2021
Đã đến lúc các chủng viện cần nhìn lại
Đã đến lúc các chủng viện cần nhìn lại
Chúng ta cần các chủng viện vì đó là nơi đào tạo các thế hệ linh mục mới, để họ trở thành những người “lãnh đạo đầy tớ” có thể làm mục vụ – chứ không phải cai trị – các tín hữu.
Giáo hội Công giáo Úc đã đạt đến điểm quan trọng trong hành trình của mình khi cần phải tái tạo lại toàn bộ Giáo hội địa phương. Các phát hiện về lạm dụng tình dục trẻ em trong Giáo Hội là chất xúc tác chính. Điều này được ghi lại trong Báo cáo cuối kỳ của Ủy ban Hoàng gia về Các ứng phó của thể chế đối với lạm dụng tình dục trẻ em (Final Report of the Royal Commission into Institutional Responses to Child Sexual Abuse).
Báo cáo này đã xác định chủ nghĩa giáo sĩ (clericalism) là yếu tố góp phần đáng kể vào việc lạm dụng ở các cơ sở tôn giáo trên toàn nước Úc. Chủ nghĩa giáo sĩ bắt nguồn từ niềm tin mang tính thần học rằng giáo sĩ khác với giáo dân vì giáo sĩ đã trải qua một “thay đổi bản thể” khi thụ phong (một sự thay đổi về bản chất con người của họ khi lãnh nhận bí tích Truyền chức thánh). Chủ nghĩa này còn đưa ra quan điểm rằng không ai có quyền được thách thức các giáo sĩ.
Cũng theo bảng báo cáo, văn hóa giáo sĩ trị đang gia tăng trong các chủng viện ở Úc. Một cách cụ thể, họ quan niệm rằng Chủ nghĩa giáo sĩ phải là lý tưởng của chức tư tế, hay nói rộng ra, phải là lý tưởng của Giáo Hội Công Giáo. Chủ nghĩa giáo sĩ gắn liền với cảm tưởng có được quyền hành, ưu thế lớn và được tách riêng, hay ngay cả lạm dụng quyền lực. Một người mắc chứng “giáo sĩ trị” tự coi mình là đặc biệt, vượt trội hơn những người khác và đáng được tôn trọng hơn. Điều này có thể dẫn đến kiêu ngạo và coi thường người khác. Giáo dân cũng có thể mắc lỗi “giáo sĩ trị” nếu họ ủng hộ thái độ này.
Đầu tiên, việc đào tạo linh mục được diễn ra trong môi trường “giáo sĩ” tách biệt, mà theo báo cáo, có khả năng có tác động bất lợi đối với sự trưởng thành về tâm lý của các chủng sinh và việc này cũng làm tăng nguy cơ lạm dụng tình dục trẻ em. Do đó, một trong các khuyến nghị chính của Ủy ban Hoàng gia được đề cập cụ thể là vấn đề đào tạo các linh mục trong các chủng viện cần được cải cách. Theo đó, tất cả các chủng viện, học viện Công giáo ở Úc nên xem xét và sửa đổi các tiêu chuẩn và văn bản liên quan đến việc đào tạo linh mục. Điều quan trọng là Hội đồng đã đề cập đến các vấn đề của Chủ nghĩa giáo sĩ trong quá trình đào tạo mục vụ. Rất may, ở một mức độ nào đó, các nhà lãnh đạo Giáo hội đã đồng ý về sự cần thiết phải cải tổ.
Đề cập đến những thay đổi về văn hóa và cấu trúc mà Hội đồng có thể làm trong Giáo hội, Chủ tịch Hội đồng Giám mục Công giáo Úc, Đức Tổng Giám mục Mark Coleridge, nói rằng: “Đây không phải là lúc để Giáo Hội treo những tấm biển nói rằng ‘mọi việc bình thường’. “Cải cách” môi trường giáo sĩ “đòi hỏi phải nhìn nhận tất cả các khía cạnh của quá trình hình thành với một con mắt biết phê phán. Điều này nghe có vẻ hợp lý,bởi vì khi một nhóm người được đưa đến một nơi dành riêng và được chú ý đặc biệt trong các lớp học nhỏ với những người khác, cảm giác tách biệt có thể xảy ra.”
Điều tương tự cũng áp dụng cho những thanh niên được phép mặc áo dòng và đeo cổ côn trước khi bước vào đời sống tu trì. Việc đánh giá bản thân một cách “khác biệt” là hoàn toàn dễ hiểu. Câu hỏi hợp lý đặt ra là: nếu chúng ta đang cố gắng loại bỏ Chủ nghĩa giáo sĩ khỏi Giáo Hội của chúng ta và khỏi các chương trình đào tạo linh mục tương lai, tại sao chúng ta vẫn cố chấp để các chủng viện tuân theo một mô hình đã tạo ra những kết quả có vấn đề? Giáo Hội phải tìm ra những cách khác để đào tạochủng sinh cho nhiệm vụ làm linhmục giáo xứ.
Rốt cuộc, Chúa Giêsu chưa bao giờ gửi các môn đệ của mình đến chủng viện. Chúa Giêsu giới thiệu cho họ những giá trị của Nước Trời không phải trong một tòa nhà, mà là “trên đường”.
Trong hai thế kỷ đầu tiên, không rõ làm thế nào mà người ta được chọn để cử hành Thánh Lễ. Nhưng khi các dòng tu được thành lập, bắt đầu từ Thánh Bênêdictô, các tu viện có tiêu chí riêng của họ. Những người không sống trong tu viện, tức là các ứng viên của giáo phận, đã đi theo nhiều con đường khác nhau để được thụ phong tùy thuộc vào giám mục địa phương. Cần lưu ý rằng trong lịch sử Giáo Hội, các chủng viện chỉ mới phát triển tương đối gần đây.
Chính Công đồng Trentô (1545-63) đã quyết định một quy trình nghiêm ngặt trong nhiều năm học tập tại một địa điểm biệt lập duy nhất, để đảm bảo các linh mục được đào tạo thích hợp. Các chủng sinh bị tách khỏi gia đình và cộng đồng của họ, sau đó được đưa vào một trung tâm nghiên cứu tu đức và thần học.
“Không phải ai đó ở trên cộng đồng, mà là một thành viên trong cộng đồng.” Tại sao mô hình đào tạo này lại hấp dẫn? Nó cung cấp khả năng đọc viết và một nền giáo dục vững chắc cho các ứng viên và là nơi mà những người nam có thể học tập với điều kiện tiếp cận các cơ sở vật chất, bất kể xuất thân. Nó cung cấp chỗ ở để việc đào tạo có thể được tiếp nối liên tục và được giám sát.
Hệ thống các chủng viện đã sản sinh ra một số cá nhân xuất sắc như Thánh Gioan Vianney, tấm gương của ngài đã dẫn đến sự biến đổi triệt để của cộng đoàn mà ngài phục vụ. Tuy nhiên, chủ nghĩa giáo sĩ được phép phát triển bên trong Giáo Hội qua nhiều thế kỷ, điều này đã che đi nhiều khía cạnh tích cực của việc đào tạo và thực hành chức thánh. Nhưng ta không được quy chụp điều này riêng cho những người được đào tạo để trở thành linh mục giáo phận. Báo cáo cuối cùng của Ủy ban Hoàng gia chỉ trích cả “linh mục và Giáo Hội” liên quan đến việc đào tạo của họ.
Tuy nhiên, thành viên của các dòng tu và đan viện như Dòng Thánh Bênêđictô và Dòng Xitô khác biệt ở chỗ, họ là thành viên của một “cộng đồng gia đình” hỗ trợ và hướng dẫn họ; một số được thụ phong linh mục nhưng không phải tất cả. Các chủng sinh giáo phận thường không được như vậy. Ở những dòng tu mà các thành viên ít được phong chức linh mục, thì điều đó làm giảm bớt mối đe dọa của chủ nghĩa giáo sĩ, hoặc mong muốn leo lên các cấp bậc trong Giáo Hội. Ngược lại, chủ nghĩa giáo sĩ lại xuất hiện nhiều trong các chủng viện giáo phận.
Nhưng việc tạo điều kiện cho chủ nghĩa giáo sĩ phát triển trong các hệ thống đào tạo hiện tại ở cá chủng viện đã góp phần gián tiếp vào việc lạm dụng tình dục trẻ vị thành niên, gây chấn động trong các cuộc điều tra trên khắp thế giới. Nếu chúng ta nghiêm túc trong việc loại bỏ chủ nghĩa giáo sĩ, chúng ta không nên tiếp tục với mô hình chủng viện như nó đã từng diễn ra.
Một số giáo sư đã từng giảng dạy trong các chủng viện ở Hoa Kỳ, bao gồm các cựu giáo sư chủng viện Colt Anderson và Christopher Bellitto, đã nhận ra những điểm yếu của mô hình truyền thống này. Họ nói rằng mặc dù có những thanh niên tốt theo học, nhưng các chủng viện đã đóng một vai lớn trong cuộc khủng hoảng của Giáo Hội hiện nay “bằng cách đưa chủng sinh vào chủ nghĩa giáo sĩ”.
“Các chủng sinh được truyền tải một thông điệp nhất quán: vai trò của họ là cai quản giáo dân và Giáo Hội do kết quả của sự thay đổi bản thể khi thụ phong, không phải là kết quả của phẩm hạnh, kiến thức hoặc hành vi kiểu mẫu của họ. Họ đang được đào tạo để trở thành những ‘ông chủ chuyên quyền’, không phải những ‘nhà lãnh đạo đầy tớ’. Chúng ta cần các chủng viện là nơi đào tạo các thế hệ linh mục mới, để trở thành những người lãnh đạo đầy tớ, những người có thể làm mục vụ – chứ không phải cai trị – các tín hữu.”
Điều quan trọng nhất để khỏi rơi vào chủ nghĩa giáo sĩ là tránh cô lập về mặt thể chất những người muốn trở thành linh mục. Các chủng sinh nên dành nhiều thời gian hơn để sống trong giáo xứ của họ trong quá trình đào tạo.
Về mặt lý thuyết, các chủng sinh có thể tiếp tục sống tại nhà, điều này sẽ cho phép họ duy trì mối quan hệ với những người đương thời, đang khi vẫn tham gia vào đời sống thực tiễn của giáo xứ. Chúng ta cần xem xét các đường hướng thay thế trong việc chuẩn bị thụ phong cho các chủng sinh. Họ cần có sự tương tác và hòa nhập nhiều hơn với các giáo xứ của họ và thành viên của các dòng tu khác.
Như trong tài liệu cuối cùng của Thượng Hội đồng về Người trẻ 2018 có đề xuất rằng: phải có các khóa đào tạo chung cho “các giáo dân trẻ, tu sĩ trẻ và chủng sinh.” Điều này đi đôi với quan điểm của Đức Thánh Cha Phanxicô về vai trò và trách nhiệm liên đới cho cả giáo dân và giáo sĩ.
Chủ nghĩa đại kết cũng đóng một vai trò quan trọng. Các tôn giáo khác đã chuẩn bị như thế nào và chúng ta có thể học được gì từ họ? Để chống lại chủ nghĩa giáo quyền, điều quan trọng là sự chuẩn bị cho một cá nhân phải diễn ra ở tại giáo xứ, một cộng đồng với nhiều nhiệm vụ khác nhau; anh ta không nên tự cao rằng anh ta là một ai đó đặc biệt và cao hơn mọi người, nhưng chỉ là một thành viên trong cộng đồng.
Tác giả: Gideon Goosen (Australia)
Chuyển ngữ: P. Nguyễn Thanh Trà
(giaophanvinhlong.net/ international.la-croix.com 25/9/2021)
* Gideon Goosen là một nhà thần học và tác giả ở Sydney. Cuốn sách mới nhất của ông là Clericalism: Stories from the Pews, Coventry Press, 2020.
2021
Hội chứng tu xuất
Hội chứng tu xuất
Tu xuất tự nó không phải là một bậc sống, nhưng là một thành phần quan trọng trong nhịp sống Giáo hội.
Có lẽ, cuộc đời chúng ta không ai hiểu hết được chữ “ngờ”, và vì thế, xuất tu cũng hàm chứa những lý do khó nói lên lời. Đôi dòng tản mạn và những cảm nghiệm riêng tư của tác giả về những người tu xuất có lẽ sẽ là tâm tư của bất kỳ ai đó muốn đồng cảm, muốn yêu thương, muốn sẻ chia với những con người đặc biệt này.
Nói về người tu xuất có thật lắm khía cạnh để người ta phải suy nghĩ, bàn luận. Trước hết, có lẽ chúng ta nên khởi đi từ hai tiếng “Ơn gọi”. Ban đầu, nhiều bạn trẻ lắng nghe được tiếng Chúa gọi, họ hăng hái dấn thân vào đời tu với tất cả nhiệt huyết của một con tim căng đầy sức sống. Nhưng rồi, cuộc đời có trăm ngàn lối đi khiến họ không còn giữ được nét trinh trong và nhiệt huyết thuở ban đầu. Giã từ chốn Viện tu, họ nghe theo một tiếng gọi khác và đi tìm cho mình một niềm vui giữa đời thường. Có những người tìm về chốn hồng trần để mong tìm một mái ấm, một niềm hạnh phúc dẫu mong manh nhưng thật đơn thành; có những người can đảm tiếp tục rong ruổi dấn thân trên hành trình dâng hiến đầy cát bụi… Trong số đó, có những người đã nhận ra chân lý sống và họ đã làm trổ sinh hoa trái giữa cuộc đời; nhưng rồi lại cũng không thiếu những người chìm ngập trong cô đơn, thất vọng và bị dòng đời vùi lấp, cuốn trôi.
Tại sao cuộc đời người tu xuất lại rơi vào bất hạnh? Nhiều người cho rằng: vì anh đó, chị đó đã ăn cơm nhà Chúa Trời, nay quay gót về với thế gian thì đương nhiên phải chuốc lấy hậu quả. Nghe thoáng qua thật quá phũ phàng, chẳng lẽ Thiên Chúa lại là kẻ dữ dằn và khát máu trả thù đến vậy ư? Chắc chắn không phải thế. Sở dĩ người tu xuất khi trở về đời thường, cuộc sống của họ không mấy hạnh phúc có lẽ vì nhiều nguyên nhân khác nhau. Khi họ còn sống trong Ơn gọi, họ làm mọi việc đều có chương trình, kế hoạch, mọi sự xem ra an nhàn, thư thái, nay trở về thế gian, họ phải bươn trải với cuộc sống cơm áo gạo tiền, đó là một thử thách lớn lao đối với họ. Hơn nữa, suốt thời gian sống trong Dòng tu hay Chủng viện, người tu chỉ lo trau dồi tri thức để chuẩn bị lãnh chức thánh hay khấn dòng, họ đâu biết mùi thế nhân đoạn trường ra sao? Nay trở về đời thường trăm ngàn sóng gió, bể dâu, sức đề kháng của những con người này sẽ vô cùng mong manh, yếu ớt. Vì thế, họ ít tìm được những cơ hội trong cuộc sống, trong khi cuộc đời lại quá khắt khe đối với họ. Thành ra, người xuất tu khó có thể tìm được cho mình một cuộc sống bình an và hạnh phúc.
Ngày nay, người ta nhiều khi có ác cảm và thành kiến nặng nề với người tu ra. Họ cho rằng: việc ông Thầy, bà Sơ giũ áo Dòng ra về lấy vợ, lấy chồng là chuyện chẳng nên. Ngoài việc bị kết án là ham muốn thế gian, xác thịt, lại còn bị gán cho cái tội tày đình là bội ơn nhà Đức Chúa Trời. Bao nhiêu tiền bạc, cơm gạo nuôi ăn giờ đây trở về con số không tròn trĩnh. Họ căm tức người tu ra vì cho rằng: cô, cậu đã bôi gio, chát trấu vào mặt cha mẹ, tiên tổ, ông bà. Thanh danh đang lên như “diều gặp gió” nay chẳng khác chi “lá chuối gặp bão” xác xơ bên đường. Cha mẹ thì khăng khăng dán chặt con mình trên bàn thánh, chôn chân con mình trong chốn Viện tu bằng bất cứ giá nào, nhưng cũng chẳng hay chẳng biết rằng: con mình không có khả năng sống đời Ơn gọi. Họ chỉ biết một điều: việc trở về gia đình sau hành trình tu trì dang dở là chuyện không thể chấp nhận được. Họ cũng đâu biết rằng: việc quyết định ngả sang một Ơn gọi khác không phải là chuyện dễ dàng như người ta vẫn lầm tưởng. Trước khi về đời, người xuất tu đã phải đón nhận sức ép thật khủng khiếp từ phía dư luận, bà con lối xóm. Thật là đáng sợ!
Hơn thế nữa, nhiều người xuất tu mang theo suốt cuộc đời mình mặc cảm tội lỗi vì biết mình đã làm hỏng ơn Chúa. Bao nhiêu chữ “giá mà” thế này, “phải chi” thế thế kia cứ đeo bám và ám ảnh trong trí não. Bao nhiêu nước mắt đã lặng lẽ buông xuống dòng đời; bao nhiêu tiếng thở dài não nề trôi theo giọt nắng, giọt mưa; bao nhiêu thất vọng, bao nhiêu chán ngán cuộc đời, bao nhiêu mỏi mòn, tăm tối giăng ngập lối về… Thật xót xa, thật phũ phàng! Mọi sự giờ đây đã quá muộn cho một lời xin lỗi, chỉ còn lại đây những giọt lệ buồn của cay đắng, xót xa. Nỗi đau khiến họ ăn không ngon, ngủ không yên, và vì thế họ cảm thấy bất hạnh và đau khổ. Mọi cánh cửa hy vọng dường như đã đóng chặt khiến họ không còn lối thoát. Cuộc đời thật quá khắt khe với họ.
Nói về người tu xuất với biết bao cảm xúc và nghĩ suy, nhưng chúng ta không thể nào không thừa nhận vị trí và vai trò của họ trong Giáo hội và ngoài xã hội. Nhiều người tu xuất đã trở thành cánh tay đắc lực của Cha xứ và của xóm đạo. Các hội đạo đức, các công việc bác ái, các hoạt động từ thiện có thăng tiến được cũng là nhờ phần nhiều vào những con người nhiệt thành này. Họ là những người trí thức, được đào luyện bài bản trong Chủng viện, nơi Dòng tu nên cũng đã trang bị cho mình một sự trưởng thành vừa đủ trước khi đối mặt với cuộc đời. Họ làm việc có cái tâm và trở nên những con người đáng tin cậy trong Cộng đoàn. Vì thế, chúng ta cần đặc biệt tôn trọng, cảm phục và cầu nguyện cho họ, để giúp hăng say và nhiệt thành chu toàn bổn phận làm người Kitô hữu của mình.
Đôi dòng suy tư về giới tu xuất không phải là bao che, dung dưỡng, nhưng là tấm lòng trân trọng, cảm thông và tri ân. Thiên Chúa đã dùng họ cách âm thầm để làm việc trong vườn nho của Ngài. Không ít thì nhiều, những việc làm và những hy sinh lớn lao của họ cũng làm cho vườn nho Chúa được trổ sinh hoa trái. Viết về người tu xuất giúp chúng ta có cái bao dung hơn, yêu thương hơn, đồng cảm hơn, vì mọi người dù là ai, dù trong hoàn cảnh nào cũng đều là những con người bất xứng trước mặt Thiên Chúa và ai trong chúng ta cũng cần đến lòng thương xót và ân sủng của Ngài. Đây cũng là một lần giúp chúng ta hâm nóng lại tình yêu với Chúa, hun đúc khát khao dâng hiến của mình. Ước mong sao dù cho bao khó khăn, thử thách, chúng ta cũng hãy luôn trung thành với Chúa đến cùng.
Diệu Tâm, BC
2021
Tu xuất, người là ai?
Tu xuất, người là ai?
Rời bỏ đời tu trở về đời thường, họ đã thành những giáo dân có học thức, có trình độ và thành công trong nhiều ngành nghề. Giáo dân thường gọi họ là người tu xuất. Họ là những bác sĩ, kỹ sư, giáo sư, nhà văn, nhạc sĩ, doanh nhân…
Tôi gọi những người chuyển hướng đời tu là những kẻ đổi đời. Những kẻ đổi đời được nói tới ở đây là những người trước kia sống trong đời tu, nay về đời thường sống như những người khác.
Một quyết định cam go
Dư luận của phần đông người Công giáo thường khắt khe với những người này. Người ta thường gọi họ bằng những từ có vẻ khinh miệt như tu xuất, nhà thầy xuất, cô mụ xuất, kẻ ăn hại cơm nhà Đức Chúa Trời…
Gọi như thế, vô hình trung người ta đã tỏ ra nghiệt ngã với những người đi tu ra. Người ta đâu có hiểu rõ tại sao những người ấy đã rời bỏ đời tu.
Những người bỏ đời tu có thể vì họ bị loại, do không còn đủ điều kiện để được lưu lại; hoặc thấy mình không đáp ứng được những đòi hỏi và ràng buộc của bậc đời mình chọn, hay bị sự đời mê hoặc, quyến rũ. Dù sao thì việc rời bỏ đời tu cũng là một quyết định và một lựa chọn cam go đối với người trong cuộc, nhất là khi đã đến tuổi trưởng thành.
Có những trường hợp không êm ả gì khi phải rời bỏ đời sống mình đã gắn bó từ nhiều năm qua. Có những lý do thầm kín mà chỉ mình đương sự với cha linh hướng biết. Vì thế, phải khách quan hiểu hoàn cảnh của những người đi tu ra, mà đừng vội phê phán hay trách móc.
Trở thành những giáo dân có học thức
Đúng là ý Chúa nhiệm mầu. Việc gì cũng có hai mặt tốt xấu. Tai họa cũng có ích cho một cái gì đó, như một câu trong tiếng Pháp: “À quelque chose, malheur est bon” (Trong cái rủi có cái may).
Nhiều người trong số họ tích cực giúp các cha xứ trong các họ đạo khi nhận các chức vụ trong ban điều hành, làm giáo lý viên, phụ trách ca đoàn, làm truyền thông, viết bài trong nội san…
Với vốn liếng thần học, Kinh Thánh và các bộ môn liên quan họ đã nhận được trong thời gian ở chủng viện hay tu viện, cộng thêm kiến thức trong các ngành nghề chuyên môn, họ đã trở thành những giáo dân trưởng thành, có học thức, được người bên ngoài kính nể.
Chính họ ở giữa đời, phải đương đầu với đời và dám mạnh dạn đứng ra bênh đạo và phi bác những luận điệu vô căn cứ bêu riếu đạo. Họ làm việc trong xã hội nhưng không quên đóng góp phần mình cho Giáo Hội, bằng một nếp sống chân chính để làm chứng cho Chúa và cho đạo.
Nhiều người trong họ đã không quên những năm tháng được ăn học và tu luyện trong các chủng viện hay tu viện mà tìm cách đền ơn bằng nhiều hình thức. Họ không ngần ngại nhận rằng ngày nay mình được như thế này một phần cũng là do công ơn của Giáo Hội.
Có thể nói họ là một thứ nguồn vốn và tài lực tinh thần cho Giáo Hội khai thác. Giáo Hội có thể khai thác họ và chắc chắn họ sẽ sẵn sàng đóng góp cho Giáo Hội, nếu các vị trong giáo quyền cần đến và kêu gọi họ.
Ngày nay Giáo Hội đề cao vai trò của giáo dân và kêu gọi giáo dân tham gia vào các hoạt động của Giáo Hội. Dám ước mong các vị trong giáo quyền lưu tâm đến vốn quý này là các người đi tu ra, kêu gọi họ đem khả năng của mình để làm việc cho Giáo Hội.
Còn về phía họ, cũng ước mong họ tổ chức thành các hội ái hữu, câu lạc bộ hay hội cựu chủng sinh như Hội Cựu chủng sinh Kon Tum để sinh hoạt với nhau, duy trì ảnh hưởng tốt của đời tu mình đã nhận được và nhân rộng lên để phục vụ Giáo Hội và xã hội.
Lm Anrê Đỗ Xuân Quế, OP
2021
Đi tu có khó không?
Đi tu có khó không?
Nhiều bạn trẻ nhắn tin hỏi: Cha ơi đi tu có khó không? Điều kiện gì để được nhận?
Sau khi được trả lời rằng đi tu trước hết cần có đạo đức và lòng thành muốn sống đời dâng hiến, còn cần phải có những điều kiện cơ bản như trình độ đại học, ngoại ngữ, giáo lý…đa phần các bạn than: khó quá, chắc con không đủ điều kiện!
Thật ra, chẳng ai trong chúng ta, ngay cả những người đang sống trong đời tu cũng không đủ điều kiện. Bởi họ cũng đã có xuất phát từ hai bàn tay trắng, nhưng họ lại không bỏ cuộc trước những tiêu chuẩn xem ra rất khó để có thể đạt được.
Vì thế, nếu hỏi đi tu có khó không xin trả lời rằng:
ĐI TU THẬT SỰ LÀ MỘT HÀNH TRÌNH KHÓ KHĂN HƠN CHÚNG TA NGHĨ về nó rất nhiều. Có nhiều bạn, sau một thời gian dài theo đuổi ơn gọi phải ra về vì không đủ trình độ căn bản. Có những bạn phải từ giã ơn gọi vì sức khỏe không đảm bảo, hoặc vì còn sự gian dối chưa thành thật nào đó…Tuy vậy, cũng có những trường hợp phải về vì quá thần tượng đời tu, xem tu sĩ là những bậc thần thánh. Thế rồi, khi tiếp xúc mới nhận ra họ chỉ là những con người tầm thường…vì thế mà đương sự bị mất phương hướng, dẫn đến chán nản đời tu. Hoặc cũng có những trường hợp đòi hỏi quá nhiều từ nhà Dòng mình theo, đánh giá bề trên thế này thế kia…
ĐI TU CÒN KHÓ HƠN CHÚNG TA TƯỞNG bởi nếu không có ơn Chúa thì đương sự không thể sống cộng đoàn được. Thật ra, tu triều hay Dòng cũng đều hướng chúng ta đến tha nhân, nghĩa là phải có khả năng sống chung, sống với. Tưởng rằng dễ, nhưng rất khó để có thể dung hòa và chấp nhận nhưng khác biệt với người khác. Đó là chưa kể những khi gặp khó khăn hiểu lầm…
ĐI TU CÒN KHÓ HƠN CHÚNG TA TƯỞNG bởi tự bản thân, chúng ta không thể sống ba lời khấn Khiết Tịnh, Độc Thân và Tuân Phục, dù có là tu triều hay Dòng. Dâng hiến bản thân cho Thiên Chúa, hoàn toàn hủy mình ra không để phụng sự Chúa và cứu rỗi các linh hồn là điều tự thân không ai có thể làm được.
Và CÒN TRĂM NGÀN THỨ KHÓ KHĂN KHÁC mà ngay cả những người đã có thâm niên trong đời tu cũng không lường trước được.…bởi đơn giản đi tu là đi chết, là theo Chúa từ Phòng Tiệc Ly đến đồi Gôn-gô-tha. Chẳng có tương lai nào cho những người đi tu cả.
Thế nhưng, ĐI TU THẬT SỰ TRỞ NÊN DỄ DÀNG NẾU CHÚNG TA BIẾT ĐẶT NIỀM TIN VÀO PHỤC SINH CỦA CHÚA. Điều kiện cần thiết để theo Chúa không phải là học hành, không phải là sức khỏe, …nhưng là là chúng ta dám chết đi con người của mình. Nếu không chết đi thì không bao giờ có sự sống lại. Vì thế đi tu sẽ trở nên dễ dàng và không khó chút nào nếu chúng ta dám chết đi cái tôi của mình mỗi ngày.
Lm. Mar – Aug Bùi Văn Hồng Phúc, SSS
