống được viết ra. Cuốn Kinh Thánh của người Do-thái (the Hebrew Bible) hay Cựu Ước (the Old Testament) được hình thành với khoảng thời gian hơn một ngàn năm. Nội dung chính yếu của Cựu Ước hướng về sự xuất hiện của Đức Giê-su, Lời hằng hữu của Thiên Chúa và là Đấng được Thiên Chúa xức dầu Thánh Thần để thực thi chương trình của Thiên Chúa đối với con người và toàn thể thế giới thụ tạo. Hành trình của Đức Giê-su trên đường dương thế được diễn tả trong Tân Ước.
Các vị lãnh đạo hay các ngôn sứ trong Cựu Ước như Áp-ra-ham, I-xa-ác, Gia-cóp, Mô-sê, I-sai-a, Giê-rê-mi-a, Ê-dê-ki-en đều chuẩn bị cho sự hiện diện và hoạt động của Đức Giê-su. Trong Tân Ước, Đức Giê-su nói với nhiều tầng lớp người khác nhau, chẳng hạn như Người nói với Đức Ma-ri-a, với các môn đệ, với những người Pha-ri-sêu, với các kinh sư, với Hê-rô-đê, với Phi-la-tô, với đám đông dân chúng. Lời của Người liên quan đến những hoàn cảnh đặc biệt, chẳng hạn như lời của Người xua trừ ma quỷ, chữa lành bệnh tật, nâng đỡ người đau yếu, hồi sinh kẻ chết. Đặc biệt, Đức Giê-su đã kêu gọi và thiết lập Nhóm Mười Hai cũng như công bố những tiêu chuẩn luân lý trổi vượt của thời Tân Ước so với Cựu Ước. Lời nói và việc làm của Đức Giê-su minh chứng rằng Người không chỉ thuộc về Thiên Chúa mà còn là Thiên Chúa hiện diện trong dòng lịch sử để đồng lao cộng khổ với mọi người trong gia đình nhân loại và cứu độ nhân loại.
Chúng ta nhận ra lời của Thiên Chúa trong Cựu Ước được kiện toàn, được trở nên hiện thực nơi Đức Giê-su, chẳng hạn như lời của Thiên Chúa là ánh sáng trong Cựu Ước hướng về Đức Giê-su là Ánh Sáng trong Tân Ước (Tv 119,105; Ga 8,12); lời của Thiên Chúa là lời sự thật trong Cựu Ước hướng về Đức Giê-su là Sự Thật trong Tân Ước (Tv 12,7; Ga 14,6); lời của Thiên Chúa đem lại sự sống trong Cựu Ước hướng về Đức Giê-su là Sự Sống trong Tân Ước (Tv 119,116; Ga 11,25); lời của Thiên Chúa là lời hy vọng trong Cựu Ước hướng về Đức Giê-su là Hy Vọng của mọi người trong Tân Ước (Tv 119,147; 1 Tm 1,1); lời của Thiên Chúa là của ăn cho bậc ngôn sứ trong Cựu Ước hướng về Đức Giê-su là Của Ăn cho mọi người trong Tân Ước (Gr 15,16; Ga 6,54-55); lời của Thiên Chúa ‘chớ giết người công chính’ trong Cựu Ước hướng về Đức Giê-su là Đấng Công Chính chịu chết cho mọi người trong Tân Ước (Đn 13,53, Mt 27,19). Chúng ta có thể kể ra nhiều trích đoạn tương tự khi so sánh lời của Thiên Chúa trong Cựu Ước được kiện toàn bởi Đức Giê-su là Lời của Thiên Chúa trong Tân Ước. Như vậy, chúng ta có thể nói rằng Cựu Ước là nền tảng cho Tân Ước, còn Tân Ước là ánh sáng chiếu soi Cựu Ước.
Dưới nhãn quan của thánh Gio-an, Đức Giê-su là Lời hằng hữu của Thiên Chúa đến với thế giới thụ tạo. Ngài viết: “Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta” [ὁ λόγος σὰρξ ἐγένετο καὶ ἐσκήνωσεν ἐν ἡμῖν] (Ga 1,14). Từ ‘λόγος’ của tiếng Hy Lạp được dịch sang tiếng Việt là ‘Ngôi Lời’ (viết hoa). Có hai điểm cần quan tâm ở đây: (1) Trong bản văn cổ bằng tiếng Hy Lạp, người ta không phân biệt chữ viết hoa hay chữ viết thường và (2) khi dịch ‘λόγος’ là ‘Ngôi Lời’, chúng ta dịch theo cách diễn tả của thánh Gio-an. Đối với tiếng Việt, nói rằng ‘Ngôi Lời đã trở nên người phàm’ dễ hiểu hơn nói rằng ‘Lời đã trở nên người phàm’. Như vậy, với Đức Giê-su (Ngôi Lời), lời của Thiên Chúa không chỉ là âm thanh phát ra, đi vào lòng và biến đổi tâm hồn con người mà còn cho phép con người nhìn ngắm, đụng chạm và thiết lập mối tương quan liên vị trong hành trình trần thế. Với Đức Giê-su, lời của Thiên Chúa không chỉ cư ngụ trong hòm bia ở Lều hội ngộ để dẫn dắt dân Do-thái vào miền Đất Hứa Ca-na-an mà ‘đã cắm lều giữa chúng ta’ để dẫn dắt toàn thể nhân loại vào miền Đất Hứa Nước Trời. Với Đức Giê-su, Thiên Chúa vô hình của Cựu Ước đã trở nên Thiên Chúa hữu hình của Tân Ước. Với Đức Giê-su, Thiên Chúa trở nên ‘vừa tầm’ hơn để con người có thể tiếp cận, học hỏi và thực thi thánh ý Người. Chúng ta cùng xem xét một số trình thuật chính yếu diễn tả lời của Thiên Chúa trong Cựu Ước được kiện toàn trong Tân Ước.
Theo thánh Mát-thêu, khi truyền tin cho thánh Giu-se, sứ thần của Thiên Chúa nói: “Tất cả sự việc này đã xảy ra, là để ứng nghiệm lời xưa kia Chúa phán qua miệng ngôn sứ: Này đây, Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Em-ma-nu-en, nghĩa là ‘Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta’” (Mt 1,22-23). Điều này ứng nghiệm lời của ngôn sứ I-sai-a: “Này đây người thiếu nữ mang thai, sinh hạ con trai, và đặt tên là Em-ma-nu-en” (Is 7,14). Thánh Mát-thêu cũng trình thuật biến cố Đức Giê-su đến Ai-cập rồi trở về Na-da-rét: “Ông Giu-se liền trỗi dậy, và đang đêm, đưa Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai-cập. Ông ở đó cho đến khi vua Hê-rô-đê băng hà, để ứng nghiệm lời Chúa phán xưa qua miệng ngôn sứ: Ta đã gọi con Ta ra khỏi Ai-cập” (Mt 2,14-15). Điều này ứng nghiệm lời của Thiên Chúa trong sách ngôn sứ Hô-sê: “Khi Ít-ra-en còn là đứa trẻ, Ta đã yêu nó, từ Ai-cập Ta đã gọi con Ta về” (Hs 11,1). Tin mừng Đức Giê-su theo thánh Mát-thêu có 130 chỗ quy chiếu trực tiếp Cựu Ước, trong đó có 43 lần trích sát bản gốc, chẳng hạn như Mt 1,22; 2,5.15.17.23; 3,3; 4,14. Thánh nhân muốn minh chứng rằng Đức Giê-su chính là Đấng kiện toàn và hoàn thành mọi lời Cựu Ước đã loan báo.
Theo thánh Lu-ca, Đấng Mê-si-a thuộc dòng dõi Giu-đa: “Khi Đức Giê-su khởi sự rao giảng, Người trạc ba mươi tuổi. Thiên hạ vẫn coi Người là con ông Giu-se. Giu-se là con Ê-li… Nác-sôn con Am-mi-na-đáp, Am-mi-na-đáp con Át-min, Át-min con Ác-ni, Ác-ni con Khét-rôn, Khét-rôn con Pe-rét, Pe-rét con Giu-đa… I-xa-ác con Áp-ra-ham… A-đam là con Thiên Chúa” (Lc 3,23-38). Điều này ứng nghiệm lời chúc phúc của ông Gia-cóp trong sách Sáng Thế: “Vương trượng sẽ không rời khỏi Giu-đa, gậy chỉ huy sẽ không lìa đầu gối nó, cho tới khi người làm chủ vương trượng đến, người mà muôn dân phải vâng phục” (St 49,10). Cũng theo thánh Lu-ca, sau khi chịu cám dỗ, Đức Giê-su trở về loan báo Tin Mừng tại Ga-li-lê. Đặc biệt, khi đến quê hương là Na-da-rét, Đức Giê-su vào hội đường như Người vẫn thường làm trong ngày sa-bát. Người ta trao cho Người sách ngôn sứ I-sai-a. Mở sách ra, Đức Giê-su gặp đoạn: “Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa” (Lc 4,18-19). Điều này ứng nghiệm lời của Thiên Chúa trong sách ngôn sứ I-sai-a (Is 61,1-2). Trước khi bước vào cuộc khổ nạn, Đức Giê-su cũng nói với các môn đệ về sự ứng nghiệm nơi Người lời của Thiên Chúa trong Kinh Thánh: “Thầy bảo cho anh em hay: Cần phải ứng nghiệm nơi bản thân Thầy lời Kinh Thánh đã chép: Người bị liệt vào hàng phạm pháp. Thật vậy, những gì đã chép về Thầy sắp được hoàn tất” (Lc 22,37).
Theo thánh Mác-cô, khi Đức Giê-su bị bắt: “Có nhiều kẻ đưa chứng gian tố cáo Người, nhưng các chứng ấy lại không ăn khớp với nhau. Có vài kẻ đứng lên cáo gian Người rằng chúng tôi có nghe ông ấy nói: Tôi sẽ phá Đền Thờ này do tay người phàm xây dựng, và nội ba ngày, tôi sẽ xây một Đền Thờ khác, không phải do tay người phàm!” (Mc 14,56-58). Điều này ứng nghiệm lời của Thiên Chúa: “Bọn chứng nhân giả dối đứng lên, hạch hỏi tôi những điều tôi chẳng biết. Chúng lấy oán đền ơn, này thân tôi trơ trọi một mình” (Tv 35,11-12). Khi Đức Giê-su chịu đóng đinh vào thập giá giữa hai tên trộm cướp, thánh Mác-cô trình thuật: “Bên cạnh Người, chúng còn đóng đinh hai tên cướp, một đứa bên phải, một đứa bên trái” (Mc 15,27-28). Điều này ứng nghiệm lời của Thiên Chúa trong sách ngôn sứ I-sai-a: “Ta sẽ ban cho nó muôn người làm gia sản, và cùng với những bậc anh hùng hào kiệt, nó sẽ được chia chiến lợi phẩm, bởi vì nó đã hiến thân chịu chết, đã bị liệt vào hàng tội nhân; nhưng thực ra, nó đã mang lấy tội muôn người và can thiệp cho những kẻ tội lỗi” (Is 53,12).
Thánh Gio-an trình thuật cuộc thương khó của Đức Giê-su: “Đức Giê-su biết là mọi sự đã hoàn tất. Và để ứng nghiệm lời Kinh Thánh, Người nói: ’Tôi khát!’ Ở đó, có một bình đầy giấm. Người ta lấy miếng bọt biển có thấm đầy giấm, buộc vào một nhành hương thảo, rồi đưa lên miệng Người” (Ga 19,28-29). Điều này ứng nghiệm lời của Thiên Chúa trong Thánh Vịnh: “Thay vì đồ ăn, chúng trao mật đắng, con khát nước, lại cho uống giấm chua” (Tv 69,22). Cũng trong cuộc thương khó Đức Giê-su theo thánh Gio-an: “Khi đến gần Đức Giê-su và thấy Người đã chết, họ không đánh giập ống chân Người. Nhưng một người lính lấy giáo đâm vào cạnh sườn Người. Tức thì, máu cùng nước chảy ra” (Ga 19,33-34). Điều này ứng nghiệm lời của Thiên Chúa trong trong Thánh Vịnh: “Người công chính gặp nhiều nỗi gian truân, nhưng Chúa giúp họ luôn thoát khỏi. Xương cốt họ đều được Chúa giữ gìn, dầu một khúc cũng không giập gãy” (Tv 34,20-21). Chúng ta còn gặp rất nhiều đoạn trong Tin Mừng Nhất Lãm cũng như theo thánh Gio-an về lời của Thiên Chúa trong Tân Ước ứng nghiệm lời của Thiên Chúa trong Cựu Ước, chẳng hạn như Mt 2,17-18; Mt 8,17; Mt 12,17-18; Mc 1,2-3; Mc 8,31; Mc 10,45; Lc 1,20; Lc 3,4-6; Lc 21,20-22; Ga 12,38; Ga 13,18; Ga 15,25.
Việc kiện toàn lời của Thiên Chúa trong Cựu Ước cũng được diễn tả trong các sách khác của bộ Tân Ước. Chẳng hạn, trong Giáo Hội sơ khai ở Giê-ru-sa-lem, khi chọn người thay thế Giu-đa (môn đệ phản bội Đức Giê-su), thánh Phê-rô lên tiếng: “Thưa anh em, lời Kinh Thánh phải ứng nghiệm, lời mà Thánh Thần đã dùng miệng vua Đa-vít để nói trước về Giu-đa, kẻ đã trở thành tên dẫn đường cho những người bắt Đức Giê-su” (Cv 1,16). Đặc biệt, thánh nhân hiểu rõ giá trị và thẩm quyền độc nhất vô nhị của Kinh Thánh so với các tài liệu khác. Trong thư gửi các tín hữu, ngài viết: “Anh em phải biết điều này: Không ai được tự tiện giải thích một lời ngôn sứ nào trong Sách Thánh. Quả vậy, lời ngôn sứ không bao giờ lại do ý muốn người phàm, nhưng chính nhờ Thánh Thần thúc đẩy mà có những người đã nói theo lệnh của Thiên Chúa (2 Pr 1,20-21). Hơn nữa, theo thánh nhân, Đức Giê-su chính là Người Tôi Tớ Đau Khổ được ngôn sứ I-sai-a trình bày trong Cựu Ước (Is 52,13-53,12; 1 Pr 2,23-25).
Tương tự như thánh Phê-rô, nhiều trích đoạn của thánh Phao-lô khẳng định rằng Đức Giê-su đến trần gian theo ‘lời hứa’ trong Cựu Ước. Thánh nhân viết: “Đức Ki-tô, xét theo huyết thống, cũng cùng một nòi giống với họ [hậu duệ của Áp-ra-ham]” (Rm 9,5). Điều này ứng nghiệm lời của Thiên Chúa trong sách Sáng Thế: “Nhờ ngươi [Áp-ra-ham], mọi gia tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc” (St 12,3). Thánh nhân biện giải: “Tôi được gọi làm Tông Đồ, và dành riêng để loan báo Tin Mừng của Thiên Chúa. Tin Mừng ấy, xưa Người đã dùng các ngôn sứ của Người mà hứa trước trong Kinh Thánh. Đó là Tin Mừng về Con của Người là Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta” (Rm 1,1-3). Điều này ứng nghiệm lời của Thiên Chúa trong sách ngôn sứ I-sai-a: “Người sẽ mở rộng quyền bính, và lập nền hoà bình vô tận cho ngai vàng và vương quốc của vua Đa-vít. Người sẽ làm cho vương quốc được kiên cố vững bền trên nền tảng chính trực công minh, từ nay cho đến mãi muôn đời” (Is 9,6). Đề cập đến cuộc thương khó, sự chết và phục sinh của Đức Giê-su, thánh nhân viết: “Đức Ki-tô đã chết vì tội lỗi chúng ta, đúng như lời Kinh Thánh, rồi Người đã được mai táng, và ngày thứ ba đã trỗi dậy, đúng như lời Kinh Thánh” (1 Cr 15,3-4).
Đối với tác giả thư gửi tín hữu Do-thái, Đức Giê-su là Đấng kiện toàn lời của Thiên Chúa trong Cựu Ước. Tuy nhiên, sự kiện toàn của Đức Giê-su theo cách thức siêu việt, nằm ngoài nhận thức hay tưởng tượng của con người. Chẳng hạn, (1) Đức Giê-su kiện toàn giao ước: “Người là trung gian của một Giao Ước Mới, lấy cái chết của mình mà chuộc tội lỗi người ta đã phạm trong thời giao ước cũ, và đem lại cho những ai được Thiên Chúa kêu gọi quyền lãnh nhận gia nghiệp vĩnh cửu Thiên Chúa đã hứa” (Dt 9,15). (2) Đức Giê-su kiện toàn của lễ hiến tế: “Đức Ki-tô đã tự hiến tế như lễ vật vẹn toàn dâng lên Thiên Chúa. Máu của Người thanh tẩy lương tâm chúng ta khỏi những việc đưa tới sự chết, để chúng ta xứng đáng phụng thờ Thiên Chúa hằng sống” (Dt 9,14). (3) Đức Giê-su kiện toàn phẩm vị thượng tế: “Đức Giê-su không như các vị thượng tế khác: Mỗi ngày họ phải dâng lễ tế hy sinh, trước là để đền tội của mình, sau là để đền thay cho dân; phần Người, Người đã dâng chính mình và chỉ dâng một lần là đủ. Vì Luật Mô-sê thì đặt làm thượng tế những con người vốn mỏng manh yếu đuối trong mình, còn lời thề có sau Lề Luật, lại đặt Người Con đã nên thập toàn cho đến muôn đời” (Dt 7,27-28). Cũng theo tác giả thư gửi tín hữu Do-thái: “Không phải Đức Ki-tô đã tự tôn mình làm Thượng Tế, nhưng là Đấng đã nói với Người: Con là Con của Cha, ngày hôm nay Cha đã sinh ra Con, như lời Đấng ấy đã nói ở một chỗ khác: Muôn thuở, Con là Thượng Tế theo phẩm trật Men-ki-xê-đê” (Dt 5,5-6). Điều này ứng nghiệm lời của Thiên Chúa trong Thánh Vịnh: “Đức Chúa đã một lần thề ước, Người sẽ chẳng rút lời, rằng ‘muôn thuở, Con là Thượng Tế theo phẩm trật Men-ki-xê-đê’” (Tv 110,4). Như vậy, cùng là giao ước, của lễ và thượng tế nhưng những gì được Đức Giê-su đảm nhận và kiện toàn thì cao trọng, kỳ diệu và nhiệm mầu hơn những gì được thực thi trong Cựu Ước cũng như lịch sử dân Do-thái.
Khi so sánh tương quan giữa thánh Gio-an Tẩy Giả và Đức Giê-su (trong bài giảng 293,3), thánh Au-gút-ti-nô quả quyết rằng Gio-an là tiếng (voice), Đức Giê-su là Lời (Word); Gio-an là tiếng trong không gian, Đức Giê-su là Lời hằng hữu; Gio-an là tiếng bên ngoài, Đức Giê-su là Lời bên trong. Theo thánh nhân, tiếng vô nghĩa khi không có lời; tiếng phá vỡ im lặng, lời đi vào tâm hồn; tiếng chỉ đập vào tai, lời cảm hóa trí lòng; tiếng qua đi, lời ở lại; tiếng hoàn thành, lời tiếp tục. Vì người ta khó phân biệt giữa tiếng và lời, giữa Gio-an và Đức Giê-su, Gio-an đã nói ra cho họ biết (Ga 1,19-28). Khi gặp gỡ Đức Giê-su lần đầu tiên, thánh Gio-an Tẩy Giả nói: “Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa bỏ tội trần gian” (Ga 1,29). Lời chứng của thánh Gio-an Tẩy Giả giúp chúng ta nhận thức rằng Đức Giê-su là Đấng kiện toàn lời của Thiên Chúa trong Cựu Ước khi Người dạy bảo dân Do-thái giết chiên và lấy máu bôi lên khung cửa như là dấu chỉ để được giải thoát khỏi ách nô lệ Ai-cập (Xh 12,1-14). Nhờ Máu của Đức Giê-su, Chiên Thiên Chúa, mọi người trong gia đình nhân loại được giải thoát khỏi ách nô lệ tội lỗi và sự chết. Thánh Phê-rô diễn giải rõ ràng hơn trong thư của ngài: “Anh em đã được cứu chuộc nhờ bửu huyết của Con Chiên vẹn toàn, vô tỳ tích, là Đức Ki-tô. Người là Đấng Thiên Chúa đã biết từ trước, khi vũ trụ chưa được dựng nên, và Người đã xuất hiện vì anh em trong thời cuối cùng này. Nhờ Người, anh em tin vào Thiên Chúa, Đấng đã cho Người trỗi dậy từ cõi chết, và ban cho Người được vinh hiển, để anh em đặt niềm tin và hy vọng vào Thiên Chúa” (1 Pr 1,19-21).
Như đã được đề cập ở trên, lời của Đức Giê-su chữa lành bệnh tật, xua đuổi ma quỷ, hồi sinh kẻ chết, tha thứ tội lỗi. Trong ba năm loan báo Tin Mừng, phần lớn những lời Đức Giê-su là lời trực tiếp với con người, chẳng hạn như: ‘Thầy bảo thật các con…’, ‘Thầy bảo cho anh em biết…’, ‘hãy đứng dậy…’, ‘hãy ăn năn hối cải…’, ‘đừng thề thốt…’, ‘phải yêu kẻ thù…’, ‘hãy loan báo Tin Mừng…’. Thánh Mát-thêu trình thuật: “Người ta đem nhiều kẻ bị quỷ ám tới gặp Đức Giê-su. Người nói một lời là trừ được các thần dữ và Người chữa lành mọi kẻ ốm đau, để ứng nghiệm lời ngôn sứ I-sai-a: Người đã mang lấy các tật nguyền của ta và gánh lấy các bệnh hoạn của ta” (Mt 8,16-17). Lời của Đức Giê-su là những ‘lời mới mẻ’: “Người giảng dạy như một Đấng có thẩm quyền, chứ không như các kinh sư” (Mc 1,22) hay: “Xưa nay chưa hề đã có ai nói năng như người ấy!” (Ga 7,46). Đặc biệt, Đức Giê-su diễn tả Người như là tác giả của lề luật được kiện toàn (Mt 5,17-48).
Lời của Đức Giê-su là lời đầy quyền năng. Chẳng hạn, khi Đức Giê-su đến Ca-phác-na-um, một viên đại đội trưởng dân ngoại thuộc quân đội Rô-ma đến xin Người cứu chữa người đầy tớ của ông đang trong tình trạng thập tử nhất sinh. Đức Giê-su định đến nhà ông để cứu giúp người đầy tớ đó. Tuy nhiên, viên đại đội trưởng nói với Người: “Thưa Ngài, tôi chẳng đáng Ngài vào nhà tôi, nhưng xin Ngài chỉ nói một lời là đầy tớ tôi được khỏi bệnh” (Mt 8,8). Thánh Mát-thêu trình thuật: “Đức Giê-su nói với viên đại đội trưởng rằng ‘ông cứ về đi! Ông tin thế nào thì được như vậy!’ Và ngay giờ đó, người đầy tớ được khỏi bệnh” (Mt 8,13). Đức Giê-su định đến nhà viên đại đội trưởng nhưng chưa đến. Người không nhìn thấy, không đụng chạm người đầy tớ bệnh tật nhưng người đầy tớ vẫn được khỏi bệnh. Có lẽ viên đại đội trưởng chờ nơi Đức Giê-su ‘lời chữa bệnh’ nhưng lời của Đức Giê-su lại là ‘lời đức tin’. Đức Giê-su tán dương đức tin của viên đại đội trưởng: ‘Ông tin thế nào thì được như vậy!’. Ông là ‘dân ngoại’ nhưng niềm tin của ông trổi vượt hơn niềm tin của những người được gọi là dân được tuyển chọn, dân Chúa. Với sự chữa lành này, Đức Giê-su biểu lộ sức mạnh của ‘lời’ cho những ai đặt niềm tin và hy vọng vào Người.
Lời của Thiên Chúa trong Cựu Ước rất mạnh, mạnh đến nỗi nhờ đó Thiên Chúa sáng tạo con người và muôn vật muôn loài; Lời của Thiên Chúa trong Tân Ước còn mạnh hơn, mạnh đến nỗi Lời đã trở nên người phàm, nhờ đó, Thiên Chúa tái tạo con người và muôn vật muôn loài từ cảnh lầm than, hư hoại. Lời của Thiên Chúa trong Cựu Ước rất mạnh, mạnh đến nỗi nhờ đó Thiên Chúa giải thoát dân Do-thái khỏi ách nô lệ Ai-cập; Lời của Thiên Chúa trong Tân Ước còn mạnh hơn, mạnh đến nỗi nhờ đó Thiên Chúa giải thoát con người khỏi cảnh nô lệ tội lỗi. Lời của Thiên Chúa trong Cựu Ước rất mạnh, mạnh đến nỗi nhờ đó dân Do-thái có được man-na nuôi sống trong hành trình về với Đất Hứa; Lời của Thiên Chúa trong Tân Ước còn mạnh hơn, mạnh đến nỗi nhờ đó toàn thể gia đình nhân loại có được Man-na Mới là Mình và Máu Đức Giê-su dưỡng nuôi trong hành trình về với quê hương vĩnh cửu. Lời của Thiên Chúa trong Cựu Ước rất mạnh, mạnh đến nỗi hồi sinh kẻ chết; Lời của Thiên Chúa trong Tân Ước còn mạnh hơn, mạnh đến nỗi trả lại sự sống vĩnh cửu cho tất cả những ai tin tưởng, tuân giữ và thực thi thánh ý Người.
Lời của Thiên Chúa trong Cựu Ước vang vọng và được nghe trong không gian, thời gian, cũng như thẩm thấu vào những gì thuộc về không gian, thời gian. Còn theo mặc khải Tân Ước, Đức Giê-su là Lời của Thiên Chúa có trước không gian, thời gian. Lời của Thiên Chúa trong Tân Ước được tóm lược trong Kinh Tin Kính là ‘Thiên Chúa bởi Thiên Chúa, Ánh Sáng bởi Ánh Sáng, Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật, được sinh ra mà không phải được tạo thành, đồng bản thể với Đức Chúa Cha…’. Nói cách khác, những gì thuộc về Thiên Chúa, thuộc về Chúa Cha, đều thuộc về Đức Giê-su và ngược lại (Mc 2,1-12; Lc 5,17-26; Ga 17,10). Như vậy, có sự liên kết mật thiết và trọn vẹn giữa Thiên Chúa và Đức Giê-su, Lời trở nên người phàm (Θεός-Λόγος σὰρξ ἐγένετο). Đây là sự liên kết nội tại và vĩnh cửu, đồng thời cũng là sự liên kết trong chương trình cứu độ, chương trình diễn ra trong không gian, thời gian của môi trường thế giới thụ tạo. Hơn ai hết, Đức Giê-su làm chứng về điều này khi nói với các môn đệ thân tín rằng Người ở trong Chúa Cha cũng như Chúa Cha ở trong Người (Ga 17,21). Người cũng minh định rằng những việc Người làm cũng là những việc của Chúa Cha và ngược lại (Ga 5,21; Ga 5,24-29).
Khi so sánh ‘Lời’ theo cách hiểu biết và diễn tả của thánh Gio-an với ‘lời’ (dabar) trong Cựu Ước hay ‘lời’ (logos) trong văn hóa Hy Lạp, chúng ta nhận ra rằng ‘Lời’ thánh Gio-an sử dụng mang ý nghĩa sâu đậm hơn. Chẳng hạn, thánh nhân viết: “Điều vẫn có ngay từ lúc khởi đầu, điều chúng tôi đã nghe, điều chúng tôi đã thấy tận mắt, điều chúng tôi đã chiêm ngưỡng, và tay chúng tôi đã chạm đến, đó là Lời sự sống” (1 Ga 1,1). Đối với thánh nhân, Đức Giê-su không phải là Lời như bao lời khác mà là Lời hằng hữu, Lời quyền năng, Lời sự sống. Chính thánh nhân đã nghe, thấy, chiêm ngưỡng, gặp gỡ, đụng chạm Lời này. Các lời của Thiên Chúa trong lịch sử nhân loại nói chung và lịch sử Cựu Ước nói riêng được xem là chuẩn bị cho Đức Giê-su là Lời của Thiên Chúa đến với gia đình nhân loại. Sự gắn bó mật thiết với Đức Giê-su, Lời của Thiên Chúa, nhất là việc ghé tai vào trái tim Đức Giê-su trong Bữa Tiệc Ly cũng như chứng kiến Đức Giê-su chịu chết trên cây thập giá với trái tim bị đâm thủng, giúp thánh nhân nhận ra căn tính, đời sống và sứ mệnh của Người cách đầy đủ hơn. Kinh nghiệm của thánh nhân về Đức Giê-su được ngài diễn tả cách cụ thể trong Tin Mừng cũng như các thư mà ngài biên soạn.
Chúng ta nhận ra ba hình thức lời của Thiên Chúa trong mặc khải Ki-tô Giáo: (1) Lời của Thiên Chúa phán ra, (2) Lời của Thiên Chúa được sưu tập, biên soạn (Kinh Thánh) và (3) Lời của Thiên Chúa đã trở nên người phàm. Trong ba hình thức đó, ‘Lời của Thiên Chúa đã trở nên người phàm’ thật nhiệm mầu và quan trọng hơn cả. Đây chính là nội dung căn bản giúp chúng ta phân biệt sự khác nhau giữa Ki-tô Giáo và các tôn giáo khác trong lịch sử thế giới. Kinh nghiệm cuộc sống cho chúng ta biết rằng lời nói hay chữ viết không bao giờ giải thích trọn vẹn thực tại, thậm chí lắm lúc còn làm cho thực tại méo mó, biến dạng hay vong bản. Thực tại luôn dồi dào, đa dạng và giàu có hơn các hình thức diễn tả nó. Đức Giê-su là Lời của Thiên Chúa đến trần gian để làm cho lời của Thiên Chúa trong Kinh Thánh hay các hình thức khác trở nên khả tín hơn, giúp con người điều chỉnh các tương quan nội tại của bản thân cũng như tương quan với anh chị em, với muôn vật muôn loài và với Thiên Chúa.
Lời của Thiên Chúa đến với gia đình nhân loại được diễn tả bằng ngôn ngữ con người. Lời của Thiên Chúa luôn dồi dào hơn những gì con người có thể đón nhận, sống và lưu truyền trong lịch sử. Đặc biệt, lời của Thiên Chúa luôn dồi dào hơn những gì được viết trong các sách của bộ Kinh Thánh. Đức Giê-su nói với các môn đệ thân tín của Người trước khi bước vào cuộc khổ nạn: “Thầy còn nhiều điều phải nói với anh em. Nhưng bây giờ, anh em không có sức chịu nổi” (Ga 16,12). Thánh Gio-an minh chứng: “Đức Giê-su đã làm nhiều dấu lạ khác nữa trước mặt các môn đệ; nhưng những dấu lạ đó không được ghi chép trong sách này. Còn những điều đã được chép ở đây là để anh em tin rằng Đức Giê-su là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa, và để anh em tin mà được sự sống nhờ danh Người” (Ga 20,30-31). Như vậy, theo thánh nhân, lời của Thiên Chúa trong Kinh Thánh là điều kiện thiết yếu giúp con người luôn biết ở lại với Đức Giê-su để lắng nghe và tin tưởng vào Người hầu có thể cộng tác với Người trong việc biến đổi bản thân, biến đổi anh chị em đồng loại cũng như môi trường xã hội.
Là Lời hằng hữu của Thiên Chúa và là Thiên Chúa, Đức Giê-su đã trút bỏ chính mình (ἑαυτὸν ἐκένωσεν/ emptied himself), làm cho mình trở nên trống rỗng. Tuy nhiên, những lời của Đức Giê-su đối với gia đình nhân loại không phải là những lời trống rỗng mà là những lời “sống động, hữu hiệu và sắc bén hơn cả gươm hai lưỡi: xuyên thấu chỗ phân cách tâm với linh, cốt với tuỷ; lời đó phê phán tâm tình cũng như tư tưởng của lòng người” (Dt 4,12). Những lời của Đức Giê-su mãi mãi là những lời tiêu chuẩn giúp con người xây dựng và thăng tiến đời sống cá nhân, cộng đoàn, xã hội. Những lời của Đức Giê-su mãi mãi là những lời đầy quyền năng và lòng thương xót đối với con người. Đặc biệt, những lời của Đức Giê-su mãi mãi vang vọng trong gia đình nhân loại để thông đạt ý định của Thiên Chúa, hướng dẫn mọi người cách thức hoàn thiện bản thân và chú tâm hơn vào những giá trị của Nước Thiên Chúa giữa dòng đời.
Chúng ta nhận thức rằng lời của Thiên Chúa trong Cựu Ước được kiện toàn trong Tân Ước, đặc biệt trong mầu nhiệm nhập thế, sự đau khổ, sự chết và phục sinh của Đức Giê-su như lời Người nói với các môn đệ trước khi về trời: “Khi còn ở với anh em, Thầy đã từng nói với anh em rằng tất cả những gì sách Luật Mô-sê, các Sách Ngôn Sứ và các Thánh Vịnh đã chép về Thầy đều phải được ứng nghiệm” (Lc 24,44). Tuy nhiên, Cựu Ước được kiện toàn trong Tân Ước luôn là một tiến trình nhiệm mầu. Một mặt, nội dung chính yếu của mặc khải Cựu Ước được kiện toàn trong Tân Ước. Mặt khác, một số khía cạnh liên quan đến cấu trúc, thể chế, phụng tự trong Cựu Ước được tiếp tục theo cách thức vượt quá sự hiểu biết của con người, chẳng hạn như những người Do-thái thuộc Dân Thiên Chúa và Dân Thiên Chúa Mới là Giáo Hội được Đức Giê-su thiết lập; việc thuộc về Dân Thiên Chúa Mới ít lệ thuộc vào yếu tố văn hóa, dân tộc mà lệ thuộc nhiều vào sự gắn bó với Đức Giê-su cũng như tuân giữ giới răn của Người; quan tâm chính yếu của dân Do-thái trong Cựu Ước là lề luật, trong khi quan tâm chính yếu của Dân Thiên Chúa Mới trong Tân Ước là ân sủng; việc cắt bì như là dấu chỉ để thuộc về giao ước giữa Thiên Chúa và Áp-ra-ham không còn tiếp tục nữa nhưng thay vào đó là các bí tích khai tâm Ki-tô Giáo.
Lời của Thiên Chúa trong Cựu Ước nhiều đến nỗi làm cho con người dễ bị lẫn lộn, khó phân biệt rành mạch đâu là những điểm căn bản hầu có thể học hỏi và thực thi cách xứng hợp (Mc 12,28-34; Lc 10,25-28). Vì thế, Đức Giê-su là Lời hằng hữu của Thiên Chúa đến trần gian để ‘tóm lược lời của Thiên Chúa’ bằng chính bản thân Người. Như đã được đề cập ở trên, các hình thức lời chính yếu trong Cựu Ước như lời sáng tạo, lời giao ước, lời ngôn sứ, lời khôn ngoan, lời dẫn lối chỉ đường, đều được Đức Giê-su kiện toàn trong hành trình trần thế của Người. Chúng ta có thể khẳng định rằng lời của Thiên Chúa trong Cựu Ước là ‘tiềm năng’, là ‘mầm mống’, là ‘phôi thai’, là ‘chồi non’, là ‘hình ảnh’, là ‘mũi tên’, là ‘tiên báo’ hướng tới sự trọn vẹn về mục đích và ý nghĩa trong Tân Ước. Nội dung chính yếu của các sách Cựu Ước ‘hội tụ nơi Đức Giê-su’, còn nội dung chính yếu của các sách Tân Ước ‘khởi đi từ Người’. Do đó, chúng ta cần quan tâm đặc biệt đến tương quan giữa lời của Thiên Chúa trong toàn bộ Kinh Thánh và Đức Giê-su là Lời hằng hữu của Thiên Chúa.
Đề cập đến tầm quan trọng của Kinh Thánh trong đời sống Giáo Hội, Công Đồng Vatican II minh định: “Giáo Hội luôn tôn kính Kinh Thánh như chính Thân Thể Chúa” (DV 21). Chúng ta biết rằng nói đến thân thể là nói đến thịt và máu. Nếu Kinh Thánh như chính Thân Thể Đức Giê-su thì chúng ta cần ý thức về ‘thịt’ và ‘máu’ của Kinh Thánh, tức là những gì giúp con người sống xứng đáng với phẩm giá cao trọng của mình giữa muôn vật muôn loài. Trong đời sống phụng tự, mỗi lần cử hành Bí Tích Thánh Thể, chúng ta không chỉ có ‘Thịt’ và ‘Máu’ của Đức Giê-su Thánh Thể mà còn có ‘thịt’ và ‘máu’ của lời Người nữa. Chúng ta gặp gỡ Đức Giê-su nơi lời của Người cũng như Bánh và Rượu được thánh hiến và trở nên Của Ăn, Của Uống thiêng liêng nuôi sống chúng ta. Chính Đức Giê-su đã nói với các môn đệ: “Nếu ở dưới đất, hai người trong anh em hợp lời cầu xin bất cứ điều gì, thì Cha Thầy, Đấng ngự trên trời, sẽ ban cho. Vì ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đấy, giữa họ” (Mt 18,19-20). Lời của Thiên Chúa trong Kinh Thánh thật kỳ diệu, thật nhiệm mầu so với các hình thức lời mà con người có thể tiếp cận hay có kinh nghiệm trong cuộc sống mình. Đó là lý do giải thích tại sao thánh Giê-rô-ni-mô khẳng định: “Không biết Kinh Thánh là không biết Đức Ki-tô”. Công Đồng Vatican II giải thích cách cặn kẽ hơn: “Lời Chúa còn có một sức mạnh và quyền năng có thể nâng đỡ và tăng cường Giáo Hội, ban sức mạnh đức tin cho con cái Giáo Hội, là lương thực linh hồn, nguồn sống thiêng liêng, tinh tuyền và trường cửu cho con cái Giáo Hội” (DV 21).
Đức Giê-su, Lời của Thiên Chúa, đã biến đổi và định dạng tâm tính, thái độ và hành vi của các môn đệ Người để họ tiếp tục chương trình loan báo lời của Thiên Chúa được kiện toàn cho muôn dân muôn nước. Ngay từ buổi sơ khai, các môn đệ đã ý thức về sự cần thiết phải loan báo Đức Giê-su và lời của Người cho anh chị em đồng loại. Nội dung chính yếu của ‘Lời loan báo tiên khởi’ (Κήρυγμα/ Kerygma) là: Đức Giê-su, Lời của Thiên Chúa, đã trở nên người phàm; Người chịu chết vì tội lỗi loài người, được mai táng và ngày thứ ba chỗi dậy như lời Kinh Thánh; Người đã hiện ra với Phê-rô và các môn đệ khác. Lời loan báo tiên khởi này luôn được lưu truyền và quảng diễn trong đời sống Giáo Hội, thực thể được Đức Giê-su thiết lập trên nền tảng các Tông Đồ để đồng hành với gia đình nhân loại cho đến tận thế. Là Ki-tô hữu, tất cả chúng ta được mời gọi dõi theo Đức Giê-su và hiệp thông với Người để ngày càng được biến đổi và trở thành khí cụ thuận tay Người trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống mình.
Chúng ta có thể kết luận rằng Đường của Đức Giê-su trong hành trình trần thế là Đường Kiện Toàn Lời Chúa. Nhờ Người là Lời hằng hữu, Thiên Chúa sáng tạo muôn vật muôn loài. Nhờ Người, mặc khải của Thiên Chúa trong Cựu Ước cũng như trong dòng lịch sử nhân loại được quy tụ, được kiện toàn và tiếp tục vang vọng giữa lòng nhân thế. Nhờ Người, chương trình kỳ diệu và đường lối sư phạm nhiệm mầu của Thiên Chúa được thực thi nhằm biến đổi và giải thoát con người từ thân phận nô lệ tội lỗi, nô lệ sự chết thành con cái của Ánh Sáng thường hằng bất biến, của Thiên Chúa từ bi, nhân hậu. Tất cả mọi người trong gia đình nhân loại được mời gọi đón nhận Đức Giê-su, Đường Kiện Toàn Lời Chúa và sống theo Đường của Người. Cùng với Chúa Thánh Thần, Đức Giê-su tiếp tục đồng hành và hướng dẫn mọi người trong gia đình nhân loại. Người luôn hiện diện để làm cho chương trình cứu độ của Thiên Chúa được lan rộng đến tận cùng trái đất, tận cùng lịch sử của thế giới thụ tạo hầu quy tụ con người và muôn vật muôn loài về với Gia Đình Thiên Chúa viên mãn.
2021
Phác họa vài nét về chân dung vị mục tử thời hiện đại
Để nói về hình ảnh đặc trưng của người mục tử ngày nay, người ta thường nhắc đến con người và nếp sống của Đức Thánh Cha Phan-xi-cô, đương kim Giáo hoàng của Hội thánh Công giáo toàn cầu. Quả thực từ khi còn là Tổng giám mục ở Buenos Aires đến khi lên ngôi giáo hoàng, ngài luôn tỏ ra là một mục từ sống thánh thiện, đơn sơ, bình dân, khó nghèo và giản dị. Đây quả là mẫu gương mục tử thích hợp trong thời đại hiện nay.
Trong bài viết có tựa đề “Đức Thánh Cha Phanxicô, khuôn mặt người linh mục hôm nay”[1] , tác giả đã mở đầu như sau:
“Trong xã hội Việt Nam hôm nay, càng ngày giáo dân càng phản ảnh về những tiêu cực của đời sống linh mục, nhất là lối sống hưởng thụ, quyền hành, ngặt nghèo, xa cách giáo dân…Xin chia sẻ một số nét tiêu biểu trong tính cách rất dễ thương, và là khuôn mặt người linh mục rất dễ mến của Đức Thánh Cha Phanxicô. Đó là tính cách rất hấp dẫn của con người linh mục, vì nó phác họa lại dung mạo của Đức Kitô, đem lại một sức năng động mới cho các linh mục hôm nay.”
Tiếp theo, nội dung bài viết nêu trên đã đề cập đến một vài lối sống tiêu biểu cụ thể của ĐTC Phan-xi-cô, có thể tóm tắt như sau:
– Sống khó nghèo và sống cho người nghèo: Sau khi được bầu, ĐTC đã chọn danh hiệu là thánh Phanxicô Assisi, và ngài giải thích: “Vì tôi muốn một Giáo hội nghèo cho người nghèo”. Trong một buổi lễ tại nhà nguyện thánh Matta, ĐTC đã công kích việc tôn thờ tiền bạc và tỏ ra rất phiền muộn. Ngài nói rằng, dính bén tiền bạc thì sẽ xa cách Thiên Chúa. “Tiền bạc làm cho tinh thần trở thành bệnh tật, làm đức tin trở thành tàn tật”. Ngài còn nói thêm rằng, tình yêu tiền bạc khiến các linh mục và giám mục phạm tội. Và nếu lòng tham nổi lên, thì “tinh thần hư hỏng, có nguy cơ coi tôn giáo như một nguồn thu lợi”.
– Mục tử nhân lành và chứng nhân lòng thương xót: ĐTC Phan-xi-cô đã từng khẳng định, người chăn chiên phải có “mùi chiên”, thì đoàn chiên mới nhận ra. Ngay từ những tháng đầu tiên, ngài đã diễn tả sứ vụ của mình: “Tôi thấy rõ rằng điều mà Giáo hội cần nhất lúc này là khả năng chữa lành những vết thương và sưởi ấm tâm hồn tín hữu, sự gần gũi, sự thân thiện. Giáo hội giống như một bệnh viện dã chiến sau một cuộc chiến… Chúng ta phải chữa những vết thương đã, sau đó mới trao đổi về những gì còn lại…” ĐTC cũng nhấn mạnh đến lòng Chúa thương xót, không ai được để cho mình thất vọng. Phải biết đón nhận lòng thương xót và trở nên người biết xót thương. Trong một bài giảng, ngài nói: “Điều con người ngày nay cần nhất là những chứng từ của chúng ta về lòng thương xót của Thiên Chúa, để sưởi ấm con tim, đánh thức niềm hy vọng, và lôi kéo người ta đến với điều thiện.”
– Quyền hành là phục vụ: “Quyền hành đích thực là phục vụ, như Chúa Giêsu đã phục vụ. Người vĩ đại nhất là người phục vụ nhiều nhất”. Trong bài giảng Chúa nhật 18-10-2015, khi suy niệm bài Phúc Âm Mc 10, 33-40, ĐTC Phan-xi-cô đã nói như sau: “Chúa Giêsu mời gọi chúng ta hãy thay đổi não trạng và đi từ sự ham hố quyền hành đến niềm vui được ẩn mình và phục vụ; loại trừ bản năng thống trị người khác và thực thi nhân đức khiêm tốn…Chúa Giêsu chủ yếu thi hành một chức linh mục thương xót và cảm thông…Vinh quang của Người không phải là là thứ vinh quang tham vọng hoặc khao khát thống trị, nhưng là vinh quang được yêu mến con người, đảm nhận và chia sẻ yếu đuối của họ và ban cho họ ơn thánh chữa lành, tháp tùng hành trình sầu muộn của họ với lòng dịu dàng vô biên”.
– Chân thành và giản dị: Điều giúp ĐTC Phan-xi-cô gần gũi với đại chúng là sự chân thành, nhất là khi ngài đề cập cả đến những thiếu sót của Giáo hoàng: “Ngay cả giáo hoàng cũng đi xưng tội 2 tuần 1 lần, vì giáo hoàng cũng là một tội nhân…”. Các giáo hoàng khác cũng nói tương tự như thế, nhưng mang kiểu cách thánh thiêng, còn cách nói của Đức Phanxicô làm phá vỡ hết mọi bệ tượng. Mỗi ngày ngài đều rời phòng ở lúc 10g sáng để đến chỗ làm việc. Người ta có thể gặp ngài nơi hành lang, trong thang máy, có khi thấy ngài uống café và đang tìm tiền lẻ để trả tại máy bán café…
ĐTC chân thành nhưng cũng thẳng thắn tố cáo những tham nhũng trong Giáo hội, không ngại nói tới những giáo sĩ sống bất xứng với sứ vụ của mình, và chạy theo những của cải trần gian. Ngài đã than phiền: “Tôi đau buồn khi chứng kiến một linh mục hay tu sĩ đi chiếc xe hơi đời mới… Nếu con yêu thích chiếc xe hơi đẹp đẽ thì hãy nghĩ đến tất cả những đứa trẻ đang chết đói”. Đôi khi ngài gay gắt: “Điều làm tất cả chúng ta ghê tởm là thấy giữa chúng ta có những linh mục không chân chính hay nữ tu không chân chính”.
– Sống gần gũi thân tình và liên đới với mọi người: ĐTC Phan-xi-cô luôn tìm cách gặp gỡ con người, đụng chạm đến người ta và để người ta đụng chạm đến mình. Việc tiếp xúc về thể lý là một phần trong cung cách giao tiếp của ngài. Ngài không muốn trở thành bức tượng. Các tín hữu đều có thể ôm ngài, như trường hợp anh quân nhân người Ý sau trận chiến Afganistan trở về đã ở bên ngài thật lâu. Trong mọi cuộc lễ, Đức Phan-xi-cô không đặt khoảng cách với các tín hữu, không giữ khoảng cách nghi lễ. Ngài đón tiếp họ, lôi kéo họ, đụng chạm tới họ. Ngài nói chuyện, lắng nghe và nhìn vào mắt các tín hữu. Trời mưa, ngài vẫn để đầu trần như đám đông khách hành hương.
Trong chuyến tông du Đại hội Giới trẻ tại Rio de Janeiro, Đức Phan-xi-cô đã đến thăm khu dân nghèo Varginha. Ngài đã xuống khỏi xe để đi bộ dưới trời mưa trên những con đường lầy lội trong khu ổ chuột. Như một cha xứ, ngài vào thăm một gia đình trong căn nhà lụp xụp, cùng cầu nguyện và trao đổi với họ, chúc lành và ôm hôn tất cả những đứa con trong gia đình. Sau đó, từ khán đài nhỏ, ngài nói: “Tôi muốn gõ cửa từng nhà chào thăm anh chị em…”
Tác giả bài viết trên cho hay, có người đã thú nhận: “Tôi đã tách rời khỏi Giáo hội, và bây giờ Đức Phanxicô đã đưa tôi trở lại với Giáo hội”. Hoặc ông Marco Tarquinio, tổng biên tập tờ báo Avvenir trích lời một độc giả: “Đã từ lâu người ấy không cầu nguyện, nhưng bây giờ mỗi ngày đều cầu nguyện cho Đức Phanxicô. Giáo hoàng đã đốt nóng con tim người tín hữu, đụng chạm tới những người dè dặt, và tiếp xúc được với những người ở xa nhất”.
Trên đây là một thoáng chân dung mục tử nổi bật nơi ĐTC Phan-xi-cô. Chân dung ấy người ta có thể chiêm ngưỡng, khám phá và đụng chạm đến một cách dễ dàng, như lời Đức Hồng y Tauran đã nhận xét: “Người ta đến Rôma để xem Đức Gioan Phaolô II, để nghe Đức Bênêđictô XVI, và để đụng chạm đến Đức Phanxicô”.
Nhân bài viết đã dẫn trên, xin mạn phép thử phác họa đôi nét về chân dung vị mục tử ngày nay dưới góc nhìn của một giáo dân. Nội dung bài suy tư này gồm 5 phần sau:
- Mục tử: người chăn chiên mang nặng mùi chiên
- Mục tử: thân phận người đầy tớ “bị ăn”
- Mục tử: người phục vụ khiêm nhu và khó nghèo
- Mục tử: chứng nhân lòng Chúa thương xót
- Mục tử: mẫu gương nhà truyền giáo nhiệt thành
- MỤC TỬ: NGƯỜI CHĂN CHIÊN MANG MÙI CHIÊN
Ngày thứ Năm Tuần Thánh 28-3-2013, tại Đền thờ Thánh Phêrô, ĐTC Phanxicô đã cử hành Thánh Lễ Làm Phép Dầu vào lúc 9giờ30. Trong buổi lễ này, ngài đã nói với các linh mục: “Tôi yêu cầu anh em hãy là những mục tử mang nặng mùi con chiên của mình”. Đức Thánh Cha đã gợi lên một hình ảnh thật ấn tượng, đó là mục tử phải có mùi của chiên. Người chăn chiên sống gần gũi, gắn bó với đàn chiên, lo lắng chăm sóc, bảo vệ đàn chiên của mình đến nỗi mùi của chiên đã ngấm vào không những áo quần mà cả da thịt mục tử. Linh mục, người chăn chiên về đàng thiêng liêng cũng phải như vậy. [2]
Thực vậy, linh mục là vị mục tử được sai đến với cộng đoàn dân Chúa phải “thấm mùi chiên” thì mới chứng tỏ ngài quan tâm chăm sóc chiên của mình, chấp nhận đồng hành và sống chết với họ. Mục tử càng gần gũi với chiên, thì ngài càng hiểu chiên, càng thông cảm và yêu mến chiên. Ngài không biến chức vụ, quyền hành của mình thành rào cản để xa dân Chúa, trái lại ngài sẽ luôn là điểm hấp dẫn mọi người đến với mình để chia sẻ với họ những gì họ đang thiếu, đang khát khao, đang mong đợi.
Cha Andrew Greeley, một tác giả viết sách và một nhà xã hội học đã định nghĩa: “Linh mục là người để người ta tìm đến”. Điều đó cũng có thể hiểu được là mục tử trở nên điểm hẹn đáng trân trọng của mọi tín hữu. Cộng đoàn tìm đến mục tử của họ là để được nói tiếng nói của chiên với chủ chăn, được giãi bày tâm sự, được khuyên giải, được trấn an vv. Sự thất vọng lớn nhất của người giáo dân đối với vị mục tử của họ là khi tiếng nói của họ không còn được nghe nữa. Lúc đó giữa chiên và chủ chiên như có một bức tường ngăn cách vô hình nào đó, và mối tương quan “ta biết chiên ta và chiên ta biết ta” không còn ý nghĩa gì nữa!
Lời của Ngôn Sứ Ê-dê-ki-en còn đây: “Ta sẽ chăn dắt chúng trong đồng cỏ tốt tươi và chuồng của chúng sẽ ở trên các núi cao Ít-ra-en. Tại đó chúng sẽ nằm nghỉ trong chuồng êm ái, sẽ đi ăn trong đồng cỏ mầu mỡ trên núi non Ít-ra-en. Chính Ta sẽ chăn dắt chiên của Ta, chính Ta sẽ cho chúng nằm nghỉ – sấm ngôn của ĐỨC CHÚA là Chúa Thượng. Con nào bị mất, Ta sẽ đi tìm; con nào đi lạc, Ta sẽ đưa về; con nào bị thương, Ta sẽ băng bó; con nào bệnh tật, Ta sẽ làm cho mạnh; con nào béo mập, con nào khoẻ mạnh, Ta sẽ canh chừng. Ta sẽ theo lẽ chính trực mà chăn dắt chúng.” (Ed 34, 14-16)
- MỤC TỬ: THÂN PHẬN NGƯỜI ĐẦY TỚ “BỊ ĂN”
Linh mục Antoine Chevrier đã nói một câu đầy ý nghĩa như sau: “Linh mục là người bị ăn”. Điều đó có nghĩa là thân phận của người mục tử là thân phận của người đầy tớ “bị ăn”.
Các linh mục của Chúa được sai đi, không phải để được phục vụ mà là để phục vụ con người như lời Đức Ki-tô đã khẳng định (x. Mc 10, 45). Linh mục là người của muôn người, được sai đi để làm “đầy tớ” thiên hạ. Nói linh mục là “đầy tớ” vì các ngài không được tuyển chọn để làm quan trong thiên hạ, mà làm kẻ phục vụ người khác. Càng phục vụ tích cực, càng phải hi sinh hết mình. Càng lo cho người khác, càng chết cho chính mình. Càng yêu mến quan tâm người khác, trái tim càng đau khổ dày vò. Khi con người của linh mục bị vắt cạn sức lực, đó là lúc Đức Ki-tô Mục Tử lớn lên trong các ngài và tỏa lan sức nóng ấm áp trong cộng đoàn. Đó cũng là lúc hạt giống chun vùi trong lòng đất sinh hoa kết trái, “Nếu hạt giống rơi xuống đất mà thối đi, nó sẽ nảy sinh hoa trái” (Ga 12, 24).
Có lẽ không gì hùng hồn và thuyết phục bằng việc đơn cử mẫu gương mục tử sáng ngời của cha thánh Gioan Maria Vianney, cha sở họ Ars. Ngài nổi tiếng là một linh mục rất nhiệt tình trong việc rao giảng và giải tội. Hai thánh vụ này đã làm hao tốn biết bao sức lực của một người tông đồ nhiệt thành và một đầy tớ chuyên chăm của giáo dân.
Về giảng dạy, cha quan tâm soạn bài giảng thật kỹ lưỡng. Cha thường dùng phòng áo để dọn giảng cho yên tĩnh. Cha nghiên cứu các tác giả, có khi xem tới 7 tác giả. Cha đánh dấu những đoạn cần phải chép lại và lắm khi phải phiên dịch tới 40 hay 50 trang sách. Học thuộc lòng trước vào thứ bảy và buổi tối sau khi bổn đạo về nhà, cha đi chung quanh nghĩa địa để lập lại những đoạn khó. Cha lại không quên cầu nguyện trước khi giảng…Cha giảng rất hùng hồn. Có người hỏi: “Tại sao lúc cầu nguyện thì cha nói nhỏ mà khi giảng cha lại nói to thế ?”. Cha trả lời : “Khi giảng phải nói to vì người nghe họ buồn ngủ và nặng tai, nhưng khi cầu nguyện với Chúa thì nói nhỏ vì Người không nặng tai”. Cha giảng rất hùng hồn và dạy dỗ với uy quyền. Bài giảng rất cụ thể với đời sống Dân Chúa và chỉ bảo phải làm gì hay làm như thế nào để giáo dân dễ thực hành.
Về việc giải tội, cha sở họ Ars là một LM nổi tiếng trong việc siêng năng giải tội. Có thể nói tội nhân đã chiếm đoạt tất cả tâm tư, lời cầu nguyện, hãm mình và mọi hành động của ngài. Cha thường ngồi tòa 15 giờ mỗi ngày, bắt đầu từ 1 hay 2 giờ sáng và kết thúc vào lúc đêm khuya…Người ta nối nhau để chờ xưng tội. Có thể nói là cha ngồi tòa liên tục, bởi vì giáo dân xứ Ars xưng tội thường xuyên, lại có các khách hành hương từ các nơi xa kéo đến, có khi lên tới 80.000 người hằng năm. Cha giải tội cả lúc đêm về, bất cứ lúc nào cha cũng sốt sắng với việc giải tội khi có người xin vào những lúc bất thường. Trước ngày qua đời 5 hôm, người ta còn thấy các tội nhân chen chúc bên giường bệnh của cha để lãnh nhận ơn tha thứ. Cha còn được ơn thấu suốt tâm tư và tâm hồn của người khác và ngài biết khôn ngoan đưa dẫn họ vào việc xưng tội, cả khi họ không có ý đi xưng tội khi gặp ngài. Đặc biệt cha còn làm việc đền tội với tội nhân. Cha nói: “Tôi ra cho họ việc đền tội nhẹ nhàng và tôi làm thay cho họ việc đền tội còn lại”….
Một linh mục sống và làm việc như thế thì hiển nhiên là người-bị-ăn đích thực rồi. Chính giáo dân vừa yêu mến ngài lại vừa “hành hạ” ngài. Nhưng nét đẹp diệu vợi và thánh thiêng của vị mục tử là ở chỗ đó. Mọi giáo dân đều có chung một ý nghĩ này là chỉ nguyên sự hiện diện thường xuyên tích cực và sống động của linh mục giữa họ thôi cũng đủ đem lại bình an và niềm vui cho cộng đoàn rồi. Tuy nhiên, trên thực tế, đôi khi trái ngược, có nhiều nơi được gặp linh mục đã là khó, được ngồi nói chuyện giãi bày tâm sự với các ngài còn khó hơn, và được ngài lắng nghe, chỉ bảo, tâm sự còn khó hơn gấp nhiều lần…
- MỤC TỬ: NGƯỜI PHỤC VỤ KHIÊM NHU VÀ KHÓ NGHÈO
Có thể nói, một trong những hình ảnh ấn tượng nhất về vị mục tử ngày nay đó là một con người phục vụ với đức tính khiêm khu và tinh thần khó nghèo. Chúng ta đều biết rằng, linh mục không phải là một nghề và linh mục được sai đến để sống và làm việc giữa dân Chúa như một người cha, người mẹ, người anh, người chị trong tư cách là một đầy tớ phục vụ, chứ không phải là một người cai trị. Trong khi phục vụ, ngài luôn nêu gương khiêm nhường và khó nghèo.
Công đồng Vat II đã nêu rõ: “Linh mục phải săn sóc các tín hữu như những người cha trong Chúa Ki-tô, vì đã sinh họ cách thiêng liêng nhờ phép rửa và giáo huấn (x.1Cor 4,15 và 1P 1,23). Nêu gương cho đoàn chiên (1P 5,3), linh mục phải làm sao hướng dẫn và phục vụ cộng đoàn địa phương của mình, để họ xứng đáng mang danh hiệu Giáo hội Thiên Chúa (x.1Cor 1,2; 2Cor 1,1) là danh hiệu riêng riêng biệt của toàn thể Dân Thiên Chúa là Dân duy nhất. Linh mục hãy nhớ rằng mình phải tỏ ra cho tín hữu và lương dân, cho người Công giáo và ngoài Công giáo thấy gương mặt của một thừa tác vụ thực sự tư tế và mục vụ, phải minh chứng cho mọi người thấy chân lý và sự sống…” (x. Vat II, LG 28).
Và Sắc lệnh về chức vụ và đời sống các linh mục (Presbyterorum Ordinis) cũng nói về những đòi hỏi của thừa tác vụ linh mục, “Thực hành việc khổ chế riêng biệt của vị chăn dắt các linh hồn, từ bỏ những tiện nghi riêng, không tìm kiếm tư lợi nhưng tìm lợi ích cho nhiều người để họ được cứu rỗi”.
Như vậy, linh mục được chọn từ những người bình thường để làm những công việc phi thường. Để thực hiện những việc phi thường, linh mục luôn là người bận rộn và vất vả. Bản thân con người của linh mục qua bí tích Truyền chức thánh đã trở nên một hiến lễ vì cộng đoàn và cho cộng đoàn. Như Đức Ki-tô Mục Tử, linh mục có thể nói, “Phần tôi, tôi đến để cho chiên được sống và sống dồi dào” (Gio 10,10); “Con người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mc 10,45).
Có thể nói con người và đời sống của linh mục như là tấm bánh bẻ ra cho nhiều người đang khao khát sự sống đích thực của Đức Ki-tô.
Cộng đoàn tín hữu là một gia đình trong đó linh mục được sai đến để chăm sóc, lo lắng và làm gương. Ngài xác tín tuyệt đối việc ngài đến là “để phục vụ”. Người phục vụ luôn luôn là người chịu thiệt thòi, lo trước cái lo của dân Chúa và vui sau cái vui của họ. Nỗi lo lắng của ngài không phải là an hưởng bản thân mà là gánh vác công việc cộng đoàn, ở đó bao con người đang mong đợi và cần sự hiện diện của ngài.
Linh mục sẽ luôn luôn phải thao thức về nhu cầu thiêng liêng của cộng đoàn, qua đó ngài biết nên làm gì và làm như thế nào để họ “được sống và sống dồi dào”. Nỗi băn khoăn thao thức thường xuyên của linh mục, đó là làm sao mình phải bé nhỏ, tiêu hao đi để cho Đức Ki-tô lớn lên trong cộng đoàn. Làm sao để Tin Mừng thực sự lan tỏa trong mỗi người, mỗi gia đình, mỗi hội-đoàn-nhóm tín hữu. Làm sao hạn chế được những chia rẽ, bất hòa, hành xử cục bộ, bè phái… để mọi người sống hiệp nhất yêu thương như Chúa đã dạy. Nguyên chỉ với những thao thức đó thôi, linh mục cũng đã phải “tự tiêu hao” biết bao dự phóng, bao sáng kiến, bao lo toan, bao kế hoạch riêng tư…Nói cách khác, khi lo cho người khác được lớn lên, linh mục sẽ hy sinh chính bản thân ngài.
Đức Giám mục GB Bùi Tuần, giáo phận Long Xuyên đã chia sẻ với các linh mục như sau: “Tôi nhận ra ơn gọi của người môn đệ Đức Ki-tô. Ơn gọi này không chỉ là truyền bá Tin Mừng, quy tụ dân Chúa, thông báo ý Chúa trong những hoàn cảnh cụ thể, mà còn là hiến tế chính mình trong cuộc đời. Hiến tế bằng tình yêu và hi sinh. Cho dù một cách nào đó, người môn đệ Chúa sẽ phải chịu đóng đinh vào thánh giá, phải chịu cho trái tim mình bị đâm, để những giọt máu và nước sau cùng trong đó cũng đành đổ ra hết…” (Tĩnh tâm LM Gp Long Xuyên tháng 6-2002).
Nhìn vào một giáo xứ, có thể nhận ra ảnh hưởng của vị mục tử lớn lao như thế nào. Linh mục xây nhà thờ kiên cố thì giáo dân được yên lòng. Linh mục quan tâm đến người nghèo, bất hạnh thì cộng đoàn bớt đi nhiều cảnh khổ. Linh mục để mắt tới những người khô khan, nguội lạnh, những đôi vợ chồng rối, thì giáo xứ giảm bớt được gương xấu. Linh mục sống nghèo khó, khiêm tốn thì giáo dân có gương sáng sống động để dõi theo vv. Bao lâu linh mục chưa là tấm-bánh-được-bẻ-ra cho người tín hữu “ăn” thì bấy lâu cộng đoàn vẫn còn phải chịu đựng sự đói, sự khát, sự nghèo về tâm linh, về sự sống, về gương sáng chứng tá Tin Mừng Đức Ki-tô Phục Sinh.
- MỤC TỬ: CHỨNG NHÂN LÒNG CHÚA THƯƠNG XÓT
Trong bài giảng lễ cầu nguyện cho linh mục nhân dịp ngày năm thánh Lòng Thương Xót dành cho các linh mục ngày thứ sáu 3-6-2016, ĐTC Phan-xi-cô đã giúp các linh mục chiêm ngắm trái tim đầy thương xót của Mục Tử Nhân Lành và mời gọi các ngài để cho con tim mục tử của mình được nung nấu bởi tình yêu mục tử của Chúa Kitô. [3]
ĐTC đã chia sẻ như sau: “Khi chiêm ngắm Trái Tim Chúa Giêsu, chúng ta đối diện với một câu hỏi căn bản về đời sống linh mục của chúng ta: Con tim của tôi hướng về đâu? Sứ vụ của chúng ta thường đầy những hoạch định và những công việc khác nhau: từ việc giảng dạy cho đến việc phụng vụ, các công việc bác ái, những dấn thân mục vụ và cả những công việc hành chánh nữa. Giữa vô số những hoạt động ấy, chúng ta vẫn luôn phải chất vấn bản thân mình: con tim của tôi gắn chặt vào đâu, con tim của tôi đang hướng về đâu, và đâu là kho tàng mà tôi đang tìm kiếm? Vì Chúa Giêsu đã nói: ‘Kho tàng của anh ở đâu, thì tâm hồn anh ở đó’ (Mt 5,21)”.
Ngài nhấn mạnh: “Con tim của các mục tử là con tim bị xuyên thấu bởi tình yêu Thiên Chúa. Chính vì thế, các mục tử không còn đăm đăm vào bản thân mình nữa, nhưng hướng về Thiên Chúa và đoàn chiên của mình. Đó không còn là một ‘con tim bị dao động’ hay bị cuốn hút bởi những ý tưởng nhất thời hoặc bỏ qua những bất đồng để tìm kiếm những thỏa mãn nhỏ nhen. Trái lại, đó là một con tim được bám rễ sâu vào Thiên Chúa, được Chúa Thánh Thần đốt nóng, để luôn sẵn sàng rộng mở giúp đỡ tha nhân.”
Ngài cũng lưu ý các linh mục điểm quan trọng này: “Chúa Kitô yêu thương và biết các con chiên của Ngài, Ngài hiến mạng sống vì chúng và không ai là người xa lạ với Ngài (Ga 10,11-14). Đàn chiên chính là gia đình và cuộc sống của Ngài. Ngài không phải là những ông chủ để rồi đàn chiên phải khiếp sợ, nhưng Ngài là Mục Tử đồng hành với đàn chiên và gọi đích danh từng con (Ga 10,3-4). Ngài muốn tập họp những chiên còn chưa trở về chuồng của Ngài (Ga 10,16). Đối với các linh mục của Chúa Kitô cũng vậy. Linh mục được xức dầu để phục vụ dân Thiên Chúa, chứ không phải được chọn để làm theo ý riêng của mình, nhưng là gần gũi với đàn chiên mà Thiên Chúa đã trao phó. Không ai bị loại trừ ra khỏi trái tim của các mục tử, cũng không ai bị loại trừ ra khỏi lời cầu nguyện và nụ cười của các linh mục. Với cái nhìn đầy yêu thương và với trái tim của người cha, các linh mục đón nhận, hòa nhập và những khi cần phải sửa dạy ai đó, các linh mục phải gần gũi với con chiên của mình hơn. Họ không bao giờ được phép khinh thường một ai, nhưng phải sẵn sàng để bị ‘vấy bẩn’ đôi bàn tay của mình.”
Thực vậy, mang trái tim hiến tế như Chúa Ki-tô, linh mục đến với tha nhân nhất là những người đau khổ, tội lỗi, khô khan, để biểu tỏ sự cảm thông sâu sắc đối với thân phận, hoàn cảnh, con người của họ. Sự cảm thông đôi khi không nhiều lời, không ồn ào, mà chỉ cần là một sự hiện diện đồng cảm, một sự im lặng cầu nguyện, một thái độ chan hòa yêu thương. Các tín hữu có cảm giác gần gũi với linh mục chính nhờ cung cách phục vụ khiêm hạ và dễ thương như thế của ngài.
- MỤC TỬ: MẪU GƯƠNG NHÀ TRUYỀN GIÁO NHIỆT THÀNH
Nếu truyền giáo là bản chất của Hội thánh thì truyền giáo cũng là nhiệm vụ trọng tâm của các linh mục và các ngài chính là những nhà truyền giáo chuyên trách. Do vậy, dù ở trong hoàn cảnh nào, dù đang thi hành chức vụ gì thì linh mục cũng luôn sống và làm việc trong bầu khí truyền giáo. Truyền giáo như hơi thở, như nhịp đập trái tim của các ngài. Có thể khẳng định một điều là truyền giáo luôn là mối ưu tư hàng đầu của các chủ chăn.
ĐTC Phan-xi-cô rất quan tâm đến công cuộc truyền giáo, đặc biệt là đến sứ vụ loan báo Tin Mừng của các mục tử. Ngài đã từng nói:
“Cha muốn mọi người ra đi. Cha muốn Giáo hội ra ngoài đường phố…Cha muốn chúng ta tự bảo vệ chống lại những gì là thế gian, là định lập, là thoải mái, là giáo sĩ trị, là khép kín vào chính mình…”
“Cha muốn một Hội thánh ra đi truyền giáo nhiều hơn, một Hội thánh không quá tĩnh lặng. Một Hội thánh xinh đẹp khi biết ra đi.”
“Hãy sống tích cực, nuôi dưỡng đời sống thiêng liêng và đồng thời, hãy ra đi, sẵn sàng gặp gỡ mọi người, đặc biệt những ai bị khinh rẻ và bất hạnh. Đừng sợ phải đi ngược dòng.”
Trong thư Mục vụ năm 2014 chủ đề “Tân Phúc Âm hoá đời sống các giáo xứ và đời sống thánh hiến”, HĐGMVN đã khẳng định: “Chúng tôi xác tín rằng việc Phúc-Âm-hóa giáo xứ phải được bắt đầu từ chính hàng linh mục. Chúng tôi cảm ơn anh em đã tận tụy và trung kiên với công việc phục vụ cộng đoàn được trao phó cho anh em. Tuy nhiên chúng ta không được quyền tự mãn với những gì đã làm, nhưng phải không ngừng canh tân đời sống bản thân cũng như cung cách thi hành tác vụ linh mục. Vì thế, xin anh em nghe lại lời nhắn nhủ của Đức Thánh Cha Phanxicô, và hãy xem đó như kim chỉ nam cho tác vụ linh mục tại giáo xứ: Cùng với hàng giám mục, các linh mục ‘phải luôn luôn nuôi dưỡng sự hiệp thông truyền giáo trong giáo xứ của mình, theo lý tưởng của cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi. Để thực hiện điều này, có khi ngài sẽ đứng trước dân, chỉ đường cho họ và giữ cho niềm hy vọng của họ luôn sống động. Khi khác, ngài chỉ cần ở giữa họ bằng một sự hiện diện khiêm tốn và nhân từ. Khi khác nữa, ngài sẽ phải đi theo họ, giúp đỡ những ai bị bỏ lại ở đằng sau, và trên hết, để cho đoàn chiên tự mình mở ra những lối đi mới’ (Niềm Vui Tin Mừng, số 31).”[4]
Giáo xứ luôn là yếu tố thúc đẩy việc truyền giáo quan trọng nhất: Giáo xứ phải là môi trường thuận lợi nhất giúp giáo dân học hỏi và thực thi mệnh lệnh truyền giáo của Chúa Ki-tô. Nếu giáo xứ quá thiên về “quản trị hành chánh” thì giáo dân sẽ rơi vào tình trạng thụ động.
Chúng ta thử tham khảo vài chỉ dẫn của ĐGM Phao-lô Nguyễn Thái Hợp, giám mục giáo phận Hà Tĩnh theo Thông báo ngày 28-6-2019, như sau:[5]
“Loan báo Tin Mừng là trách nhiệm và là sứ vụ của các linh mục đã được Thiên Chúa mời gọi: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo” (Mc 16, 15). Linh mục quản xứ không chỉ được mời gọi ‘giữ chiên’ mà còn có bổn phận phát triển đoàn chiên tại nơi mình được sai đến.
“Loan báo Tin Mừng là trách nhiệm của mọi thành phần dân Chúa, mọi ban ngành, đoàn thể, HĐMV giáo xứ, các giáo họ, các hội đoàn trong giáo xứ và của mỗi người giáo dân. Loan báo Tin Mừng là mục tiêu của mọi hoạt động của giáo xứ và của từng người Kitô hữu.
“Quan tâm đến việc tìm kiếm ‘chiên lạc’ và đến với những người chưa biết Chúa, đang có thiện chí muốn vào đạo.
“Quan tâm đến việc đối thoại và hướng dẫn họ trong việc truy tầm chân lý; phải đến với mọi thành phần trong xã hội.
“Quan tâm chương trình dạy Giáo lý tân tòng và củng cố giáo lý đức tin hậu tân tòng.
“Quan tâm đào tạo nền tảng giáo lý vững chắc cho thế hệ trẻ trong giáo xứ.
Vậy người chịu trách nhiệm chính về công cuộc truyền giáo của giáo xứ chính là cha xứ và các tu sĩ nam nữ giúp xứ. Nếu cha xứ lơ là, không quan tâm đến công việc quan trọng này thì chẳng ai có thể thay thế ngài được. Nếu trong một năm, cha xứ chỉ “nói” đến công cuộc truyền giáo một hai lần nhân dịp lễ nào đó, còn ngoài ra không có những hoạt động xuyên suốt nào gọi là “Truyền giáo” thì chắc chắn giáo dân sẽ ít có cơ hội làm việc tông đồ truyền giáo!
Thực vậy, “Các giáo xứ cần quan tâm đến việc loan báo Tin Mừng trong mọi hoạt động của giáo xứ. Xin các cha xứ quan tâm, đồng hành và khích lệ để hoạt động loan báo Tin Mừng được kết quả. Xin các cha quản xứ làm nhân tố nối kết mọi hoạt động để việc loan báo Tin Mừng có hiệu quả thực sự. Cần trao trọng trách loan báo Tin Mừng cho một số hội đoàn như Legio, Thiếu nhi Thánh Thể vv… để có kết quả tốt hơn.”[6]
[1] http://www.simonhoadalat.com/giaoducgd/tuduc/179DTCPhanxico.htm
[2] https://www.tonggiaophanhanoi.org/qmuc-tu-phai-mang-lay-mui-chienq/
[3] https://dcctvn.org/trai-tim-muc-tu/
[4] https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/-thu-muc-vu-2014-tan-phuc-am-hoa-doi-song-cac-giao-xu-va-doi-song-thanh-hien-17874
[5] https://giaophanhatinh.org/thong-bao-cua-ban-loan-bao-tin-mung-2-11716
[6] https://giaophanhatinh.org/thong-bao-cua-ban-loan-bao-tin-mung-2-11716 Aug. Trần Cao Khải
2021
Giáo Hội có chấp nhận hôn nhân đồng tính hay không?
Giáo Hội có chấp nhận hôn nhân đồng tính hay không?
Hỏi : dư luận báo chí cho rằng Đức Thánh Cha Phanxicô sẽ công nhận hôn nhân đồng tính và bỏ luật độc thân cho các linh mục được kết hôn. Xin cha cho biết tin đồn đó có đúng không?
Trả lời :
Là người Công giáo sống trong Giáo Hội, chúng ta không được nghe và tin những gì Giáo Hội không chính thức loan báo hay dạy bảo. Tin đồn bên ngoài Giáo Hội thì có nhiều nhưng đó chỉ là những tin đồn vô căn cứ ( groundless rumors) mà thôi.
Thật vậy, từ khi Đức Thánh Cha Phanxicô lên ngôi Giáo Hoàng cho đến nay, báo chí Tây phương đã phóng đại nhiều tin giật gân, cụ thể như nội dung câu hỏi trên đây, khiến gây hoang mang cho người tín hữu Công giáo.
Hội Nghị các Giám Mục ( synod of bishops) về Gia đình mới đây tại Rôma, tuy chưa kết thúc bằng một quyết định chung cuộc nào , nhưng chắc chắn đã không đề nghị lên Đức Thánh Cha một thay đổi nào về mục đích của hôn nhân vốn đã được thi hành từ bao thế kỷ nay. Nghĩa là các giám mục sẽ không đề nghị những gì trái ngược với giáo lý , tín lý của Hội Thánh về bí tích hôn phối ,mà chỉ đưa ra những đề nghị nhằm tái xác định lại hay làm sáng tỏ thêm giáo huấn của Giáo Hội về định chế hôn nhân giữa một người nam và một người nữ để Đức Thánh Cha duyệt xét hầu đi đến chung cuộc trong lần Hội Nghị kế tiếp vào tháng 10 năm 2015. Như thế, chúng ta chưa thể kết luận gì về Hội Nghị các Giám mục thế giới vừa qua về gia đình.
Tuy nhiên, chắc chắn Giáo Hội sẽ không thay đổi gì về mục đích của bí tích hôn phối đã được duy trì từ bao thế kỷ nay, dựa trên giáo lý căn bản của chính Chúa Giêsu như ta đọc thấy trong cácTin Mừng Thánh Matthêu và Mác Cô sau đây :
“ … Lúc khởi đầu công trình tạo dựng, Thiên Chúa đã làm nên con người có nam có nữ; vì thế người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình.Và cả hai sẽ thành một xương một thit. Vậy sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly.” (Mt 19: 4-6; Mc 10 : 6-8)
Giáo lý hiện hành của Giáo Hội cũng dạy rằng:
“ Giao ước Hôn nhân, nhờ đó một người nam và một người nữ làm thành một cộng đoàn cho cả cuộc đời, tự bản chất nó hướng tới lợi ích của những người phối ngẫu cũng như hướng tới việc sinh sản và giáo dục con cái. Giao ước này đã được Chúa Kitô nâng lên hàng bí tích giữa những người đã lãnh nhận phép rửa tội.” ( x. SGLGHCG số 1601)
Giáo luật của Giáo Hội cũng qui định rõ như sau :
“ Do giao ước hôn phối, người nam và người nữ tạo nên với nhau một cuộc thông hiệp trọn cả cuộc sống. Tự bản tính, giao ước hôn phối hướng về thiện ích của đôi bạn và việc sinh sản cùng giáo dục con cái. Chúa Kitô đã nâng giao ước hôn phối giữa người đã chịu phép rửa tội lên hàng Bí Tích.”( giáo luật số 1055& 1)
Như thế, tuyệt đối không có giáo lý hay giáo luật nào cho phép hôn nhân đồng tính ( same sex marriage) giữa hai người nam hay hai người nữ mà một số quốc gia –trong đó có Hoa Kỳ- đang cho phép loại hôn nhân này.Đâylà một sự suy thoái trầm trọng về luân lý và mục đích của hôn nhân, một định chế đã có từ lâu trong xã hội con người thuộc mọi nền văn hóa.Định chế đó chỉ nhìn nhận hôn nhân giữa một người nam và một người nữ mà thôi.
Nhưng nay vì đạo đức suy đồi , hậu quả của trào lưu tục hóa ( vulgarism) đang bành trướng ở khắp nơi, mà người ta muốn định nghĩa lại hôn nhân để công nhận “ hôn nhân giữa hai người đồng tính” ( homosexual, lesbian), một đổ vỡ to lớn về mục đích của hôn nhân mà Thiên Chúa đã thiết lập từ đầu khi tạo dựng nên con người có nam có nữ và truyền cho họ “ phải sinh sôi nảy nở cho thật nhiều và thống trị mặt đất,” ( St 1: 28)
Trung thành với giáo lý của Chúa, chắc chắn Giáo Hội sẽ không bao giờ thay đổi định chế hôn nhân để bảo vệ mục đích của gia đình, một giáo hội tại gia ( domestic church) và cũng là hình ảnh của Gia Đình trên Trời nơi Chúa là Cha Chung của mọi con cái đã được cứu độ và đoàn tụ quanh Người trong niềm vui và hạnh phúc vĩnh cửu.
Liên quan đến những người “ đồng tính” Giáo Hội không kỳ thị và loại bỏ họ trong mục đích hiệp thông tôn thờ Thiên Chúa và tuyên xưng đức tin vào Chúa Cứu Thế Giêsu. Nhưng chắc chắn Giáo Hội cũng sẽ không bao giờ cho phép hay công nhận hôn nhân đồng tính giữa hai người nam hoặc hai người nữ như một số quốc gia đang làm vì áp lực chính trị để chiều theo thị hiếu của những người đồng tính muốn hợp thức hóa hôn nhân của họ.Làm như thế, họ đang phá đổ mục đich của hôn nhân và tước bỏ quyền có cha , mẹ , có ông bà nội ngoại của con cháu. Lại nữa, họ cũng tạo gương xấu ( scandal) cho giới trẻ khi thấy hai người nam hoặc hai người nữ công khai sống chung với nhau như vợ chồng.
Về mặt tinh thần, những người đồng tính có thể đến nhà thờ cầu nguyện chung với mọi tín hữu, nhưng không thể lãnh nhận các bí tích Thánh Thể và hòa giải được vì lối sồng của họ ( sống chung như vợ chồng) không được Giáo Hội nhìn nhận như những cặp vợ chồng đã thành hôn qua bí tích hôn phối. Và ngay cả những cặp vợ chồng đã kết hôn hợp pháp trong Giáo Hội, nhưng nay đã ly dị ngoài tòa dân sự mà chưa được tòa án hôn phối của giáo phận tháo gỡ hôn phối cũ mà lại sống chung với người khác như vợ chồng, thì cũng tạm thời không được lãnh nhận hai bí tích trên.
Tóm lại, dù Giáo Hội chưa chính thức lên tiếng về vấn đề hôn nhân của người đồng tính , nhưng chắc chắn Giáo Hội sẽ không bao giờ định nghĩa lại hôn nhân giữa một người nam và một người nữ, vì đây là một định chế thiêng liêng ( sacred institution) mà Thiên Chúa đã thiết lập từ khi có con người trên mặt đất và đã được Chúa Kitô nâng lên hàng bí tích như đã nói ở trên.
2- về câu hỏi liên thứ hai quan đến vấn đề độc thân của hàng giáo sĩ và tu sĩ Công giáo, xin được trả lời như sau:
Kỷ luật độc thân ( celibacy) của hàng giáo sĩ và tu sĩ trong Giáo Hội Công Giáo La mã không phải là vần đề tín lý hay giáo lý, mà chỉ là luật của Giáo hội đặt ra vì mục đích thánh hóa và hy sinh của hàng giáo sĩ ( Giám mục, linh mục) và tu sĩ mà thôi. Kỷ luật này mới có từ thế kỷ thứ 11 cho đến nay vì mục đích hy sinh , “sống khiết tịnh ( chaste) vì Nước Trời” như Chúa Giêsu đã phán dạy ( Mt 19: 11-12)
Do đó, chắc chắn Giáo Hội cũng sẽ không thay đổi hay bỏ luật này như có một số người đã vội suy đoán sai lầm.
Tuy nhiên, cũng phải nói thêm là chỉ có Giáo Hội Công Giáo La Mã mới có kỷ luật này , trong khi ở các Giáo hội Chính Thống Đông Phương ( Eastern Orthodox Churches) thì kỷ luật này chỉ áp dụng cho hàng Giám mục mà thôi; trong khi các linh mục có thể chọn lựa hoặc kết hôn hay không trước khi lãnh chức linh mục. Nếu đã chọn không kết hôn khi còn là phó tế, thì sẽ không được kết hôn sau khi là linh mục.
Iiên quan đến vấn đề này, cũng cần nói thêm là : các linh mục Anh Giáo ( Anglican
Communion) và mục sư Tin Lành đều kết hôn. Vì thế ,sau khi họ trở lại với Công Giáo và được thụ phong linh mục thì họ được quyền tiếp tục sống với vợ con như cũ.Nhưng nếu sau đó vợ chết, thì không được tái kết hôn nữa..
Ước mong những giải đáp trên thỏa mãn các câu hỏi đặt ra.
Lm. Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn
2021
Cái nhìn của Giáo Hội về người đồng tính và ”hôn nhân” đồng giới
Cái nhìn của Giáo Hội về người đồng tính và ”hôn nhân” đồng giới
Vài sự kiện dẫn nhập
Một cuộc biểu tình đòi hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính và cộng đồng LGBT (đồng tính nữ, đồng tính nam, song tính và chuyển giới) làm cha mẹ, ở Paris vào ngày 27 tháng năm 2013 (AFP Photo / Thomas Samson)
Hiện nay, cho đến tháng Năm 2013, đã có mười bốn nước trên thế giới có hôn nhân đồng tính được luật pháp nhìn nhận là: Argentina, Bỉ, Brazil, Canada, Đan Mạch, Pháp, Iceland, Hòa Lan, Na Uy, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Nam Phi, Thụy Điển, Uruguay. Pháp là nước thứ mười bốn ngày 23.4 vừa qua đã hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính và cho phép các cặp đồng tính nhận con nuôi. Riêng ở Mỹ, hiện nay hôn nhân đồng tính được hợp pháp hóa tại 12 tiểu bang và quận Columbia (trong đó có Connecticut, Delaware, Iowa, Maine, Maryland, Massachusetts, Minnesota (1/8/2013), New Hampshire, New York, Rhode Island (1/8/2013), Vermont and Washington). Ba mươi sáu tiểu bang đã có lệnh cấm hôn nhân đồng tính. Chính phủ liên bang không công nhận vấn đề hôn nhân đồng tính này.
Ngày 26.5.2013 hơn 1 triệu người Pháp xuống đường ở thủ đô Paris chống luật hôn nhân đồng tính. Luật hôn nhân đồng tính là vấn đề gây chia rẽ sâu sắc tại nước Pháp, mặc dù được tổng thống Hollande ủng hộ.
Tại Hà Nội, ngày 17.05.2013 vừa qua các bạn trẻ cộng đồng LGBT (Les, Gay, Bisexual, Transgender) làm một đám cưới tập thể (dĩ nhiên là giả) 10 đôi uyên ương đồng giới, nhằm chào mừng ngày quốc tế chống kỳ thị người đồng tính (IDAHO), đã gây sự chú ý đặc biệt trong công luận Việt Nam.
Uỷ Ban Nhân Dân TP Hà Nội cho rằng thực tế hiện nay hiểu biết của xã hội Việt Nam về đồng tính còn rất hạn chế. Đa số đang hiểu sai ít hoặc nhiều về người đồng tính. Theo đó, UBND TP Hà Nội đề xuất luật nên quy định cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính là phù hợp với thuần phong mỹ tục, truyền thống của người Việt Nam cũng như mục đích của việc kết hôn. Tương tự, báo cáo của Sở Tư pháp Thanh Hóa cũng cho rằng việc kết hôn giữa những người đồng giới là trái với quy luật phát triển bền vững của xã hội do không đảm bảo được chức năng của gia đình là duy trì nòi giống.
Còn người Công giáo có cái nhìn thế nào về những người đồng tính này, có quan điểm nào về sự kết hôn đồng giới có thể được luật hóa trong tương lai?
- Có thể định nghĩa đồng tính như thế nào ?
Truyền thống thường mô tả đồng tính luyến ái (homosexuality) hay sự hấp dẫn đồng giới (same-sex attraction – SSA) như là một sự thu hút dai dẳng và nổi trội, về mặt tình dục hay sinh lí, từ phía những người cùng giới với mình. Chữ “dai dẳng” có ý muốn nói có lẽ đương sự ít cảm thấy thích thú hơn về tình dục đối với người khác phái.
Một định nghĩa truyền thống khác do tiến sĩ Gerard van den Aardweg : “Chúng tôi dùng chữ đồng tính ở đây để chỉ những ước muốn tình dục hướng tới những người cùng phái, đồng thời giảm đi sự thích thú tình dục đối với những người khác phái”[1]
- Nguồn gốc
Từ một quan điểm khác, tiến sĩ Elizabeth Moberly cho rằng xu hướng đồng tính “không phụ thuộc vào sự thiếu cân bằng hoóc-môn có tính di truyền hoặc do các tiến trình tiếp thu bất bình thường, nhưng do từ những khó khăn trong mối quan hệ cha mẹ-con, nhất là trong những năm tháng của thời thơ ấu”[2].
Trong khi nhìn nhận tính phức tạp của hiện tượng đồng tính luyến ái, Moberly lưu ý một nguyên lí cơ bản, đó là: người nam hay người nữ đồng tính đã phải chịu một sự thiếu thốn nào đó trong mối quan hệ với người cha hay người mẹ cùng giới với mình, và có một xung năng tương ứng nhằm cải thiện sự thiếu thốn ấy nhờ mối quan hệ đồng giới hay đồng tính. Có thể tình trạng này là hậu quả của một chấn thương nào đó thời thơ ấu, đã hủy diệt sự quyến luyến đối với người cha hay mẹ đồng giới, để lại nơi đứa bé nhu cầu quyến luyến đồng giới không được thỏa nguyện. Điều này không hàm nghĩa người cha/mẹ đồng giới với em chủ tâm bỏ bê hay đối xử với em tàn tệ.
Moberly có ý muốn nói đồng tính (homosexuality) nói chung là một tình trạng lưỡng nan về đồng giới, nghĩa là, trước hết đó là một vấn đề về căn cước giới tính (gender-identity) hơn là vấn đề về tình dục-sinh dục[3]. Vì đứa bé kìm nén hay trấn áp giới tính của mình, nên xung năng đối trọng để khôi phục lại sự quyến luyến được củng cố mạnh thêm. Hậu quả của sự rời bỏ có tính phòng vệ đó là tình trạng lưỡng nan đồng giới[4].Quan điểm truyền thống về đồng tính tập chú vào ước muốn tình dục-sinh dục đối với một người đồng phái, trong khi định nghĩa của Moberly thì liên hệ đến sự lưỡng nan về căn cước giới tính của một người. Tình trạng này tồn tại trước, hay độc lập đối với bất kì một hoạt động tình dục nào. Điều quan trọng là, nhu cầu về căn cước giới tính của một người có thể (và phải) được đáp ứng cách độc lập đối với bất kì một hoạt động tình dục nào[5].
- Quan điểm của Hội thánh Công giáo về đồng tính
Trong Kinh thánh các đoạn văn liên quan đều kết án các hành động đồng tính. Thư gửi các đức Giám mục thuộc Hội Thánh Công Giáo về việc Chăm sóc Mục vụ cho những Người Đồng tính, do Bộ Giáo Lí Đức Tin ban hành năm 1986, đã trích dẫn những đoạn Kinh thánh sau đây : Sáng thế 19, 4-11 (liên hệ đến chuyện phá hủy thành Sơđôm và Gômôra vì đã thực hành đồng tính), và Lêvi 18, 22; 20, 13 (lên án chuyện ăn nằm giữa hai người đồng giới là điều ghê tởm), Rôma 1, 18-32 (lên án những hành vi đồng tính giữa người nam với nhau, và giữa người nữ với nhau)[6]. Trong bối cảnh mới Kitô giáo phải đối đầu với xã hội ngoại giáo thời bấy giờ, thánh Phaolô dùng kiểu sống đồng tính như một ví dụ cho tình trạng mù tối đang bao trùm trên nhân loại : xem 1Côrinthô 6, 9-10 (trong đó thánh Phaolô dạy rằng những kẻ làm những hành động đồng tính sẽ không được vào Nước Thiên Chúa) và 1 Timôthê 1, 9-10 (lặp lại những lời cảnh cáo trong 1 Côrinthô). Trong Rôma 1, 26, những thực hành đồng tính giữa nữ với nữ cũng bị lên án cách riêng.
Quan điểm dứt khoát của Hội thánh về đồng tính luyến ái được tuyên bố trong sách Giáo Lí Hội Thánh Công Giáo.
Dựa trên Kinh thánh, vốn xem chúng như những suy đồi nghiêm trọng, truyền thống Hội thánh luôn tuyên bố: “Các hành vi đồng tính luyến ái tự bản chất là vô trật tự”. Chúng nghịch với luật tự nhiên. Chúng loại bỏ khỏi hành vi tính dục tặng phẩm sự sống. Chúng cũng không xuất phát từ nhu cầu bổ túc cho nhau thực sự về tình cảm và tính dục. Những hành vi này không thể chấp nhận được trong bất cứ trường hợp nào.[7]
Thật ra, lập luận chống hoạt động đồng tính luyến ái “xuất phát trực tiếp từ giáo huấn của mạc khải về hôn nhân, cụ thể dạy rằng hai mục đích của hành động tính dục con người là sự hợp nhất thường xuyên trong tình yêu giữa người chồng và người vợ và sinh sản con cái – hai mục đích này gắn liền với nhau không thể tách biệt. Vì hoạt động đồng tính luyến ái không thể thực hiện mục đích này cũng như mục đích kia, nên chắc chắn tự chính bản chất của nó là vô luân”[8]. Từ đó ta đi tới kết luận “không thể sánh ví đồng hàng giữa hôn nhân của hai người khác giới và thực hành tính dục ngoài hôn nhân, bao gồm trong đó cả những phối giao đồng tính”[9].
- Bản chất của hôn nhân
Trong Kinh Thánh, hai chương đầu của sách Sáng thế có bao hàm những đoạn văn nền tảng về hôn nhân. Sáng thế 1,27-28 thuộc trình thuật sáng tạo thứ nhất tuyên bố «Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình, Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa, Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ. Thiên Chúa ban phúc lành cho họ, và Thiên Chúa phán với họ: “Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều, cho đầy mặt đất, và thống trị mặt đất”». Trong trình thuật sáng tạo thứ hai, Sáng thế 2,23-24, Thiên Chúa giới thiệu Eva và Ađam cho nhau, và Ađam hô lên «‘Phen này, đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi! Nàng sẽ được gọi là đàn bà, vì đã được rút tự đàn ông ra’. Bởi thế, người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt». Nên lưu ý hai bản văn này đã mô tả hai thân xác hiệp thông với nhau như thế nào cũng như từ đó một đứa con được sinh ra (xem Sáng thế 4,1 nói về sự sinh hạ Cain).
Trong Tân ước, Đức Giêsu tái xác nhận lề luật đã được tuyên bố trong sáng Sáng thế. Phúc âm thánh Mathêu 19,3-7 ghi lại câu chuyện những người Pharisêu đến hỏi Đức Giêsu người ta có được phép li dị vợ mình vì bất kì lí do gì hay không. Đức Giêsu trả lời: «Các ông không đọc thấy điều này sao: ‘Thuở ban đầu, Đấng Tạo Hóa đã làm ra con người có nam có nữ’, và Ngài đã phán: ‘Vì thế, người ta sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt’ ? Như vậy, họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt. Vậy, sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân li».
Đoạn Thư Êphêsô chương 5 là một đoạn văn tuyệt vời trong đó người làm chồng được ví như Đức Kitô và người làm vợ như là Hội Thánh. Khi thánh Phaolô muốn diễn tả tình yêu của Đức Kitô dành cho Hội Thánh, ngài nhờ đến tình yêu nam-nữ giữa vợ chồng: «Người làm chồng, hãy yêu thương vợ, như chính Đức Kitô yêu thương Hội Thánh và hiến mình vì Hội Thánh; như vậy, Người thánh hóa Hội Thánh… Cũng thế, chồng phải yêu vợ như yêu chính thân thể mình» (Ep 5,25; 5,28). Thế rồi thánh Phaolô trích dẫn Sáng thế 2,24: «Chính vì thế, người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình» (Ep 5,31). Thế đó, luật của Sáng thế về sự kết hôn dị tính (giữa một nam và một nữ) và vĩnh hôn, được khẳng định lại.
- Đối thoại với các nền văn hóa hiện nay
Không phải ai cũng tin vào mạc khải của Kitô giáo. Trong thực tế để đối thoại với những người không tin với các nền văn hóa hiện nay, người tín hữu Công giáo có thể dùng những lập luận rút ra từ luật luân lí tự nhiên. Luật luân lí tự nhiên là một luật trong phạm vi của con người bắt đầu có hiệu lực khi một đứa trẻ tới tuổi khôn. Đó là tiếng lương tâm giúp ta phân biệt phải hay trái. Đó là việc làm của một lí trí ngay thẳng. Thánh Phaolô nhắc tới luật tự nhiên này trong đoạn Thư Rôma 2,14-15 khi ngài nói rằng dân ngoại là những người không biết luật Môsê, nhưng họ có luật này được ghi khắc trong lòng họ.
Theo luật tự nhiên, phần đa số con người, nam cũng như nữ, có chịu sự thu hút về thể lí tự nhiên từ phía người khác giới, và sự thu hút đó có ý nghĩa để đưa tới một sự kết hợp thân mật vĩnh viễn giữa một người nam và một người nữ trong hôn nhân hướng tới việc sinh con cái. Chúng ta gọi điều này là tính bổ túc cho nhau giữa hai giới nam và nữ. Với tiên đề này chúng ta xem xét lập luận của triết gia Michael Pakaluk. Ông chống các hành động đồng tính luyến ái và lập luận từ ý nghĩa của hành vi giao hợp vợ chồng, “vốn là một tình trạng đặc thù khác với các hoạt động nhân linh khác. … Chúng ta nói tính dục là đặc thù bởi vì nó là một dấu hiệu của sự kết hợp hai thân xác, và điều đó có ý nghĩa là một sự kết hợp hai nhân vị. Như thế, quả là đúng nếu ta nói khi một người đàn ông và một người đàn bà dấn mình vào tình dục, thì sự giao hợp hai thân xác họ (bodies) có nghĩa là sự hợp nhất hai bản vị của họ (selves)”[10]. Pakaluk còn nói thêm “sự giao hợp tình dục có một ý nghĩa độc lập nào đó của lựa chọn của ta; nó có nghĩa là một sự kết hợp bản vị. Vì thế, chúng ta không thể thay đổi ý nghĩa khách quan của sự giao hợp tình dục.
“Hơn nữa, vì giao hợp tình dục giữa một người nam và một người nữ mang tính chất hướng đến sinh sản, hành vi hướng đến việc sản sinh ra con cái, bản thân chúng vốn là sự kết hợp các đặc trưng của vợ và chồng, và như thế càng làm gia tăng sự hiệp nhất vợ chồng. Như chúng ta biết, giao hoan đồng tính thì không có được những sức mạnh đó”.
Có thể triển khai các lập luận khác. Không thể có một sự hiệp thông thân xác đích thực trong giao hoan đồng tính. Cách đây ít năm một người mẹ, là thành viên của nhóm hướng dẫn một cuộc gặp gỡ tĩnh tâm cho các cặp đính ước (Engagement Encounter), đến gặp riêng một vị linh mục đồng hành với Phong trào Courage, hỏi về hành vi đồng tính: “Họ làm ‘chuyện ấy’ như thế nào, hở cha?” Vị linh mục mô tả cách thức họ làm ‘chuyện ấy’, và bà ta cười phá lên và nói: “mấy cái bộ phận làm sao mà tra khớp vừa khít được!”
Một người đàn ông cầm biểu ngữ “A father and a mother, nothing it′s better for a child!” trong một cuộc biểu tình để phản đối hôn nhân đồng tính vào ngày 02 Tháng Hai năm 2013 tại Paris (AFP Photo / Francois Guillot)
- Mục vụ cho những người có sự thu hút đồng giới (SSA)
Cha John F. Harvey, O.S.F.S., kể từ những năm giữa thập niên 1980, đã tham vấn cho các bạn trẻ đồng tính trong khi dùng đến những kết quả của Moberly giúp họ nhận ra rằng họ có thể làm cái gì đó về tình trạng thu hút đồng giới này của họ. Khi một bạn trẻ bắt đầu hiểu ra rằng không ai chủ ý chọn cho mình loại cảm giác thu hút này và rằng anh (hay cô ta) có thể học để khống chế quyền lực của nó, anh (cô ta) thường muốn làm việc với cả nhà tham vấn tâm linh và nhà tâm lí trị liệu, để giúp mình giải quyết vấn đề. Bạn trẻ ấy sẽ rất vui khi nghe, theo như Moberly hiểu, rằng sự thu hút đồng giới không phải là một điều bệnh hoạn (xu hướng bị thu hút đồng giới thì khác với hành vi và lối sống đồng tính có giao hoan tình dục). Thật ra đó là xung năng để khôi phục lại những quyến luyến vốn đã bị đổ vỡ với “một suối nguồn yêu thương, vốn là chính người cha hay người mẹ cùng giới với bạn ấy” và như thế, đây “không phải là một vấn đề cho bằng là một nỗ lực giải đáp vấn đề”[11]. Vấn đề bệnh hoạn hay không là ở chỗ đứa trẻ bị tách li sớm khỏi người cha hay người mẹ cùng giới trong tình trạng đổ vỡ oán trách, tuy nhiên người ta có thể sửa chữa sự thiếu hụt do quá khứ ấy bằng sự vun đắp một tình bạn đồng giới thanh khiết[12]. Trong khi giúp đỡ những người chịu sự thu hút đồng giới (SSA) sống đức khiết tịnh (là mục tiêu chính yếu của Phong trào Courage [Can đảm]), cha John nhận thấy quan điểm của Moberly rất hữu ích[13]. Theo đuổi đức khiết tịnh là bước đầu tiên rời xa chứng thu hút đồng giới (SSA). Cá nhân người đồng tính có thể không hoàn toàn phục hồi trở về tình trạng xu hướng dị tính tự nhiên, nhưng người ấy đang đi trên con đường tâm linh đúng đắn. Nhờ ơn Chúa, người ấy không những sẽ tránh được sa ngã phạm tội tình dục đồng giới mà còn phát triển được một tâm hồn khiết tịnh. Trong tiến trình từ giai đoạn non nớt sống thiên về cảm xúc đến giai đoạn trưởng thành hơn về tình cảm (tình cảm được hướng theo một trật tự ngay chính) những bạn này phát triển từng ngày một nhân đức gọi cho chính xác là khiết tịnh hay tiết độ (continence). Người có nhân đức khiết tịnh, theo định nghĩa, phải thường xuyên sống cảm xúc của mình hòa hợp với lí trí. Chừng nào người ấy vẫn còn sống cái phản ứng tách li phòng vệ hoặc bị thu hút tình dục chủ yếu bởi những người đồng giới, thì vẫn còn một lỗ hổng lớn trong tương quan giữa lí trí và tình cảm.
Thái độ và cái nhìn của Kitô hữu về anh chị em có sự thu hút đồng giới
Nhiều vị mục tử và các nhà thần học mục vụ chuyên về lãnh vực này tránh dùng những nhãn hiệu như “gay” (đồng tính nam) và “lesbian” (đồng tính nữ) hay “bisexual” (song tính) xuất phát từ tầm nhìn nhân học đúng đắn của Kitô giáo vốn coi trọng nhân vị, hình ảnh của Thiên Chúa. Đối với họ, một con người hay một cá vị thì khác hẳn một xu hướng tình dục. Một cá nhân là một ngôi vị, là một thọ tạo được dựng nên theo hình ảnh của Thiên Chúa và giống Thiên Chúa, có trí hiểu và ý chí tự do, được tiền định để sống đời vĩnh cửu, và khi được rửa tội, lại là một người anh em hay chị em của Đức Kitô. Khi nói về người anh em hay chị em ấy như là kẻ “đồng tính” là ta đã giảm thiểu con người ấy (vốn là một nhân vị) thành chỉ như là một xu hướng tình dục. Một con người thì khác xa hơn nhiều do mầu nhiệm ngã vị tính của người ấy.
Những từ ngữ như “gay” hay “lesbian” thậm chí còn giảm trừ hơn nữa tính phức tạp kì diệu của mầu nhiệm ngôi vị. Gọi những người anh em / chị em ấy là “gay” hay là “lesbian” tức là xem xu hướng tình dục của họ như là điểm quan trọng nhất của căn tính con người họ. Sinh ra làm người theo cách như thế ấy hay không, đối với những cá nhân đó, không là vấn đề. Họ tuyên bố rằng: “Đó là cái cách thức mà tôi sống và sẽ luôn như thế. Tôi phải kết bạn với những người giống như tôi và để rồi sau cùng sẽ tìm thấy được một đối tác (bạn tình) lí tưởng mà tôi có thể kết giao trong một ‘quan hệ đơn nhất’ để ổn định cuộc sống. Tôi sẽ ra sức để kiến tạo nên một xã hội trong đó những người kết giao đồng tính có cùng quyền lợi như những người kết hôn dị tính”.
Cả ba hình thức xác định bản vị kiểu như thế (đồng tính luyến ái, gay, và lesbian) đều không thể mô tả một người hiện hữu như là một nhân vị. Không chỉ là một vấn đề lí thuyết, bạn nhìn chính mình như một nhân vị như thế nào liên quan chặt chẽ với cái nhìn về bản thân bạn và thiết lập những mục tiêu cá nhân của bạn cho tương lai thế nào. Hình ảnh về bản thân bạn như thế nào tác động rất lớn trên hành vi cuộc sống bạn.
Gọi người ấy là người có xu hướng bị “thu hút bởi người đồng giới” (“same-sex attraction”) (đối lại với cách gọi họ là “gay” hoặc “lesbian”) đặt trọng tâm trên tính duy nhất của ngôi vị hơn là trên một xu hướng (tendency) vốn ở thấp bên dưới lí trí và có thể thay đổi khi người ấy trưởng thành hơn. Trong ngôn ngữ của thời đại, người ta lại nói đến “hướng định” đồng tính (homosexual “orientation”). Thật không may, trong số nhiều người có xu hướng chịu “sự thu hút đồng giới”, từ ngữ trên mang một hàm nghĩa ấy là một xu hướng tất định, không thay đổi được. Nhưng đó không phải là trường hợp của nhiều cá nhân, cách riêng của những em tuổi teennghĩ mình là người đồng tính, nhưng chỉ sau ít năm lại đi yêu một người khác phái!
Nỗi khó khăn của việc ‘dán nhãn’ cho một ai đó, là: làm như thế là đã giới hạn người ấy vào một số tùy chọn và tầm nhìn giới hạn nhất định rồi. Bộ Giáo Lí Đức Tin phát hành văn kiện Về Chăm Sóc Mục Vụ cho Những Người Đồng Tính, nói rất rõ điểm này: «Ngày nay Hội Thánh đề nghị một cảnh vực hết sức cần thiết cho việc chăm sóc mục vụ con người, khi từ khước xem họ như là ‘người đồng tính’ (homosexual) hay như là ‘người dị tính’ (heterosexual), và luôn nhấn mạnh rằng mỗi người đều có một căn tính nền tảng. Họ là thụ tạo của Chúa, và nhờ ơn Chúa họ còn là con cái Chúa và được hưởng gia nghiệp đời đời»[14].
Vì thế, tình cảnh của một người có xu hướng đồng tính không lấy mất của người ấy phẩm giá thụ tạo được Chúa ban cho, cũng không làm thay đổi sự kiện một người đã rửa tội là anh em hay chị em của Đức Kitô với hi vọng được sống đời vĩnh cửu. Trên bình diện nhân bản, theo quan điểm của tiến sĩ Joseph Nicolosi, tác giả của Healing Homosexuality (Chữa lành Đồng tính), người ta nên nhìn bản thân mình như là một người vốn tự nhiên có xu hướng dị tính với vấn đề đồng tính[15]
Kết
Thiên Chúa không tạo dựng con người đồng tính; Ngài để cho con người chịu nỗi niềm riêng này là có những lí do bí nhiệm riêng của Ngài. Đừng ai để mình bị cám dỗ đi đến mức tự ghét bản thân, than thân trách phận, và oán trách Thiên Chúa vì một tin tưởng sai lầm rằng Ngài đã dựng nên mình đồng tính. Khinh bỉ bản thân mình vì mình là người có xu hướng chịu sự thu hút đồng giới (SSA) thật ra là một hình thái của chứng “sợ người đồng tính” (homophobia) và thậm chí thù ghét chính bản thân mình cách phi lí.
Ngày nay vẫn có nhiều người sợ một cách phi lí những người mang tiếng là đồng tính luyến ái bởi vì tình cảnh của những người ấy bị hiểu lẫn lộn với tình trạng của những người lạm dụng tình dục trẻ em (pedophilia), hoặc xem họ gắn liền với AIDS, hoặc cho là những người ấy đã tự chọn cách sống như thế. Thế nhưng, Hội thánh dạy chúng ta nên có một chương trình chăm sóc mục vụ đặc biệt cho những anh chị em có sự thu hút đồng giới, đồng thời đối xử với họ bằng thái độ yêu thương và kính trọng: «Phẩm giá của mỗi người phải luôn được kính trọng bằng lời nói, hành động, và bằng luật pháp»[16].
Lữ Y Nguyễn
THƯ MỤC
- BỘ GIÁO LÍ ĐƯC TIN, Thư gửi các đức Giám mục thuộc Hội Thánh Công Giáo về việc Chăm sóc Mục vụ cho những Người Đồng tính(1986)
- MOBERLY, E. R., Homosexuality: A New Christian Ethic(Cambridge, England: James Clark, 1983)
- MOBERLY, E. R., Psychogenesis: The Early Development of Gender Identity(London: Routledge and Kegan Paul, 1983)
- HARVEY, J. F., O.S.F.S., The Homosexual Person(San Francisco: Ignatius Press, 1987)
- HARVEY, J. F., O.S.F.S., The Truth about Homosexuality(San Francisco: Ignatius Press, 1996)
- HARVEY, J. F., O.S.F.S., Homosexuality and The Catholic Church(Ascension Press, LLC, 2007)
- AARDWEG, G. VAN DEN, On the Origins and Treatment of Homosexuality(New York: Praeger, 1986)
- NICOLOSI, J., PH.D., Healing Homosexuality(Northvale, NJ: Jason Aronson, 1997)
[1] G. VAN DEN AARDWEG, On the Origins and Treatment of Homosexuality (New York: Praeger, 1986), p. 1.
[2] E. R. MOBERLY, Homosexuality: A New Christian Ethic (Cambridge, England: James Clark, 1983), p. 2.
[3] J. F. HARVEY, O.S.F.S., The Homosexual Person (San Francisco: Ignatius Press, 1987), p.28.
[4] E.R. MOBERLY, Homosexuality: A New Christian Ethic, được trích lại trong Harvey, The Homosexual Person, p.28.
[5] HARVEY, The Homosexual Person, p.28.
[6] BÔ GIÁO LÍ ĐƯC TIN, (Thư gửi các đức Giám mục thuộc Hội Thánh Công Giáo) Về việc Chăm sóc Mục vụ cho những Người Đồng tính (1986), ss. 6-8; cũng nên tham khảo Persona Humana, s.8.
[7] Sách GLHTCG, 2357.
[8] J. F. HARVEY, O.S.F.S., The Truth about Homosexuality (San Francisco: Ignatius Press, 1996), p.304.
[9] Ibid.,p.127.
[10] Ibid., p.133.
[11] E. R. MOBERLY, Psychogenesis: The Early Development of Gender Identity (London: Routledge and Kegan Paul, 1983), p. x.
[12] MOBERLY, Homosexuality, pp. 28-29.
[13] Để biết chi tiết hơn lí thuyết của Moberly xin tham khảo chương ba của HARVEY, The Homosexual Person, p.38-48.
[14] BÔ GIÁO LÍ ĐƯC TIN, Về Chăm Sóc Mục Vụ cho Những Người Đồng Tính (1986), 16.
[15] J. NICOLOSI, PH.D., Healing Homosexuality (Northvale, NJ: Jason Aronson, 1997).
[16] Về Chăm Sóc Mục Vụ cho Những Người Đồng Tính (CSMVĐT), 10.
