Aenean nec eros. Vestibulum ante ipsum primis in faucibus orci luctus et ultrices posuere cubilia curae. Suspendisse sollicitudin velit sed leo.

Chuyên mục
  • Bài giảng
  • Các loại khác
  • Chia sẻ
  • Chưa phân loại
  • GH Hoàn Vũ
  • GH Việt Nam
  • Giáo dục
  • Hạnh các Thánh
  • HĐGM Việt Nam
  • Kinh Thánh
  • Phim giáo dục
  • Phụng vụ
  • Sách
  • Suy niệm Chúa nhật
  • Suy niệm hàng ngày
  • Tài liệu giáo dục
  • Tài liệu phụng vụ
  • Thần học
  • Thánh ca
  • Thánh lễ
  • Thánh lễ trực tuyến
  • Thư chung
  • Thư viện
  • Tin tức
  • Triết học
  • Tư liệu
  • UBGD Công giáo
  • uncategorized
  • Video
From Gallery
Stay Connected
UyBanGiaoDucHDGM.net
  • Trang chủ
  • Thư chung
    • HĐGM Việt Nam
    • UBGD Công giáo
  • Tin tức
    • GH Việt Nam
    • GH Hoàn Vũ
  • Phụng vụ
    • Thánh lễ
    • Thánh lễ trực tuyến
    • Suy niệm hàng ngày
    • Suy niệm Chúa nhật
    • Tài liệu phụng vụ
  • Giáo dục
    • Chia sẻ
    • Tài liệu giáo dục
  • Thư viện
    • Sách
      • Kinh Thánh
      • Triết học
      • Thần học
      • Các loại khác
    • Video
      • Bài giảng
      • Thánh ca
      • Phim giáo dục
      • Hạnh các Thánh
      • Tư liệu
  • Liên hệ
Give Online

Danh mục: Giáo dục

Home / Giáo dục
19Tháng Mười Hai
2021

Chút cảm nghĩ mùa Noel 2021

19/12/2021
Anmai
Chia sẻ, Giáo dục
0

Chút cảm nghĩ mùa Noel 2021

 

Những ngày cuối năm, nghe như văng vẳng đâu đây khúc nhạc “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho người thiện tâm” như vỗ về an ủi lòng người với ước mong được hưởng một cuộc sống an bình, hạnh phúc.

Nhưng buồn thay mùa Noel 2021 này, phận người sao lao đao quá. Đại dịch Covid-19 như cơn lũ đã càn quét thành phố suốt 5 tháng đã làm người dân thành phố lớn nhất nước lâm vào cảnh lao đao dù chính quyền, các tổ chức tôn giáo cùng các nhà hảo tâm trong và ngoài nước đã cố gắng hổ trợ. Nhiều người đã phải nằm xuống vĩnh viễn trong cô đơn mà không kịp lời trăn trối.

Giãn cách xã hội hơn ba tháng khiến người Sài Gòn vốn năng động đã phải ngồi yên không được ra đường. Nhà thờ, chùa chiền, các cơ sở thờ tự phải đóng cửa, các trường học phải chuyển qua dạy và học trực tuyến. Nhiều công ty, xí nghiệp phải cho nhân viên nghỉ việc vì không còn khả năng chi trả lương cho công nhân. Người lao động thất nghiệp, không có thu nhập phải kéo nhau về quê lánh nạn vì không có thu nhập trả tiến nhà, điện, nước …

Tại Việt Nam đã có gần 1,5 triệu ca nhiễm, hơn 28 ngàn người chết, cả triệu người lâm cảnh thiếu thốn. Hàng chục ngàn gia đình mất người thân, hàng ngàn trẻ mồ côi bơ vơ vì cha mẹ đã mất vì Covid-19, người cao tuổi neo đơn không có người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc ….

Rồi lại đến thiên tai lũ lụt, sạt lở đất ở các tỉnh Miền Trung làm ta nhớ đến lời cảnh báo trong Tin Mừng “Sẽ có những điềm lạ trên mặt trời, mặt trăng và các vì sao. Dưới đất, muôn dân sẽ lo lắng hoang mang trước cảnh biển gào sóng thét. Người ta sợ đến hồn xiêu phách lạc, chờ những gì sắp giáng xuống địa cầu, vì các quyền lực trên trời sẽ bị lay chuyển.” (Lc 21, 25 – 27).

Mặc dù giờ đây đỉnh dịch đã qua, nhưng những con số tử vong, ca nhiễm … mất mát thiệt hại vẫn còn ám ảnh hàng ngày chưa biết đến ngày nào chấm dứt cùng với những di chứng trầm trọng về tâm lý và tinh thần. Thế nhưng “đói thì đầu gối phải bò” nên người Sài Gòn đành phải sống chung với dịch, lại phải ra đường kiếm sống. Thành phố lại nhộn nhịp, các công ty, cửa hàng, siêu thị, đang dần khôi phục lại hoạt động dù những con coronavirus vẫn còn đang chực chờ, rình rập.

Việc bùng phát dịch bệnh trong cộng đồng có thể sẽ còn lặp lại nhiều lần. Thời gian kéo dài sẽ làm cho cuộc sống của người dân ngày càng trở nên khó khăn, không những về kinh tế mà còn cả về tinh thần trong đời sống gia đình cũng như xã hội. “Sài gòn đã đứng dậy” được nhưng bước đi vẫn còn loạng choạng và cần phải có thời gian để hồi phục. Không ai có thể biết chừng nào đại dịch mới chấm dứt!

Chúng ta đang sống trong giai đoạn “bình thường mới”, sinh hoạt bình thường nhưng lại phải cảnh giác đề phòng theo hướng dẫn. Ngược lại, đề phòng nhưng vẫn phải sinh hoạt để phát triển cuộc sống. Bình thường rồi lại giãn cách, sau đó lại bình thường … Qua những bất ổn và khó khăn của nhân loại, phải chăng Thiên Chúa đang từng bước thanh lọc và đổi mới thế giới?

Hàng năm chúng ta vẫn đón mừng kỷ niệm Ngôi Hai xuống thế làm người. Ngôi Hai Thiên Chúa đã hạ mình mặc lấy kiếp phàm nhân, để đồng hành san sẻ với những phận người đau khổ, và ban phúc lành cho toàn thể nhân loại. Chúa đến để đem bình an, nhưng bình an chỉ thực sự ở lại khi con người biết sống khiêm nhường quảng đại và thực thi công bằng bác ái.

Ngày xưa, Chúa Giêsu là kẻ không nhà khi xuống trần sinh ra trong hang đá, nơi trú ẩn của đàn gia súc. Máng cỏ đơn sơ khó nghèo nói lên tình yêu Thiên Chúa dành cho nhân loại. Người đã muốn trở nên người nghèo khổ bất hạnh để cảm thông với những người bất hạnh trên trần gian này. Người không chỉ dạy chúng ta sống nghèo mà còn phải cảm thông, chia sẻ với những người lâm vào hoàn cảnh tai ương, kém may mắn.

Xin cho ánh sáng sao mùa Noel 2021 không bị che lấp bởi những niềm vui trần tục. Xin mọi người cùng đáp lại lời kêu gọi của Đức Tổng Giám mục Giuse Nguyễn Năng trong THƯ MỤC VỤ GỬI GIA ĐÌNH TỔNG GIÁO PHẬN ngày 4/10/2021 mời gọi mọi thành phần dân Chúa tích cực tham gia “mục vụ chăm sóc các em mồ côi” không phân biệt tôn giáo:

Mỗi em trong mỗi giáo xứ sẽ được trao cho một gia đình hay một hội viên của một đoàn thể Công giáo, để thường xuyên thăm viếng, chia sẻ và cảm thông, khích lệ và hướng dẫn. Như vậy, nhờ hơi ấm tình thương của người thân, với sự cộng tác của giáo xứ, tâm lý các em được phát triển quân bình để trở thành người tốt cho xã hội. Đây là điều quan trọng cho tương lai của các em cũng như cho sự ổn định của xã hội sau này.

Những món quà dâng Chúa Hài Đồng trong dịp Noel năm nay sẽ mang lại niềm vui và nhất là niềm hy vọng cho những người cao tuổi neo đơn và trẻ mồ côi cha mẹ vượt qua phần nào những khó khăn, mất mát đồng thời giúp cho họ cảm nhận được sự gần gũi sống động của tình yêu Thiên Chúa.

Để rồi mỗi mùa Noel đến, những khu phố, những con đường thành phố lại rực lên màu sắc của đèn sao chớp tắt lung linh lấp lánh. Những hang đá kỉ niệm Chúa giáng sinh huyền ảo với cỏ rơm, bò lừa ấm áp. Tiếng thánh ca nhẹ nhàng, thánh thót hòa chung với tiếng chuông nhà thờ mãi vang lên réo rắt.

Jos. Hoàng Mạnh Hùng

Read More
19Tháng Mười Hai
2021

Vấn đề đào tạo Linh Mục ở Việt Nam

19/12/2021
Anmai
Giáo dục, Tài liệu giáo dục
0

Vấn đề đào tạo Linh Mục ở Việt Nam

 

Mở đầu Sắc Lệnh Optatam Totius, Công Đồng Vatican II khẳng định: “Việc đào tạo linh mục là việc vô cùng quan trọng…

Vì tính cách duy nhất của chức linh mục Công Giáo, nên việc đào tạo linh mục là cần thiết cho tất cả các linh mục dòng cũng như triều, thuộc bất cứ lễ chế nào” (OT số 1). Chính vì thế, công cuộc đào tạo con người, đào tạo linh mục và đời sống thánh hiến là mối quan tâm hàng đầu của Giáo Hội. Để có thể thực hiện tốt sứ vụ đào tạo nhân sự cho Giáo Hội trong bối cảnh hiện nay, chúng ta cần nhìn lại triết lý giáo dục và những nguy cơ có thể xảy ra trong việc huấn luyện con người.

  1. Vấn đề giáo dục ở trong Nước

Nhà văn Nguyên Ngọc cảnh báo tình trạng khủng hoảng giáo dục ở Việt Nam như sau:

“Giáo dục của chúng ta hiện nay đang có vấn đề trong cả hệ thống của nó, hầu như tất cả các lãnh vực của nó đều có vấn đề, cái hỏng của nó có tính chất hệ thống chứ không phải cục bộ”.[1]

Ông đề cập tới cái “lỗi hệ thống”, một thứ lỗi nền tảng nhất, sâu xa nhất và nguy hại nhất. Theo các nhà giáo dục chân chính, nguyên nhân cuộc khủng hoảng giáo dục ở nước ta là do “triết lý giáo dục” vừa lạc hậu, vừa mất định hướng.[2] Giáo dục của chúng ta không chỉ là “lạc hậu” mà còn “lạc đường”. Đó là một điều tồi tệ nhất và đáng lo ngại nhất! Nếu lạc hậu mà còn đúng đường thì còn ít nguy hại hơn là lạc đường, vì lạc đường là hết cách cứu chữa nếu không có đổi hướng. Bởi vì, giáo dục chỉ là “nhồi nhét kiến thức” mà ít chú trọng đến việc giáo dục con người, không huấn luyện họ trở thành những người tốt, trưởng thành, có đạo đức và có chuyên môn. Phải có sự chuyển hướng và canh tân giáo dục thực sự cách triệt để và tận căn thì mới hy vọng rằng tương lai đất nước ta được sáng sủa hơn.

  1. Việc đào tạo ở trong Giáo Hội

Trong công việc đào tạo linh mục – tu sỹ nam nữ của Giáo Hội, chúng ta cũng được cảnh báo về hiện tượng “nín thở qua sông” của ứng sinh; hay mô hình đào tào linh mục – tu sỹ thiếu tính thống nhất và tính toàn vẹn, đã đưa công cuộc đào tạo này rơi vào tình trạng một chiều như duy tri thức, duy tu đức, duy luân lý, hay duy kỹ năng và duy hiệu quả…

Kiểu huấn luyện một chiều thường quá chú trọng đến một phương diện mà lãng quên các phương diện khác. Chẳng hạn, lối huấn luyện duy tu đức là khuynh hướng giảm thiểu một cách nền tảng con người và toàn bộ chương trình đào tạo chỉ trong yếu tố tu đức, tâm linh mà thôi, trong khi đó lại lãng quên những yếu tố khác về nhân bản, tri thức và mục vụ; lối huấn luyện này ít quan tâm tới các vấn đề của con người, như sự trưởng thành tâm sinh lý, tình cảm, tính dục và tương quan liên vị… của ứng sinh. Họ được huấn luyện để trở thành những con người trong trắng như “những thiên thần” vậy, mà không hề biết nhiều về những thực tại “con người”!

Hoặc lối giáo dục duy tri thức là kiểu giáo dục chỉ lo lắng trau dồi tri thức, nhồi nhét kiến thức. Đào tạo chỉ tập trung vào “cái đầu” nhưng lãng quên toàn bộ con người. Đó là “những con mọt sách” hay những người có “đầu to mà đít nhỏ”, thiếu sự quân bình trong nhân cách v.v…

Ngược lại, lối giáo dục duy kỹ năng hay duy hiệu quả là lối huấn luyện chỉ tập trung trang bị cho các thụ huấn sinh những kỹ năng sống, kỹ năng thi hành sứ vụ hay làm việc và đánh giá họ theo chỉ tiêu chuẩn hiệu quả công việc, trong khi đó lại lãng quên huấn luyện căn tính và nhân cách của họ trước. Phải tập trung huấn luyện và hình thành nơi ứng sinh “căn tính tốt” trước khi “làm việc tốt”. Cần tránh lối huấn luyện chạy theo chức năng và vai trò mà lãng quên việc huấn luyện căn tính. Vì như cha ông ta nói: “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn”. Phải “là” linh mục trước khi “làm” linh mục. Cần huấn luyện có căn tính tốt trước khi thi hành sứ vụ.

Cần phải có những nỗ lực canh tân kịp thời để chương trình huấn luyện phải giúp các ứng sinh thực sự được biến đổi toàn vẹn, trở thành những con người tốt, kitô hữu trưởng thành và những linh mục – tu sỹ thánh thiện để có thể đáp ứng cho những đòi hỏi của sứ vụ loan báo Tin Mừng trong bối cảnh của thế giới hôm nay.

Để thực hiện được việc canh tân đào tạo tại các Chủng Viện và Dòng Tu, trước hết chúng ta cần tránh lối đào tạo theo một mô hình một chiều, thiếu tính thống nhất và thiếu tính toàn vẹn. Cha Cencini nói tới những sự thiếu hụt có thể xảy ra trong đào tạo:[3]

Trước hết, đó là nguy cơ mô hình huấn luyện mơ hồ, nghĩa là không xác định được mục đâu là mô hình nền tảng và chính yếu để toàn bộ chương trình huấn luyện dựa vào đó làm mô mẫu và chuẩn mực. Nguy cơ thứ hai là mục tiêu huấn luyện thiếu rõ ràng. Việc huấn luyện không có mục tiêu. Nhà huấn luyện và người thụ huấn không biết sẽ phát xuất từ đâu và sẽ đi về đâu; huấn luyện để làm gì v.v… Ở đây, các mục tiêu huấn luyện không được xác định.

Một nguy cơ khác có thể xảy ra là lẫn lộn các giai đoạn huấn luyện. Trong huấn luyện thời gian tính rất quan trọng. Tiến trình huấn luyện phải được thực hiện theo từng gian đoạn như giai đoạn đầu, giai đoạn giữa và giai đoạn cuối. Mỗi giai đoạn có một sự đặc trưng riêng. Vì thế, chúng ta cần phải quan tâm và đảm bảo tính phù hợp của nó theo từng giai đoạn. Tránh lẫn lộn giao đoạn hoặc đốt cháy giai đoạn để việc huấn luyện có hiệu quả hơn.

Cuối cùng là phương pháp huấn luyện nghèo nàn. Cần loại bỏ phương pháp huấn luyện cổ điển lỗi thời. Đó là phương pháp theo kiểu:

“Trước tiên là huấn luyện tri thức, rồi huấn luyện mục vụ và nếu còn thời gian thì huấn luyện trưởng thành nhân bản. Vì thế, các giáo sư thì quan tâm đến hoạt động trí tuệ; các nhà huấn luyện quan tâm đến thực hành; các nhà linh hướng thì chăm lo phần hồn; các nhà tâm lý quan tâm đến bệnh lý; và chẳng ai quan tâm đến con người”.[4]

Việc huấn luyện linh mục và tu sỹ ngày hôm nay đòi hỏi phải là việc huấn luyện mang tính toàn vẹn về các phương diện khác nhau và quân bình cách chính đáng từng phương diện. Các thụ huấn sinh phải được huấn luyện trưởng thành và toàn nhập các phương diện tâm lý, tình cảm, tính dục, cảm xúc, ơn gọi, tính liên vị, tương quan, các đức tính nhân bản, tri thức, tu đức, mục vụ v.v… để có thể sống và làm chứng cách hiệu quả cho Tin Mừng giữa một thế giới đầy thách đố và cám dỗ như ngày hôm nay.

Tạm kết

Tương lai của Giáo Hội tùy thuộc rất nhiều vào công cuộc đào tạo nhân sự. Vì thế, hơn lúc nào hết, các Chủng Viện và các Dòng Tu cần có những nỗ lực cụ thể nhằm canh tân cách đúng đắn và triệt để công cuộc đào tạo linh mục và tu sỹ theo những đòi hỏi của Giáo Hội hiện nay, ngõ hầu việc đào tạo này mang lại nhiều hoa quả tốt đẹp cho sứ vụ loan báo Tin Mừng của Giáo Hội trong thế hiện hôm nay.

  1. Petrus Nguyễn Văn Hương

[1] Nguyên Ngọc, “Giáo dục ở nước ta hiện nay, đi ra bằng con đường nào?”, trong Những vấn đề giáo dục hiện nay…, 261-263.

[2] Cf. Gm. Nguyễn Thái Hợp, Tôn Giáo Giáo Dục. Một cách tiếp cận, CLB Phaolô Nguyễn Văn Bình 2009, 11-24.

[3] A. Cencini, Tâm Tình Chúa Con, NXB Tôn Giáo, 154.

[4] A. Cencini và A. Manenti, (Lm. Nguyễn Ngọc Kính, ofm chuyển ngữ), Tâm lý và huấn luyện cơ cấu và năng động, Nxb Phương Đông, HCM 2011, 191.

Read More
19Tháng Mười Hai
2021

Để nên sứ giả của Lòng Thương Xót Chúa

19/12/2021
Anmai
Giáo dục, Tài liệu giáo dục
0

Để nên sứ giả của Lòng Thương Xót Chúa

 

Trong Năm Thánh Lòng Thương Xót, Đức Giáo Hoàng Phanxicô mời gọi các mục tử hơn ai hết phải là những sứ giả của lòng thương xót Chúa:

“Tôi sẽ không bao giờ mệt mỏi nhấn mạnh rằng các cha giải tội là dấu chỉ xác thực cho lòng thương xót của Chúa Cha… Các linh mục chúng ta đã nhận được ân sủng của Chúa Thánh Thần, để tha tội, và chúng ta chịu trách nhiệm về việc này. Không ai trong chúng ta nắm giữ quyền lực trên Bí Tích này; thay vào đó, chúng ta là những tôi tớ trung tín của lòng thương xót Chúa qua Bí Tích ấy” (Misericordiae vultus số 17).

Để thực sự trở thành khí cụ của lòng thương xót Chúa, các mục tử cần thực hiện một cuộc “hoán cải mục vụ” triệt để hơn, nghĩa là cần có một sự thay đổi về cách hành xử, thái độ phục vụ, tiêu chuẩn mục vụ và cả đời sống sao cho phù hợp hơn với Tin Mừng và với Giáo huấn Giáo Hội hiện nay. Sau đây là một số gợi ý giúp thực hiện cuộc hoán cải này.

1- Thương xót hơn là nghiêm khắc

Đức Giêsu Kitô mạc khải cho chúng ta biết gương mặt đích thực của Thiên Chúa không phải là một gương mặt khó tính và ưa trả thù, nhưng là một vị Thiên Chúa giàu lòng thương xót. Trong tư cách là Mục Tử nhân lành, Chính Chúa Giêsu đã thi hành sứ vụ cứu độ nhân loại với lòng thương xót hơn là thái độ nghiêm khắc, loại trừ.

Khi khai mạc Công Đồng Vatican II, Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII đã chọn “lòng thương xót hơn là kết án” làm định hướng mục vụ cho Giáo Hội trong thế giới hôm nay. Ngài nói: “Giáo Hội luôn chống lại những sai lầm qua các thời đại. Giáo Hội thường lên án chúng với thái độ rất nghiêm khắc. Tuy nhiên bây giờ, Hiền Thê của Chúa Kitô ưu thích sử dụng liều thuốc của lòng thương xót hơn là sự nghiêm khắc”.[1]

Hạn từ misericordia trong tiếng Latin là sự kết hợp bởi hai từ misereri có nghĩa là đau khổ, thương xót; và từ cors nghĩa là trái tim. Nó diễn tả một trái tim biết thương xót và đau nỗi đau của người khác như trái tim của người mẹ đau nỗi đau của người con, như trái tim của Chúa Giêsu bị đâm thủng vì đau nỗi đau của nhân loại.

Còn hạn từ “nghiêm khắc” là thái độ của những người duy ý chí, nệ luật và cứng nhắc đối với người khác mà không chút xót thương, nhất là đối với những người tội lỗi.

Đức Giáo Hoàng Phanxicô muốn các mục tử của Chúa tiếp tục áp dụng nguyên tắc “thương xót” như là “liều thuốc” để đưa con người thời nay về với Thiên Chúa. Đây là dấu chỉ thời đại và cái nhìn ngôn sứ. Bởi lẽ, nếu một Giáo Hội quá nghiêm khắc, duy luật và gây khó khăn thì chẳng những không giúp được gì cho các linh hồn mà còn trở thành nguyên cớ làm cho họ xa rời Thiên Chúa.

Là hiện thân của Chúa Kitô, các mục tử trước hết phải có lòng thương xót, lòng thương cảm, hay nói cách khác, có trái tim mục tử của Chúa Giêsu để có thể đồng cảm, đồng hành và chia sẻ vui buồn với mọi người, nhất là với những người đau khổ. Nếu bác ái mục tử là linh hồn của đời sống và sứ vụ linh mục, thì hoạt động mục vụ của các mục tử phải là một sự biểu lộ đức ái của Chúa Kitô mà các mục tử là hình ảnh phản chiếu. Các mục tử phải biết biểu lộ các thái độ và hành vi của Chúa đến mức hiến mình hoàn toàn vì đàn chiên được giao phó.[2]

Ngày hôm nay, ở Việt Nam, người ta đã rất dị ứng với cung cách làm việc của những cảnh sát giao thông, của nhân viên hải quan ở một số phi trường, hoặc của một số quan chức nhà nước, bởi vì họ hành xử theo kiểu “bắt bẻ, gây khó dễ để kiếm chác”, hay theo cơ chế “xin – cho”.

Sống trong một thế giới phẳng, chủ nghĩa độc tài, độc đoán hay chủ nghĩa “giáo sĩ trị” sẽ dần dần không còn chỗ để tồn tại. Các mục tử phải tỉnh thức và xa tránh những lối hành xử trên. Thay vì thái độ khắt khe, trừng phạt và gây khó khăn, Đức Giáo Hoàng Phanxicô mời gọi các mục tử không bao giờ mỏi mệt trong việc thực thi và chuyển thông lòng thương xót và tha thứ của Thiên Chúa đối với mọi người. Ngài nói rằng: “Các linh mục đừng sợ khi phải thương xót và tha thứ quá nhiều. Nếu linh mục nào đó cảm thấy mình đã tha thứ quá nhiều thì nhớ lại câu chuyện về một linh mục nọ đến cầu nguyện với Chúa rằng : “Lạy Chúa, con xin lỗi Chúa vì con đã tha thứ quá nhiều, nhưng tại vì Chúa đã làm gương xấu cho con”.

Vì thế, các mục tử hãy tạo điều kiện hết sức có thể để giúp mọi người đến với Thiên Chúa và Giáo Hội. Tuy nhiên, chọn lựa hành xử theo lòng thương xót không có nghĩa là “laissez faire” – để mặc cho người ta muốn làm gì thì làm. Lòng thương xót Chúa là ân ban nhưng không luôn bao hàm sự hy sinh, kỷ luật và hoán cải từ phía con người.

2- Mục tử hơn là công chức

Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI đã nhiều lần lưu ý rằng chúng ta cần tránh một thứ quan niệm giảm thiểu và phiến diện về linh mục. Theo đó, thiên chức này được coi như là một “thứ nghề nghiệp”, một “địa vị” hay “một đặc ân” trong Giáo Hội. Vì thế các mục tử hành xử như những “công chức” của Giáo Hội. Nếu là công chức, thì sau khi làm xong phận vụ, họ được tự do sống cho riêng mình. Lối nhìn này chỉ chú trọng tới chức năng mà ít chú trọng tới căn tính linh mục. Nếu căn tính của linh mục trống rỗng, thường sẽ được lấp đầy bởi những lối sống không phù hợp với chính sứ vụ linh mục. Linh mục không phải là công chức, mà còn cao cả hơn một công chức !

Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, trong Tông Huấn về Pastores Dabo Vobis định nghĩa căn tính và sứ vụ linh mục như sau:

“Linh mục là hình ảnh sống động và trong suốt của Đức Kitô Linh Mục (Cf. PDV 12). Nhờ bí tích Truyền Chức Thánh, linh mục được biến biến đổi ngay trong chính con người của mình, nên đồng hình dạng với Đức Giêsu Kitô Đầu và Mục Tử; linh mục tham dự vào sứ vụ “loan báo Tin Mừng cho người nghèo nhân danh Chúa Kitô và thay mặt Chúa Kitô” (PDV, số 18).

Khi nói về mối liên hệ giữa linh mục với Chúa Kitô và Dân Chúa, Đức Giáo Hoàng Phanxicô quả quyết: “Linh mục chân chính là người được Thiên Chúa xức dầu để phục vụ Dân Chúa, linh mục có quan hệ mật thiết với Chúa Giêsu: khi thiếu quan hệ này, thì linh mục trở thành người không còn được xức dầu nữa, thành người thờ ngẫu tượng, thờ thần là cái tôi của mình”. Đức Giáo Hoàng nói thêm: “Nếu linh mục xa Chúa Giêsu, linh mục phải tìm bù trừ tình trạng này bằng những thái độ trần tục khác. Và như thế có những thứ linh mục kinh tài, linh mục doanh nhân…”.

Vượt lên chủ nghĩa công chức (fonctionnalisme), Đức Giáo Hoàng mời gọi các mục tử hãy “mang lấy mùi chiên”. Mang lấy mùi chiên là gì nếu không phải là trở nên một người mục tử ở giữa đoàn chiên, gần gũi với đàn chiên và sống chết cho đàn chiên.

Nhưng theo thiển ý, để mang “mùi chiên” trước hết linh mục phải có “mùi mục tử”, để chiên ngửi thấy mùi đó mà theo như Chúa Giêsu nói: “Chiên Ta thì nghe tiếng Ta, Ta biết chúng và chúng theo Ta” (Ga 10,27). Mùi mục tử là mùi hương nhân đức của Chúa Giêsu; là mang lấy tâm tình và cách sống của Chúa; là nên giống Chúa Giêsu. Linh mục được xức dầu để có mùi mục tử. Đây là yếu tố làm nên căn tính của linh mục.

Như thế, nếu linh mục không có “mùi mục tử” thì chỉ là những kẻ chăn thuê, chỉ là người quản trị, là một công chức. Công tác mục vụ chỉ là một thứ dịch vụ. Chức linh mục chỉ là một thứ nghề nghiệp, hay một địa vị trong Giáo Hội mà thôi. Từ đó ta mới hiểu tầm quan trọng của chữ “là linh mục” (l’être) quan trọng biết bao so với chữ “làm linh mục” (le faire).

3- Thay đổi cung cách và phương thức phục vụ

Câu chuyện thần thoại cổ của Sufi nói về Người săn dưa hấu phần nào làm sáng tỏ vấn đề đang được nói ở đây:

Ngày xưa, có một người đi lạc vào trong một thế giới gọi là đất của những Kẻ Ngu Xuẩn. Ít lâu sau, anh thấy một số người đang gặt lúa mì trong ruộng tan tác, tán loạn. Họ bảo anh: “Trong ruộng có một con quái vật”. Anh nhìn và phát hiện ra đó không phải là quái vật mà chỉ là một quả dưa hấu. Anh tự nguyện giết con “quái vật” ấy giùm họ. Anh cắt cuống dưa, rồi xắt thành từng miếng mỏng, và bắt đầu ăn. Dân bắt đầu sợ anh hơn cả trước đây họ sợ quả dưa hấu. Họ lấy đòn cản đuổi anh đi và nói: “Không đuổi hắn đi, hắn sẽ giết chúng ta mất”.

Rồi sau đó, một người khác cũng lạc vào vùng đất ấy, và anh này cũng gặp phải những chuyện y như anh trước. Nhưng, thay vì tình nguyện giết chết “quái vật”, anh này đồng ý với dân làng làm con quái vật ấy đúng là nguy hiểm thật, rồi cùng với dân làng, anh rón rén bỏ chạy, anh đã chinh phục được dân. Anh ở lại với dân ấy một thời gian dài cho tới khi, từng bước một, anh dạy họ những sự kiện căn bản, giúp họ không chỉ sợ dưa hấu, mà thậm chí còn gieo trồng dưa hấu nữa.[3]

Trong câu chuyện này, người thứ nhất đến với dân, anh có lòng tốt, có thiện chí, và đã làm mọi sự có thể để giúp họ, nhưng kết quả là anh càng làm thì dân càng sợ anh và xa lánh anh. Tại sao? Tại vì anh chưa đứng về phía dân, chưa lắng nghe họ và hiểu họ. Anh thất bại !

Trái lại, người thứ hai đến với dân, nhưng anh có một lối tiếp cận khác, anh đứng về phía họ, suy nghĩ và hành xử như họ. Dần dần anh chinh phục được họ và từ đó, anh biến đổi dân từ việc sợ “quái vật dưa hấu” đến việc biết cách trồng dưa hấu. Anh đã thành công !

Câu chuyện trên chứa đựng những bài học thật ý vị cho các mục tử khi thi hành sứ vụ. Trong giáo phận, có rất nhiều mục tử thành công, được giáo dân yêu mến và kính trọng, bởi vì các ngài đã sống như người thứ hai trong câu chuyện. Tuy nhiên, cũng không thiếu những mục tử thất bại hay gặp khó khăn và không được đón nhận bởi vì đã hành xử như người thứ nhất.

Trong bối cảnh xã hội hôm nay, các mục tử cần có một sự hoán cải về cung cách và phương thức phục vụ. Cuộc hoán cải này bao gồm sự thay đổi về lối sống, thái độ và cách thế hiện diện khi phục vụ.

Con người thời nay sống vô cảm, hời hợt và chuộng hình thức bên ngoài. Người mục tử là người sống đơn giản, bình dị, chân thành và thân thiện với mọi người.

Con người thời nay thích khẳng định mình bằng quyền lực, của cải vật chất, thích “gồng mình” để tỏ ra quan trọng, hơn người, nhưng lại hay đòi hỏi nhiều và thường hay bất mãn với cuộc sống. Người mục tử sống như là một người phục vụ bình thường, vui tươi, thánh thiện, biết đón nhận mọi hoàn cảnh với thái độ an nhiên tự tại và âm thầm phục vụ theo tinh thần men muối giữa đời.

Thay vì lấy trọng tâm mục vụ là công việc và thành quả hay vật chất, người mục tử biết lấy con người làm trọng tâm của mục vụ, từ đó hằng ngày xây dựng tốt các mối tương quan liên vị với mỗi người trong cộng đoàn cách thân thiện và thánh thiện. Để nhờ những nhịp cầu này, người mục tử đưa các linh hồn đến với Thiên Chúa.

Thay vì thích dùng quyền áp đặt và bắt người khác làm theo ý mình, người mục tử khiêm tốn, nhẹ nhàng đối thoại, biết tôn trọng ý kiến người khác, đa diện trong cách nhìn, mềm dẽo trong cách hành xử, biết thấu hiểu và cảm thương những hoàn cảnh và nỗi đau của từng người trong cộng đoàn được giao phó.

Noi gương Đức Kitô, Đấng không phân biệt đối xử, người mục tử biết mở rộng cửa đón tiếp mọi người mà không loại trừ ai, tận tụy phục vụ họ, đặc biệt là những người đau khổ, nhỏ bé, các trẻ em, những người gặp khó khăn, bị loại trừ và người nghèo. Mục tử phải mang tình yêu và lòng thương xót của Vị Mục Tử Nhân Lành đến cho mọi người.[4]

Khi phục vụ người khác, người mục tử biết đón nhận họ như họ là, không thành kiến và chấp nhận những ưu điểm cũng như cả những khuyết điểm của họ. Từ đó, khi có thể, với sự kiên nhẫn và khôn ngoan, vị mục tử dần dần tìm cách để chinh phục họ, hướng dẫn và giúp họ thay đổi theo những tiêu chuẩn và giá trị Tin Mừng. Có lẽ đây là bí quyết để thành công trong mục vụ.

Khi thi hành tác vụ, các mục tử có thể bị chính quyền, các nhóm lợi ích, đảng phái chính trị lôi kéo đứng về phía họ để giải quyết những vấn đề liên quan hay để tìm sự hậu thuẫn và lợi ích khác nhau. Các mục tử cần cẩn trọng, khôn ngoan và có lập trường rõ ràng để biết phân định từng vấn đề, phân biệt phạm vi và sứ vụ của mình, để khỏi bị lôi kéo vào một vị trí không thuộc sứ mạng của người mục tử. Với tư cách là người của Giáo Hội, các mục tử biết đứng về phía Dân Chúa để hướng dẫn và bảo vệ họ.

Ngoài ra, câu chuyện trên còn nói thêm điều này nữa. “Ta thường nghĩ rằng phục vụ có nghĩa là cho người khác một cái gì đó, dạy cho họ nói năng, hành động hoặc cư xử; nhưng nay phục vụ khiêm tốn, đích thực trước hết chính là giúp người khác khám phá ra rằng họ đang sở hữu những tài năng rất lớn nhưng thường ẩn khuất, đến độ họ có thể hơn cả những gì ta có thể làm cho họ”.[5]

4- Đón nhận đau khổ khi thi hành sứ vụ

Tình yêu và đau khổ luôn đi liền với nhau. Bởi vì yêu thương nên mới đau khổ. Chân lý đó được minh chứng qua cuộc đời và sứ mạng của Đức Kitô. Quả thế, khi thi hành sứ vụ, thập giá luôn gắn liền với sứ vụ cứu độ của Đấng Cứu Thế. Đức Giêsu cũng phải trải qua những kinh nghiệm thất bại, chống đối, bị sỉ nhục mà tột đỉnh của nó là cái chết đau đớn trên thập giá.

Cuộc đời không phải luôn là một thảm hoa màu rực rỡ mà không có những gai nhọn. Sẽ rất ảo tưởng nếu chỉ thấy đời mục tử toàn là những thành công mà không có thất bại, đau khổ và chống đối. Trong cuộc sống của người mục tử, có những nỗi đau vì không được cảm thông; có những hiểu lầm vì không được lắng nghe; có những thất bại xảy ra ngoài ý muốn.

Vì thế, người mục tử không chỉ biết đón nhận những thành công nhưng còn phải biết đón nhận những thất bại và đau khổ trong đời sống linh mục. Có thể nói đau khổ thường gắn liền với sứ vụ mục tử. Chính đau khổ làm cho vị mục tử nên giống Đức Kitô hơn. Khi đau khổ, chỉ có ai biết ngước nhìn lên thập giá mới khám phá ý nghĩa của đau khổ. Thập giá là sức mạnh để các mục tử không quỵ ngã trước thử thách. Thập giá mang lại hy vọng để kiên nhẫn đón nhận những biến cố đau thương của ngày Thứ Sáu và biết hy vọng đời chờ hoa quả cứu độ của ngày Chúa Nhật Phục Sinh.

Khi suy mầu nhiệm sự Thương, chúng ta ngắm: “Thứ ba thì ngắm Đức Chúa Giêsu chịu đội mão gai, ta hãy xin cho được chịu mọi sự sỉ nhục bằng lòng”. Như thế, chúng ta xin cho biết đón nhận những đau khổ, chịu sỉ nhục và cả thất bại trong đời sống của mình theo thánh ý Chúa.

Nếu chúng ta biết đón nhận đau khổ và thất bại trong mục vụ với thái độ đức tin, thì đó sẽ là cơ hội giúp chúng ta lớn lên về các nhân đức. Thánh Ignatiô Loyola tự rèn luyện mình bằng cách xin chịu đau khổ và sỉ nhục như là phương thế để tránh sự kiêu ngạo và vì danh Chúa được vinh hiển. Theo ngài, có ba bậc khiêm nhường: thứ nhất là xin Chúa dẫn ta tới sự nghèo khó tinh thần tột bậc, bậc thứ hai là xin Chúa dẫn ta đến sự ước ao chịu những nhục nhã và khinh bỉ đối lập với danh vọng thế gian, bởi vì do hai điều này mà có sự khiêm nhường; bậc thứ ba là sự khiêm nhường đối lập với kiêu ngạo; và từ ba bậc thang này dẫn ta tới mọi nhân đức.[6]

Tạm kết

Nếu để tìm một hình ảnh sống động của một mục tử trong Giáo Hội hiện nay đang thu hút và lôi cuốn mọi người, thì không ai khác hơn chính là Đức Giáo Hoàng Phanxicô.

Với cương vị là một vị Giáo Hoàng đứng đầu Giáo Hội, ngài có bao nhiêu bổn phận và bận rộn công việc hằng ngày, nhưng vị Giáo Hoàng đó mỗi lần xuất hiện với dân chúng, người ta gặp thấy một vị mục tử hồn nhiên, vui tươi, thân thiện và khiêm tốn. Đức Phanxicô toát lên một vẽ đẹp đáng quý và đáng yêu của một người mục tử chân chính, một mục tử có niềm vui thực sự của Chúa Kitô, một mục tử có đầy tràn Thần Khí. Vị Giáo Hoàng này không áp đặt ai, không loại trừ ai, nhưng với cung cách khiêm tốn, chân thành, và khôn ngoan, Ngài thu phục mọi người về với Chúa. Ngài quả là tấm gương phản chiếu dung mạo đích thực của vị Mục Tử nhân lành. Bởi vì Ngài đã sống những giá trị của Tin Mừng và thực thi sứ vụ mục tử theo một cung cách rất nhân bản và nhân văn.

Dịp tĩnh tâm linh mục giáo phận Vinh 31/12/2015

Linh mục Phêrô Nguyễn Văn Hương

[1] www.vatican2voice.org/91docs/opening_speech.htm. All papal quotes for this book are from the Vatican website.

[2] x. PO 14.

[3] Shah Indries, The Way of the Sufi, New York: E. P. Dutton & Co., Inc. 1970 tr. 207 tt.

[4] Kim Chỉ Nam về Tác vụ và Đời sống Linh mục, Nxb. Tôn giáo 2013, tr. 89.

[5] Henri Neuwen et alii, Lòng thương xót, Nxb. Tôn giáo 2002, tr. 106-107.

[6] Ignatiô Loyola, Linh Thao, 146.

Read More
19Tháng Mười Hai
2021

10 Điều Đức Giáo Hoàng Phanxicô muốn chúng ta học hỏi từ hang đá Giáng sinh

19/12/2021
Anmai
Chia sẻ, Giáo dục
0

10 Điều Đức Giáo Hoàng Phanxicô muốn chúng ta học hỏi từ hang đá Giáng sinh

10 Điều Đức Giáo Hoàng Phanxicô muốn chúng ta học hỏi từ hang đá Giáng sinh

Đức Giáo Hoàng Phanxicô nói rằng qua việc tạo nên hang đá Giáng sinh, Thánh Phanxicô Assisi đã “thực hiện một công công cuộc truyền bá Phúc Âm vĩ đại”, điều vẫn tiếp tục lay động tâm hồn cho đến ngày nay.

Vào năm 2019, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã ban hành một Tông thư về ý nghĩa và tầm quan trọng của hang đá Giáng sinh. Ngài đã ký vào tài liệu Admirabile signum (“Dấu chỉ lạ lùng”), vào ngày 01 tháng 12 năm đó, tại Đền Chúa Giáng Sinh ở Greccio, một khu phố trên đồi ở vùng Lazio của Ý.

Việc lựa chọn Greccio mang nhiều có ý nghĩa, bởi vì chính vào năm 1223, Thánh Phanxicô Assisi đã tạo nên hang đá Giáng sinh đầu tiên trong lịch sử.

Trong Tông thư, được nhiều người xem là một trong những văn kiện xúc động nhất trong triều đại giáo hoàng của Đức Phanxicô, Đức Giáo Hoàng hướng đến việc “khuyến khích truyền thống tốt đẹp của gia đình là chuẩn bị hang đá Giáng sinh trong những ngày trước Lễ Giáng Sinh.”

Dưới đây là 10 điều mà Đức Giáo Hoàng Phanxicô muốn chúng ta học hỏi từ hang đá Giáng sinh, được rút ra từ Tông thư Admirabile signum.

1. Hang đá Giáng sinh giống như một Tin Mừng sống động. Đức Giáo Hoàng viết rằng việc diễn tả về sự ra đời của Chúa Giêsu là“một lời loan báo cách đơn sơ và vui tươi về mầu nhiệm Nhập Thể của Con Thiên Chúa”. Hang đá Giáng sinh mời gọi tất cả những ai chiêm ngưỡng nó “ bước vào một cuộc hành trình thiêng liêng, được lôi cuốn bởi sự khiêm nhường của Thiên Chúa, Đấng đã làm người để gặp gỡ mọi người nam và nữ.”

gs2optimized
Hang đá Giáng sinh ở Vatican – Ảnh: Agencia Andina

2. Phong tục này bắt nguồn từ trong Kinh Thánh. Đức Giáo Hoàng Phanxicô nhấn mạnh rằng hoạt cảnh Giáng sinh xuất hiện từ “các trang của Kinh Thánh”. Tin Mừng theo Thánh Luca kể rằng Đức Maria “hạ sinh con trai đầu lòng, lấy tã bọc con trẻ, rồi đặt con trẻ nằm trong máng cỏ, vì không có chỗ cho ông bà trong quán trọ” (Lc 2,7). Máng cỏ là tâm điểm của hang đá Giáng sinh. Thật vậy, từ tiếng Ý để chỉ hang đá Giáng sinh là “presepe”, từ tiếng Latinh là “praesepium”, có nghĩa là “máng cỏ”.

gs3
ĐGH Phanxicô đến thăm địa điểm diễn ra hang đá Giáng Sinh đầu tiên ở Greccio, Ý, năm 2015 – Ảnh: Vatican Media

3. Truyền thống này được khai sinh từ một thị trấn khiêm tốn ở Ý. Thánh Phanxicô Assisi đã dừng chân tại Greccio vào tháng 11 năm 1223, có lẽ trên đường trở về từ Rôma sau khi nhận được sự phê chuẩn của Đức Giáo hoàng đối với bộ Luật dòng của ngài. Mười lăm ngày trước Lễ Giáng Sinh, Thánh Phanxicô đã nhờ một người đàn ông địa phương tên là Gioan trợ giúp ngài trong việc “tái hiện ký ức về hài nhi được sinh ra ở Bêlem, để có thể thấy bằng chính đôi mắt của tôi, sự nghèo khó thiếu thốn của hài nhi, cách Người nằm trong máng cỏ, và cách Người được đặt nằm trên một chiếc giường đệm cỏ với các con bò lừa đứng bên cạnh.” Vào ngày Lễ Giáng Sinh, các tu sĩ của ngài và những người từ khu vực xung quanh đã đến để cùng tham gia với Thánh Phanxicô trước một máng cỏ đầy cỏ khô, được canh chừng bởi một con bò và một con lừa.

gs41
ĐGH Phanxicô chúc lành cho hang đá Giáng sinh gần Vatican năm 2019

4. Hang đá Giáng sinh đầu tiên được nối kết với Bí tích Thánh Thể. Mô tả khung cảnh ở Greccio ngày hôm đó, Đức Thánh Cha Phanxicô viết: “Tất cả những người có mặt đều trải qua một niềm vui mới mẻ và không thể diễn tả được khi hiện diện trước hang đá Giáng sinh. Sau đó vị linh mục đã long trọng cử hành Thánh lễ trước máng cỏ, chứng tỏ mối liên hệ giữa cuộc Nhập thể của Con Thiên Chúa và Bí tích Thánh Thể.” Đức Giáo Hoàng còn nói rằng không giống như ngày nay, lúc đó hang đá Giáng sinh vốn chẳng có bức tượng nào. Thay vào đó, “hang đá Giáng sinh đã được thực hiện và trải nghiệm bởi tất cả những người có mặt”.

gs5optimized
Hang đá Giáng sinh – Ảnh: Ben White / Unsplash.com

5. Hang đá Giáng sinh ban đầu đã truyền cảm hứng cho một thị kiến. Đức Giáo Hoàng nhớ lại rằng một trong những chứng nhân của hang đá Giáng sinh đầu tiên đã nhìn thấy “một thị kiến ​​tuyệt diệu.” Tôma Celano, người viết cuốn tiểu sử đầu tiên về Thánh Phanxicô, đã viết rằng “một trong những người có mặt đã nhìn thấy chính Chúa Giêsu Hài Đồng đang nằm trong máng cỏ”.

the-context-and-content-of-the-nativity
Cảnh Giáng sinh – Ảnh: Jubilee Centre

6. Hang đá Giáng sinh là một phương tiện truyền bá Phúc Âm. Đức Giáo Hoàng nói rằng bằng cách tạo nên hang đá Giáng sinh, Thánh Phanxicô đã “thực hiện một công việc truyền bá Phúc Âm vĩ đại”, điều vẫn tiếp tục lay động tâm hồn cho đến ngày nay. Thánh nhân đã khám phá ra “một phương tiện đơn giản nhưng chân thực để diễn tả vẻ đẹp về đức tin của chúng ta”, điều mà tất cả mọi người đều có thể tiếp cận được.

gs7
ĐGH Phanxicô xông hương hang đá Giáng sinh tại Vương cung Thánh đường Thánh Phêrô năm 2017 – Vatican Media

7. Máng cỏ là dấu chỉ về tình yêu của Thiên Chúa. Đức Giáo Hoàng Phanxicô viết rằng các hang đá Giáng sinh gây được tiếng vang sâu sắc vì chúng biểu lộ tình yêu dịu dàng của Thiên Chúa. Các hang đá Giáng sinh công bố rằng “Đấng Tạo Hóa của vũ trụ đã hạ mình xuống để đón lấy sự nhỏ bé của chúng ta.” Các hang đá Giáng sinh cuốn hút các giác quan và trí tưởng tượng, giúp mọi người “cảm nhận” và “chạm đến” sự nghèo khó mà Con Thiên Chúa đã đón lấy trong cuộc Nhập thể.

gs8
Một cảnh Giáng sinh ở Castelli – Ảnh từ Youtube

8. Hang đá Giáng sinh chứa đựng một lời mời gọi phục vụ. Đức Giáo Hoàng nói rằng hang đá Giáng sinh chứa đựng một thông điệp sâu xa. Ngài viết: “Hang đá Giáng sinh mời gọi chúng ta dấn bước theo Người trên con đường khiêm nhường, khó nghèo, và từ bỏ bản thân, dẫn đi từ máng cỏ Bêlem cho đến thập giá. Hang đá Giáng sinh mời gọi chúng ta hãy gặp gỡ Người và phục vụ Người bằng cách bày tỏ lòng nhân từ đối với những người anh chị em túng thiếu nhất của chúng ta.”

gs9optimized
Bức tranh “Chúa Giáng sinh” của Rogier van der Weyden – Public Domain

9. Ngay cả cảnh quang của hang đá Giáng sinh cũng chứa đựng ý nghĩa. Đức Giáo Hoàng lưu ý rằng những diễn tả về biến cố Giáng sinh thường bao gồm “những tàn tích của các ngôi nhà hay công trình cổ xưa”. Ngài viết: “Hơn bất cứ điều gì, những tàn tích là dấu chỉ hữu hình của nhân loại sa ngã, của mọi thứ chắc chắn rơi vào cảnh đổ nát, suy tàn và thất vọng. Cảnh quang tuyệt đẹp này cho chúng ta biết rằng Chúa Giêsu là sự mới mẻ giữa một thế giới già cỗi, Người đã đến để chữa lành và tái thiết, để khôi phục thế giới và cuộc sống của chúng ta trở lại tình trạng huy hoàng thuở ban đầu.”

gs10
Ảnh: Courtney Mares.

10. Hang đá Giáng sinh nuôi dưỡng lòng sùng kính đối với Đức Maria và Thánh Giuse. Đức Giáo Hoàng nhận định rằng Đức Trinh Nữ Maria được biểu lộ như “một người mẹ đang chiêm ngưỡng con của mình và bày tỏ người con này cho mọi người đến viêng thăm”. Nơi Mẹ, “chúng ta thấy Mẹ Thiên Chúa không chỉ giữ Con của Mẹ cho riêng mình, nhưng mời gọi mọi người vâng theo lời Người và đem ra thực hành.” Thánh Giuse đứng bên cạnh Mẹ Maria, bảo vệ Mẹ và Chúa Hài Đồng. Hang đá Giáng sinh nhắc nhở chúng ta rằng Thánh Giuse “luôn phó thác chính mình cho ý muốn của Thiên Chúa và đem ý muốn đó ra thực hành” và khuyến khích chúng ta làm theo.
Tác giả: Catholic News Agency 

Read More

Điều hướng bài viết

  • Previous page
  • Page 1
  • …
  • Page 56
  • Page 57
  • Page 58
  • …
  • Page 152
  • Next page
Bài viết mới nhất
THƯ GỬI SINH VIÊN, HỌC SINH CÔNG GIÁO NHÂN DỊP MỪNG XUÂN BÍNH NGỌ
11/02/2026
THƯ GỬI SINH VIÊN, HỌC SINH CÔNG GIÁO NHÂN DỊP MỪNG LỄ CHÚA GIÁNG SINH 2025
20/12/2025
THƯ GỬI ANH CHỊ EM GIÁO CHỨC CÔNG GIÁO NHÂN NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM 20.11.2025  
17/11/2025
Video nổi bật
https://www.youtube.com/watch?v=Td144YDsaGo
Sự kiện sắp tới

There are no upcoming events at this time.

Ủy ban Giáo dục Công giáo – Trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.

Liên hệ

72/12 Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, TP.HCM Get Directions

Phone: +84 931 436 131

Email: [email protected]

Ban chuyên môn
  • Ban Tài liệu và Truyền thông
  • Ban Giáo chức
  • Ban Kỹ năng và Giá trị sống
  • Ban Khuyến học
  • Ban Học viện Thần học
  • Ban Hội Học sinh – Sinh viên
Chuyên mục
  • Tin tức
  • Thư chung
  • Giáo dục
  • Phụng vụ
  • Thư viện
Bản quyền © 2020 thuộc về Ủy Ban Giáo Dục HĐGM VN. Design by JT.