2026
THỰC HÀNH SỐNG SỰ HIỆN DIỆN CỦA THIÊN CHÚA – ĐOẠN ĐỐI THOẠI THỨ TƯ
THỰC HÀNH SỐNG SỰ HIỆN DIỆN CỦA THIÊN CHÚA – ĐOẠN ĐỐI THOẠI THỨ TƯ
CUỘC ĐỐI THOẠI THỨ TƯ
* Con đường đến với Thiên Chúa.
* Sự từ bỏ trọn vẹn.
* Cầu nguyện và chúc tụng gìn giữ linh hồn khỏi chán nản.
* Thánh hóa các công việc thường ngày.
* Cầu nguyện và sự hiện diện của Thiên Chúa.
* Cốt lõi của đời sống đạo.
* Sự nhìn nhận chính mình.
* Thêm những kinh nghiệm riêng tư khác.
Rất nhiều lần, thầy trò chuyện với tôi bằng tấm lòng hoàn toàn cởi mở về con đường đến với Thiên Chúa, như tôi đã kể lại ở trên.
Thầy nói rằng: Tất cả cốt tại một điều duy nhất, đó là dứt khoát từ bỏ một cách chân thành mọi sự mà ta nhận thấy không dẫn ta đến cùng Thiên Chúa. Để từ đó, ta có thể tập cho mình thói quen trò chuyện liên lỉ với Ngài, trong sự tự do và giản dị. Ta chỉ cần nhận biết Thiên Chúa đang hiện diện cách mật thiết với mình, rồi ngỏ lời với Ngài trong từng giây phút: để xin Ngài soi sáng thánh ý trong những việc còn hồ nghi; để thực hiện cho đúng đắn những điều ta thấy rõ Ngài đòi hỏi; và để dâng lên Ngài các việc trước khi làm, cũng như tạ ơn Ngài khi đã hoàn tất.
Trong cuộc tâm giao ấy với Thiên Chúa, ta cũng hãy không ngừng chúc tụng, thờ lạy và yêu mến Ngài vì lòng nhân hậu và sự trọn hảo vô cùng của Ngài.
Thầy khuyên: ta chớ nản lòng vì những lỗi phạm của mình, nhưng phải cầu xin ơn Ngài với lòng tín thác trọn vẹn, cậy dựa vào công nghiệp vô cùng của Đức Kitô. Thiên Chúa chẳng bao giờ từ chối ban ơn cho ta trong từng hành động. Thầy nghiệm thấy điều ấy rất rõ: Ngài chỉ không ban ơn khi tư tưởng thầy xao nhãng khỏi sự hiện diện của Ngài, hay khi thầy quên cầu xin sự trợ giúp của Ngài mà thôi.
Thiên Chúa không bao giờ ngừng ánh sáng trong những điều ta còn hồ nghi, miễn là ta không có ý định nào khác ngoài việc làm đẹp lòng Ngài.
Thầy khẳng định: việc thánh hóa bản thân không hệ tại ở việc thay đổi các việc làm, mà cốt ở chỗ: ta làm vì Thiên Chúa những điều mà người đời thường làm vì bản thân. Thật đáng thương khi thấy biết bao người lầm lẫn phương tiện với cứu cánh, cứ mải mê bám víu vào những việc đạo đức nào đó, mà lại thực hiện chúng một cách rất bất toàn, vì những động cơ nhân loại hay lòng vị kỷ.
Cách thế tuyệt hảo nhất mà thầy tìm được để đến với Thiên Chúa, là chu toàn các công việc thường ngày, không nhằm làm đẹp lòng người đời (x. Gl 1,10; Ep 6,5–6), mà là làm hết sức có thể hoàn toàn vì lòng yêu mến Thiên Chúa.
Thầy chia sẻ: thật là một ảo tưởng lớn khi cho rằng giờ cầu nguyện phải khác biệt với các giờ khác. Bởi lẽ, ta có bổn phận phải gắn bó với Thiên Chúa qua hành động trong giờ làm việc, cũng nghiêm ngặt hệt như qua việc cầu nguyện trong giờ cầu nguyện vậy.
Lời cầu nguyện của thầy chẳng là gì khác, ngoài cảm thức về sự hiện diện của Thiên Chúa; khi ấy, linh hồn thầy chẳng còn cảm thấy điều gì khác, ngoại trừ Tình Yêu Thần Linh. Và khi những giờ cầu nguyện đã qua, thầy không thấy có gì khác biệt, bởi thầy vẫn tiếp tục ở lại với Thiên Chúa, chúc tụng và ngợi khen Ngài hết sức mình. Chính vì thế, thầy sống trọn đời trong niềm vui liên lỉ; dù thầy vẫn hy vọng rằng khi mình đã trở nên vững mạnh hơn, Thiên Chúa sẽ cho thầy được chịu chút đau khổ nào đó.
Thầy xác tín: một lần cho mãi mãi, ta phải đặt trọn niềm tín thác nơi Thiên Chúa và toàn hiến cho Ngài, với niềm xác tín rằng Ngài sẽ chẳng bao giờ lừa dối ta. Ta chớ nản lòng khi làm những việc rất nhỏ bé vì lòng yêu mến Thiên Chúa. Bởi lẽ, Thiên Chúa không xét giá trị công việc dựa trên vẻ lớn lao của nó, nhưng dựa trên tình yêu mà ta đặt vào đó. Ta cũng đừng ngạc nhiên nếu lúc đầu ta thường thất bại trong những cố gắng của mình. Bởi rồi đây, một thói quen sẽ được hình thành, và chính thói quen ấy sẽ khiến mọi hành động diễn ra một cách tự nhiên, chẳng cần ta phải gắng sức nhiều, mà lại đem đến niềm vui rất đỗi lớn lao.
Toàn bộ cốt lõi của đời sống đạo nằm trọn trong Đức Tin, Đức Cậy và Đức Mến. Nhờ thực hành ba nhân đức ấy, ta được kết hợp với thánh ý Thiên Chúa. Mọi sự khác đều là thứ yếu, và chỉ là phương tiện giúp ta đạt tới cứu cánh, để rồi nhờ Đức Tin và Đức Mến, ta được hòa mình trọn vẹn vào cứu cánh ấy.
Mọi sự đều có thể đối với người tin; mọi sự sẽ bớt khó khăn hơn đối với người cậy trông; mọi sự trở nên dễ dàng hơn với người yêu mến; và mọi sự càng dễ dàng hơn nữa với người biết kiên trì thực hành ba nhân đức ấy.
Thầy nói rằng: Mục đích cuối cùng ta phải đặt ra cho đời mình là trở nên những người thờ phượng Thiên Chúa cách trọn hảo nhất có thể ngay trong đời này, như ta vẫn hy vọng sẽ được như thế trong cõi vĩnh hằng.
Khi bước vào đời sống thiêng liêng, ta phải xét mình tận đáy lòng để nhận ra thực trạng tâm hồn của mình. Khi ấy, ta sẽ thấy mình xứng đáng chịu mọi sự khinh chê, và quả thật chẳng xứng đáng mang danh Kitô hữu. Ta là kẻ phải chịu đủ mọi cảnh khốn cùng và vô vàn biến cố; những điều luôn gây ra những thay đổi thất thường về sức khỏe, về tâm tính, cũng như về các trạng thái bên trong và bên ngoài của ta. Tóm lại, ta là những con người mà Thiên Chúa muốn làm cho khiêm nhường bằng nhiều đau khổ và lao nhọc, cả bên trong lẫn bên ngoài. Sau khi nhận thức được điều ấy, ta sẽ chẳng còn ngạc nhiên khi gặp phải những thử thách, cám dỗ, hay những sự trái ý từ phía người đời. Trái lại, ta phải đón nhận và chịu đựng những điều ấy bao lâu Thiên Chúa muốn, và xem chúng như những điều rất hữu ích cho ta.
Linh hồn càng khao khát sự trọn lành bao nhiêu, thì càng phải lệ thuộc vào ân sủng Thiên Chúa bấy nhiêu.
Khi một người trong cộng đoàn, người mà thầy có bổn phận phải mở lòng, hỏi thầy rằng bằng cách nào thầy đã đạt tới một cảm thức thường xuyên về sự hiện diện của Thiên Chúa, thầy trả lời rằng: Ngay từ bước chân đầu tiên vào tu viện, thầy đã đặt Thiên Chúa làm Cứu Cánh của mọi tư tưởng và ước muốn, làm Đích Điểm mà tất cả phải quy hướng về và dừng lại nơi đó.
Trong thời gian tập viện, thầy đã tận dụng những giờ cầu nguyện riêng để hướng lòng về Thiên Chúa, hầu thuyết phục tâm trí và in sâu vào lòng sự hiện hữu của Đấng Thần Linh. Thầy làm điều này không bằng những suy lý trau chuốt hay những bài suy niệm cầu kỳ, nhưng bằng những tâm tình sốt sắng và sự quy phục dưới ánh sáng đức tin. Nhờ phương thế ngắn gọn và chắc chắn này, thầy tự luyện tập việc nhận biết và yêu mến Thiên Chúa. Thầy quyết tâm sống liên lỉ trong cảm thức về sự hiện diện của Ngài, và nếu có thể, chẳng bao giờ lãng quên Ngài nữa.
Thầy chia sẻ: Khi việc cầu nguyện đã giúp tâm trí thầy thấm nhuần những tâm tình cao cả về Đấng Vô Cùng, thầy đi vào làm công việc được giao trong bếp (vì thầy là người nấu ăn cho cộng đoàn). Tại đó, sau khi đã xem xét từng việc bổn phận đòi hỏi, việc nào phải làm, lúc nào và cách nào, thầy dành mọi khoảng thời gian trống, cả trước lẫn sau công việc, để cầu nguyện.
Khi bắt đầu công việc, thầy thưa với Thiên Chúa, với lòng tín thác của người con: “Lạy Thiên Chúa của con, vì Chúa đang ở cùng con, và giờ đây con phải vâng lệnh Chúa mà lo toan những việc bên ngoài này; con nài xin Chúa ban ơn để con vẫn được ở lại trong sự hiện diện thánh của Ngài. Xin Chúa giúp con chu toàn công việc này cho tốt đẹp; xin đón nhận mọi việc con làm, và ôm trọn mọi tâm tình của con.”
Trong khi làm việc, thầy tiếp tục cuộc trò chuyện thân tình với Đấng Tạo Hóa, nài xin ơn Ngài và dâng lên Ngài mọi hành động.
Khi đã xong việc, thầy xét mình xem đã chu toàn bổn phận ra sao: Nếu làm tốt, thầy dâng lời tạ ơn Thiên Chúa, nếu không, thầy xin Ngài tha thứ nhưng chẳng hề nản chí. Thầy điều chỉnh lại lòng mình, và tiếp tục thực hành sự hiện diện của Thiên Chúa như thể mình chưa từng đi lạc khỏi Ngài. Thầy nói: “Chính nhờ biết đứng dậy sau những lần sa ngã, và nhờ những hành vi đức tin và đức mến được lặp đi lặp lại không ngừng, mà tôi đã đạt tới trạng thái này: Giờ đây, đối với tôi, việc không nghĩ đến Thiên Chúa còn khó khăn hơn nhiều so với việc phải tập nghĩ đến Ngài lúc ban đầu.
Vì Thầy Lawrence đã tìm được những lợi ích lớn lao khi bước đi trong sự hiện diện của Thiên Chúa, nên điều tự nhiên là thầy tha thiết khuyên người khác cũng sống như vậy. Tuy nhiên, gương sống của thầy còn thuyết phục hơn mọi lý lẽ mà thầy có thể đưa ra. Chính dung mạo của thầy đã là một lời giáo huấn, nơi đó toát ra một vẻ đạo đức dịu dàng và bình an, khiến những ai nhìn thấy không thể không xúc động. Người ta nhận xét rằng, ngay cả trong lúc công việc bếp núc hối hả nhất, thầy vẫn giữ được sự hồi tâm và hướng thượng. Thầy không bao giờ hấp tấp, cũng chẳng lười biếng; thầy làm mọi sự đúng lúc, với một sự điềm tĩnh và an hòa không gián đoạn. Và thầy nói: “Giờ làm việc đối với tôi không khác gì giờ cầu nguyện. Giữa những tiếng ồn ào, lanh canh trong nhà bếp, khi nhiều người cùng lúc gọi tôi vì những việc khác nhau, tôi vẫn gặp gỡ Thiên Chúa trong một sự bình an sâu thẳm, chẳng khác gì khi tôi quỳ gối trước Thánh Thể.”
Tô Linh
Chuyển ngữ từ: basilica.ca
2026
TÂM THẦN PHÂN LIỆT
TÂM THẦN PHÂN LIỆT
Tâm thần phân liệt là một rối loạn tâm thần nặng, kéo dài, thuộc nhóm rối loạn loạn thần, ảnh hưởng đến cách một người suy nghĩ, cảm nhận, diễn giải thực tại và hành xử trong đời sống hằng ngày. Đây không phải là tình trạng “đa nhân cách”, cũng không đơn giản chỉ là “thần kinh yếu” hay “suy nghĩ tiêu cực quá mức”, nhưng là một bệnh lý tâm thần thực sự, có thể làm suy giảm sâu sắc khả năng học tập, lao động, chăm sóc bản thân, duy trì các mối quan hệ và hòa nhập xã hội. Tổ chức Y tế Thế giới cho biết bệnh này ảnh hưởng khoảng 23 triệu người trên toàn cầu; ước tính khoảng 1 trên 345 người nói chung và khoảng 1 trên 233 người trưởng thành. Bệnh thường khởi phát vào cuối tuổi vị thành niên hoặc giai đoạn đầu tuổi trưởng thành, và nam giới thường có xu hướng khởi phát sớm hơn nữ giới.
Cần nói cho thật chính xác rằng tâm thần phân liệt không phải là một tình trạng duy nhất giống hệt nhau ở mọi bệnh nhân. Biểu hiện của bệnh rất đa dạng. Có người nổi bật với ảo giác và hoang tưởng; có người lại chủ yếu sống thu mình, giảm cảm xúc, giảm động lực, học tập và làm việc sa sút; cũng có người rối loạn chú ý, trí nhớ và khả năng tổ chức đời sống hằng ngày. Vì thế, trong thực hành lâm sàng hiện nay, người ta thường mô tả triệu chứng của tâm thần phân liệt theo ba nhóm lớn: triệu chứng loạn thần hoặc “dương tính”, triệu chứng “âm tính”, và triệu chứng nhận thức. Cách phân chia này được NIMH và nhiều tài liệu chuyên môn dùng để giúp hiểu đúng hơn về bệnh.
Trước hết là triệu chứng dương tính. Từ “dương tính” ở đây không có nghĩa là “tốt”, mà là những biểu hiện được “thêm vào” so với hoạt động tâm thần bình thường. Nhóm này bao gồm hoang tưởng, ảo giác, tư duy vô tổ chức, lời nói vô tổ chức và đôi khi hành vi rất lạ lùng hoặc kích động. Đây thường là những biểu hiện khiến người thân dễ nhận ra nhất, vì bệnh nhân có vẻ như đang mất dần khả năng phân biệt giữa điều có thật và điều không có thật. Các nguồn uy tín như WHO, NIMH, NHS và Mayo Clinic đều mô tả tâm thần phân liệt như một rối loạn thường gắn với tình trạng loạn thần, nghĩa là người bệnh có thể không còn nhận định đúng thực tại trong một số giai đoạn.
Hoang tưởng là những niềm tin sai lệch, bền vững, không phù hợp với thực tế, và người bệnh vẫn giữ niềm tin ấy ngay cả khi đã có bằng chứng rõ ràng bác bỏ. Thí dụ, họ có thể tin rằng mình đang bị theo dõi, bị đầu độc, bị người khác cài thiết bị nghe lén, hoặc tin rằng các thông điệp trên truyền hình, mạng xã hội, biển số xe, ánh mắt người khác đều nhắm riêng vào mình. Điểm quan trọng là những niềm tin ấy không chỉ là “nghi ngờ nhiều” hay “sợ hãi vu vơ”, nhưng là sự xác tín méo lệch đến mức chi phối hành vi và cảm xúc của người bệnh. Hoang tưởng là một trong những biểu hiện kinh điển của loạn thần.
Ảo giác là tri giác xuất hiện dù không có kích thích thật từ bên ngoài. Trong tâm thần phân liệt, ảo giác thính giác là thường gặp nhất, đặc biệt là nghe thấy tiếng nói mà người khác không nghe được. Những tiếng nói ấy có thể bình phẩm, ra lệnh, đe dọa, chế giễu hoặc tranh luận với người bệnh. Ngoài ra còn có thể gặp ảo giác nhìn, ngửi, nếm hoặc cảm giác cơ thể, nhưng chúng ít điển hình hơn. Điều cần nhấn mạnh là đối với người bệnh, trải nghiệm này là thật; vì vậy nếu người xung quanh chỉ đơn giản gạt đi rằng “không có gì đâu”, đôi khi bệnh nhân không thể tiếp nhận được, bởi cảm giác họ đang trải qua là hoàn toàn sống động đối với chính họ.
Rối loạn tư duy và lời nói là một biểu hiện trung tâm khác. Người bệnh có thể nói lan man, chệch đề, câu trước không nối được với câu sau, dùng từ bất thường, đang nói giữa chừng thì ngừng lại, hoặc diễn đạt rất khó hiểu. Trong trường hợp nặng, ngôn ngữ có thể trở nên rời rạc đến mức gần như mất mạch lạc. NIMH mô tả đây là “thought disorder” hay những kiểu suy nghĩ bất thường; Mayo Clinic và các tài liệu khác cũng nhấn mạnh đến tư duy và hành vi vô tổ chức như một phần quan trọng của bệnh.
Kế đến là triệu chứng âm tính. Gọi là “âm tính” vì chúng phản ánh sự suy giảm hoặc mất đi những chức năng vốn có ở một con người bình thường. Bệnh nhân có thể giảm biểu lộ cảm xúc, khuôn mặt ít thay đổi, giọng nói đơn điệu, ít nói, mất hứng thú, giảm động lực, giảm khả năng khởi xướng công việc, khó duy trì quan hệ xã hội, thu mình, bỏ bê học tập hoặc công việc và giảm cảm giác vui thích trong các hoạt động từng yêu thích. Đây là nhóm triệu chứng thường bị hiểu lầm nhất, vì người ngoài dễ cho rằng bệnh nhân “lười”, “lạnh lùng”, “không cố gắng”, “vô cảm” hoặc “khó gần”, trong khi thực tế đây có thể là biểu hiện trực tiếp của bệnh.
Một trong những điểm làm tâm thần phân liệt trở nên nặng nề là chính triệu chứng âm tính nhiều khi kéo dài hơn và làm suy giảm chức năng xã hội bền bỉ hơn cả các cơn loạn thần rầm rộ. Người bệnh có thể không còn muốn gặp ai, không còn thiết tha với việc học hay việc làm, không thấy hứng thú với cuộc sống, nói năng nghèo nàn, ít chăm sóc bản thân. Gia đình thường đau lòng vì thấy người thân “không còn là chính mình”, sống ngày càng xa cách, ít biểu lộ niềm vui nỗi buồn, như thể cả thế giới cảm xúc bị làm cho cùn đi. Đây là lý do vì sao điều trị tâm thần phân liệt không thể chỉ nhắm đến việc hết ảo giác hay hết hoang tưởng, mà còn phải phục hồi động lực sống, kỹ năng xã hội và khả năng tự lập.
Nhóm thứ ba là triệu chứng nhận thức. NIMH nêu rõ rằng người bệnh có thể gặp khó khăn về chú ý, tập trung và trí nhớ; những khó khăn này khiến họ khó theo dõi một cuộc trò chuyện, khó học cái mới, khó nhớ lịch hẹn, khó tổ chức công việc hoặc sắp xếp một ngày sống bình thường. “Trí nhớ làm việc” là một chức năng đặc biệt quan trọng: nó giúp ta giữ thông tin trong đầu đủ lâu để xử lý, lập kế hoạch, quyết định điều gì làm trước làm sau và hoàn thành chuỗi hành động. Khi chức năng này suy giảm, đời sống thường nhật của bệnh nhân có thể rối tung: thức dậy không biết phải làm gì trước, quên giữa chừng, không theo nổi các chỉ dẫn nhiều bước, khó duy trì việc làm hoặc việc học.
Chính nhóm triệu chứng nhận thức này thường tồn tại dai dẳng, kể cả trong những giai đoạn người bệnh không còn loạn thần rầm rộ. Vì vậy, có những bệnh nhân sau khi cơn cấp đã ổn hơn, không còn nói chuyện hoang tưởng nhiều nữa, nhưng vẫn rất khó quay trở lại nếp sống bình thường, vì họ còn bị ảnh hưởng nặng ở khả năng tập trung, ghi nhớ, hoạch định và điều hành hành vi. Ở khía cạnh phục hồi lâu dài, đây là một phần rất quan trọng, vì mức độ hoạt động nhận thức có liên quan chặt chẽ đến khả năng sinh hoạt độc lập và chức năng hằng ngày. NIMH thậm chí nhấn mạnh rằng mức độ chức năng nhận thức là một trong những yếu tố dự báo tốt nhất cho khả năng thích nghi đời sống của bệnh nhân.
Nói như vậy để thấy rằng, giữa các đợt loạn thần rõ rệt, bệnh nhân thường không hẳn “trở lại bình thường hoàn toàn”. Ở nhiều người, giai đoạn giữa các cơn vẫn có thể còn những nét lập dị trong hành vi, giảm giao tiếp xã hội, động lực suy giảm, cảm xúc nghèo nàn, tư duy chậm, chú ý kém và khả năng tổ chức đời sống giảm sút. Mức độ tồn lưu này khác nhau giữa từng người, nhưng việc nhìn nhận đúng nó rất quan trọng để gia đình không đánh giá sai rằng “đã hết bệnh rồi mà sao vẫn không làm được gì”.
Về thời gian và chẩn đoán, cần cẩn thận với cách diễn đạt. Câu nói “triệu chứng dương tính kéo dài ít nhất sáu tháng” chưa thật chuẩn nếu hiểu theo nghĩa riêng nhóm triệu chứng dương tính phải kéo dài sáu tháng. Trong các tiêu chuẩn chẩn đoán hiện hành, điều được yêu cầu là có dấu hiệu rối loạn liên tục trong ít nhất 6 tháng, trong đó có ít nhất 1 tháng với các triệu chứng giai đoạn hoạt động đáng kể như hoang tưởng, ảo giác hoặc lời nói vô tổ chức, trừ khi đã được điều trị sớm. Nói cách khác, toàn bộ diễn tiến bệnh kéo dài tối thiểu 6 tháng, chứ không phải bắt buộc mọi biểu hiện dương tính đều phải rầm rộ đủ 6 tháng. Đây là một điểm chuyên môn cần nói cho thật chính xác.
Về tần suất mắc bệnh, con số 1% từng được dùng khá phổ biến trong nhiều tài liệu cũ hoặc các bài giảng nhập môn. Tuy nhiên, dữ liệu cập nhật của WHO hiện nêu tỷ lệ thấp hơn: khoảng 0,29% dân số chung và khoảng 0,43% ở người trưởng thành. Vì vậy, nếu muốn nói chặt chẽ theo nguồn cập nhật, nên trình bày rằng tâm thần phân liệt “không hiếm, nhưng cũng không phổ biến tới mức 1% dân số chung như cách nói khái quát trước đây”. Việc dùng số liệu mới giúp bài viết chính xác hơn.
Cũng cần làm rõ một điểm khác: nam giới không nhất thiết mắc nhiều hơn hẳn nữ giới ở mọi khảo sát, nhưng nam giới thường khởi phát sớm hơn, và ở nhiều trường hợp diễn tiến chức năng có thể nặng nề hơn. WHO khẳng định khuynh hướng khởi phát sớm hơn ở nam. Một số số liệu dân số khác cho thấy chênh lệch theo giới có thể không lớn hoặc thay đổi tùy cách đo, dân số khảo sát và định nghĩa bệnh. Bởi vậy, phát biểu thận trọng và chính xác nhất là: bệnh thường khởi phát sớm hơn ở nam giới; còn tần suất và mức độ nặng có thể khác nhau theo từng nghiên cứu.
Phần nói rằng rối loạn nhân cách kiểu tâm thần phân liệt là “dạng nhẹ của tâm thần phân liệt” cũng cần chỉnh cho đúng. Theo Hiệp hội Tâm thần Hoa Kỳ, schizotypal personality disorder là một rối loạn nhân cách, có những nét gần với phổ tâm thần phân liệt như tư duy kỳ dị, khó khăn trong quan hệ gần gũi, cách nhìn nhận méo lệch và hành vi lạ, nhưng nó không đồng nghĩa với tâm thần phân liệt, cũng không nên được hiểu đơn giản là “phiên bản nhẹ” của bệnh này. Hai tình trạng có liên hệ trong phổ bệnh lý, song là các chẩn đoán khác nhau.
Một điều rất quan trọng trong giáo dục sức khỏe tâm thần là phải biết phân biệt triệu chứng loạn thần với tính cách khác người. Có người sống hướng nội, ít nói, hơi lập dị, thích ở một mình, giao tiếp vụng về, nhưng họ vẫn biết rõ đâu là thực đâu là không thực, vẫn học tập, làm việc, tự chăm sóc bản thân và không có ảo giác, hoang tưởng. Trường hợp ấy không thể vội gán là tâm thần phân liệt. Chẩn đoán bệnh này đòi hỏi đánh giá chuyên khoa cẩn thận, phải loại trừ các nguyên nhân khác như rối loạn khí sắc có loạn thần, rối loạn phân liệt cảm xúc, tác động của chất kích thích, bệnh lý thần kinh, hoặc các tình trạng y khoa khác.
Về nguyên nhân, không có một nguyên nhân đơn lẻ duy nhất. Các nguồn chuyên môn nhìn nhận đây là bệnh lý có cơ chế phức hợp, liên quan đến yếu tố di truyền, phát triển thần kinh, môi trường, stress, và ở một số trường hợp là tác động của chất gây nghiện. NIMH nhấn mạnh rằng tâm thần phân liệt được nhìn dưới góc độ phát triển thần kinh; còn Mayo Clinic cũng mô tả nhiều yếu tố nguy cơ như tiền sử gia đình, các yếu tố quanh thai kỳ, stress và sử dụng chất. Điều này có nghĩa: bệnh không phải do “yếu đức tin”, “ý chí kém”, “nuôi dạy sai” hay “suy nghĩ quá nhiều” mà ra. Những cách gán lỗi ấy vừa sai vừa làm tăng mặc cảm cho người bệnh và gia đình.
Cũng vì bệnh là một rối loạn thực sự của chức năng não bộ và tâm thần, nên điều trị cần bài bản, kiên trì và nhiều thành phần. Thuốc chống loạn thần vẫn là nền tảng trong điều trị các triệu chứng loạn thần. Đồng thời, WHO và NIMH đều nhấn mạnh vai trò của các can thiệp tâm lý – xã hội: giáo dục tâm lý cho bệnh nhân và gia đình, trị liệu, hỗ trợ kỹ năng sống, phục hồi chức năng, hỗ trợ học tập – nghề nghiệp và can thiệp gia đình. Với giai đoạn loạn thần đầu tiên, các chương trình chăm sóc chuyên biệt theo nhóm đa ngành như coordinated specialty care cho thấy kết quả tốt hơn khi được triển khai sớm.
Điểm then chốt là can thiệp sớm. NIMH cho biết người bệnh thường có kết quả tốt hơn nếu được chăm sóc sớm ngay sau khi các triệu chứng loạn thần xuất hiện. Điều này rất quan trọng trong thực tế, vì nhiều gia đình chần chừ quá lâu, nghĩ rằng con em mình chỉ đang stress, thất tình, suy nghĩ quá nhiều hoặc “bị ai nói xấu nên buồn”, để rồi đến khi bệnh bùng phát mạnh mới đưa đi khám. Càng trì hoãn, nguy cơ học hành đổ vỡ, mất việc, xung đột gia đình, tự bỏ nhà đi, dùng chất, tự hại hoặc làm tổn thương người khác trong cơn loạn thần càng tăng.
Khi sống chung với người bệnh, gia đình cần nhớ rằng tranh cãi gay gắt để “thắng lý” trước một hoang tưởng thường ít hiệu quả. Điều cần hơn là giữ giọng điệu bình tĩnh, tránh chế nhạo, tránh kích thích thêm xung đột, khuyến khích khám chuyên khoa, theo dõi việc dùng thuốc và tạo môi trường sống đều đặn, ít căng thẳng. Các chiến lược phục hồi hướng đến độc lập, kỹ năng xã hội, kỹ năng sống và hòa nhập nghề nghiệp được WHO đánh giá là có vai trò quan trọng trong điều trị lâu dài.
Tóm lại, nói cho đúng nhất, tâm thần phân liệt là một rối loạn loạn thần nặng và kéo dài, trong đó người bệnh có thể xuất hiện các triệu chứng loạn thần như hoang tưởng, ảo giác, tư duy và ngôn ngữ vô tổ chức; đồng thời còn có những triệu chứng âm tính như thu mình xã hội, giảm cảm xúc, giảm động lực, ít nói; và các triệu chứng nhận thức như giảm chú ý, giảm trí nhớ làm việc và giảm khả năng lập kế hoạch. Nhiều khó khăn của bệnh không chỉ nằm ở cơn loạn thần cấp tính, mà còn ở sự suy giảm chức năng xã hội, nghề nghiệp và đời sống hằng ngày kéo dài sau đó. Tuy nhiên, bệnh có thể được điều trị và phục hồi tốt hơn nếu được phát hiện sớm, dùng thuốc đúng, có hỗ trợ tâm lý – xã hội và có gia đình đồng hành đúng cách.
Nếu người bệnh đang có dấu hiệu nghe tiếng nói ra lệnh, kích động mạnh, mất ngủ nhiều ngày, hoang tưởng nặng, có ý định tự sát hoặc gây nguy hiểm cho người khác, đó là tình huống cần được hỗ trợ y tế khẩn cấp ngay.
Lm. Anmai, CSsR
2025
CHỨNG TÍCH VỀ PHÉP LẠ CỦA CHÚA GIÊSU TẠI GIÊ-RA-SÊ
CHỨNG TÍCH VỀ PHÉP LẠ CỦA CHÚA GIÊSU TẠI GIÊ-RA-SÊ
Chúa Giêsu đã thực hiện vô số phép lạ trong suốt cuộc đời công khai của Ngài. Một trong những phép lạ nổi bật và kỳ diệu là việc Ngài trừ quỷ khỏi một người bị quỷ ám tại Giê-ra-sê. Mới đây, một phát hiện khảo cổ quan trọng đã giúp củng cố thêm niềm tin vào tính xác thực của sự kiện này. Các nhà khảo cổ thuộc Đại học Haifa (Israel) đã khai quật một tấm đá cẩm thạch có niên đại khoảng 1.600 năm, được khắc bằng tiếng Hebrew tại khu Kursi trên cao nguyên Golan. Đây là nơi được cho là gắn liền với phép lạ trừ quỷ nổi tiếng mà Chúa Giêsu đã thực hiện.
Tấm đá này, có kích thước 140×70 cm, được cho là một mảnh di tích ghi lại công đức của Chúa Giêsu, đặc biệt là sự kiện Ngài đuổi quỷ ra khỏi người bị ám và cho chúng nhập vào đàn lợn, rồi làm chúng lao xuống biển chết đuối. Các chuyên gia cho rằng, tấm đá này không chỉ là chứng cứ lịch sử về phép lạ mà còn là dấu ấn sự tôn vinh Chúa Giêsu trong cộng đồng Kitô giáo từ thời kỳ đầu.
Kinh Thánh cũng cung cấp nhiều chi tiết về sự kiện này. Các Phúc Âm Matthêu, Máccô và Luca đều thuật lại phép lạ này, với các chi tiết khác nhau nhưng cùng chung một chủ đề. Phúc Âm Máccô mô tả một người bị quỷ ám với sức mạnh phi thường, khiến người dân trong vùng vô cùng sợ hãi. Người này sống trong nghĩa địa, rách nát và thường tự làm tổn thương mình bằng đá nhọn. Tuy nhiên, khi Chúa Giêsu đến, người đàn ông này ngay lập tức vội vã chạy tới và quỳ gối trước Ngài. Quỷ bên trong người này cầu xin Chúa Giêsu đừng trừng phạt chúng. Chúa Giêsu đã ra lệnh cho quỷ rời khỏi người này, và quỷ nhập vào đàn lợn đang ở gần đó. Sau khi đàn lợn lao xuống biển và chết đuối, người bị quỷ ám được chữa lành và trở lại bình thường. Ngài yêu cầu người này ở lại và kể cho gia đình và bạn bè về lòng từ bi của Thiên Chúa.
Khu Kursi, nơi phát hiện tấm đá, cũng là khu vực được biết đến trong Kinh Thánh với tên gọi Giê-ra-sê. Đây là nơi Chúa Giêsu đã thực hiện phép lạ lớn lao đó. Các nhà khảo cổ đã xác nhận sự hiện diện của một cộng đồng Do Thái hoặc Kitô giáo ở khu vực này từ rất lâu trước đây, nhờ vào việc phát hiện các tấm đá và các dấu tích khác.
Vị trí của Kursi trên bờ phía đông của Biển Galilê, trong khu vực Gentile thuộc Decapolis của đế chế Hy Lạp, cũng là một điểm quan trọng trong các cuộc khảo cổ. Trước khi phát hiện tấm đá này, chưa có chứng cứ rõ ràng về sự tồn tại của cộng đồng Do Thái tại khu vực này. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu cho rằng sự phát hiện này là một minh chứng quan trọng về sự hiện diện của các tín hữu Kitô và Do Thái trong khu vực vào thời kỳ sơ khai.
Các tín hữu đầu tiên đã nhanh chóng ghi nhớ các địa điểm quan trọng liên quan đến cuộc đời Chúa Giêsu, và sau khi Kitô giáo được hợp pháp hóa, những nhà thờ đã được xây dựng để tưởng niệm các sự kiện này. Các cuộc khai quật tại khu Kursi đã phát hiện những di tích như các hang động và phế tích của một nhà thờ cổ, nơi các tín hữu xưa đã thờ phượng và tưởng nhớ phép lạ trừ quỷ mà Chúa Giêsu thực hiện.
Phát hiện này không chỉ là một chứng tích khảo cổ mà còn là một lời nhắc nhở về quyền năng và tình yêu thương vô biên của Chúa Giêsu. Mỗi bước chân của Ngài trên mặt đất này đều để lại những dấu ấn lịch sử và thần học sâu sắc. Chúa Giêsu đã đến để chữa lành, để ban sự sống mới cho những ai tin vào Ngài, và qua phép lạ trừ quỷ này, Ngài đã thể hiện rõ ràng quyền lực của Thiên Chúa trên mọi sự.
Khi chúng ta nhìn vào những di tích này, chúng ta không chỉ thấy một phần của lịch sử mà còn là một lời nhắc nhở về sự hiện diện của Thiên Chúa trong cuộc sống chúng ta. Chúa Giêsu không chỉ là một nhân vật lịch sử mà Ngài là Đấng sống và quyền năng, luôn đồng hành với những ai tin tưởng và tìm kiếm Ngài.
Chúng ta có thể cảm thấy tự hào khi chứng kiến những phát hiện khảo cổ này, nhưng quan trọng hơn hết là chúng ta hãy để cho lòng tin vào Chúa Giêsu thấm nhuần trong cuộc sống hàng ngày của mình, như một lời mời gọi sống theo Ngài, sống trong ánh sáng và tình yêu của Thiên Chúa. theo internet
2025
TƯỚC HIỆU “ĐỨC ÔNG”
TƯỚC HIỆU “ĐỨC ÔNG”
Tước hiệu “Đức Ông” là một danh hiệu tôn kính dành cho các linh mục trong Giáo hội Công giáo. Trong khi danh hiệu này không phải là một chức vụ giáo sĩ được nhắc đến trực tiếp trong các nghi lễ của Giáo hội, nó vẫn mang ý nghĩa đặc biệt trong cộng đồng tín hữu, nhất là trong các giáo xứ và cộng đoàn giáo hội Việt Nam. Vậy tước hiệu “Đức Ông” có ý nghĩa như thế nào và tại sao nó lại quan trọng đối với các linh mục?
Tước hiệu “Đức Ông” là gì?
Tước hiệu “Đức Ông” được sử dụng để chỉ các linh mục có trách nhiệm lớn trong giáo xứ, hoặc có thể là linh mục đã nhận chức vụ trong các hội dòng hay tu hội có tầm ảnh hưởng. Tuy không phải là một chức vụ chính thức trong Giáo hội Công giáo như Giám mục hay Hồng y, “Đức Ông” là một danh hiệu để tôn vinh những linh mục đã có một thời gian dài cống hiến và phục vụ Giáo hội.
Thông thường, tước hiệu này được dành cho các linh mục đã phục vụ trong các giáo xứ trong một thời gian dài, hoặc những người có công lao trong việc xây dựng và phát triển cộng đoàn đức tin. Cũng có thể tước hiệu này được sử dụng để gọi những linh mục có vai trò hướng dẫn tinh thần, là người có sự kính trọng trong cộng đồng Giáo hội.
Lịch sử và sự phát triển của tước hiệu “Đức Ông”
Tước hiệu “Đức Ông” bắt nguồn từ một sự tôn vinh dành cho các linh mục có uy tín và có thâm niên phục vụ trong Giáo hội. Ban đầu, danh hiệu này không phải là một chức vụ chính thức trong Giáo hội, nhưng theo thời gian, nó được sử dụng rộng rãi để chỉ những linh mục đáng kính trong cộng đồng Công giáo. Tước hiệu này cũng mang trong mình một sự kính trọng và một niềm tin vào những cống hiến của các linh mục đối với cộng đồng giáo xứ cũng như với Giáo hội nói chung.
Vị trí và vai trò của “Đức Ông” trong Giáo hội
Mặc dù tước hiệu “Đức Ông” không phải là một chức vụ chính thức trong Giáo hội như Giám mục hay Hồng y, nhưng các linh mục được gọi là “Đức Ông” thường có vai trò quan trọng trong giáo xứ hoặc cộng đồng tu trì. Những linh mục này thường là những người đã có nhiều năm kinh nghiệm trong việc chăm sóc đời sống đức tin của cộng đồng, hướng dẫn và giúp đỡ các tín hữu trong hành trình trưởng thành trong Chúa. Họ có thể đảm nhận vai trò là linh mục chánh xứ, linh mục phụ tá, hoặc các nhiệm vụ đặc biệt liên quan đến việc phục vụ cộng đồng giáo hội.
Một điểm đáng lưu ý là, “Đức Ông” không phải là một cấp bậc trong hàng giáo phẩm chính thức của Giáo hội Công giáo, và cũng không có quyền lực giáo lý hay quản lý như Giám mục. Tuy nhiên, danh hiệu này thể hiện sự kính trọng mà cộng đồng giáo hội dành cho những linh mục có nhiều công lao, có một cuộc đời phục vụ tận tâm và đức hạnh.
Ý nghĩa của tước hiệu “Đức Ông” trong cộng đồng tín hữu
Đối với cộng đồng giáo dân, tước hiệu “Đức Ông” thể hiện sự kính trọng và lòng tôn vinh đối với những linh mục đáng kính. Những linh mục được gọi là “Đức Ông” không chỉ là những người có vai trò lãnh đạo trong việc chăm sóc đời sống thiêng liêng của giáo xứ, mà còn là những mẫu gương sáng về sự hy sinh, cống hiến và đức tin. Họ là những người đã đi một chặng đường dài trong việc xây dựng cộng đồng đức tin, mang đến sự an ủi và nâng đỡ cho những ai gặp khó khăn trong cuộc sống, và hướng dẫn họ sống theo giáo lý của Chúa.
Tước hiệu này cũng thể hiện sự kính trọng đối với các linh mục, những người đã dâng hiến cả đời mình cho sứ vụ phục vụ Chúa và phục vụ cộng đoàn. Tôn kính “Đức Ông” là cách thể hiện lòng tri ân và sự biết ơn đối với những hy sinh của họ trong việc làm cho thế giới này trở nên tốt đẹp hơn qua đức tin và công việc phục vụ.
Cách thức sử dụng tước hiệu “Đức Ông” trong cộng đồng Giáo hội
Tước hiệu “Đức Ông” thường được dùng trong các tình huống thân mật, gần gũi và kính trọng khi nhắc đến những linh mục có vai trò quan trọng trong cộng đoàn giáo hội. Những linh mục này thường nhận được sự kính trọng từ các tín hữu vì đời sống đức hạnh, sự hy sinh và lòng yêu mến Chúa của họ. Dù “Đức Ông” không phải là một chức vụ giáo hội chính thức, nhưng tước hiệu này vẫn mang một ý nghĩa sâu sắc và quan trọng trong cộng đồng Công giáo.
Tước hiệu “Đức Ông” là một danh hiệu dành cho những linh mục có thâm niên và công lao trong việc phục vụ cộng đoàn giáo hội. Dù không phải là một chức vụ chính thức trong Giáo hội Công giáo, nhưng danh hiệu này thể hiện sự kính trọng và tri ân đối với những linh mục đã tận tâm trong công việc rao giảng Tin Mừng và chăm sóc đời sống đức tin của cộng đồng. Tước hiệu “Đức Ông” nhắc nhở chúng ta về vai trò của các linh mục trong việc xây dựng và duy trì cộng đồng đức tin, đồng thời là mẫu gương về sự hy sinh, tận tụy và đức hạnh trong hành trình theo Chúa.
Lm. Anmai, CSsR
