Aenean nec eros. Vestibulum ante ipsum primis in faucibus orci luctus et ultrices posuere cubilia curae. Suspendisse sollicitudin velit sed leo.

Chuyên mục
  • Bài giảng
  • Các loại khác
  • Chia sẻ
  • Chưa phân loại
  • GH Hoàn Vũ
  • GH Việt Nam
  • Giáo dục
  • Hạnh các Thánh
  • HĐGM Việt Nam
  • Kinh Thánh
  • Phim giáo dục
  • Phụng vụ
  • Sách
  • Suy niệm Chúa nhật
  • Suy niệm hàng ngày
  • Tài liệu giáo dục
  • Tài liệu phụng vụ
  • Thần học
  • Thánh ca
  • Thánh lễ
  • Thánh lễ trực tuyến
  • Thư chung
  • Thư viện
  • Tin tức
  • Triết học
  • Tư liệu
  • UBGD Công giáo
  • uncategorized
  • Video
From Gallery
Stay Connected
UyBanGiaoDucHDGM.net
  • Trang chủ
  • Thư chung
    • HĐGM Việt Nam
    • UBGD Công giáo
  • Tin tức
    • GH Việt Nam
    • GH Hoàn Vũ
  • Phụng vụ
    • Thánh lễ
    • Thánh lễ trực tuyến
    • Suy niệm hàng ngày
    • Suy niệm Chúa nhật
    • Tài liệu phụng vụ
  • Giáo dục
    • Chia sẻ
    • Tài liệu giáo dục
  • Thư viện
    • Sách
      • Kinh Thánh
      • Triết học
      • Thần học
      • Các loại khác
    • Video
      • Bài giảng
      • Thánh ca
      • Phim giáo dục
      • Hạnh các Thánh
      • Tư liệu
  • Liên hệ
Give Online

Danh mục: Giáo dục

Home / Giáo dục
05Tháng Mười
2021

Đức Giê-su Ki-tô – Đường vâng phục

05/10/2021
Anmai
Giáo dục, Tài liệu giáo dục
0

Chương Trình Mục Vụ Giới Trẻ 2020-2022:
Mỗi tháng một hình ảnh hay tước hiệu Đức Giê-su Ki-tô (22)

Chủ đề học hỏi và suy niệm tháng 10 năm 2021

ĐỨC GIÊ-SU KI-TÔ – ĐƯỜNG VÂNG PHỤC

+ Pet. Nguyễn Văn Viên

Các bạn trẻ thân mến,

Tháng 9 vừa qua, chúng ta đã suy niệm chủ đề Đức Giê-su Ki-tô – Đường Tha Thứ Tội Lỗi. Tháng 10 này, chúng ta cùng nhau suy niệm chủ đề Đức Giê-su Ki-tô – Đường Vâng Phục. Mặc khải Ki-tô Giáo cho chúng ta nhận thức rằng vì Nguyên Tổ bất tuân phục, con người trở thành nô lệ tội lỗi và sự chết. Nhờ Đức Giê-su vâng phục, con người được giải thoát khỏi tình trạng nô lệ đó. Trong hành trình trần thế, Đức Giê-su luôn vâng phục Đức Chúa Cha, vâng phục cho đến nỗi bằng lòng chịu chết trên cây thập giá. Đặc biệt, Người dạy các môn đệ luôn biết vâng phục thánh ý Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh để minh chứng cho tình yêu của Người giữa dòng đời.

Tiếng Do-thái cổ không có động từ ‘vâng phục’ hay ‘vâng lời’ như trong các ngôn ngữ hiện đại. Động từ ‘שמע’ (shama) của Do-thái tương đương với ‘vâng phục’ trong tiếng Việt hay ‘obey’ trong tiếng Anh. Động từ ‘שמע’ có các nghĩa chính yếu như nghe (St 27,6; Lv 26,14; Is 1,2); lắng nghe (St 27,5; 2 Sm 11,26; Ed 3,7; Tv 132,6); lắng nghe và đón nhận (Is 46,3); nghe đồng nghĩa với hiểu (St 11,7; 1 V 3,6); vâng lời (St 22,18; Xh 24,7; 1 Sm 15,22; 2 V 14,11). Động từ tương đương với ‘שמע’ trong tiếng Hy-lạp là ‘ὑπακούω’/hupakouo (obey), danh từ là ‘ὑπακοή’/hupakoe (obedience) và tính từ là ‘ὑπήκοος’/hupḗkoos (obedient). ‘Vâng phục’ có nghĩa là ‘nghe’ hay ‘lắng nghe’ lời của người có thẩm quyền, người bề trên, người quan trọng trong các hình thái xã hội loài người. Đặc biệt, đối với dân Do-thái, lắng nghe, tin tưởng và thực thi lời của Thiên Chúa cách tự nguyện là trung tâm của đời sống họ. Bởi vì, những gì thuộc thánh ý Thiên Chúa đều chân thực, lành thánh và sinh hoa trái dồi dào cho mọi người. Trong Kinh Thánh, vâng phục được diễn tả dưới nhiều hình thức khác nhau, chẳng hạn như vâng phục Đức Chúa (Đnl 28,1), vâng phục lề luật của Thiên Chúa (2 Mcb 7,30), vâng phục sự thật (Gl 5,7), vâng phục Tin Mừng (Rm 1,5), vâng phục đạo lý (Rm 6,17), vâng phục Đức Ki-tô (2 Cr 10,5), vâng phục đức tin (Ep 2,8-10), vâng phục quyền bính dân sự (Rm 13,1-7), vâng phục trong gia đình (Ep 5,21-33).

Chủ đề vâng phục được trình bày ngay từ buổi đầu của gia đình nhân loại, gắn liền với giao ước giữa Thiên Chúa và Nguyên Tổ (A-đam và E-và), được diễn tả qua ngôn ngữ biểu tượng: A-đam và E-và được ăn mọi trái cây trong vườn, ngoại trừ cây giữa vườn. Tuy nhiên, A-đam và E-và đã ‘nghe lời con rắn’, đã sa chước cám dỗ. Như vậy, Tội Nguyên Tổ là tội bất tuân phục, tội không nghe lời của Thiên Chúa (St 3,1-7). Quả thực, A-đam và E-và đã được Thiên Chúa phú ban những điều kiện cần thiết hầu có thể sống xứng đáng với phẩm giá của mình, nhưng họ đã bất tuân phục thánh ý Người. Vì A-đam và E-và, tội lỗi xâm nhập trần gian và tội lỗi gây nên sự chết và sự chết lan tràn đến mọi người (Rm 5,12). Dưới nhãn quan Kinh Thánh Cựu Ước, khi con người bất tuân phục Thiên Chúa cũng là khi con người sống xa tình yêu của Người và hậu quả là con người trở thành nô lệ của các thế lực sự dữ đang hoành hành trong thế giới thụ tạo.

Chương trình Thiên Chúa đối với con người không kết thúc với việc bất tùng phục của Nguyên Tổ và hậu quả của tội này. Thiên Chúa luôn yêu thương và đồng hành với con người trong mọi biến cố của lịch sử. Đặc biệt, Thiên Chúa đã kêu gọi Áp-ra-ham, để từ đây, Người diễn tả chương trình cứu độ của Người đối với toàn thể nhân loại. Áp-ra-ham ban đầu có tên là Áp-ram, Thiên Chúa phán với ông như sau: “Hãy rời bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cha ngươi, mà đi tới đất Ta sẽ chỉ cho ngươi. Ta sẽ làm cho ngươi thành một dân lớn, sẽ chúc phúc cho ngươi. Ta sẽ cho tên tuổi ngươi được lẫy lừng, và ngươi sẽ là một mối phúc lành” (St 12,1-2). Quả thực, kêu gọi một người từ bỏ xứ sở quen thuộc của mình để đến nơi khác luôn là việc rất khó khăn. Tuy nhiên, Áp-ra-ham hằng vâng phục Thiên Chúa và diễn tả tinh thần vâng phục trong mọi hoàn cảnh cuộc sống của mình, ngay cả việc sẵn sàng hiến tế đứa con trai yêu dấu của mình cho Thiên Chúa (St 22,1-19). Áp-ra-ham trở thành mẫu gương vâng phục cho các tín hữu Do-thái Giáo, Ki-tô Giáo và Hồi Giáo cũng như những ai thành tâm thiện chí trong gia đình nhân loại.

Hành trình của dân Do-thái bắt đầu với Áp-ra-ham trong dòng lịch sử cũng là hành trình diễn tả tình yêu thương của Thiên Chúa và sự bất tuân phục của dân này. Chẳng hạn, trên đường về với Đất Hứa, dân Do-thái đã lắm phen phản nghịch thánh ý Thiên Chúa. Tương tự như thế, thời các vua, không chỉ dân chúng bất tuân phục mà những người lãnh đạo dân cũng vậy. Chẳng hạn, vì sự bất tuân của vua Sa-un đối với Đức Chúa, Sa-mu-en đã nói với vua: “Đức Chúa có ưa thích các lễ toàn thiêu và hy lễ như ưa thích người ta vâng lời Đức Chúa không? Này, vâng phục thì tốt hơn là dâng hy lễ, lắng nghe thì tốt hơn là dâng mỡ cừu” (1 Sm 15,22). Thời các ngôn sứ, dân Do-thái vẫn chứng nào tật ấy với não trạng bất tuân phục. Lời của Thiên Chúa trong sách ngôn sứ Giê-rê-mi-a minh chứng điều đó: “Hãy nghe tiếng Ta thì Ta sẽ là Thiên Chúa các ngươi, và các ngươi sẽ là dân của Ta. Hãy bước theo mọi đường lối Ta truyền dạy, để các ngươi được hạnh phúc. Nhưng chúng chẳng nghe, chẳng để tai, cứ theo những suy tính của mình, theo tâm địa ngoan cố xấu xa; chúng đã lùi chứ không tiến” (Gr 7,23-24). Sự vâng phục, lắng nghe và thực thi thánh ý Thiên Chúa trở thành hiện thực nơi Đức Giê-su trong hành trình trần thế của Người.

Tân Ước cho chúng ta biết rằng với sự vâng phục và cộng tác của Đức Ma-ri-a, Đức Giê-su đã ‘trở nên người phàm’ của gia đình nhân loại. Trong hành trình trần thế, Người hằng vâng phục cha mẹ Người. Chẳng hạn, thánh Lu-ca trình thuật rằng sau khi tìm được Đức Giê-su ở đền thờ Giê-ru-sa-lem, “Người đi xuống cùng với cha mẹ, trở về Na-da-rét và hằng vâng phục các ngài. Riêng mẹ Người thì hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng” (Lc 2,51). Chúng ta nhận ra điều kỳ diệu của gia đình Na-da-rét bởi vì trong gia đình này ‘Trời ở với người’, ‘Đấng Sáng Tạo chung nhà với thụ tạo’, ‘Thiên Chúa vâng phục con người’. Chúng ta biết rằng con người vâng phục Thiên Chúa là chuyện thường tình, phải lẽ. Tuy nhiên ở đây, Đức Giê-su là Thiên Chúa lại vâng phục Đức Ma-ri-a và thánh Giu-se. Quả thực, điều này vượt quá tâm thức tôn giáo của các dân tộc qua muôn thế hệ.

Trong biến cố Đức Giê-su chịu phép rửa, khi Người vừa lên khỏi nước thì các tầng trời mở ra, Thần Khí Thiên Chúa ngự xuống trên Người và có tiếng từ trời phán: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người” (Mt 3,17). Sau này, trong biến cố Đức Giê-su Hiển Dung cũng có tiếng từ đám mây phán: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người!” (Mt 17,5). Khởi đầu sứ mệnh công khai, Đức Giê-su kêu gọi mọi người diễn tả tâm tình vâng phục bằng việc sám hối và tin vào Tin Mừng mà Người loan báo (Mc 1,14-15). Như vậy, vâng phục trở thành lời kêu gọi đầu tiên của Đức Giê-su. Đây không phải là lời kêu gọi chung chung giữa những lời kêu gọi khác mà là lời kêu gọi chính yếu trong sứ mệnh cứu độ của Thiên Chúa được Đức Giê-su thực hiện.

Trong bài giảng về Giáo Hội là Nước Thiên Chúa ở trần gian, thánh Mát-thêu trình thuật rằng khi các môn đệ hỏi Đức Giê-su ai là người lớn nhất trong Nước Thiên Chúa, Đức Giê-su đem một em nhỏ đặt giữa các ông và nói: “Thầy bảo thật anh em: Nếu anh em không trở lại mà nên như trẻ nhỏ, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời. Vậy ai tự hạ, coi mình như em nhỏ này, người ấy sẽ là người lớn nhất Nước Trời” (Mt 18,3-4). Nói đến trẻ em là nói đến tính đơn sơ, vâng phục, chẳng hạn như vâng phục cha mẹ hay vâng phục những người lớn tuổi hơn mình. Điều Đức Giê-su muốn nhấn mạnh ở đây là những ai muốn theo Người thì lắng nghe và thực thi lời Người truyền dạy với tâm tình đơn sơ, phó thác. Quả thực, khi con người không biết lắng nghe, không biết cúi đầu, không biết nhìn nhận những giới hạn của bản thân mình thì khó có thể làm môn đệ Đức Giê-su được. Chúng ta biết rằng, trong đời sống xã hội, trẻ em sẽ không thể hòa nhập cộng đồng cách đầy đủ nếu bỏ ngoài tai những chỉ dạy của cha mẹ hay những người hữu trách. Tương tự như vậy, trong đời sống tâm linh, các môn đệ Đức Giê-su sẽ không thể trưởng thành khi bỏ qua nhân đức vâng phục, hay không quan tâm nhân đức này cách phù hợp.

Thánh Mác-cô trình thuật rằng khi Đức Giê-su đang nói chuyện với đám đông thì có người báo tin Mẹ của Người là Đức Ma-ri-a và những người thân muốn gặp Người. Đức Giê-su đáp: “Ai là mẹ tôi? Ai là anh em tôi? Rồi Người rảo mắt nhìn những kẻ ngồi chung quanh và nói: Đây là mẹ tôi, đây là anh em tôi. Ai thi hành ý muốn của Thiên Chúa, người ấy là anh em chị em tôi, là mẹ tôi” (Mc 3,33-35). Đức Giê-su không nói rằng Đức Ma-ri-a không phải là Mẹ của Người hay những người đang đứng ngoài kia không phải là thân nhân của Người. Điều Người muốn diễn tả là gia đình Người không chỉ bao gồm những ai cùng huyết tộc gần gũi mà là bất cứ ai lắng nghe và thực thi thánh ý của Thiên Chúa. ‘Lắng nghe và thực thi thánh ý của Thiên Chúa’ là diễn nghĩa của ‘vâng phục’. Lời của Đức Giê-su cho thấy sứ mệnh của Người nhằm thiết lập Gia Đình Thiên Chúa trên trần gian để những ai vâng phục, gắn bó với Gia Đình này thì được chung hưởng hạnh phúc vĩnh cửu của Gia Đình Thiên Chúa viên mãn.

Khi Đức Giê-su đánh đuổi những người mua bán trong đền thờ, các thượng tế và kỳ mục thách thức thẩm quyền của Người: “Ông lấy quyền nào mà làm các điều ấy? Ai đã cho ông quyền ấy?” (Mt 21,23). Đức Giê-su kể cho họ dụ ngôn rằng một người kia có hai con trai, ông đến nói với đứa thứ nhất hãy đi làm vườn nho. Ban đầu nó không đi nhưng sau đó hối hận và đi. Ông đến gặp đứa thứ hai và nó đồng ý đi, nhưng cuối cùng lại không đi. Đức Giê-su hỏi họ: “Trong hai người con đó, ai đã thi hành ý muốn của người cha?” (Mt 21,31). Họ đã trả lời: Người thứ nhất. Đức Giê-su liền nói với họ rằng những người thu thuế và những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước họ. Người dùng dụ ngôn này để cho các thượng tế và kỳ lão biết những người tội lỗi vâng phục, hối cải thì hơn những người cho mình là công chính không chịu hối cải ăn năn. Trong bối cảnh Bài Giảng Trên Núi, Người nói: “Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: Lạy Chúa! lạy Chúa! là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi” (Mt 7,21). Như vậy, vâng phục đồng nghĩa với thực thi thánh ý Thiên Chúa là điều kiện cần thiết của tất cả những ai thuộc về Nước Thiên Chúa.

Vâng phục Đức Chúa Cha là tâm tình căn bản của Đức Giê-su trong hành trình dương thế. Chẳng hạn, sau cuộc đối thoại với người phụ nữ Sa-ma-ri bên bờ giếng Gia-cóp, các môn đệ mời Đức Giê-su dùng bữa. Người nói với họ rằng: “Thầy phải dùng một thứ lương thực mà anh em không biết… Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy, và hoàn tất công trình của Người” (Ga 4,32-34). Khi các môn đệ xin Đức Giê-su dạy họ cách thức cầu nguyện, Người đã dạy họ Kinh Lạy Cha, trong đó có câu: “Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày” (Mt 6,11). Lương thực ở đây không chỉ là lương thực cho đời sống thể xác mà còn cho đời sống tâm linh nữa, nghĩa là lương thực theo thánh ý Thiên Chúa. Sau dấu lạ hóa bánh ra nhiều cho hơn năm ngàn người ăn và đi trên mặt Biển Hồ mà đến với các môn đệ, tại hội đường Ca-phác-na-um, Đức Giê-su nói với dân Do-thái: “Tôi tự trời mà xuống, không phải để làm theo ý tôi, nhưng để làm theo ý Đấng đã sai tôi” (Ga 6,38). Đức Giê-su diễn tả sự vâng phục trong yêu thương và căn dặn các môn đệ phải thực thi như vậy: “Thầy yêu mến Chúa Cha và làm đúng như Chúa Cha đã truyền cho Thầy” (Ga 14,31); “Nếu anh em giữ các điều răn của Thầy, anh em sẽ ở lại trong tình thương của Thầy, như Thầy đã giữ các điều răn của Cha Thầy và ở lại trong tình thương của Người” (Ga 15,10).

Là con người, Đức Giê-su cũng đương đầu với nhiều cơn cám dỗ. Người không chỉ bị cám dỗ trong thời gian ở sa mạc bốn mươi đêm ngày mà còn nhiều dịp khác nữa. Tuy nhiên, Đức Giê-su chưa bao giờ sa chước cám dỗ. Tại sao vậy? Thưa, tại vì Người luôn vâng phục thánh ý Đức Chúa Cha. Chẳng hạn, Thánh Mát-thêu trình thuật: “Quỷ lại đem Người lên một ngọn núi rất cao, và chỉ cho Người thấy tất cả các nước thế gian, và vinh hoa lợi lộc của các nước ấy, và bảo rằng: Tôi sẽ cho ông tất cả những thứ đó, nếu ông sấp mình bái lạy tôi. Đức Giê-su liền nói: Xa-tan kia, xéo đi! Vì đã có lời chép rằng: Ngươi phải bái lạy Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi, và phải thờ phượng một mình Người mà thôi” (Mt 4,8-10). Bái lạy hay cúi đầu diễn tả sự vâng phục bằng cử chỉ. Đức Giê-su đã không bái lạy, không cúi đầu trước ma quỷ. Câu trả lời của Người cho chúng ta biết cần phải vâng phục ai trong hành trình trần thế này. Đức Giê-su bị cám dỗ thể hiện quyền năng tại quê hương Người là Na-da-rét, thể hiện quyền năng trước những người Pha-ri-sêu và các kinh sư, thể hiện quyền năng trước Hê-rô-đê hay Phi-la-tô. Trong vườn Ghết-sê-ma-ni, Đức Giê-su cầu nguyện với Đức Chúa Cha: “Lạy Cha, nếu con cứ phải uống chén này mà không sao tránh khỏi, thì xin vâng ý Cha” (Mt 26,42). Khi Đức Giê-su bị treo trên thập giá, các thượng tế, kinh sư, kỳ mục nói: “Hắn cứu được thiên hạ, mà chẳng cứu nổi mình. Hắn là Vua Ít-ra-en! Hắn cứ xuống khỏi thập giá ngay bây giờ đi, chúng ta tin hắn liền! Hắn cậy vào Thiên Chúa, thì bây giờ Người cứu hắn đi, nếu quả thật Người thương hắn! Vì hắn đã nói: Ta là Con Thiên Chúa!” (Mt 27,42-43). Đức Giê-su đã ‘không vâng phục’, không thể hiện quyền năng đối với bất cứ ai thách thức Người.

Mặc khải Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng từ thuở đời đời, Đức Giê-su là ‘Con Đức Chúa Cha’, do đó, Người hằng vâng phục Đức Chúa Cha. Trong chương trình cứu độ nhân loại, Đức Giê-su vâng phục Đức Chúa Cha để nhập thể, sống thân phận con người, đồng lao cộng khổ với tất cả mọi người, chịu đau khổ và chịu chết trên thập giá. Như vậy, thập giá là đỉnh cao diễn tả sự vâng phục của Người hầu đền bù tội bất tuân phục của tất cả mọi người trong gia đình nhân loại. Trên thập giá, Đức Giê-su cầu xin cho ý của Đức Chúa Cha được thực hiện. Đây là sự vâng phục cao quý nhất và câu nói cuối cùng của Đức Giê-su trước khi tắt thở (trao ban Thần Khí) là câu nói diễn tả sự vâng phục sâu thẳm: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha. Nói xong, Người tắt thở” (Lc 23,46). Qua Đường Vâng Phục, Đức Giê-su đã đánh bại các hình thức sự dữ cũng như kẻ thù cuối cùng của con người là sự chết, hầu ban ơn cứu độ và giải thoát tất cả mọi người.

Trong hành trình dương thế, Đức Giê-su không chỉ vâng phục thánh ý Thiên Chúa, Người còn diễn tả thẩm quyền của Người trên thế giới thụ tạo nữa. Chẳng hạn, sau khi hóa bánh ra nhiều cho hơn năm ngàn người ăn từ năm chiếc bánh và hai con cá của một em bé, các môn đệ xuống thuyền đi về Ca-phác-na-um. Khi thuyền rời bến khoảng năm hoặc sáu cây số, Đức Giê-su đi trên mặt biển mà đến với các môn đệ (Ga 6,16-21). Theo mặc khải Kinh Thánh, quy luật tự nhiên được Thiên Chúa thiết định. Tuy nhiên, trong bối cảnh này, Đức Giê-su biến đổi quy luật tự nhiên. Điều này giúp chúng ta nhận thức rằng Đức Giê-su là Thiên Chúa, là Chủ của thế giới thụ tạo, của quy luật tự nhiên: Chủ có thẩm quyền trên quy luật tự nhiên cũng như muôn vật muôn loài. Chúng ta cần quan tâm hai điểm quan trọng liên quan đến việc Đức Giê-su biến đổi quy luật tự nhiên (chẳng hạn như đi trên mặt nước hay làm cho sóng yên biển lặng): (1) Đức Giê-su không làm cho quy luật tự nhiên ‘xuống cấp’ và (2) Người biến đổi quy luật tự nhiên nhằm gia tăng những gì lành thánh, tốt đẹp cho con người.

Nhờ sự vâng phục Đức Chúa Cha và trở nên người phàm, Đức Giê-su giống con cháu A-đam và E-và trong mọi sự, nghĩa là Người cũng bị giới hạn bởi không gian, thời gian cũng như lệ thuộc những gì trong đó. Người bị cám dỗ nhưng không sa chước cám dỗ, nghĩa là không phạm tội, bởi vì Người luôn hướng về Đức Chúa Cha và vâng phục thánh ý Đức Chúa Cha trong mọi sự. Thánh Phao-lô viết: “Đấng chẳng hề biết tội là gì, thì Thiên Chúa đã biến Người thành hiện thân của tội lỗi vì chúng ta, để làm cho chúng ta nên công chính trong Người” (2 Cr 5,21). Khi so sánh Đức Giê-su với A-đam, thánh nhân viết: “Cũng như vì một người duy nhất đã sa ngã mà mọi người bị Thiên Chúa kết án, thì nhờ một người duy nhất đã thực hiện lẽ công chính, mọi người cũng được Thiên Chúa làm cho nên công chính, nghĩa là được sống. Thật vậy, cũng như vì một người duy nhất đã không vâng lời Thiên Chúa, mà muôn người thành tội nhân, thì nhờ một người duy nhất đã vâng lời Thiên Chúa, muôn người cũng sẽ thành người công chính” (Rm 5,18-19). Thánh Phao-lô giúp chúng ta hiểu rõ hơn về sự đối nghịch giữa A-đam cũ bất tuân phục và A-đam Mới là Đức Giê-su luôn vâng phục.

Bởi vâng phục Đức Chúa Cha, Đức Giê-su đã đi ngược lại con đường của A-đam. Đường của A-đam là đường bất tuân, đường dẫn tới tội lỗi và sự chết; đường của Đức Giê-su là Đường Vâng Phục, đường dẫn tới ân sủng và sự sống. Con người vừa mang hình ảnh A-đam vừa mang hình ảnh Đức Giê-su, nghĩa là vừa mang hình ảnh của người bất tuân phục vừa mang hình ảnh của Đấng Vâng Phục; vừa mang hình ảnh của người phải chết vừa mang hình ảnh của Đấng Hằng Sống; vừa mang hình ảnh của người muốn định đoạt số phận mình vừa mang hình ảnh của Đấng luôn phó thác mọi sự trong tay Đức Chúa Cha. Nhờ Đức Giê-su, Đấng Vâng Phục, con người được giải thoát khỏi Tội Nguyên Tổ và những hậu quả của Tội này, đồng thời, được Đức Giê-su hướng dẫn về với cõi phúc đích thực. Do vậy, mọi người được mời gọi luôn hướng về Đức Giê-su, Đấng Vâng Phục để kín múc từ Người nguồn sinh lực cho cuộc sống hiện tại và tương lai vĩnh cửu.

Kinh nghiệm về sự gặp gỡ Đức Giê-su phục sinh giúp thánh Phao-lô minh định rõ ràng và khúc chiết về ‘nguồn gốc’ và ‘sự vâng phục’ của Người trong thư gửi tín hữu Phi-líp-phê. Điều đáng để chúng ta quan tâm là trong các thư của ngài, thánh Phao-lô thường diễn tả việc Thiên Chúa gửi Con của Người xuống trần gian, nhưng ở đây thánh Phao-lô nhấn mạnh sự tự do dâng hiến của Đức Giê-su: “Đức Giê-su Ki-tô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” (Pl 2,6-8). Chúng ta ngạc nhiên trước cách diễn tả của thánh Phao-lô: Đức Giê-su vốn dĩ là Thiên Chúa (ἐν μορφῇ Θεοῦ/ in very nature God), nhưng Người trút bỏ vinh quang, hay ‘làm cho mình trở nên trống rỗng’ (ἑαυτὸν ἐκένωσεν/ emptied himself). Chúng ta nhận thức ‘hai tình trạng nên một’ cách huyền nhiệm nơi Đức Giê-su: (1) là Thiên Chúa và (2) là con người; chúng ta cũng nhận thức được ‘hai chuyển động nối kết’ vượt quá sự hiểu biết của chúng ta: (1) Thiên Chúa trở thành con người và (2) Người không phạm tội. Hơn nữa, theo thánh Phao-lô, Đức Giê-su không chỉ vâng phục Thiên Chúa và trở nên người phàm như nhiều người bình thường khác, Người còn trở thành nô lệ (δούλος), nghĩa là trở thành thành phần của những người rốt hết trong xã hội loài người. Đặc biệt, Đức Giê-su còn vâng phục chịu chết trên cây thập giá.

Tác giả thư gửi tín hữu Do-thái giúp chúng ta hiểu thêm về sự vâng phục của Đức Giê-su và hiệu quả của sự vâng phục này như sau: “Dầu là Con Thiên Chúa, Người đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục; và khi chính bản thân đã tới mức thập toàn, Người trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu cho tất cả những ai tùng phục Người, vì Người đã được Thiên Chúa tôn xưng là Thượng Tế theo phẩm trật Men-ki-xê-đê” (Dt 5,8-10). Phẩm vị của Đức Giê-su thật cao cả, Người là Đấng toàn năng, toàn tri, toàn thiện. Tuy nhiên, trong thân phận con người, Đức Giê-su đã vâng phục để học hỏi hầu có thể trưởng thành như bao người khác. Vị Thiên Chúa ‘phải học cho biết thế nào là vâng phục’ quả là khó hiểu đối với chúng ta. Tuy nhiên, khi chúng ta nhận thức rằng tình yêu của Người đối với chúng ta là vô ngần vô hạn thì chúng ta có thể lãnh hội được (Rm 5,8-9; Ep 2,4-5; 1 Ga 4,10). Là con người, Đức Giê-su cần học để được lớn lên như chúng ta, để cảm nghiệm được đau khổ, cảm nghiệm được tình trạng bi đát của con người dưới mãnh lực của sự dữ trong môi trường thế giới thụ tạo. Người học vâng phục bằng ngôn ngữ và kinh nghiệm của con người để dạy con người cách thức vâng phục xứng hợp với thánh ý Thiên Chúa. Người vâng phục đến chết để có được cảm nghiệm đau khổ tột cùng của con người và đem lại ơn cứu độ vĩnh cửu cho con người. Nơi Đức Giê-su, chúng ta thấy rõ hệ quả của vâng phục: Không chỉ bản thân được tôn vinh mà còn đem lại ơn lành cho người khác.

Nhìn lại lịch sử Mặc khải Ki-tô Giáo, chúng ta thấy rằng Thiên Chúa diễn tả quyền năng của Người theo nhiều cách thức khác nhau và Biến Cố Đức Giê-su trong hành trình trần thế là Biến Cố có tính quyết định. Trong Biến Cố này, quyền năng lớn lao nhất mà Đức Giê-su thực hiện không phải là thực thi các điềm thiêng dấu lạ mà là quyền năng vâng phục. Quyền năng đó giúp con người thoát khỏi vũng bùn kiêu căng, tội lỗi và sự chết. Quyền năng đó đánh bại sự tự cao tự đại của ma quỷ, thế gian, xác thịt. Nhờ quyền năng của Đức Giê-su, con người và tất cả vạn vật được biến đổi, được tiến triển và thành toàn cách mỹ mãn theo ý định từ muôn thuở của Thiên Chúa. Như vậy, quyền năng vâng phục mãi mãi là quyền năng con người cần phải suy gẫm, học hỏi, khám phá và thực thi trong đời sống mình.

Dưới nhãn quan của một số người, vâng phục là tâm trạng của kẻ yếu, của người không có năng lực hay thẩm quyền gì đáng kể giữa bao người khác. Trong thực tế, người vâng phục không phải là người yếu thế, nhưng là người ý thức về những giới hạn của mình. Người vâng phục ý thức sự cần thiết để kín múc năng lượng từ người khác hầu có thể điều chỉnh tư cách, đời sống và sứ mệnh của bản thân trong khi không đánh mất những gì chân thật và lành thánh của mình. Người vâng phục xác tín rằng con người không thể tự mình biến đổi cách xứng hợp. Họ cần sự hướng dẫn của những người có thẩm quyền đáng tin cậy, những người thực thi thẩm quyền mà không thiên kiến, không vì lợi ích cá nhân hay hình thức vị kỷ nào đó. Như vậy, càng đề cao sự vâng phục, con người càng nhận ra tình trạng thực thụ của bản thân mình và sự cần thiết để biến đổi sao cho phù hợp với thánh ý Thiên Chúa qua các trung gian của Người.

Thông thường, theo bước chân Nguyên Tổ, con người hay quy hướng về mình, quan tâm đến những gì phát xuất từ bản thân hầu thỏa mãn ‘cái tôi’ chứ không phải vâng phục. Người vâng phục là người bị động, người đón nhận, người lĩnh hội, trong khi đó, người có thẩm quyền là người chủ động, người ra lệnh, người thẩm định. Do đó, nhân đức vâng phục khó thực thi hơn các nhân đức khác bởi vì người thực thi nhân đức này phải từ bỏ ý riêng của mình để lắng nghe, tin tưởng và làm theo ý của người khác. Trong một số trường hợp, người vâng phục nhận thức được những sai sót nhất định của người có thẩm quyền, nhưng vì ‘đức vâng phục’ nên vui lòng chấp nhận. Dưới nhãn quan Ki-tô Giáo, vâng phục là hiến tế rất cao quý. Chúng ta có thể nói rằng người vâng phục Thiên Chúa cách trọn hảo cũng là người tử đạo theo nghĩa rộng với tên gọi là ‘tử đạo vâng phục’. Các vị tử đạo trong lịch sử Giáo Hội có điểm chung là vâng phục Thiên Chúa theo gương Đức Giê-su, thà chịu chết hơn là làm những điều ngược lại với giáo huấn của Người.

Có những người cho rằng vâng phục và tự do như nước với lửa, mặt trăng với mặt trời, bóng tối với ánh sáng hay vâng phục là thù địch của tự do. Trong thực tế, vâng phục đích thực cũng là tự do đích thực và ngược lại. Vâng phục làm cho tự do đúng hướng và tự do làm cho vâng phục được viên mãn. Điều này có nghĩa là con người không mất tự do của mình khi vâng phục Thiên Chúa. Con người vâng phục Thiên Chúa không giống máy móc làm việc theo chỉ thị của người điều khiển. Trái lại, khi con người vâng phục Thiên Chúa cũng là khi con người diễn tả sự tự do của mình cách đúng đắn và đầy đủ nhất. Như vậy, ở đây không có sự xung khắc giữa tự do và vâng phục đích thực trong tương quan giữa con người với Thiên Chúa. Xung khắc nếu có là về phía con người khi lạm dụng tự do của mình, chiều theo cạm bẫy của thế giới bóng đêm, thế giới sự dữ. Con người chỉ có thể trưởng thành thực sự khi vâng phục thánh ý Thiên Chúa và làm cho thánh ý Người được thẩm thấu và lan rộng trong mọi chiều kích của cuộc sống mình. Người ta có thể ghép tự do và vâng phục với nhau và khẳng định rằng tự do đích thực là ‘tự do vâng phục’. Điều này có nghĩa rằng người vâng phục hiểu được giá trị của những gì mình tuân giữ bởi vì những giá trị này giúp mình ngày càng trở nên hoàn thiện hơn.

Một trong những đặc tính của người vâng phục là thinh lặng. Người vâng phục là người biết suy gẫm, biết tìm kiếm thánh ý Thiên Chúa trong mọi nơi mọi lúc. Người vâng phục là người đơn sơ, đồng thời cũng là người chú tâm nhiều hơn về sự thiêng thánh của phẩm giá con người trong cõi thinh lặng. Người vâng phục biết chấp nhận những gì Thiên Chúa gửi đến cho mình, đồng thời biết sẵn sàng chịu đựng muôn hình thức đau khổ trong cuộc sống với tâm tình hiền hòa, kiên nhẫn, phó thác. Người vâng phục biết tìm bình an giữa những gian nan khốn khó; tìm thinh lặng giữa những ồn ào náo động; tìm thánh ý Thiên Chúa giữa những cám dỗ giăng đầy; tìm sự thật giữa những gian dối bội bạc; tìm tình yêu giữa những oán thù ghen ghét. Nói cách khác, người vâng phục biết thinh lặng sống theo những giá trị của Nước Thiên Chúa giữa biển đời đầy giông tố bão bùng này.

Như đã được đề cập ở trên, theo tác giả thư gửi tín hữu Do-thái, “Đức Giê-su đã trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục” (Dt 5,8). Tất cả chúng ta được mời gọi học nơi Đức Giê-su cách thức vâng phục. Chúng ta được trở thành con cái Thiên Chúa nhờ Người, do đó, chúng ta hãy noi gương Người trong việc vâng phục thánh ý Thiên Chúa. Nhiều lúc chúng ta ý thức được sự cần thiết của vâng phục, nhưng lại dị ứng với những gì giúp chúng ta thực thi điều đó. Chẳng hạn, nói đến vâng phục là nói đến hy sinh, nói đến quên mình, nói đến đau khổ, nhưng chúng ta lại dị ứng với những điều này. Dưới nhãn quan của tác giả thư gửi tín hữu Do-thái, vâng phục mà vắng bóng đau khổ không phải là hình thức vâng phục mà Đức Giê-su đã học hỏi và diễn tả trong hành trình trần thế của Người. Chúng ta chỉ có thể vâng phục thực sự khi chúng ta trải qua quá trình học hỏi từ những đau khổ, sai lầm của bản thân cũng như của người khác. Tác giả Thánh Vịnh viết: “Đau khổ quả là điều hữu ích, để giúp con học biết thánh chỉ Ngài” (Tv 119,71). Qua đau khổ, chúng ta học biết cách lắng nghe, cách cảm nhận, cách đồng hóa lời của Thiên Chúa trong cuộc sống mình.

Quả thực, vâng phục phải là trọng tâm của đời sống con người trong hành trình trần thế này. Bởi vì, vâng phục tạo điều kiện cho chúng ta đắm mình trong mầu nhiệm của chương trình Thiên Chúa đối với con người cũng như muôn vật muôn loài trong thế giới thụ tạo. Vâng phục cho phép chúng ta vượt qua những yếu đuối và tầm nhìn hạn hẹp của bản thân về các sự kiện, biến cố hay tương quan trong cuộc sống. Vâng phục giúp chúng ta rèn luyện tính kiên nhẫn cũng như tâm hồn luôn biết cởi mở và hướng về Thiên Chúa, Đấng là Nguồn Gốc và Đích Đến của chúng ta cũng như muôn vật muôn loài. Vâng phục khuyến khích chúng ta biết làm chứng cho Thiên Chúa giữa những khó khăn, bấp bênh của cuộc sống hằng ngày. Đồng thời, vâng phục gia tăng niềm tin, tình yêu và hy vọng của chúng ta đối với Thiên Chúa. Vâng phục mở đường cho chúng ta vào đời sống công chính, thánh thiện giữa thế giới đầy cạm bẫy của ma quỷ, thế gian, xác thịt. Vâng phục thúc đẩy chúng ta đóng góp phần mình vào việc xây dựng trật tự và hòa hợp trong gia đình cơ bản và các hình thức gia đình khác trong xã hội.

Theo một nghĩa nào đó, vâng phục chính là nhân đức của các nhân đức trong đời sống con người. Các Ki-tô hữu được mời gọi sống và thực hành nhân đức này cách trung tín nhất. Đặc biệt, những người sống đời độc thân dâng hiến cần phải quan tâm nhiều hơn đến nhân đức vâng phục. Các nhân đức khác, chẳng hạn như khiết tịnh hay nghèo khó không thể thực hiện được nếu thiếu nhân đức vâng phục. Nhân đức này thường được diễn tả qua việc lắng nghe và thực thi ý định của những người có thẩm quyền với lòng thâm tín rằng, ý của người có thẩm quyền diễn tả thánh ý Thiên Chúa. Chẳng hạn, sự vâng phục của một tu sĩ đối với bề trên của mình không theo nghĩa ‘cá nhân với cá nhân’, nhưng theo nghĩa ‘cá nhân với thẩm quyền hợp pháp’ của Giáo Hội nhằm mục đích xây dựng trật tự, hòa hợp và phát triển của cộng đoàn. Theo Công Đồng Vatican II: “Đức vâng lời trong đời tu trì chẳng những đã không giảm bớt phẩm giá, nhưng còn giúp nhân vị trưởng thành nhờ phát triển tự do của con cái Thiên Chúa” (Perfectae Caritatis 14) hay “Việc noi theo và làm chứng đức ái cùng sự khiêm hạ của Chúa Kitô cần được các môn đệ thực hiện không ngừng; nên Giáo Hội là Mẹ chúng ta vui mừng khi thấy trong lòng mình có nhiều con cái nam nữ muốn theo sát gương Ðấng Cứu Thế và tỏ lộ rõ ràng hơn sự tự diệt của Người. Họ chấp nhận nghèo khó trong tự do của con cái Thiên Chúa và từ bỏ ý riêng: Hơn cả mức đòi buộc của giới luật, họ tự nguyện tùng phục một con người, tùng phục vì Chúa, trong những gì liên hệ tới sự trọn lành, hầu nên giống Chúa Kitô vâng lời cách hoàn toàn hơn” (Lumen Gentium 42). Như vậy, người vâng phục là người thâm tín rằng mình hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa khi biết phục tùng những người được Thiên Chúa chọn gọi để đồng hành và hướng dẫn mình. Vì thế, trong đời sống thánh hiến, nhân đức vâng phục được xem như ‘nhân đức cả’, bao trùm hai nhân đức còn lại là nghèo khó và khiết tịnh.

Đức vâng phục được diễn tả trong gia đình là tế bào của xã hội. Theo thánh Phao-lô, trong đời sống gia đình, người vợ cần vâng phục người chồng: “Tôi muốn anh em biết rằng thủ lãnh của người nam là Đức Ki-tô, thủ lãnh của người nữ là người nam, và thủ lãnh của Đức Ki-tô là Thiên Chúa” (1 Cr 11,3). Thánh nhân cũng viết: “Người làm chồng, hãy yêu thương vợ, như chính Đức Ki-tô yêu thương Hội Thánh và hiến mình vì Hội Thánh” (Ep 5,25). Như vậy, sự vâng phục trong gia đình không phải là sự ‘vâng phục một chiều’, mà là sự ‘vâng phục hỗ tương’ nhằm đem lại bình an, hòa thuận trong gia đình. Do đó, chúng ta có thể hiểu rằng trong đời sống gia đình, vợ và chồng vâng phục lẫn nhau cũng có nghĩa là yêu thương nhau. Giao ước tình yêu giữa vợ và chồng sẽ bị lung lay thậm chí tan vỡ nếu thiếu vắng nhân đức vâng phục. Thánh Phao-lô cũng đề cập đến sự vâng phục của con cái đối với cha mẹ: “Kẻ làm con hãy vâng lời cha mẹ trong mọi sự, vì đó là điều đẹp lòng Chúa” (Cl 3,20). Đến lượt mình, cha mẹ cần quan tâm con cái cách phù hợp và đúng đắn nhất: “Những bậc làm cha mẹ đừng làm cho con cái bực tức, kẻo chúng ngã lòng” (Cl 3,21).

Đức vâng phục cần được diễn tả trong đời sống xã hội bởi vì mỗi người không phải là hữu thể độc lập nhưng là hữu thể tương quan với nhiều người khác. Trong bất cứ hình thức xã hội nào, tất cả mọi người đều được mời gọi vâng phục thẩm quyền chính đáng và hợp pháp, vâng phục lề luật vì lợi ích chung. Một xã hội mà các thành phần không vâng phục thẩm quyền hợp pháp hay lề luật thì xã hội đó sẽ hỗn loạn, thậm chí tan rã. Lời Thiên Chúa trong sách Khôn Ngoan đối với những người có thẩm quyền là: “Hỡi những người cai trị trần gian, hãy suy tưởng ngay lành về Đức Chúa và thành tâm kiếm tìm Người. Ai không thách thức Người, thì được Người cho gặp. Ai tin tưởng vào Người, sẽ được Người tỏ mình cho thấy” (Kn 1,1-2). Thánh Phao-lô khuyên dạy các tín hữu: “Đừng chỉ vâng lời trước mặt, như muốn làm đẹp lòng người ta, nhưng như nô lệ của Đức Ki-tô, đem cả tâm hồn thi hành ý Thiên Chúa. Hãy vui lòng phục vụ, như thể phục vụ Chúa, chứ không phải người ta” (Ep 6,6-7). Trong hành trình dương thế, Đức Giê-su không bao giờ xem thường thẩm quyền hay lề luật xã hội dân sự. Chẳng hạn, những người Pha-ri-sêu sai các thuộc hạ của họ cùng đi với những người thuộc phe Hê-rô-đê đến hỏi Đức Giê-su: “Có được phép nộp thuế cho Xê-da hay không?” (Mt 22,17). Sau khi xem quan tiền và biết được hình ảnh và danh hiệu là của Xê-da, Đức Giê-su nói: “Của Xê-da, trả về Xê-da; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa” (Mt 22,21). Dưới nhãn quan nội dung đức tin Ki-tô Giáo, trong các hình thức vâng phục lề luật, thì vâng phục lề luật Thiên Chúa phải đứng hàng đầu. Đây là hình thức ‘vâng phục tiêu chuẩn’ của các hình thức vâng phục khác (Cv 5,27-32). Thánh Phê-rô khẳng định: “Phải vâng lời Thiên Chúa hơn vâng lời người phàm” (Cv 5,29). Điều đáng để chúng ta quan tâm là tất cả các hình thức lề luật giúp con người phát triển toàn diện và phù hợp với phẩm giá con người trong thế giới thụ tạo đều đến từ Thiên Chúa và phản ánh tình thương của Người.

Những ai theo Đường Vâng Phục của Đức Giê-su thì được mời gọi loan báo Tin Mừng của Người. Tân Ước cho chúng ta nhận thức rằng trong buổi đầu loan báo Tin Mừng, sau khi các môn đệ gặp gỡ Đức Giê-su, nhất là lắng nghe và chứng kiến những việc Người làm, họ đã vâng phục theo lời mời gọi của Người, từ bỏ tất cả, để trở thành những môn đệ của Người. Chẳng hạn, thánh Phê-rô nói với Đức Giê-su: “Vâng lời Thầy, tôi sẽ thả lưới” (Lc 5,5). Trước mẻ cá lạ, thánh nhân sấp mặt xuống đất và nói với Người: “Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi!” (Lc 5,8). Đức Giê-su căn dặn thánh Phê-rô: “Đừng sợ, từ nay anh sẽ là người thu phục người ta” (Lc 5,10). Sự trở lại của thánh Mát-thêu và các môn đệ khác cũng cho chúng ta thấy được sự vâng phục của các ngài đối với Thầy mình là Đức Giê-su. Như vậy, ai muốn trở thành môn đệ và tông đồ trung tín của Đức Giê-su, người đó phải là chứng nhân cho Đường Vâng Phục của Người bằng chính cuộc sống mình.

Chúng ta có thể kết luận rằng vâng phục có nghĩa là lắng nghe và thực thi thánh ý Thiên Chúa và Đường của Đức Giê-su trong hành trình trần thế là Đường Vâng Phục. Người đã kiện toàn thánh ý Đức Chúa Cha với tâm hồn vâng phục: “Lạy Thiên Chúa, này con đây, con đến để thực thi ý Ngài” (Dt 10,7; Tv 40,8-9). Trong hành trình loan báo Tin Mừng, Người nói: “Phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa” (Lc 11,28). Với Đức Giê-su, vâng phục phải là chủ đề quán xuyến tâm hồn con người. ‘Vâng phục hơn của lễ’, sứ điệp ngắn nhưng rất dồi dào ý nghĩa. Đức Giê-su đã kiện toàn sứ điệp đó bằng đời sống vâng phục, hy sinh, dâng hiến. Suy niệm về Biến Cố Đức Giê-su giữa dòng đời, chúng ta nhận thức rằng vâng phục là điều kiện tiên quyết diễn tả căn tính, đời sống và sứ mệnh của người Ki-tô hữu. Hơn nữa, vâng phục Thiên Chúa là khuôn mẫu và nền tảng vững chắc cho các hình thức vâng phục khác của con người. Chúng ta hãy thành tâm học hỏi Đường Vâng Phục của Đức Giê-su và loan báo Đường này cho anh chị em đồng loại. Đặc biệt, trong mọi hoàn cảnh, chúng ta hãy đi theo Đường Vâng Phục của Người hầu diễn tả cách tốt đẹp nhất tương quan giữa mình với Thiên Chúa, với anh chị em và với muôn vật muôn loài trong thế giới thụ tạo này.

Read More
30Tháng Chín
2021

Những đặc điểm của Tình yêu Hôn nhân bền vững

30/09/2021
Anmai
Giáo dục, Tài liệu giáo dục
0

Những đặc điểm của Tình yêu Hôn nhân bền vững

 

Có lẽ phần đông các bạn trẻ Công giáo không lạ gì với bài thánh ca hôn phối có tựa đề “Xin Định Nghĩa Tình Yêu”, của tác giả Cao Huy Hoàng.

Lời của bài hát như sau:[1]

Yêu là chết đi, là đóng đinh, là biết hy sinh cho người mình yêu.

Yêu không là ngó nhau nhưng là ngước cao cùng nhìn về bến mai sau.

Yêu xin đừng dối gian, xin đừng trái ngang, dù lắm lo toan, xin đừng ly tan.

Yêu ta cùng ước giao, dẫu ngàn khổ đau, một lần xin hứa trọn đời thủy chung.

ĐK: Hãy yêu như Giêsu, chết đi cho dương gian, đóng đinh cho người mình yêu mến. Hãy yêu trong an vui, thủy chung trong đau thương, sống trong cuộc đời đầy mến yêu.

Khi ngày tháng qua vẫn thiết tha, dù lắm xót xa, duyên tình bao la.

Khi trong đời đắng cay, vẫn niềm mến say và niềm hạnh phúc ngất ngây.

Xin cho tình sáng lên, cho đời nắng lên, ngày tháng thắm lên khi đời buồn tênh.

Nhưng khi đời tối đen, khi ngày tối đen, một lần xin hứa trọn đời thủy chung.

Bài hát trên đã gợi ý cho chúng ta suy nghĩ về tình yêu trong hôn nhân Ki-tô hữu. Quả thực tình yêu đôi lứa không chỉ là màu sắc rực rỡ như cánh hoa hồng, hay lung linh như hạt kim cương… Trái lại nó nhắc nhở chúng ta rằng để duy trì mãi vẻ đẹp của tình yêu, đôi bạn trong cuộc sống lứa đôi phải chấp nhận “trái đắng” của hôn nhân, nghĩa là phải biết hy sinh, chung thủy, có chí hướng, có trách nhiệm, có thử thách, có khó khăn. Đôi bạn được mời gọi hãy yêu như Giê-su, nghĩa là hãy yêu như Chúa đã yêu.

Đức Giê-su đã tuyên bố: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hi sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15, 13). Chúa đã dạy chúng ta hiểu thế nào là tình yêu Agape và phải thực hành tình yêu ấy ra sao trong đời sống hôn nhân gia đình. Tình yêu ấy là hi sinh tính mạng, là yêu đến cùng (x. Ga 13,1). Chính Ngài đã làm gương cho chúng ta trước. Vì yêu và vì hạnh phúc của chúng ta, Ngài đã hi sinh đến chết (x. Ga 10, 17 ; Pl 2, 8). Đó là mẫu mực của tình yêu đích thực, tình yêu có sức mạnh cứu chuộc, thăng hoa và biến đổi. Vậy khi cam kết giao ước hôn nhân, đôi bạn sẽ dõi theo tình yêu của Chúa Ki-tô mà sẵn sàng chấp nhận một tình thương của người hi sinh mạng sống mình cho bạn.

Trong cuộc gặp gỡ vào chiều ngày 14-9-2021 vừa qua với giới trẻ tại sân vận động Lokomotiva ở Košice nhân chuyến tông du tại đất nước Slovakia, ĐTC Phan-xi-cô đã có bài huấn dụ tập trung vào việc trả lời các câu hỏi mà các bạn trẻ đưa ra, với nội dung chủ yếu liên quan đến vấn đề tình yêu lứa đôi. Mở đầu ngài nói:

“Cha bắt đầu với câu hỏi của các con về tình yêu lứa đôi. Tình yêu là giấc mơ lớn nhất của tất cả chúng ta trong cuộc sống, nhưng đây không phải là giấc mơ rẻ tiền. Giống như tất cả những điều tuyệt vời trong cuộc sống, tình yêu rất đẹp, nhưng không dễ dàng. Tình yêu là giấc mơ, nhưng để giải thích nó thì không dễ chút nào. Cha lấy lại một câu của các con. Các con đã nói rằng: “Chúng con đã bắt đầu cảm nhận món quà này với đôi mắt hoàn toàn mới”. Các con nói đúng: chúng ta cần phải có đôi mắt mới, đôi mắt không bị vẻ bề ngoài đánh lừa. Các con thân mến, chúng ta đừng tầm thường hóa tình yêu, bởi vì tình yêu không chỉ đơn giản là một cảm xúc hay cảm giác, mặc dù nó có thể bắt đầu theo cách đó. Tình yêu không phải là có tất cả mọi thứ và ngay lập tức, nó không đáp ứng luận lý sử dụng và vứt bỏ. Tình yêu là sự chung thủy, là món quà và trách nhiệm.”

Tiếp theo bài huấn dụ, Đức Thánh Cha đã nhận xét rằng: “Nếu các con nhớ lại một số câu chuyện tuyệt vời mà các con đã từng đọc trong tiểu thuyết, hoặc xem trong những bộ phim khó quên hoặc nghe kể một số câu chuyện cảm động, thì các con sẽ thấy rằng luôn có hai điều đi cùng nhau: một là tình yêu, hai là phiêu lưu, tính anh hùng. Để làm cho cuộc sống của chúng ta trở nên tuyệt vời, chúng ta cần tình yêu và sự anh hùng. Nếu chúng ta nhìn lên Chúa Giêsu trên Thánh giá, chúng ta sẽ thấy cả tình yêu vô biên và lòng can đảm của Người trong việc trao ban cuộc sống đến cùng, không đo lường được. Trước mắt chúng ta là chân phước Anna Kolesárová, một nữ anh hùng của tình yêu. Ngài nói với chúng ta hãy nhắm đến những mục tiêu cao. Xin các con đừng để những tháng ngày của các con trôi qua như tiểu thuyết truyền hình nhiều tập.”

Quả vậy, “Tình yêu không phải chỉ là một cảm xúc rạo rực của thân xác; Cũng không phải là một lối yêu nhẹ dạ, hời hợt, lãng mạn hay chỉ chơi qua đường; Tình yêu không phải chỉ ở thỏa mãn của đam mê, si tình, bất chấp đạo nghĩa; Tình yêu không phải chỉ là tình dục, hưởng thụ như một dụng cụ… Con người đã lạm dụng tính dục – nhân danh tình yêu ngay cả khi không yêu thương chút nào.”[2] Trái lại, tình yêu trong hôn nhân rất đa dạng và nhiều ý nghĩa, đó là sự chia sẻ, trao ban, quên mình, có trách nhiệm, chung thủy, hiệp nhất, tin tưởng, tôn trọng nhau, dâng hiến, vui thú, sinh con, cùng nhìn một hướng vv.

Sau đây, chúng ta sẽ liệt kê và phân tích một số đặc điểm cơ bản của tình yêu trong một cuộc hôn nhân được coi là bền vững và thành công. Ta sẽ bàn về bảy đặc điểm sau: Tình yêu tự nguyện, tình yêu thấu cảm, tình yêu đồng thuận, tình yêu tha thứ, tình yêu trách nhiệm, tình yêu tin tưởng và tình yêu chung thủy.

1.- Tình yêu tự nguyện

Chúng ta đều biết rằng, sự ưng thuận tự do là điều kiện tất yếu của hôn nhân Ki-tô hữu. Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo dạy rằng:

“Hôn ước được ký kết giữa người nam và người nữ, cả hai đã được rửa tội và tự do để kết hôn, và họ tự nguyện bày tỏ sự ưng thuận của mình. “Tự do” nghĩa là: – không bị ép buộc; – không bị ngăn trở theo luật tự nhiên hay giáo luật.” (số 1625)

“Hội Thánh coi việc trao đổi sự ưng thuận giữa hai người phối ngẫu như là yếu tố cần thiết “làm nên hôn nhân.” Nếu thiếu sự ưng thuận, thì không có hôn nhân.” (số 1626)

“Sự ưng thuận là một “hành vi nhân linh, qua đó hai người phối ngẫu trao thân cho nhau và đón nhận nhau”: “Anh nhận em làm vợ anh…”; “Em nhận anh làm chồng em…” Sự ưng thuận này kết hợp hai người phối ngẫu với nhau, đạt đến sự hoàn hợp (consummationem) khi hai người “trở nên một xác thịt.” (số 1627)

“Sự ưng thuận phải là một hành vi ý chí của mỗi người phối ngẫu, tự do không bị tác động vì bạo lực hay vì sợ hãi nghiêm trọng từ bên ngoài. Không có thế lực nhân loại nào có thể thay thế sự ưng thuận đó. Nếu thiếu sự tự do này, thì hôn nhân không thành sự.” (số 1628)

Dựa vào kinh nghiệm thực tế, ta thấy rằng các cuộc hôn nhân không xây dựng trên tình yêu tự nguyện sẽ không thể bền vững và hạnh phúc được. Có thể gọi các cuộc hôn nhân này là “hôn nhân giả”, sai mục đích và không chân thực. Chẳng hạn, hôn nhân vì tiền, vì lợi, vì danh, vì một ý đồ cá nhân hay vì ham mê xác thịt. Cũng có loại hôn nhân vì áp lực gia đình, vì lỡ “ăn cơm trước kẻng”, vì chiều theo sự xúi giục của người khác, vì ngoại hình, vì sắc đẹp, vì muốn tìm một nửa để thoát khỏi cô đơn, buồn chán vv…Nói tóm lại, có muôn ngàn lý do khiến người ta mất tự do và sự thoải mái chọn lựa cuộc hôn nhân của mình.

Các chuyên gia về hôn nhân gia đình đều cho rằng tình yêu tự nguyện sẽ là chiếc khóa kỳ diệu giúp cho đôi bạn gắn bó và trung thành với nhau suốt đời. Họ tự nguyện yêu nhau, tự nguyện kết hôn với nhau, tự nguyện sống chung trong một mái ấm, tự nguyện xây dựng cuộc hôn nhân hạnh phúc, tự nguyện chia sẻ trách nhiệm gia đình, tự nguyện chăm sóc và bảo vệ nhau suốt đời vv. Chính tình yêu tự nguyện sẽ luôn là yếu tố hàng đầu giúp cho đời sống lứa đôi hạnh phúc lâu dài.

2.- Tình yêu thấu cảm

Muốn cho cuộc hôn nhân bền vững, đôi bạn phải thể hiện tình yêu không phải bằng những cảm xúc hời hợt, nông cạn bên ngoài, trái lại phải mở rộng con tim, khối óc, sức lực cũng như mọi khả năng mình để có thể yêu bạn đời một cách trọn vẹn, yêu “hết lòng, hết sức, hết trí khôn”. Tình yêu như vậy khiến chúng ta liên tưởng tới điều mà các nhà tâm lý học gọi là tình yêu thấu cảm. Người ta đã định nghĩa ngắn về thấu cảm như sau: “Thấu cảm là khả năng hiểu được cảm xúc mà một ai đó đang trải qua. Nói một cách ngắn gọn, nó giúp đặt ta vào vị thế của người khác và cảm thấy những gì mà người kia đang trải qua”.[3]

Trong một bài báo có tựa đề “Tăng cường sự thấu cảm trong hôn nhân”, tác giả đã viết như sau: “Thấu cảm là yếu tố cần thiết cho mọi mối quan hệ tích cực, đặc biệt là trong đời sống hôn nhân. Khi thấu cảm, vợ chồng sẽ hòa hợp, ít xảy ra mâu thuẫn và có thể giữ bình tĩnh tốt hơn trong lúc tranh cãi. Thấu cảm có thể diễn tả theo nhiều cách. Đó là khả năng hấp thu những trải nghiệm và cảm xúc của bạn đời vào tâm trí và cơ thể của bạn. Về cơ bản, bạn biết đặt bản thân vào vị trí bạn đời và cảm nhận cô/anh ấy đang nghĩ gì…”[4]

Như vậy, ta thấy rằng tình yêu thấu cảm trong hôn nhân sẽ giúp đôi bạn hiểu nhau một cách sâu xa tận đáy lòng, giúp mỗi người biết đặt mình vào vị trí của bạn đời để nhìn và hiểu sự việc theo cách của họ để có sự đồng cảm và nâng đỡ. Người ta cho rằng, nếu một người trong cuộc hôn nhân từ chối nhìn nhận mọi thứ từ góc độ của người kia, họ có thể sẽ gặp phải những “vấn đề rắc rối” trong hôn nhân. Không có hai người nào có cùng suy nghĩ hoàn toàn giống nhau, và không có hai người có cùng những trải nghiệm như nhau. Cả hai người trong một mối quan hệ đều mang lại những ý tưởng, kinh nghiệm sống và cuộc đấu tranh của riêng họ. Nếu không dành thời gian để cố gắng liên hệ với cảm xúc và quan điểm của nhau, những người trong mối quan hệ hôn nhân có thể sẽ cảm thấy không được yêu thương và không được quan tâm.

3.- Tình yêu đồng thuận

Ông bà ta thường nói “Thuận vợ thuận chồng tát bể Đông cũng cạn”. Điều đó cho thấy rằng trong hôn nhân, tình yêu đồng thuận có một sức mạnh kỳ diệu giúp đôi bạn giải quyết tốt đẹp nhiều vấn đề hệ trọng trong cuộc sống. Tuy nhiên phải thừa nhận rằng trong hôn nhân tìm được tiếng nói chung không phải là chuyện dễ dàng, bởi vì đơn giản là đôi bạn là hai cá nhân khác biệt nhau mọi đàng, bá nhân bá tánh mà! Kinh nghiệm cho thấy, yêu nhau đã khó, cưới nhau lại càng khó hơn, nhất là sống chung lâu dài với nhau một cách êm ấm lại càng khó hơn gấp bội lần. Một danh nhân đã nói: “Đám cưới nào cũng hạnh phúc cả, chỉ có cuộc sống chung sau đó là có nhiều rắc rối” (Raymond Hull).

Nhiều đôi bạn khi ra tòa xin ly hôn thường nêu lý do là họ không hợp nhau. Con số này chiếm tỷ lệ khá lớn. Lý do chính yếu khiến vợ chồng không hòa hợp được với nhau đó là vì giữa họ thiếu tình yêu đồng thuận. Tình yêu đó dù không hóa giải mọi khác biệt giữa đôi bạn nhưng có thể giúp họ vượt qua tính ích kỷ, vượt qua bệnh tự ái, vượt qua những suy nghĩ và thái độ chủ quan để tìm ra tiếng nói chung thấu tình đạt lý nhất. Như người xưa thường nói “Yêu nhau trăm sự chẳng nề / Một trăm chỗ lệch cũng kê cho bằng”. Tình yêu chân chính và trưởng thành sẽ giúp đôi bạn vượt qua những khác biệt của nhau để có tiếng nói chung, giúp nhau giải quyết tốt những việc quan trọng trong gia đình.

Để phát huy tình yêu đồng thuận giữa hai vợ chồng, không thể không kể đến hai yếu tố sau: Đó là sự tôn trọng và lắng nghe nhau. Tác giả cuốn “Những quy tắc trong đời sống vợ chồng”, khi bàn về vấn đề lắng nghe, tôn trọng ý kiến của nhau để cùng tìm ra tiếng nói chung, đã viết như sau: “Trong cuộc sống hôn nhân, không thể tránh khỏi xảy ra xung đột trong quan điểm, suy nghĩ. Để giải quyết xung đột này và cùng đi đến giải pháp chung hợp lý cho cả hai không khó, nó chỉ đòi hỏi sự thông cảm, tế nhị và ý thức từ hai phía. Có thể bạn là người rất có cá tính, có lập trường, có quan điểm riêng và bạn có những lập luận chặt chẽ, hợp lý để bảo vệ quan điểm, ý kiến của mình. Điều đó không sai, không phải là không tốt. Nhưng trong đời sống vợ chồng, bạn cần linh động và nên nhìn vấn đề từ nhiều khía cạnh, thậm chí là đặt mình vào vị trí của bạn đời để nhìn vấn đề sao cho hợp lý nhất”.[5]

4.- Tình yêu tha thứ

Có thể nói, tất cả những ai đã trải qua đời sống hôn nhân gia đình đều có chung một nhận định này là, tha thứ là một việc làm khó khăn nhất mà họ phải thực thi khi xảy ra bất đồng giữa hai vợ chồng. Chính vì mức độ khó khăn đặc biệt đó mà nhiều cặp đôi đã phải ly thân hoặc ly hôn. Nguyên nhân chủ yếu là vì họ không thể tha thứ cho bạn đời sau cãi vã mâu thuẫn. Nhiều người đã không ngần ngại nói rằng càng yêu, càng gắn bó với nhau thì khó tha thứ cho nhau.

Thực vậy, tha thứ luôn là thử thách khó khăn nhất của hôn nhân. Tha thứ được mô tả là hình thức tối thượng của tình yêu, bởi nó kiểm tra độ sâu sắc, sức mạnh tình cảm của một cặp đôi. Sự tha thứ được ví như một nghệ thuật có thể khiến ai đó phải mất cả đời để có thể thành thạo, một điều mà con người không ngừng học hỏi trong cả cuộc đời mình. Nữ tiến sĩ Nathalie Sommer, một chuyên gia về quan hệ hôn nhân của Đại học Yale, Mỹ, nhận định rằng tha thứ là một trong những khía cạnh quan trọng và khó khăn nhất của một mối quan hệ. Tuy nhiên, nếu chúng ta muốn có một mối quan hệ thực sự sâu sắc, mỗi người buộc phải học cách tha thứ.[6] Tha thứ trong cuộc sống vợ chồng luôn là một thách đố khiến chúng ta phải luôn tỉnh táo, thông minh và đầy bản lãnh để học tập và thực hành nghệ thuật này mỗi khi xảy ra xung đột mâu thuẫn.

Đối với Ki-tô hữu, tha thứ là lệnh truyền của Chúa. Nếu chúng ta biết tha thứ cho nhau, thì đó là chúng ta đang thực hành điều mà Chúa mong đợi nơi mỗi gia đình, nơi mỗi đôi vợ chồng. Chúng ta tha thứ để được-thứ-tha. Thánh Phao-lô đã khuyên nhủ tín hữu như sau: “Anh em là những người được Thiên Chúa tuyển lựa, hiến thánh và yêu thương. Vì thế, anh em hãy có lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hòa và nhẫn nại. Hãy chịu đựng và tha thứ cho nhau, nếu trong anh em người này có điều gì phải trách móc người kia. Chúa đã tha thứ cho anh em, thì anh em cũng vậy, anh em phải tha thứ cho nhau” (Cl 3, 12-13).

Đức thánh GH Gio-an Phao-lô II trong Tông huấn về những bổn phận của gia đình Kitô hữu đã khuyên nhủ chúng ta như sau: “Chỉ có một tinh thần hi sinh cao cả mới giúp gìn giữ được và kiện toàn được sự hiệp thông gia đình. Thực vậy, sự hiệp thông này đòi hỏi mọi người và mỗi người biết quảng đại và mau mắn mở lòng ra để thông cảm, bao dung, tha thứ cho nhau, và hòa giải với nhau. Không có gia đình nào mà không biết rằng sự ích kỷ, những bất hòa, những căng thẳng, những xung đột đã làm hại cho sự hiệp thông gia đình biết chừng nào, và đôi khi còn có thể làm tiêu tan sự hiệp thông ấy: chính từ đó mà xuất phát muôn vàn hình thức chia rẽ khác nhau trong đời sống gia đình” (số 21).

Thánh Phao-lô luôn khuyên nhủ chúng ta sống bí tích và mầu nhiệm hôn nhân dựa trên mẫu mực tình yêu và mối tương quan gắn bó giữa Chúa Ki-tô và Hội thánh. Đức Ki-tô đã yêu thương Hội thánh, đã hiến mình vì Hội thánh, đã chăm sóc, nuôi dưỡng Hội thánh, đã hy sinh cứu chuộc Hội thánh thế nào thì vợ chồng cũng phải sống và đối xử với nhau như vậy. Một cách cụ thể, thiết thực hơn, tình yêu trong hôn nhân Ki-tô hữu cũng phải phỏng theo lòng mến Ki-tô giáo, là điều mà thánh Phao-lô đã nhắc nhở trong thư 1Cor: “Lòng mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật. Lòng mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, chịu đựng tất cả…” (x. 1Cor 13, 4-7)

5.- Tình yêu trách nhiệm

Ông bà ta thường nói lập gia đình, kết hôn, lấy vợ lấy chồng là đi “gánh vác”. Điều đó có nghĩa là khi bước vào đời sống hôn nhân, đôi bạn trở nên hai người bạn đời, bạn đường của nhau, cùng liên kết trong một cuộc sống, cùng chia sẻ một số phận và đồng trách nhiệm với nhau về mọi vấn đề trong gia đình. Tinh thần trách nhiệm đòi hỏi cả hai người phải nỗ lực hy sinh cái “Tôi” để lo cho cái “Chúng ta”. Như một danh nhân đã khẳng định: “Hôn nhân chia nửa quyền lợi và gấp đôi nghĩa vụ” (Arthur Schopenhauer). Nhận định này rất đúng, vì khi kết hôn đôi bạn phải hy sinh những lợi ích riêng tư cá nhân để chu toàn bổn phận làm vợ làm chồng, bổn phận làm cha làm mẹ trong gia đình. Tinh thần trách nhiệm trong hôn nhân nhắc chúng ta đến hai việc, đó là sự quan tâm chăm sóc giữa hai bạn đời với nhau, hai là sự cộng tác tích cực của hai vợ chồng trong việc thực hiện bổn phận gia đình.

Sự chăm sóc và quan tâm đến nhau. Đây là dấu chỉ về một tình yêu đích thực, trưởng thành và tinh tế, như có người đã nói: “Ai thích hoa thì tìm cách ngắt hoa. Nhưng người yêu hoa thì tìm cách chăm sóc hoa”. Bản thân vợ chồng phải được chăm sóc, vun xới từng giờ, từng phút, từ chuyện nhỏ đến chuyện lớn, những lúc vui sướng cũng như lúc gian nan. Sự chăm sóc đôi khi đơn giản, nhỏ bé nhưng lại có vai trò to lớn trong cuộc sống vợ chồng. Sự quan tâm không chỉ thể hiện bằng lời nói mà còn qua những cử chỉ, hành động thiết thực, cụ thể. Chẳng hạn, hãy thường xuyên nói chuyện với nhau, lắng nghe nhau tâm sự, khen ngợi nhau khi cần thiết, chia vui sẻ buồn với nhau, nghĩ đến nhau những dịp đặc biệt như sinh nhật, bổn mạng, ngày kết hôn…Quả thực, sự quan tâm đến nhau được coi như chất keo giúp gắn kết hai bạn đời bền chặt mãi mãi.

Đồng cam cộng khổ, cùng chia sẻ trách nhiệm chung trong gia đình. Ngày nay, nhiều bạn trẻ tỏ ra thất vọng rất lớn về bạn đời của mình chỉ vì người ấy không quan tâm đến những việc chung của gia đình. Nhiều bà vợ than phiền các ông chồng lười biếng và ỷ lại vào sự đảm đang của vợ mà bỏ bê việc gia đình. Điều đó khiến người vợ mệt mỏi và thất vọng vì gia đình là của chung, hôn nhân là do hai người cùng kiến tạo và niềm hạnh phúc là do hai người cùng chia sẻ. Trên thực tế, ta thường nghe vợ than chồng mê game mà bỏ bê gia đình. Trong khi ấy, chồng phàn nàn vợ ghiền mạng xã hội hơn là chồng con. Điều đó dễ dẫn đến cảnh xào xáo bất an trong gia đình.

Trong cuốn “Những quy tắc trong đời sống vợ chồng”, tác giả đã đưa ra 3 cái “cùng” đối với đôi vợ chồng, đó là: Cùng nhau làm việc nhà, cùng nhau chăm sóc con cái, cùng nhau quyết định mọi việc trong gia đình. Tác giả đã phân tích như sau:

“Thật sai lầm khi người vợ ôm đồm hết mọi thứ và để người chồng đi làm về ‘ngồi chơi xơi nước’. Thứ nhất, vợ tập cho chồng thói quen ỷ lại, lười biếng và thiếu trách nhiệm. Thứ hai, vợ đang tự biến mình thành người giúp việc trong nhà, chứ không còn là vợ. Cuối cùng về lâu dài, việc này ảnh hưởng không nhỏ đến tình cảm của vợ chồng đôi bạn. Hôn nhân là sự hợp tác, chia sẻ, và mọi trách nhiệm đều phải được phân công với nhau.

“Ngoài ra, là vợ chồng, đôi bạn nên trao đổi, thống nhất với nhau để đưa ra quyết định cho mọi việc dù lớn hay nhỏ trong gia đình. Có nhiều gia đình phần lớn mọi việc do chồng hay do vợ quyết định, người còn lại chỉ biết lắng nghe theo và ít khi tham gia ý kiến. Đó không phải là biểu hiện của một cuộc hôn nhân hạnh phúc. Nó thể hiện sự thiếu cân bằng về trọng lượng lời nói, vị thế của nhau trong hôn nhân. Để hôn nhân bền vững và hạnh phúc, một nguyên tắc cần tuân thủ nghiêm ngặt, đó là mọi việc quan trọng trong gia đình, cả hai vợ chồng đều phải bàn bạc, nêu ra ý kiến của mình để có quyết định thống nhất”.[7]

Có thể khẳng định là sự thành công và bền vững của cuộc hôn nhân không do tài năng của đôi bạn mà chính là do sự đồng tâm hiệp lực của cả hai người trong gia đình.

6.- Tình yêu tin tưởng

Người ta thường nói thứ đắt giá hơn vàng hay kim cương đó chính là lòng tin. Những thứ khác có thể mua được còn lòng tin thì không. Trong các mối quan hệ xã hội, đặc biệt là giữa hai vợ chồng, lòng tin hay niềm tin giữ một vị trí cực kỳ quan trọng. Nếu đôi bạn vì một lý do nào đó không còn tin nhau nữa thì cuộc hôn nhân có nguy cơ đổ vỡ. Ngược lại, một khi đôi bạn biết đặt hết niềm tin vào nhau, thì tình yêu sẽ luôn tươi đẹp và cuộc hôn nhân có lý do bền vững lâu dài.

Tác giả cuốn “Những quy tắc trong đời sống vợ chồng” đã bàn về một quy tắc quan trọng, đó là vợ chồng hãy tin tưởng nhau. Tác giả viết như sau: “Niềm tin là điều cơ bản nhất trong mọi mối quan hệ, đặc biệt là quan hệ hôn nhân. Nó như thước đo sức mạnh cũng như mức độ bền chặt trong hôn nhân. Khi ta cảm thấy sự an toàn, tính tích cực về bạn đời, thì tức là niềm tin của ta dành cho bạn đời càng lớn. Tin tưởng nhau là yếu tố cần thiết của mối quan hệ hai người. Ta có thể xem đây là một sự đầu tư dài hạn mà phần lãi sẽ lớn dần theo thời gian. Khi đôi bạn tin tưởng nhau, cuộc sống sẽ trở nên tuyệt vời hơn bao giờ hết, sự căng thẳng sẽ không thường trực trong đời sống hằng ngày của họ. Không gì có thể tệ hơn một cuộc hôn nhân mà vợ chồng không tin tưởng vào nhau.”[8]

Dựa vào thực tế, ta thấy hầu hết các đôi vợ chồng mâu thuẫn, bất đồng, đay nghiến nhau chỉ vì nảy sinh mối nghi ngờ nhau từ những chuyện thường nhật như tiền bạc, quan hệ bạn bè đồng nghiệp, chuyện đi sớm về khuya, những thay đổi bất thường, cho đến chuyện bồ bịch, ngoại tình này nọ vv…Những sự việc này khiến cho vợ chồng nghi ngờ sau, từ chuyện lớn đến việc nhỏ, từ ngày này qua ngày khác, khiến cho mối quan hệ hai bạn luôn căng thẳng và cuộc sống gia đình không lúc nào được bình an, êm ấm.

Các chuyên gia về tình yêu hôn nhân cho rằng, niềm tin là điều kiện tiên quyết của tình yêu. Trong cuộc sống này, để thân thiết với một người, thì niềm tin phải đến từ cả hai phía, để hết lòng yêu thương một người, cũng cần niềm tin đến từ hai phía. Niềm tin, là một thứ giúp sinh mệnh của tình yêu tiếp tục tồn tại. Nếu đã yêu, thì hãy tin tưởng. Đừng quá đặt nặng lòng nghi ngờ, sự nghi ngờ cũng rất mỏi mệt. Hãy mở lòng tin tưởng nhau, điều đó không chỉ khiến lòng ta dễ chịu, mà cũng khiến tình yêu bền vững hơn.

7.- Tình yêu chung thủy

Ca dao VN có câu: “Thương nhau tạc một chữ tình / Trăm năm thề quyết bạn mình có nhau”. Nếu đôi bạn mong ước cuộc hôn nhân của mình đạt được điều mà người ta thường cầu chúc “Trăm năm hạnh phúc”, thì điều quan trọng là phải luôn gìn giữ và nâng niu, đó là lòng chung thủy. Đã nói yêu thực tình thì phải giữ lời hứa thủy chung với nhau. Chúng ta hãy nhớ lại lời tuyên hứa khi cử hành Bí tích Hôn phối: “Anh/ Em là … nhận anh/ em … làm vợ của anh/ em, và hứa giữ lòng chung thủy với em, khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi mạnh khỏe cũng như lúc đau yếu, để yêu thương và tôn trọng em mọi ngày suốt đời anh”. Quả thực, một tình yêu chân chính, tự nguyện, có trách nhiệm bao giờ cũng bao hàm đặc tính của sự chung thủy, bất khả phân ly.

LM Nguyễn Hữu Thy, trong cuốn “Những suy tư đúng đắn về Hôn nhân và Gia đình Công Giáo”, đã nêu lên ba yếu tố quan trọng nhất mà một cuộc sống hôn nhân Công Giáo cần phải có để bảo đảm được sự tồn tại và hạnh phúc của mình. Đó là tình yêu, sự chung thủy và phép lành của Thiên Chúa. Về sự chung thủy, tác giả viết như sau:[9]

“Lời thề hứa hoàn toàn tự nguyện của hôn nhân là một cam kết bó buộc và bất khả tháo gỡ đối với các đôi vợ chồng. Tính chất đặc thù này của lời thề hứa hôn nhân hoàn toàn không phải là một gánh nặng bất khả kham, nhưng là một phương tiện hữu hiệu giúp cho các đôi vợ chồng rèn luyện và thăng tiến được chính con người mình cũng như bảo đảm cho cuộc sống hôn nhân của họ được bền vững trước các sóng gió cuộc đời. Chính nữ triết gia Hannah Arendt đã nhận định: Nếu không bị bó buộc phải thực thi các lời đã hứa, ta sẽ không khi nào duy trì được các căn tính của ta và bị giằng co xâu xé bởi đủ thứ mâu thuẫn…”

Ở đoạn kết thúc phần nói về sự chung thủy trong hôn nhân, tác giả nhấn mạnh như sau: “Sự chung thủy hôn nhân không chỉ giới hạn trong phạm vi sự chung thủy về tính dục, nhưng còn bao hàm trong hành động cụ thể của bản thân mỗi người nữa, đó là họ phải luôn công khai bày tỏ một cách dứt khoát: Tôi thuộc về vợ/ chồng tôi. Sự chung thủy hôn nhân đòi tôi phải thực sự tôn trọng vợ/ chồng tôi. Sự chung thủy hôn nhân đòi tôi phải quan tâm tới điều chính đáng mà vợ/ chồng tôi cần tới và mong ước. Sự chung thủy hôn nhân đòi hỏi phải luôn biết tận tâm an ủi và nâng đỡ người vợ/ chồng của mình. Sự chung thủy hôn nhân đòi hỏi phải luôn biết cầu nguyện cho nhau và biết tín thác cuộc sống lứa đôi của mình cho sự quan phòng đầy yêu thương và phép lành của Cha trên trời” ./.

Aug. Trần Cao Khải

[1] Xin Dinh Nghia Tinh Yeu (cadoan.net)

[2] Tình yêu trong đời sống hôn nhân (songtinmungtinhyeu.org)

[3] Thấu cảm (Empathy) là gì? – Exploring Psychology – Khám Phá Tâm Lý Học (trangtamly.blog)

[4] Tăng cường sự thấu cảm trong hôn nhân (doanhnhansaigon.vn)

[5] Alpha Books – Bài đd – NXB LĐ-XH năm 2018 trang 21

[6] Tha thứ – thử thách khó khăn nhất của hôn nhân – VnExpress Đời sống

[7] Alpha Books biên soạn – Những quy tắc trong đời sống vợ chồng – NXB Lao động Xã Hội năm 2018 trang 39 và 44

[8] Alpha Books biên soạn – Những quy tắc trong đời sống vợ chồng – NXB Lao động Xã Hội năm 2018 trang 84

[9] LM Nguyễn Hữu Thy –  Những suy tư đúng đắn về Hôn nhân và Gia đình Công Giáo – TTMV CG VN Gp Trier CHLB Đức năm 2012 trang 90-92

Read More
30Tháng Chín
2021

Đã đến lúc các chủng viện cần nhìn lại

30/09/2021
Anmai
Giáo dục, Tài liệu giáo dục
0

Đã đến lúc các chủng viện cần nhìn lại

 

Chúng ta cần các chủng viện vì đó là nơi đào tạo các thế hệ linh mục mới, để họ trở thành những người “lãnh đạo đầy tớ” có thể làm mục vụ – chứ không phải cai trị – các tín hữu.

Giáo hội Công giáo Úc đã đạt đến điểm quan trọng trong hành trình của mình khi cần phải tái tạo lại toàn bộ Giáo hội địa phương. Các phát hiện về lạm dụng tình dục trẻ em trong Giáo Hội là chất xúc tác chính. Điều này được ghi lại trong Báo cáo cuối kỳ của Ủy ban Hoàng gia về Các ứng phó của thể chế đối với lạm dụng tình dục trẻ em (Final Report of the Royal Commission into Institutional Responses to Child Sexual Abuse).

Báo cáo này đã xác định chủ nghĩa giáo sĩ (clericalism) là yếu tố góp phần đáng kể vào việc lạm dụng ở các cơ sở tôn giáo trên toàn nước Úc. Chủ nghĩa giáo sĩ bắt nguồn từ niềm tin mang tính thần học rằng giáo sĩ khác với giáo dân vì giáo sĩ đã trải qua một “thay đổi bản thể” khi thụ phong (một sự thay đổi về bản chất con người của họ khi lãnh nhận bí tích Truyền chức thánh). Chủ nghĩa này còn đưa ra quan điểm rằng không ai có quyền được thách thức các giáo sĩ.

Cũng  theo bảng báo cáo, văn hóa giáo sĩ trị đang gia tăng trong các chủng viện ở Úc. Một cách cụ thể, họ quan niệm rằng Chủ nghĩa giáo sĩ phải là lý tưởng của chức tư tế, hay nói rộng ra, phải là lý tưởng của Giáo Hội Công Giáo. Chủ nghĩa giáo sĩ gắn liền với cảm tưởng có được quyền hành, ưu thế lớn và được tách riêng, hay ngay cả lạm dụng quyền lực.  Một người mắc chứng “giáo sĩ trị”  tự coi mình là đặc biệt, vượt trội hơn những người khác và đáng được tôn trọng hơn. Điều này có thể dẫn đến kiêu ngạo và coi thường người khác. Giáo dân cũng có thể mắc lỗi “giáo sĩ trị” nếu họ ủng hộ thái độ này.

Đầu tiên, việc đào tạo linh mục được diễn ra trong môi trường “giáo sĩ” tách biệt, mà theo báo cáo, có khả năng có tác động bất lợi đối với sự trưởng thành về tâm lý của các chủng sinh và việc này cũng làm tăng nguy cơ lạm dụng tình dục trẻ em. Do đó, một trong các khuyến nghị chính của Ủy ban Hoàng gia được đề cập cụ thể là vấn đề đào tạo các linh mục trong các chủng viện cần được cải cách. Theo đó, tất cả các chủng viện, học viện Công giáo ở Úc nên xem xét và sửa đổi các tiêu chuẩn và văn bản liên quan đến việc đào tạo linh mục. Điều quan trọng là Hội đồng đã đề cập đến các vấn đề của Chủ nghĩa giáo sĩ trong quá trình đào tạo mục vụ. Rất may, ở một mức độ nào đó, các nhà lãnh đạo Giáo hội đã đồng ý về sự cần thiết phải cải tổ.

Đề cập đến những thay đổi về văn hóa và cấu trúc mà Hội đồng có thể làm trong Giáo hội, Chủ tịch Hội đồng Giám mục Công giáo Úc, Đức Tổng Giám mục Mark Coleridge, nói rằng: “Đây không phải là lúc để Giáo Hội treo những tấm biển nói rằng ‘mọi việc bình thường’. “Cải cách” môi trường giáo sĩ “đòi hỏi phải nhìn nhận tất cả các khía cạnh của quá trình hình thành với một con mắt biết phê phán. Điều này nghe có vẻ hợp lý,bởi vì khi một nhóm người được đưa đến một nơi dành riêng và được chú ý đặc biệt trong các lớp học nhỏ với những người khác, cảm giác tách biệt có thể xảy ra.”

Điều tương tự cũng áp dụng cho những thanh niên được phép mặc áo dòng và đeo cổ côn trước khi bước vào đời sống tu trì. Việc đánh giá bản thân một cách “khác biệt” là hoàn toàn dễ hiểu. Câu hỏi hợp lý đặt ra là: nếu chúng ta đang cố gắng loại bỏ Chủ nghĩa giáo sĩ khỏi Giáo Hội của chúng ta và khỏi các chương trình đào tạo linh mục tương lai, tại sao chúng ta vẫn cố chấp để các chủng viện tuân theo một mô hình đã tạo ra những kết quả có vấn đề? Giáo Hội phải tìm ra những cách khác để đào tạochủng sinh cho nhiệm vụ làm linhmục giáo xứ.

Rốt cuộc, Chúa Giêsu chưa bao giờ gửi các môn đệ của mình đến chủng viện. Chúa Giêsu giới thiệu cho họ những giá trị của Nước Trời không phải trong một tòa nhà, mà là “trên đường”.

Trong hai thế kỷ đầu tiên, không rõ làm thế nào mà người ta được chọn để cử hành Thánh Lễ. Nhưng khi các dòng tu được thành lập, bắt đầu từ Thánh Bênêdictô, các tu viện có tiêu chí riêng của họ. Những người không sống trong tu viện, tức là các ứng viên của giáo phận, đã đi theo nhiều con đường khác nhau để được thụ phong tùy thuộc vào giám mục địa phương. Cần lưu ý rằng trong lịch sử Giáo Hội, các chủng viện chỉ mới phát triển tương đối gần đây.

Chính Công đồng Trentô (1545-63) đã quyết định một quy trình nghiêm ngặt trong nhiều năm học tập tại một địa điểm biệt lập duy nhất, để đảm bảo các linh mục được đào tạo thích hợp. Các chủng sinh bị tách khỏi gia đình và cộng đồng của họ, sau đó được đưa vào một trung tâm nghiên cứu tu đức và thần học.

“Không phải ai đó ở trên cộng đồng, mà là một thành viên trong cộng đồng.” Tại sao mô hình đào tạo này lại hấp dẫn? Nó cung cấp khả năng đọc viết và một nền giáo dục vững chắc cho các ứng viên và là nơi mà những người nam có thể học tập với điều kiện tiếp cận các cơ sở vật chất, bất kể xuất thân. Nó cung cấp chỗ ở để việc đào tạo có thể được tiếp nối liên tục và được giám sát.

Hệ thống các chủng viện đã sản sinh ra một số cá nhân xuất sắc như Thánh Gioan Vianney, tấm gương của ngài đã dẫn đến sự biến đổi triệt để của cộng đoàn mà ngài phục vụ. Tuy nhiên, chủ nghĩa giáo sĩ được phép phát triển bên trong Giáo Hội qua nhiều thế kỷ, điều này đã che đi nhiều khía cạnh tích cực của việc đào tạo và thực hành chức thánh. Nhưng ta không được quy chụp điều này riêng cho những người được đào tạo để trở thành linh mục giáo phận. Báo cáo cuối cùng của Ủy ban Hoàng gia chỉ trích cả “linh mục và Giáo Hội” liên quan đến việc đào tạo của họ.

Tuy nhiên, thành viên của các dòng tu và đan viện như Dòng Thánh Bênêđictô và Dòng Xitô khác biệt ở chỗ, họ là thành viên của một “cộng đồng gia đình” hỗ trợ và hướng dẫn họ; một số được thụ phong linh mục nhưng không phải tất cả. Các chủng sinh giáo phận thường không được như vậy. Ở những dòng tu mà các thành viên ít được phong chức linh mục, thì điều đó làm giảm bớt mối đe dọa của chủ nghĩa giáo sĩ, hoặc mong muốn leo lên các cấp bậc trong Giáo Hội. Ngược lại, chủ nghĩa giáo sĩ lại xuất hiện nhiều trong các chủng viện giáo phận.

Nhưng việc tạo điều kiện cho chủ nghĩa giáo sĩ phát triển trong các hệ thống đào tạo hiện tại ở cá chủng viện đã góp phần gián tiếp vào việc lạm dụng tình dục trẻ vị thành niên, gây chấn động trong các cuộc điều tra trên khắp thế giới. Nếu chúng ta nghiêm túc trong việc loại bỏ chủ nghĩa giáo sĩ, chúng ta không nên tiếp tục với mô hình chủng viện như nó đã từng diễn ra.

Một số giáo sư đã từng giảng dạy trong các chủng viện ở Hoa Kỳ, bao gồm các cựu giáo sư chủng viện Colt Anderson và Christopher Bellitto, đã nhận ra những điểm yếu của mô hình truyền thống này. Họ nói rằng mặc dù có những thanh niên tốt theo học, nhưng các chủng viện đã đóng một vai lớn trong cuộc khủng hoảng của Giáo Hội hiện nay “bằng cách đưa chủng sinh vào chủ nghĩa giáo sĩ”.

“Các chủng sinh được truyền tải một thông điệp nhất quán: vai trò của họ là cai quản giáo dân và Giáo Hội do kết quả của sự thay đổi bản thể khi thụ phong, không phải là kết quả của phẩm hạnh, kiến thức hoặc hành vi kiểu mẫu của họ. Họ đang được đào tạo để trở thành những ‘ông chủ chuyên quyền’, không phải những ‘nhà lãnh đạo đầy tớ’. Chúng ta cần các chủng viện là nơi đào tạo các thế hệ linh mục mới, để trở thành những người lãnh đạo đầy tớ, những người có thể làm mục vụ – chứ không phải cai trị – các tín hữu.”

Điều quan trọng nhất để khỏi rơi vào chủ nghĩa giáo sĩ là tránh cô lập về mặt thể chất những người muốn trở thành linh mục. Các chủng sinh nên dành nhiều thời gian hơn để sống trong giáo xứ của họ trong quá trình đào tạo.

Về mặt lý thuyết, các chủng sinh có thể tiếp tục sống tại nhà, điều này sẽ cho phép họ duy trì mối quan hệ với những người đương thời, đang khi vẫn tham gia vào đời sống thực tiễn của giáo xứ. Chúng ta cần xem xét các đường hướng thay thế trong việc chuẩn bị thụ phong cho các chủng sinh. Họ cần có sự tương tác và hòa nhập nhiều hơn với các giáo xứ của họ và thành viên của các dòng tu khác.

Như trong tài liệu cuối cùng của Thượng Hội đồng về Người trẻ 2018 có đề xuất rằng: phải có các khóa đào tạo chung cho “các giáo dân trẻ, tu sĩ trẻ và chủng sinh.” Điều này đi đôi với quan điểm của Đức Thánh Cha Phanxicô về vai trò và trách nhiệm liên đới cho cả giáo dân và giáo sĩ.

Chủ nghĩa đại kết cũng đóng một vai trò quan trọng. Các tôn giáo khác đã chuẩn bị như thế nào và chúng ta có thể học được gì từ họ? Để chống lại chủ nghĩa giáo quyền, điều quan trọng là sự chuẩn bị cho một cá nhân phải diễn ra ở tại giáo xứ, một cộng đồng với nhiều nhiệm vụ khác nhau; anh ta không nên tự cao rằng anh ta là một ai đó đặc biệt và cao hơn mọi người, nhưng chỉ là một thành viên trong cộng đồng.

Tác giả: Gideon Goosen (Australia)

Chuyển ngữ: P. Nguyễn Thanh Trà

(giaophanvinhlong.net/ international.la-croix.com 25/9/2021)

* Gideon Goosen là một nhà thần học và tác giả ở Sydney. Cuốn sách mới nhất của ông là Clericalism: Stories from the Pews, Coventry Press, 2020.

Read More
30Tháng Chín
2021

Hội chứng tu xuất

30/09/2021
Anmai
Chia sẻ, Giáo dục
0

Hội chứng tu xuất

 

Tu xuất tự nó không phải là một bậc sống, nhưng là một thành phần quan trọng trong nhịp sống Giáo hội.

Có lẽ, cuộc đời chúng ta không ai hiểu hết được chữ “ngờ”, và vì thế, xuất tu cũng hàm chứa những lý do khó nói lên lời. Đôi dòng tản mạn và những cảm nghiệm riêng tư của tác giả về những người tu xuất có lẽ sẽ là tâm tư của bất kỳ ai đó muốn đồng cảm, muốn yêu thương, muốn sẻ chia với những con người đặc biệt này.

Nói về người tu xuất có thật lắm khía cạnh để người ta phải suy nghĩ, bàn luận. Trước hết, có lẽ chúng ta nên khởi đi từ hai tiếng “Ơn gọi”. Ban đầu, nhiều bạn trẻ lắng nghe được tiếng Chúa gọi, họ hăng hái dấn thân vào đời tu với tất cả nhiệt huyết của một con tim căng đầy sức sống. Nhưng rồi, cuộc đời có trăm ngàn lối đi khiến họ không còn giữ được nét trinh trong và nhiệt huyết thuở ban đầu. Giã từ chốn Viện tu, họ nghe theo một tiếng gọi khác và đi tìm cho mình một niềm vui giữa đời thường. Có những người tìm về chốn hồng trần để mong tìm một mái ấm, một niềm hạnh phúc dẫu mong manh nhưng thật đơn thành; có những người can đảm tiếp tục rong ruổi dấn thân trên hành trình dâng hiến đầy cát bụi… Trong số đó, có những người đã nhận ra chân lý sống và họ đã làm trổ sinh hoa trái giữa cuộc đời; nhưng rồi lại cũng không thiếu những người chìm ngập trong cô đơn, thất vọng và bị dòng đời vùi lấp, cuốn trôi.

Tại sao cuộc đời người tu xuất lại rơi vào bất hạnh? Nhiều người cho rằng: vì anh đó, chị đó đã ăn cơm nhà Chúa Trời, nay quay gót về với thế gian thì đương nhiên phải chuốc lấy hậu quả. Nghe thoáng qua thật quá phũ phàng, chẳng lẽ Thiên Chúa lại là kẻ dữ dằn và khát máu trả thù đến vậy ư? Chắc chắn không phải thế. Sở dĩ người tu xuất khi trở về đời thường, cuộc sống của họ không mấy hạnh phúc có lẽ vì nhiều nguyên nhân khác nhau. Khi họ còn sống trong Ơn gọi, họ làm mọi việc đều có chương trình, kế hoạch, mọi sự xem ra an nhàn, thư thái, nay trở về thế gian, họ phải bươn trải với cuộc sống cơm áo gạo tiền, đó là một thử thách lớn lao đối với họ. Hơn nữa, suốt thời gian sống trong Dòng tu hay Chủng viện, người tu chỉ lo trau dồi tri thức để chuẩn bị lãnh chức thánh hay khấn dòng, họ đâu biết mùi thế nhân đoạn trường ra sao? Nay trở về đời thường trăm ngàn sóng gió, bể dâu, sức đề kháng của những con người này sẽ vô cùng mong manh, yếu ớt. Vì thế, họ ít tìm được những cơ hội trong cuộc sống, trong khi cuộc đời lại quá khắt khe đối với họ. Thành ra, người xuất tu khó có thể tìm được cho mình một cuộc sống bình an và hạnh phúc.

Ngày nay, người ta nhiều khi có ác cảm và thành kiến nặng nề với người tu ra. Họ cho rằng: việc ông Thầy, bà Sơ giũ áo Dòng ra về lấy vợ, lấy chồng là chuyện chẳng nên. Ngoài việc bị kết án là ham muốn thế gian, xác thịt, lại còn bị gán cho cái tội tày đình là bội ơn nhà Đức Chúa Trời. Bao nhiêu tiền bạc, cơm gạo nuôi ăn giờ đây trở về con số không tròn trĩnh. Họ căm tức người tu ra vì cho rằng: cô, cậu đã bôi gio, chát trấu vào mặt cha mẹ, tiên tổ, ông bà. Thanh danh đang lên như “diều gặp gió” nay chẳng khác chi “lá chuối gặp bão” xác xơ bên đường. Cha mẹ thì khăng khăng dán chặt con mình trên bàn thánh, chôn chân con mình trong chốn Viện tu bằng bất cứ giá nào, nhưng cũng chẳng hay chẳng biết rằng: con mình không có khả năng sống đời Ơn gọi. Họ chỉ biết một điều: việc trở về gia đình sau hành trình tu trì dang dở là chuyện không thể chấp nhận được. Họ cũng đâu biết rằng: việc quyết định ngả sang một Ơn gọi khác không phải là chuyện dễ dàng như người ta vẫn lầm tưởng. Trước khi về đời, người xuất tu đã phải đón nhận sức ép thật khủng khiếp từ phía dư luận, bà con lối xóm. Thật là đáng sợ!

Hơn thế nữa, nhiều người xuất tu mang theo suốt cuộc đời mình mặc cảm tội lỗi vì biết mình đã làm hỏng ơn Chúa. Bao nhiêu chữ “giá mà” thế này, “phải chi” thế thế kia cứ đeo bám và ám ảnh trong trí não. Bao nhiêu nước mắt đã lặng lẽ buông xuống dòng đời; bao nhiêu tiếng thở dài não nề trôi theo giọt nắng, giọt mưa; bao nhiêu thất vọng, bao nhiêu chán ngán cuộc đời, bao nhiêu mỏi mòn, tăm tối giăng ngập lối về… Thật xót xa, thật phũ phàng! Mọi sự giờ đây đã quá muộn cho một lời xin lỗi, chỉ còn lại đây những giọt lệ buồn của cay đắng, xót xa. Nỗi đau khiến họ ăn không ngon, ngủ không yên, và vì thế họ cảm thấy bất hạnh và đau khổ. Mọi cánh cửa hy vọng dường như đã đóng chặt khiến họ không còn lối thoát. Cuộc đời thật quá khắt khe với họ.

Nói về người tu xuất với biết bao cảm xúc và nghĩ suy, nhưng chúng ta không thể nào không thừa nhận vị trí và vai trò của họ trong Giáo hội và ngoài xã hội. Nhiều người tu xuất đã trở thành cánh tay đắc lực của Cha xứ và của xóm đạo. Các hội đạo đức, các công việc bác ái, các hoạt động từ thiện có thăng tiến được cũng là nhờ phần nhiều vào những con người nhiệt thành này. Họ là những người trí thức, được đào luyện bài bản trong Chủng viện, nơi Dòng tu nên cũng đã trang bị cho mình một sự trưởng thành vừa đủ trước khi đối mặt với cuộc đời. Họ làm việc có cái tâm và trở nên những con người đáng tin cậy trong Cộng đoàn. Vì thế, chúng ta cần đặc biệt tôn trọng, cảm phục và cầu nguyện cho họ, để giúp hăng say và nhiệt thành chu toàn bổn phận làm người Kitô hữu của mình.

Đôi dòng suy tư về giới tu xuất không phải là bao che, dung dưỡng, nhưng là tấm lòng trân trọng, cảm thông và tri ân. Thiên Chúa đã dùng họ cách âm thầm để làm việc trong vườn nho của Ngài. Không ít thì nhiều, những việc làm và những hy sinh lớn lao của họ cũng làm cho vườn nho Chúa được trổ sinh hoa trái. Viết về người tu xuất giúp chúng ta có cái bao dung hơn, yêu thương hơn, đồng cảm hơn, vì mọi người dù là ai, dù trong hoàn cảnh nào cũng đều là những con người bất xứng trước mặt Thiên Chúa và ai trong chúng ta cũng cần đến lòng thương xót và ân sủng của Ngài. Đây cũng là một lần giúp chúng ta hâm nóng lại tình yêu với Chúa, hun đúc khát khao dâng hiến của mình. Ước mong sao dù cho bao khó khăn, thử thách, chúng ta cũng hãy luôn trung thành với Chúa đến cùng.

Diệu Tâm, BC

Read More

Điều hướng bài viết

  • Previous page
  • Page 1
  • …
  • Page 72
  • Page 73
  • Page 74
  • …
  • Page 152
  • Next page
Bài viết mới nhất
THƯ GỬI SINH VIÊN, HỌC SINH CÔNG GIÁO NHÂN DỊP MỪNG XUÂN BÍNH NGỌ
11/02/2026
THƯ GỬI SINH VIÊN, HỌC SINH CÔNG GIÁO NHÂN DỊP MỪNG LỄ CHÚA GIÁNG SINH 2025
20/12/2025
THƯ GỬI ANH CHỊ EM GIÁO CHỨC CÔNG GIÁO NHÂN NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM 20.11.2025  
17/11/2025
Video nổi bật
https://www.youtube.com/watch?v=Td144YDsaGo
Sự kiện sắp tới

There are no upcoming events at this time.

Ủy ban Giáo dục Công giáo – Trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.

Liên hệ

72/12 Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, TP.HCM Get Directions

Phone: +84 931 436 131

Email: [email protected]

Ban chuyên môn
  • Ban Tài liệu và Truyền thông
  • Ban Giáo chức
  • Ban Kỹ năng và Giá trị sống
  • Ban Khuyến học
  • Ban Học viện Thần học
  • Ban Hội Học sinh – Sinh viên
Chuyên mục
  • Tin tức
  • Thư chung
  • Giáo dục
  • Phụng vụ
  • Thư viện
Bản quyền © 2020 thuộc về Ủy Ban Giáo Dục HĐGM VN. Design by JT.