2020
Trưởng thành trong đời tu

TRƯỞNG THÀNH NÓI CHUNG
Có một khái niệm về sự trưởng thành như sau:
Đó là khi tôi lớn lên,
Tâm hồn tôi trở nên mạnh mẽ
Để tôi can đảm đối diện cuộc đời.
Đôi mắt tôi đủ sáng,
Để tôi thấy đường mình đi.
Đôi chân tôi đủ khoẻ,
Cho tôi có thể tự bước.
Tôi có thể chạy thật xa,
Khi tôi gặp phải rắc rối.
Nhưng đó đâu phải cách,
Tôi có thể làm hoài
Rồi tôi phải đối mặt
“Phải”chứ không là “sẽ”
Dù chuyện gì có xảy ra
Trong lòng tôi sẽ được giải phóng,
Khỏi những ưu phiền bấy lâu nay…
Trưởng thành là vậy sao?[1]
Cách chung, trưởng thành không có nghĩa là khi chúng ta lớn lên về mặt thể xác thì đương nhiên chúng ta trưởng thành. Nhưng trưởng thành đòi hỏi cần phải có nhiều yếu tố, ở nhiều cấp độ và trên nhiều phương diện khác nhau. Có người trưởng thành về phương diện này nhưng lại chưa trưởng thành về phương diện khác. Chẳng hạn, một người dù đã 40 tuổi nhưng không có khả năng suy luận và phán đoán, thì không thể nào nói là người đó trưởng thành. Nhưng, nếu một người cũng 40 tuổi và có khả năng phán đoán và suy luận, mà lại có một lối sống bê bối, áp dụng sai lệch những phán đoán và suy luận, thì có thể nói người đó mới trưởng thành về mặt thể lý và trí năng, song chưa thực sự trưởng thành về mặt luân lý và tinh thần. Như vậy, người trưởng thành thật sự thì cần phải trưởng thành cả về lý trí và ý chí.
TRƯỞNG THÀNH TRONG ĐỜI TU
Trước tiên, Giáo luật hiện hành đòi hỏi sự trưởng thành ở một mức độ nào đó nơi các ứng sinh trước khi bước vào nhà tập (x. Can. 642). Sự trưởng thành này sẽ giúp cho các ứng sinh đảm nhận nếp sống riêng của tu hội sau này. Tuy nhiên, sau khi khấn, người tu sĩ có trưởng thành hơn và trưởng thành tới mức độ nào là chuyện khác. Cũng vậy, xét về khía cạnh giáo luật, chỉ những tu sĩ khấn trọn mới được xem là những người trưởng thành, là thành viên chính thức của nhà dòng và có quyền để đảm nhận các chức vụ trong dòng (x. Can.623 và 651,1). Nhưng trên thực tế, các tu sĩ đã khấn trọn có thực sự trưởng thành trong đời tu về mặt tâm linh, tình cảm và đời sống cộng đoàn là chuyện khác.
Do đó, trong đời sống tu trì, một tu sĩ không thể được gọi là trưởng thành nếu như họ chưa hiểu được tính chất năng động, phong phú và những mục đích thiết yếu của đời tu là gì. Cũng vậy, giống như trưởng thành ở ngoài đời, một tu sĩ dù đã biết được đâu là đặc tính và bản chất của đời sống tu trì, nhưng lại xao lãng, thiếu thiện chí để đạt tới những mục đích của đời tu, thì tu sĩ đó chưa thực sự trưởng thành trong đời tu. Do đó, một tu sĩ có thể rất trưởng thành về khía cạnh nhân loại (ngoài đời), nhưng không ắt hẳn trưởng thành về khía cạnh tu trì (trong nhà tu)[2].
Sau đây một vài dấu chỉ cho thấy một tu sĩ trưởng thành trong đời tu. Khi một người nào đó quyết định chọn bậc sống tu trì, thì cũng từ lúc này người đó phải học cách biết từ bỏ. Từ bỏ những điều – cả những điều tốt, mà không còn phù hợp với đời sống tu trì. Do đó, cần phải biện phân đâu là những điều tùy phụ và thiết yếu trong đời tu.
Phân biệt đâu là tùy phụ và thiết yếu trong đời tu
Đời sống tu sĩ là một hành trình theo Chúa Kitô qua việc tự nguyện tuyên giữ ba Lời khuyên Phúc âm. Cho nên, sự trưởng thành tu trì cũng là một quá trình tiệm tiến. Vì thế, có thể mới đầu người tu sĩ rất khó phân biệt đâu là những điều tùy phụ và thiết yếu trong đời tu. Nghĩa là, thoạt đầu ta cho những điều thiết yếu là tùy phụ và ngược lại. Rồi trong thực hành, khi không đạt được những điều tùy phụ, người tu sĩ cảm thấy xáo trộn và đau buồn nặng nề. Nhưng dần dà, nhờ ơn Chúa soi sáng, thoát khỏi não trạng tu trì trẻ con, họ có một sự trưởng thành tu trì trong việc phân biệt đâu là là điều thiết yếu và tùy phụ trong đời tu.
Vậy đâu là những điều thiết yếu và tùy phụ trong đời tu? Đó là: “Thiết yếu là phải sống sự tận hiến cho Chúa sao cho thực hiện được mục đích của việc tận hiến ấy. Còn lợi ích và thỏa mãn cá nhân ở đời này chỉ là tùy phụ”[3].
Điều này là bởi vì, khi Chúa ban ơn gọi cho người tu sĩ và khi người tu sĩ đáp trả lại ơn gọi đó, Chúa mời gọi người tu sĩ tận hiến cho Ngài. Trong Kinh Thánh, danh từ consecratio (Latinh) có thể hiểu về hai phía: Thiên Chúa và con người. Từ phía Thiên Chúa: Ngài yêu ai đó, nên đã chọn lựa họ, dành riêng họ cho mình (xc. Gr 1,5). Từ phía con người: ý thức được tiếng gọi của Chúa, đương sự dâng hiến trót đời cho Chúa. Cho nên, trong tiếng Việt, “thánh hiến” muốn nói đến sáng khởi về phía Thiên Chúa; “tận hiến” nói đến sự đáp trả về phía con người. Do đó, không có gì cần thiết và thiết yếu hơn – đối với người đã tận hiến cho Chúa, là đạt tới mục đích của việc tận hiến. Nó vừa là ý muốn của Thiên Chúa (thánh hiến) đáp trả lại của con người qua một bậc sống dành riêng cho Chúa (tận hiến). Kinh nghiệm cho thấy sự bình thản của người tu sĩ trong đời sống tu trì tùy thuộc rất nhiều vào việc họ có thiện chí đạt tới mục đích thiết yếu này không.
Một khi người tu sĩ ý thức và có thiện chí cố gắng đạt tới mục đích thiết yếu của việc tận hiến cho Chúa, thì lúc đó những lợi ích và thỏa mãn riêng tư chỉ là thứ tùy phụ. Và vì nó chỉ là tùy phụ nên sẽ nó có vai trò thứ yếu trong đời sống tu trì. Có hay không thì không quan trọng. Chúng ta lấy ví dụ về một người tu sĩ trưởng thành về phương diện tâm linh – đây là nét nổi bật của đời sống tu trì. Trưởng thành về tâm linh là hành vi cuốn hút con người lao mình về Thiên Chúa, cố gắng hướng tầm mắt và cõi lòng về Thiên Chúa, đó chính là hành vi cao cả và sung mãn nhất của tinh thần – hành vi này chỉ đạo toàn bộ mọi sinh hoạt rộng lớn của người tu sĩ.[4] Một khi người tu sĩ trưởng thành trong chiều sâu tâm linh, thì trong mỗi thái độ hay cử chỉ của họ khi đối diện với những biến cố quan trọng cũng như trong những hoàn cảnh bình thường trong cuộc sống, họ biết sống hết mình với bổn phận của người tu sĩ, còn sự thành công, thất bại tùy thuộc vào Thiên Chúa trong niềm vui và hạnh phúc.[5]
Nhận ra yêu sách chính yếu của đời tu
Như chúng ta biết một trong những đặc điểm nổi bật của người tu sĩ dòng đó là việc tuyên khấn, tuyên giữ ba lời khuyên Phúc âm. Đó là: “Lời khấn tu trì khác hẳn với các lời khấn khác vì nó làm nên một đời sống đặc biệt, thực hành các lời khuyên của Phúc âm và mô phỏng hoàn hảo nhất đời sống trần gian của Chúa Giêsu và tinh thần đã phấn khích Ngài.”[6]
Như vậy, tuyên khấn, đây là một hành vi chứng tỏ lòng quảng đại triệt để, bởi vì trong từng giây phút của cuộc đời dâng hiến, người tu sĩ sẽ sống khoảnh khắc ấy liên tục qua dòng thời gian. Thật ra, người tu sĩ vẫn có thể hy sinh làm điều thiện và lợi ích cho tha nhân vì lòng yêu mến Chúa. Nhưng nếu chỉ dựa trên yếu tố con người thì chưa đủ. Vào những lúc khó khăn, đau buồn, chán nản trong đời tu, người tu sĩ sẽ dễ đánh mất lòng quảng đại và thiện chí. Cho nên, yêu sách chính yếu của sự trưởng thành trong đời tu là: “Ta phải sống tận hiến cho Chúa một cách trung thành có suy luận, được ước muốn, bền vững, bình thản, được đặt trên những lý do siêu nhiên.”[7] Và chỉ có những yêu sách này mới không bao giờ khuyết diện. Cho dầu mọi trở ngại, nhưng những yêu sách đó vẫn hướng dẫn và nâng đỡ người tu sĩ trong hết mọi hoàn cảnh.
Chúng ta vừa nói về sự trưởng thành trong đời tu được thể hiện qua việc phân định đâu là những điều thiết yếu và tùy phụ trong đời tu. Còn một dấu chỉ khác, cũng khá quan trọng, để chỉ cho thấy người tu sĩ trưởng thành trong đời tu: sống ba lời khuyên Phúc âm.
Dấu chỉ nổi bật và minh thị nhất là bình thản và bền vững trong việc tuân giữ ba lời khuyên Phúc âm. Dĩ nhiên, đứng trên phương diện con người, sẽ vẫn có những thiếu sót và yếu đuối trong việc sống ba lời khấn. Nhưng với một tu sĩ trưởng thành, cho dù có gặp những khó khăn, thậm chí hy sinh trong việc tuân giữ ba lời khấn, song họ vẫn sống đời dâng hiến cách vui vẻ, bình thản và trung thành. Một cách cụ thể, với đức khó nghèo, người tu sĩ không chỉ nghiêm chỉnh sống siêu thoát, mà còn thể hiện đức khó nghèo bằng cách đi tìm những tài sản siêu nhiên ngay khi còn sống ở trên đời này. Còn về lời khấn khiết tịnh, sự trưởng thành trong đời tu thường biểu hiện qua sự trưởng thành về mặt tình cảm.
Nghĩa là, người tu sĩ trưởng thành về mặt tình cảm luôn có khả năng của sự độc lập về mặt tình cảm, không lệ thuộc vào tình cảm, tức là không để tình cảm bị chi phối điều khiển bởi cảm giác, nhưng bởi lý trí và ý chí.[8] Cũng vậy, một người tu sĩ trưởng thành thực sự trong đời tu, đặc biệt về mặt tình cảm, họ sẽ biết đặt sự quân bình, hài hòa giữa cảm xúc và lý trí về những biến cố xảy ra trong đời sống tu trì. Do đó, nếu có những biến cố như: chưa được khấn trọn, chưa được thụ phong linh mục, thi rớt,…, người tu sĩ trưởng thành trong đời tu sẽ biết chấp nhận đó là những thất bại, nhận trách nhiệm là của chính mình. Ngược lại, những người thiếu trưởng thành đời tu, sẽ có những phản ứng tiêu cực như nóng nảy, trách móc, than thân trách phận,…
Kế tiếp là về lời khấn tuân phục, người trưởng thành trong đời tu luôn thâm tín rằng vâng phục là thực thi ý Chúa, dù có phải hy sinh nhưng vẫn bình thản. Như chúng ta biết, lời khấn vâng phục luôn mang hai khía cạnh[9]: một khía cạnh tiêu cực và là một khía cạnh tích cực. Khía cạnh tiêu cực hệ tại ở: lời ta đoan hứa với Chúa sẽ tuân phục bề trên chính thức của Hội dòng trong tất cả những điều các vị đó truyền phù hợp với giáo luật và hiến pháp. Còn khía cạnh tích cực là: việc người tu sĩ tận hiến, thánh hiến cho Chúa ý chí của mình như một tài năng tác động mà có khả năng hành động lệ thuộc. Do đó, cả khả năng hành động cùng với các hành vi của nó đều được thánh hiến cho Thiên Chúa. Cho nên, người tu sĩ trưởng thành trong đời tu sẽ hướng tới khía cạnh tích cực của việc tuân phục. Có như vậy, họ sẽ giữ lời khấn cách bình thản và vui vẻ, và sẽ vững vàng hơn trên con đường dâng hiến. Điều này được nói rõ sau: “Bằng việc tuyên hứa lời khấn vâng phục, các tu sĩ hiến tế Thiên Chúa ý muốn riêng mình làm hy sinh, nhờ đó họ được kết hợp mật thiết với ý chí cứu độ của Chúa một cách vững vàng.”[10]
Như chúng ta biết, từ sau Công đồng Vaticanô II, các văn kiện của Tòa thánh về đời sống tu sĩ đều với tựa đề “De Religiosis” (religieux, religiosus). Thật ra, từ này đã xuất hiện từ thời Trung cổ, từ “religiosus” là một tính từ mà nó gắn liền với “religio” (nhân đức thờ phượng), nhằm nhấn mạnh rằng tu sĩ là hiến dâng cho Chúa qua việc phụng thờ Thiên Chúa.[11] Việc phụng thờ Thiên Chúa chỉ được thể hiện khi người tu sĩ biết sống tuân giữ kỷ luật hội dòng và bản thân cách nghiêm ngặt. Hơn thế nữa, đi theo Chúa là một hành trình, cho nên việc tuân giữ kỷ luật hội dòng và bản thân cũng phải được tuân giữ một cách đều đặn và quân bình. Do đó, một dấu chỉ khác cho thấy người tu sĩ trưởng thành trong đời tu là sống tiết độ.
Sống tiết độ
Tiết độ là (moderation) trong tiếng Anh. Từ điển Oxford Advanced Leaner’s Dictionary, Oxford University Press, đã định nghĩa như sau: “The quality of being reasonable and not being extreme”. Còn thế nào là một hành động “moderate”, thì cũng theo từ điển này định nghĩa như sau: “to become or make something become lessmextreme, severe, etc). Như vậy, tiết độ là một việc làm dung hòa cho có chừng mực, và tránh thái quá hoặc bất cập. Để được như vậy, ta phải kìm hãm, xa tránh những xúc cảm và thu hút, tức những kích thích từ nội tại và ngoại tại trong cuộc sống.Và như vậy, tiết độ không phải là nhân đức hay đức tính dễ làm và dễ thực hiện, bởi vì nó trực tiếp liên quan đến cả thể lý, tâm lý và tâm linh con người.
Ngoài ra, “tiết độ là đức tính luân lý giúp ta điều tiết sức lôi cuốn của những lạc thú và sử dụng chừng mực những của cải trần thế. Tiết độ giúp ý chí làm chủ các bản năng và kiềm chế các ham muốn trong tiến hành chính đáng.”[12] Trong Cựu ước khen ngợi đức tiết độ như sau: “Con đừng buông theo tham vọng của con, nhưng hãy kiềm chế các dụng vọng” (Cn 18,30). Còn Tân ước gọi tiết độ là “chừng mực” hay “điều độ”, nghĩa là chúng ta phải sống “chừng mực, công chính và đạo đức ở thế gian này” (Tt 2,12).
Dĩ nhiên, chúng ta không bàn tới ý nghĩa tiết độ trong Cựu ước. Vì đi tu là từ bỏ rồi, từ bỏ những danh vọng lạc thú ở đời này để tìm hạnh phúc đời sau. Ý muốn nhấn mạnh về sự tiết độ ở đây là người tu sĩ cần sống có “chừng mực”, “điều độ” trong đời tu. Sự chừng mực và điều độ này được biểu hiện qua qua rất nhiều khía cạnh như: kỷ luật, kinh nguyện, học hành, ăn uống, ngủ nghỉ,… Nhìn vào thực tế, chúng ta thấy không thiếu những tu sĩ sống không điều độ trong đời tu. Có những người học nhiều quá đến nỗi không nhớ ngày nào thi! Kết quả là cho dù học nhiều nhưng vẫn rớt. Cũng vậy, trong kinh nguyện cần có sự đều đặn hằng ngày. Mặc dù, có những lúc, người tu sĩ cảm thấy chán nản không muốn bước vào nhà nguyện. Không cảm thấy hứng thú gì hết khi nguyện gẫm hay cầu nguyện với Chúa. Nhưng đối với một người tu sĩ trưởng thành, cho dù chán nản, không hứng thú với Chúa trong cầu nguyện, họ vẫn vào nhà nguyện. Họ vẫn nguyện gẫm bởi vì có thể lúc này chán Chúa, nhưng ít ra họ vẫn tuân giữ các giờ đạo đức cách đều đặn.
Vì thế, có thể nói rằng, nếu một người tu sĩ thực sự trưởng thành khi họ sống có quân bình trong kỷ luật, giờ đạo đức, ăn uống, học hành và ngủ nghỉ. Ngược lại, người tu sĩ nào mà có những lúc thì qua đạo đức, đọc kinh rất sốt sắng, nhưng lại bữa có bữa không, thì có thể nói người tu sĩ đó chưa trưởng thành trong đời tu. Bởi vì người tu sĩ trưởng thành không tuân giữ kỷ luật, các giờ đạo đức theo ngẫu hứng: vui thì tuân giữ, buồn thì không. Nhưng người tu sĩ trưởng thành sẽ cố gắng tuân giữ kỷ luật ngay cả trong những lúc chán nản nhất, đau buồn nhất và một cách đều đặn.
Tạm kết
Trưởng thành không đơn giản là sự lớn lên về mặt thể chất mà là sự chín chắn từ trong nhận thức và tư tưởng. Nếu một ngày nào đó một người nào đó chợt nhận ra cuộc đời không chỉ là một màu hồng mà còn đi kèm theo nhiều gam màu khác nữa, nhưng người đó vẫn mỉm cười bước tiếp và biến những khó khăn thành cơ hội để tự hoàn thiện mình, thì lúc đó người đó đã thật sự trưởng thành rồi đấy. Đó một sự trưởng thành ngoài đời, trưởng thành về khía cạnh nhân loại.
Đời tu là một hành trình tiệm tiến đi theo Chúa trên con đường ở trần gian. Trên hành trình này ắt sẽ có những cuộc va chạm, đố kỵ mang tính con người. Do đó, trên hành trình đi theo Chúa, ngoài những những con đường chan chứa niềm vui và hạnh phúc, thì cũng có những con đường đầy bao đau khổ, cô đơn và nước mắt. Bên cạnh con đường mùa xuân với muôn màu hoa nở tươi thắm, vẫn có con đường tàn héo khô cằn của mùa hè nắng cháy. Sẽ có những lúc người tu sĩ cảm nghiệm không khí ấm áp, dễ chịu của mùa thu nhưng cũng đã phải nếm chịu cái rét giá lạnh, cô đơn khi mùa đông về trên con đường đi theo Chúa. Một cách nào đó, khi người tu sĩ nhận ra tất cả những đặc tính khác nhau trên con đường đi theo Chúa, nhưng họ vẫn bình thản vui vẻ đón nhận và chấp nhận, thì người tu sĩ đó có thể được gọi là đã trưởng thành trong đời tu. Nhưng điều quan trọng hơn cả, người tu sĩ trưởng thành thật sự trong đời tu là khi họ biết phân biệt đâu là những điều tùy phụ và thiết yếu trong đời tu. Một khi có sự nhận thức như vậy, họ luôn luôn cố gắng đạt tới những điều thiết yếu, còn những những điều tùy phụ có hay không không quan trọng. Điều thiết yếu là tận hiến cho Chúa cách bền vững và trung thành.
Ngoài ra, người tu sĩ trưởng thành trong đời tu sẽ biểu hiện ra việc bình thản và vui vẻ trong việc tuân giữ ba lời khuyên Phúc âm. Đó biểu hiện minh thị và căn bản nhất của một người tu sĩ trưởng thành. Rồi người tu sĩ trưởng thành cũng cần sống tuân giữ kỷ luật cách đều đặn, ăn uống và nghỉ ngơi có điều độ và chừng mực. Kế tiếp, người tu sĩ trưởng thành trong đời tu còn thể hiện qua mối liên hệ với bề trên, sống đức ái, đời cộng đoàn, và yêu mến tinh thần, đoàn sủng và truyền thống lành mạnh của hội dòng.
Ngày nay chúng ta đang sống trong một xã hội mà đang cần những người làm chứng cho sự hiện diện của Thiên Chúa. Với thực trạng và nhu cầu như vậy, Giáo hội mời gọi những ai theo đuổi ơn gọi tu trì cần phải nhận ra vai trò ngôn sứ của mình để dấn thân làm chứng cho tình yêu dâng hiến và loan báo Tin Mừng cách hiệu quả. Để chu toàn sứ mạng này, đòi hỏi người tu sĩ phải trưởng thành trong ơn gọi của mình, nghĩa là phải được huấn luyện về mọi khía cạnh và phương diện. Người tu sĩ cần phải được huấn luyện về khía cạnh: tri thức, tâm lý và tâm linh để họ trở thành những con người quân bình giữa ý chí và cảm xúc, vững vàng trong ơn gọi của mình, và sẵn sàng đảm nhận những trách nhiệm mục vụ cần thiết cho Giáo hội và xã hội. “Họ cần được giáo dục để biết yêu mến sự thật, để biết trung thành, biết kính trọng mọi người, để có ý thức công bằng, để trung thực trong lời nói, để chân thành cảm thông, để trở thành những con người nhất quán, và đặc biệt là để có sự quân bình trong phán đoán và trong thái độ ứng xử.”[13]
Thật vậy, sự trưởng thành luôn mang tính năng động thúc giục những ai theo đuổi ơn gọi tu trì hướng tới chân trời hoàn thiện. Nó không nhất thiết phát triển theo tuổi tác, mà nó biểu lộ qua sự quân bình của từng cá nhân được huấn luyện theo từng cấp độ, để có những khả năng hiểu biết và thích ứng được sự phát triển trọn vẹn trên bình diện cảm quan, cũng như trên bình diện tri thức. Do đó, việc huấn luyện người tu sĩ trưởng thành trong đời tu là một quá trình liên tục và cả đời. Bất cứ một tu sĩ nào cũng được mời gọi tự huấn luyện mình để trở thành người tu sĩ trưởng thành trong đời tu trong mọi thời điểm.
Bertrand Nguyễn Thanh Hoài
[1] http://yume.vn/bin_bon18/article/truong-thanh-la-gi.35C23338.html.
[2] Xc. Paolo Provera, C.M . Thánh Hiến Cuộc Đời. Bản dịch của Nguyễn Duy Lễ, 259.
[3] Paolo Provera, C.M. Thánh Hiến Cuộc Đời. Bản dịch của Nguyễn Duy Lễ, 262.
[4] Chiều Kích Chiêm Niệm của Đời Tu, số 1.
[5] Tông Huấn Đời Sống Thánh Hiến, số 5.
[6] Paolo Provera, C.M Thánh Hiến Cuộc Đời. Bản dịch của Nguyễn Duy Lễ, 11.
[7] Paolo Provera, C.M Thánh Hiến Cuộc Đời. Bản dịch của Nguyễn Duy Lễ, 263.
[8] Xc. Charles Serrao, OCD. Biện Phân Ơn Gọi Tu Trì – Đào Tạo Hướng Đến Sự Thay Đổi. Bản dịch Lm. Dom. Nguyễn Đức Thông. CssR, 105.
[9]Xc. Paolo Provera, C.M Thánh Hiến Cuộc Đời. Bản dịch của Nguyễn Duy Lễ, 173.
[10] PC, 14
[11] Xc. Phan Tấn Thành. Giải Thích Giáo Luật tập 2, 390.
[12] GLCG, số 1809.
[13] PDV số 43
2020
Giới trẻ trưởng thành trong tình yêu – phần I
Tuổi trẻ được ví như mùa Xuân của cuộc đời, luôn đầy tràn năng lượng, sức trẻ và khát khao vươn lên mỗi ngày. Để “đồng hành với người trẻ hướng tới sự trưởng thành toàn diện” theo lời kêu gọi của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam và cách riêng của Tổng Giáo Phận Hà Nội trong tháng Tư với chủ đề nên thánh đối với giới trẻ, bài viết này thảo luận với người trẻ, đặc biệt là các bạn trong tuổi vị thành niên, hướng tới sự trưởng thành toàn diện qua việc trưởng thành trong tình yêu. Qua việc tìm hiểu tình yêu dưới khía cạnh tâm lý và thần học, chúng ta cùng nhau suy tư và định hướng, để làm sao trưởng thành một cách toàn diện hơn trong cuộc sống và cách riêng để sống tốt năm phụng vụ 2020 theo tinh thần của Giáo Hội.
Đặc điểm tâm lý của tuổi vị thành niên
Nói đến giới trẻ, chúng ta nghĩ đến lứa tuổi vị thành niên (còn gọi là tuổi thiếu niên). Theo học thuyết tâm lý xã hội phát triển của Erik Erikson, tuổi vị thành niên (từ 12-18, 19 tuổi) là thời gian các em hình thành đặc thù nhân cách về “cái Tôi” của mình. Đây là giai đoạn các bạn trẻ dần dần nhận thức khá rõ về bản thân mình là người như thế nào và lớn lên muốn làm gì cho tương lai. Ở giai đoạn này, các bạn trẻ dần hình thành nên sự đồng nhất của “cái Tôi” của mình qua việc thể hiện các vai trò khác nhau và những chọn lựa cho cuộc đời như trường học, chuyên ngành, nghề nghiệp, tìm bạn đời và chuẩn bị bước vào cuộc sống hôn nhân và gia đình. Bố mẹ và những người thân tiếp tục có vai trò quan trọng trong việc giúp các em hình thành nhân cách. Tuy nhiên, các em ở tuổi vị thành niên bắt đầu có mối quan hệ xã hội và bạn bè rộng hơn với các bạn cùng học và các nhóm hoạt động ngoài xã hội hay các tổ chức tôn giáo. Sự trung thành trong các mối quan hệ là nhân đức quan trọng cần được hình thành và phát triển ở thời kỳ này. Trong đó, khả năng liên hệ với người khác và tạo các mối quan hệ chân thành sẽ giúp các em thành công trong các giai đoạn tiếp theo.
Ngược lại, nếu các bạn trẻ không hình thành được sự đồng nhất về đặc tính của mình, họ sẽ có khuynh hướng cảm thấy các vai trò bị lẫn lộn. Họ sẽ không tự xác định được hướng đi cho bản thân và thường gặp khó khăn khi ứng xử tương giao với người khác. Trong tình yêu, nhiều bạn trẻ sợ bị lạm dụng, không dám quyết định những lựa chọn riêng tư cho mình. Thay vào đó, họ để bố mẹ và những người thân quyết định, sắp xếp hướng đi cho cuộc đời của mình. Bên cạnh đó, nhiều bạn trẻ không làm chủ được bản thân trong quan hệ giới tính, khiến cho tình yêu của họ trở nên bế tắc, nghèo nàn và nhiều khi phải ân hận suốt đời. Có nhiều bạn phải bắt đầu cuộc sống hôn nhân gia đình sớm, làm việc học tập và các khao khát sự nghiệp bị gián đoạn. Có những bạn bị đổ vỡ trong tình yêu, bị tổn thương quá nặng về tâm lý tình cảm. Và có những người đi đến những quyết định sai lầm gây hậu quả nghiêm trọng như phá thai, tự tử.
Thay đổi cơ thể ở tuổi dậy thì
Tuổi vị thành niên là giai đoạn chuyển tiếp từ trẻ em sang người lớn, là thời gian trưởng thành và khám phá bản thân. Do sự phát triển vượt bậc về thể chất và thay đổi hormone sinh lý, cơ thể của các bạn trẻ tuổi vị thành niên có một loạt sự thay đổi liên quan đến việc hoàn thiện các đặc tính sinh dục và khả năng sinh sản. Đây cũng là giai đoạn có nhiều thay đổi về hình dáng, tâm sinh lý, hành vi, và nhận thức xã hội. Khởi đầu ở giai đoạn vị thành niên, trẻ nữ thường dậy thì sớm hơn trẻ nam khoảng 2 tuổi (từ 10-16 tuổi); trẻ nam (từ 13-18 tuổi). Đây là giai đoạn các bạn trẻ thấy nhiều sự thay đổi về cơ thể như: tăng vọt về phát triển chiều cao, cân nặng, và phát triển bộ phận sinh dục; hông có thể rộng hơn vai; thay đổi mùi cơ thể; và nổi mụn trứng cá. Sự khác biệt giới tính trong sự phát triển ở tuổi dậy thì là nữ giới tăng độ nữ tính với giọng nói trở nên dịu dàng và vóc dáng mềm mại hơn. Trong khi đó, nam giới tăng độ nam tính với thân hình vạm vỡ, chắc khoẻ và giọng nói trầm ấm hơn sau một thời gian bị vỡ giọng.
Phát triển tâm lý
Thay đổi thể lý ở tuổi dậy thì ảnh hưởng đến phát triển tâm lý của trẻ vị thành niên. Cùng với sự phát triển của cơ thể, các bạn thiếu niên bắt đầu để ý đến diện mạo của mình. Do bị ám ảnh bởi hình thể của mình, nhất là trong thời gian đầu của tuổi dậy thì, thời gian nhiều em không hài lòng với thể diện của mình. Dẫn đến nhiều em thiếu niên thường xuyên cảm thấy lo lắng. Bên cạnh đó, các em ở tuổi vị thành niên bắt đầu cảm thấy bị thu hút trước những người khác, nhất là những người khác giới. Trong tâm trí các em nhiều khi có những câu hỏi như: làm sao để có thể bày tỏ tình cảm của mình cho người mình có cảm tình? Các em thiếu niên dần dần khám phá về tình dục và có thể dẫn đến có quan hệ tình dục. Họ trở nên sống khép kín hơn đối với cha mẹ và người lớn. Quan hệ với bố mẹ được thể hiện theo cách khác: không còn thân mật và gần gũi như trước. Nhà không còn là tổ ấm duy nhất nữa. Các bạn trẻ tương giao với bạn bè và thế giới rộng hơn, đôi khi vượt xa khỏi sự an toàn của gia đình, bố mẹ và quê hương của mình. Chẳng hạn, nhiều bạn không còn đi đâu cũng đi cùng bố mẹ, hay không còn kể hết chuyện riêng tư cho bố mẹ nữa. Dần dần các em trở nên thân mật với bạn bè hơn, bắt đầu hẹn hò và có bạn trai/gái.
Tuổi dậy thì là thời gian có nhiều dao động và chuyển hướng liên tục. Đây cũng là thời kỳ quan trọng trong đời sống tâm sinh lý và tâm linh, vì là lúc các em thiếu niên bắt đầu một cuộc sống riêng tư của mình, và bắt đầu hành trình hướng tới sự trưởng thành trong tình yêu và tình huynh đệ. Bên cạnh đó, tuổi vị thành niên là thời kỳ với những đột phá bất ngờ làm cho chính bản thân các em nhiều khi mất phương hướng. Thể lý và tâm lý được hâm nóng bằng một năng lực mạnh mẽ của tính dục khiến cho con người trẻ thơ an bình và thoải mái của các em trở nên những thiếu niên với tâm tính thay đổi thất thường và luôn bồn chồn, lo âu. Dường như một cuộc sống mới với nhiều cơ hội đang chờ đợi họ khám phá.
Một điều đáng chú ý trong sự phát triển tự nhiên ở tuổi thiếu niên là trong cơ thể có nhiều hormone sinh dục phát triển trước cả khi các em trưởng thành về mặt tình cảm và trí tuệ. Điều này nhiều khi khó để giúp họ hiểu biết một cách hợp lý và sáng tạo của những chuyển vận năng lượng trong cơ thể mình. Bản chất sinh lý và thể lý tự nhiên thật là mâu thuẫn do sự khác thường này: người trẻ có một cơ thể người lớn trước khi họ trưởng thành về tình cảm, trí tuệ, và lý trí. Đó là lý do tại sao có rất nhiều rủi ro và nguy hiểm xảy ra cho các em thiếu niên đang phát triển. Một trong những rủi ro gây hậu quả nghiêm trọng là dễ quan hệ tình dục trước hôn nhân và dẫn đến phá thai. Ở Việt Nam, tỷ lệ mang thai và phá thai ở tuổi vị thành niên khá cao, đặc biệt là ở thanh thiếu niên. Theo thống kê của Tổ Chức Y Tế Thế Giới, Việt Nam được xếp hạng đầu tiên trong khu vực và thứ 5 trên thế giới về tỷ lệ phá thai, với khoảng 250.000 đến 300.000 trường hợp phá thai mỗi năm, trong đó khoảng 75% rơi vào độ tuổi từ 15 đến 19. Mỗi ngày có khoảng 900 ca phá thai xảy ra ở Việt Nam. Đây là một con số báo động và đau lòng cho tất cả mọi người, nhất là các bạn trẻ và các bậc phụ huynh.
Ở lứa tuổi vị thành niên, lối suy nghĩ của các bạn trẻ trở nên trừu tượng và lý tưởng hóa hơn. Nhiều bạn trẻ khi không được bố mẹ và người lớn hướng dẫn đúng đắn và khi không cảm nghiệm được tình yêu thương của người thân, hay khi họ sống bị bỏ rơi, bị từ chối hay bị lạm dụng về thể xác và tinh thần, các bạn trẻ này sẽ dễ sa ngã. Điều này thể hiện qua các hành vi sống vô kỷ luật, phá phách của công, trộm cắp, đi lang thang bụi đời, yêu đương sớm, sống bừa bãi, sống thử trước hôn nhân, nghiện rượu, nghiện thuốc phiện, và nghiện cờ bạc. Ngày nay, các bạn trẻ tiếp cận với Internet và các mạng xã hội nhiều hơn, nên có nhiều cám dỗ và dễ rơi vào các tệ nạn xã hội khác như nghiện game, nghiện internet, và nghiện tình dục trên mạng internet. Bên cạnh đó, các bạn trẻ thường có tình trạng cảm xúc thay đổi thất thường: khi thì tích cực, khi thì tiêu cực. Có lẽ lý do một phần là bị ảnh hưởng của sự thay đổi hormone sinh lý và do phải đương đầu với nhiều điều thay đổi và cảm xúc khác lạ xuất hiện trong mình. Do thay đổi thất thường những suy nghĩ, hành vi, và cảm xúc thậm chí chỉ trong khoảng thời gian ngắn, nhiều bạn trẻ có biểu hiện của kinh nghiệm “khủng hoảng” tuổi vị thành niên. Chẳng hạn như lo lắng, mất ngủ, trầm cảm, rối loạn ăn uống, giảm chú ý dẫn đến kết quả học tập sa sút. Điều này khiến cho bố mẹ và những người thân cảm thấy mệt mỏi và lo lắng vì không biết phải cư xử và chăm sóc con cái mình như thế nào.
Theo nhà tâm lý Abraham Maslow, cùng với các nhu cầu thể lý căn bản như ăn, uống, ngủ nghỉ, tình dục và không khí trong lành, nhu cầu được sống an toàn và cảm thấy mình được quan tâm, được yêu và được tôn trọng là những nhu cầu cảm xúc căn bản của con người. Để chuẩn bị bước vào thế giới của người lớn và trở thành người tự lập với những lựa chọn về học vấn, nghề nghiệp và tình yêu, các bạn tuổi vị thành niên cần có người lớn quan tâm một cách hợp lý, đặc biệt là bố mẹ, người thân trong gia đình và những người quan trọng trong cuộc sống của các em như các thầy cô giáo, hàng xóm láng giềng, hay những người đứng đầu các nhóm trong các hội đoàn và giáo xứ như Giới Trẻ, Thiếu Nhi Thánh Thể… Khi có người lớn quan tâm đồng hành (Role model), các bạn trẻ cảm thấy người lớn hiểu và tôn trọng mình, cảm thấy mình có giá trị và cảm thấy có người lớn là nguồn trợ giúp chúng. Điều này sẽ giúp các bạn trẻ thành công trong cuộc sống.
Trong thực tế ngày nay, nhiều bạn trẻ dậy thì sớm (11-12 tuổi) và lập gia đình chậm hơn trước kia (khoảng trên dưới 30 tuổi). Điều này đặt ra câu hỏi: làm sao các bạn trẻ có thể trưởng thành trong tình yêu qua việc dung hòa tính dục của mình với cảm xúc và những giá trị đạo đức của họ trong khoảng thời gian khá dài từ khi dậy thì cho đến khi lập gia đình? Như đã đề cập ở trên, có sự mâu thuẫn tự nhiên trong sự phát triển tâm sinh lý ở lứa tuổi vị thành niên: cho họ một cơ thể người lớn trưởng thành về thể lý và tính dục trước khi họ trưởng thành về tình cảm, trí tuệ, và lý trí. Là người Kitô giáo, chúng ta có thể hỏi: Dường như Thiên Chúa có kế hoạch gì đó trong khi tạo dựng bản chất con người với những mâu thuẫn như vậy?
Trưởng thành trong tình yêu
Để trưởng thành trong tình yêu, các bạn trẻ cần phải cảm nghiệm mình được yêu trong môi trường gia đình, để từ đó các em có thể chia sẻ tình yêu đó cho bạn bè và những người khác trong xã hội. Các bạn trẻ trưởng thành dần trong tình yêu từ tương quan tình yêu với những người thân yêu của mình là bố mẹ và gia đình, và sau đó qua tình yêu bạn bè và tình yêu nam nữ. Cùng với những khát khao cháy bỏng về tình yêu theo sự phát triển tâm sinh lý lứa tuổi và những mâu thuẫn trong sự phát triển của mình, các bạn trẻ không chỉ bị giới hạn mình trong tình yêu sắc dục nữa, nhưng luôn được mời gọi vươn lên và hoàn thiện bằng tình yêu Agapé của Đức Kitô (xem các thể loại tình yêu trong Giới trẻ trưởng thành trong tình yêu, phần II).
Tình yêu của Đức Kitô là tình yêu cao cả nhất, còn gọi là tình yêu tự hiến, hy sinh chính mình vì người khác. Đó là tình yêu của người dám thí mạng sống của mình vì bạn hữu (Gioan 15:13). Tình yêu Agapé là nền tảng của tình yêu Kitô giáo. Tình yêu tự hiến luôn đi đôi với tình yêu vị tha và lòng khoan dung tha thứ. Tình yêu tự hiến là tình yêu được thanh lọc mỗi ngày để con người không chỉ dừng lại ở khoái lạc tình ái nhất thời chóng qua, mà luôn đưa con người đến hạnh phúc đích thực.
Đức Kitô Chúa Giêsu chính là mẫu gương cho các bạn trẻ sống trưởng thành trong tình yêu và sống có trách nhiệm. Tình yêu chân thực đòi hỏi có sự thanh luyện và trưởng thành trong quyết định tự do và tự chủ bản thân. Trưởng thành trong tình yêu đòi buộc chúng ta phải học và thực hành sống theo cách yêu thương của Chúa Giêsu. Đó là chúng ta phải sống khoan dung, trưởng thành trong việc làm chủ cảm xúc và tình cảm, biết sống tha thứ và bỏ qua những lỗi lầm của người khác, yêu thương nhau bằng tình yêu phổ quát (yêu thương tất cả mọi người), tình yêu vô vị lợi, tình yêu đi bước trước, tình yêu tha thứ, tình yêu quảng đại, tình yêu hy sinh phục vụ vì sự tốt đẹp của người khác.
Trên thực tế, để trưởng thành và sống tình yêu như Chúa Giêsu yêu thương chúng ta không phải lúc nào cũng dễ dàng. Lý do là vì cách thể hiện tình yêu của chúng ta phụ thuộc vào kinh nghiệm sống của chúng ta trong tương giao với bố mẹ, người thân trong gia đình, bạn bè và người bạn trai hay bạn gái của chúng ta. Mỗi lần có sự hiểu lầm, xung đột hay làm mất lòng nhau, chúng ta có khuynh hướng tạo một nút thắt và nói với lòng mình rằng: tôi sẽ không yêu bố mẹ, anh chị em hay người thân thương của tôi cho đến khi họ biết lỗi và giải quyết được những khúc mắc với tôi. Tùy vào lỗi lầm của người khác mà nút thắt có thể to hay nhỏ khác nhau. Và cứ như vậy, chúng ta thương yêu người khác một cách không trọn vẹn bằng cách giữ lại cho mình một phần vì sự phẫn nộ và đau đớn người khác gây cho chúng ta. Và rồi chúng ta thường chờ cho đến khi người khác thay đổi theo cách của chúng ta thì ta mới yêu họ như một cách tự do và không tính toán.
Đó là sự khác biệt giữa tình yêu Thiên Chúa và tình yêu con người. Thiên Chúa yêu thương chúng ta ngay cả khi chúng ta là những tội nhân, là những con người bất toàn, mỏng giòn và dễ sa ngã. Chúa yêu ta như những gì chúng ta có và chúng ta là, chứ không phải như những gì chúng ta nên có và nên là. Nhiều người vì mặc cảm và xấu hổ với tội lỗi của mình mà không dám đến gần Chúa để nhận sự thương xót và tha thứ của Chúa. Trên thực tế, Chúa luôn sẵn sàng tha cho ta khi chúng ta ăn năn sám hối và biết quay trở về cùng Chúa như trong dụ ngôn Người Cha Nhân Hậu (Luca 15: 11-32).
Để hướng tới sự trưởng thành toàn diện, các bạn trẻ không những được mời gọi sống tinh thần của Cựu Ước trong sách Lêvi 19: 18 với bản Luật Vàng (Golden Rule): “Các ngươi muốn người ta làm cho mình thể nào, hãy làm cho người ta thể ấy” (Matthew 7: 12; Luca 6: 31). Chúa còn mời gọi mỗi Kitô hữu chúng ta hãy yêu nhau như Chúa Giêsu yêu chúng ta. Khi xưa Chúa nói với các môn đệ: “Anh em hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương anh em” (Gioan 13, 34). Yêu như Chúa yêu đó là thứ tình yêu Agapé. Tình yêu Thiên Chúa sẽ thúc bách chúng ta có thể làm được những sự mà tự bản thân chúng ta không thể làm được.
Để hướng tới sự hoàn thiện trong tình yêu, chúng ta cần đi con đường mà Đức Kitô đã đi và luôn sống trong ân sủng và tình yêu của Thiên Chúa. Chúng ta cần có một sự thay đổi, cần cải biến cách chúng ta yêu thương nhau qua cách yêu thương của Chúa. Để làm được điều đó, chúng ta cần ơn trợ giúp của Chúa Thánh Thần. Xin Chúa giúp mở lòng chúng ta để chúng ta có thể mặc lấy tâm tình yêu thương của Chúa như kim chỉ nam cho mọi suy nghĩ và hành vi trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta. Để yêu được người khác như Chúa yêu, chúng ta cần cảm nghiệm mình được Chúa yêu, kể cả khi chúng ta là những người tội lỗi và bất toàn. Khi chúng ta sống và cảm nghiệm được tình yêu Thiên Chúa với mình, chúng ta sẽ được thúc đẩy sống tình yêu đó với người thân, bạn bè, gia đình, và người bạn gái/trai của chúng ta như Thánh Phaolô nói: “Tình yêu Đức Ki-tô thôi thúc chúng tôi” (2Cr 5:14).
Lời kết
Đức Kitô là mẫu gương của sự trưởng thành toàn diện mà người trẻ luôn khát vọng hướng tới. Đức Kitô đạt tới sự trưởng thành toàn diện trong tình yêu qua mầu nhiệm nhập thể, nhập thế và mầu nhiệm thương khó và phục sinh của Ngài. Đức Kitô là nguồn năng lực vô hạn như mặt trời luôn tỏa sức nóng để hun nóng lửa nhiệt huyết tông đồ và là ngọn lửa soi sáng cho người trẻ biết con đường tìm về chân-thiện-mỹ. Đức Kitô là tâm điểm giúp người trẻ có được niềm tin vững vàng, lòng mến sốt sáng và niềm hy vọng trong những lúc gặp gian truân thử thách. Đức Kitô xuống thế làm người vì yêu nhân loại và để cứu chuộc nhân loại lầm than, tội lỗi. Tình yêu, lòng thương xót, và thứ tha của Chúa vượt lên trên tất cả.
Là các bạn trẻ Kitô giáo, chúng ta được mời gọi luôn sống với, sống trong Đức Kitô, và sống làm nhân chứng cho Chúa trong lòng thế giới hôm nay để chúng ta “sống trong thế gian nhưng không thuộc về thế gian,” hay sống “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.” Ước gì mỗi người trẻ chúng ta luôn cảm nghiệm được tình yêu thương của Chúa trong cuộc đời để chúng ta chia sẻ tình yêu đó cho bố mẹ, những người thân trong gia đình, bạn bè và người chúng ta thương mến. Sr. Maria Lê Kim Yến, Dòng MTG Hà Nội
2020
Xin cảm ơn những người hùng áo blouse trắng
XIN CẢM ƠN NHỮNG NGƯỜI HÙNG ÁO BLOUSE TRẮNG
Vốn dĩ sống nhờ thuốc nên rồi Thầy thuốc quả là ân nhân của đời tôi. Đã quá nhiều lần, “trợ giúp” cho người hay hay “trợ giúp” cho chính mình để lo sức khỏe, tôi bắt gặp nhiều tấm lòng từ mẫu khởi đi từ những người mặc áo blue trắng trong các bệnh viện.
Chả biết nói làm sao cho dễ nói vì thường là không biết nói cũng như nếu có nói thì nói không suông, không tròn đầy đủ ý như bao nhiêu người khác. Có thể nói là may mắn hay có thể nói là các lương y mà tôi từng đến đều có cách hành xử rất rất ư là nhân văn, rất ư là từ mẫu chứ không như một số lời ai oán.
Có lần được bác sĩ nổi tiếng khám. Ngoài phòng thì bệnh nhân đợi nhưng bác sĩ hết sức thân tình và chuyện vãn nữa. Lòng thì ngại vì bệnh nhân đợi nhưng vị bác sĩ trân quý đó còn kể chuyện nhiếp ảnh sau giờ chữa bệnh của ông. Ông còn rủ bữa nào về … sì phố uống bia nữa. Trân quý một bác sĩ lừng danh đã cứu mạng cho bao nhiêu con người đến với ông.
Không chỉ bản thân nhưng đã nhiều lần tận mắt thấy y bác sĩ bỏ tiền túi ra để mua thuốc cho bệnh nhân nghèo không có khả năng. Kèm theo đó là những chỉ dẫn cũng như cách khám kỹ và lời nói nhẹ nhàng dành cho bệnh nhân.
Thấy như vậy và nói như vậy để rồi ai nào đó bị hoạch họe hay thế này thế kia từ giới y bác sĩ nên chăng phải xem lại cách hành xử cũng như lời ăn tiếng nói của mình. Có khi mình không trách mình nhưng cứ trách người khác cũng như không bao giờ đặt mình vào hoàn cảnh của người đối diện. Có bao giờ mình nghĩ cho họ rằng họ quá căng thẳng vì công việc, vì áp lực của cuộc sống để thông cảm không ?
Bác sĩ, bên cạnh những áp lực bình thường mà còn bị áp lực đối diện với sự sống còn của con người. Dường như họ phải đấu tranh hết sức để giành sự sống cho người khác. Họ phải đối đầu với nguy cơ rủi ro của nghề nghiệp nữa nhưng mấy ai nghĩ đến.
Bình thường là như thế, như hiện nay, ai ai cũng biết là y bác sĩ đang phải đối diện với cuộc đấu tranh sinh tử khi Coronavirus xuất hiện. Có khi họ chữa trị cho người nhiễm nhưng chả biết khi nào là họ nhiễm.
Trưa hôm qua, đọc được bài viết và dịch ngay để chia sẻ cho người thân quen. Chuyện kể về nữ bác sĩ giỏi làm ở tuyến đầu của bệnh viện bên Mỹ. Cô đã nhiễm từ bệnh nhân mà cô chữa trị. Bi đát là Cô ra đi trong sự cô đơn và cô độc. Người thân cũng chả có mà đồng nghiệp cũng chả có ai. Bi đát nhất là khi qua đời, gia đình chả thiết tha gì làm “ma” cho Cô cả vì cũng chả ai đến dự. Thế là chọn phương án hỏa táng cho Cô.
Nguy hiểm là vậy, gian khó là vậy nhưng những “chiến sĩ áo trắng” những chiến sĩ ở tuyến đầu của trận chiến chống đại dịch vẫn luôn nêu cao ý trí, bản lĩnh, kiên cường, ngày đêm động viên, chăm sóc, bảo vệ tính mạng của bệnh nhân và đồng bào cả nước, có cả những người mang quốc tịch nước ngoài… Với tinh thần trách nhiệm cao cả, các bác sỹ đều hết lòng chăm sóc, phục vụ, chữa trị, đặt nhiệm vụ chữa bệnh cứu người lên trên hết.
Hiện tại, ta thấy dịch Corona diễn biến phức tạp, khó lường gây ra biết bao thiệt hại cả về người và vật chất trên toàn thế giới…
Nguy hiểm là thế nhưng các y bác sĩ không hề đắn đo suy nghĩ, họ sẵn sàng lao đến những nơi nguy hiểm nhất để chiến đấu giành lấy mạng sống của những người bệnh. Bản thân tôi thật cảm phục tinh thần của những y bác sĩ đang ngày đêm lo cho bệnh nhân, nhất là bệnh nhân nhiễm Coronavirus.
Các y bác sĩ, cán bộ nhân viên y tế gác lại cuộc sống thường nhật. Họ phải tạm rời xa gia đình, người thân yêu để chiến đấu với đại dịch, nhiều y bác sĩ không thể có một “nụ hôn” với đứa con thơ hay ở bên cạnh chăm sóc cha mẹ già đang trọng bệnh. Tất cả vì cuộc chiến với đại dịch vì sự an toàn tính mạng triệu triệu người dân. Nhiều bài thơ, ca khúc, bức thư,… đã viết lên những hoàn cảnh đầy cảm xúc đó, khiến bao người rơi lệ,…
Ôi đẹp lắm những anh hùng áo trắng
Những con người thầm lặng hy sinh
Nén lại sau lưng hạnh phúc gia đình
Phục vụ bệnh nhân tận tình chu đáo
Dịch Corona đến như cơn bão
Đẩy con người vào chỗ hiểm nguy
Các thầy thuốc chẳng đắn đo nghĩ suy
Sẵn sàng đến những nơi nguy hiểm nhất
Dù cái chết cận kề trong gang tấc
Dũng cảm quên mình đúng phẩm chất lương y
Họ đã đi và bất chấp hiểm nguy
Đến vùng dịch những nơi nghi có “bão”
Bởi các lương y với tấm lòng thơm thảo
Mọi việc làm để dân khỏe, dân an
Trong thời điểm dịch bệnh nguy nan
Họ vững vàng cứu dân qua bão dịch
Ôi blouse trắng màu áo tôi yêu thích
Nhuộm trắng những nơi có dịch lây lan
Dù những nơi đó cực khổ muôn vàn
Chẳng nản lòng các chiến binh áo trắng…
Xin tận lòng biết ơn những chiến binh thầm lặng!
Một lời nguyện thầm xin Chúa thương ban ơn lành cho giới y bác sĩ để họ luôn nhiệt tâm lo cho những người bất hạnh nhiễm Coronavirus. Cũng nguyện xin Chúa cho những nhà y khoa tìm ra thuốc cũng như vacine ngừa và chữa Coronavirus để cho thế giới được bình an.
2020
Kitô hữu và vấn đề tiền bạc
Ai cũng biết rằng trong đời sống thường ngày của chúng ta, tiền bạc là một phương tiện không thể thiếu được, vì nhờ nó mà ta có thể thỏa mãn được những nhu cầu thiết yếu trong đời sống. Chẳng hạn: Tiền mua gạo, tiền mua lương thực thực phẩm, tiền mua thuốc men chữa bệnh, tiền mua sắm quần áo, đồ dùng cần thiết, tiền để có phương tiện đi lại giao lưu, gặp gỡ, thăm viếng người thân, bạn bè, tiền để tổ chức cưới hỏi, ma chay, tiệc tùng lễ mừng sinh nhật vv… Tắt một lời, tiền không phải là tất cả, nhưng hầu như tất cả mọi việc thì rất cần tiền!
Người ta kể rằng khi về hưu, cựu Thủ tướng Trung Quốc Chu Dung Cơ có một bài viết tựa đề Hiểu đời, là một tâm sự tuổi già, nói về sức khỏe, về tiền bạc, về cuộc sống… Dưới đây là đoạn trích về tiền trong bài viết của ông:
“Tiền không phải là tất cả nhưng không phải không là gì. Đừng quá coi trọng đồng tiền, càng không nên quá so đo, nếu hiểu ra thì sẽ thấy nó là thứ ngoại thân, khi ra đời chẳng mang đến, khi chết chẳng mang đi. Nếu có người cần giúp, rộng lòng mở hầu bao, đó là một niềm vui lớn.
“Nếu dùng tiền mua được sức khỏe và niềm vui thì tại sao không bỏ ra mà mua? Nếu dùng tiền mà mua được sự an nhàn tự tại thì đáng lắm chứ! Người khôn biết kiếm tiền biết tiêu tiền. Làm chủ đồng tiền, đừng làm tôi tớ cho nó”.
Ngày nay, người ta truyền tai nhau “bài vè” rất châm biếm về tiền bạc, như sau:
Tiền là tiên là phật,
Là sức bật của tuổi trẻ,
Là sức khỏe của tuổi già,
Là cái đà của danh vọng,
Là cái lọng để che thân,
Là cái cân của công lý.
Ông bà ta ngày xưa còn nói mạnh thế này: “Có tiền mua tiên cũng được”. Nói như thế để thấy rằng dường như tiền bạc có một sức mạnh vạn năng. Vì thế mới có câu: “Mạnh vì gạo/ bạo vì tiền” hay câu khác: “Miệng nhà giàu có gang có thép”.
Tiền mạnh như thế nhưng trước sau như một, tiền chỉ đáng là một tên đầy tớ tốt mà thôi. Nếu tiền làm chủ ta, thống trị đời ta thì hiển nhiên là biết bao bi kịch sẽ xảy ra.
Chắc hẳn chúng ta ai cũng biết đến vụ án ly hôn nổi tiếng giữa hai vợ chồng ông bà chủ tập đoàn ca-phê Trung Nguyên với câu nói nổi tiếng của ông chủ ca-phê này, đó là câu “Tiền nhiều để làm gì?”.
Còn nhớ ngày 20-2-2019, trong phiên tòa xét xử ly hôn, ông Đặng Lê Nguyên Vũ, chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Tập đoàn cà phê Trung Nguyên và vợ là bà Lê Hoàng Diệp Thảo, chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Công ty cà phê hòa tan Trung Nguyên, không ngừng tranh cãi gay gắt về khối tài sản cả 10 ngàn tỷ đồng và trách nhiệm của hai bên. Quá bực bội và thất vọng, ông chủ Trung Nguyên đã lớn tiếng thốt lên với vợ: “Tiền để làm gì? Tiền nhiều để làm gì mà để ngày hôm nay ngồi như thế này?”.
Câu nói này nhanh chóng gây bão trên mạng xã hội với nhiều ý kiến khác nhau. Người ta không ngừng đặt ra những câu hỏi và suy ngẫm về giá trị thật sự của đồng tiền, liệu tất cả có đáng để hai người từng là vợ chồng đầu ấp tay gối, nay lại tranh nhau đến “sứt đầu mẻ trán” hay không?
Riêng đối với người Ki-tô hữu, tiền bạc cũng rất cần như bao người khác, nhưng chúng ta sống theo tinh thần của Tin Mừng, nên sẽ có sự chọn lựa khác cho riêng mình. Đó là không ham mê tiền bạc, không tôn thờ tiền bạc và biết khôn ngoan trong sử dụng tiền bạc.
Ki-tô hữu và lý do không ham mê tiền bạc
Thông thường con người tìm mọi cách để có tiền vì cần tiền để tiêu xài, nhưng sau đó thì bị đồng tiền thu hút và họ rơi vào vòng xoáy của cơn mê tiền bạc. Đúng như người xưa thường nói “Đồng tiền liền khúc ruột”. Nghĩa là đối với người ta tiền bạc trở nên người bạn thiết thân không thể nào rời bỏ được. Nó được xem là da thịt của mình, là máu mủ ruột rà của mình, là sự sống của mình…
Kinh nghiệm cho thấy, ham mê tiền bạc là một cám dỗ không trừ một ai. Càng có quyền hành, càng có địa vị, càng có chức tước càng dễ bị lôi kéo vào cơn mê tiền bạc. Đó chẳng những là một tính xấu nguy hiểm mà còn là một nguy cơ khiến ta sống ngược lại với Tin Mừng của Chúa.
ĐGM GB Bùi Tuần (hưu dưỡng Gp Long Xuyên) đã chia sẻ về vấn đề này, như sau: [1]
“Cần tiền là chuyện không tránh được, nhưng mê tiền là tính xấu, đầy nguy hiểm.
“Nguy hiểm vì nó dễ làm cho con người trở nên cứng cỏi, thiếu bác ái với người nghèo, giống như người giàu có trong Phúc Âm đã xử tệ với người hành khất tên La-da-rô (x. Lc 16, 19-31).
“Nguy hiểm vì nó dễ xúi con người phạm những tội bất công hại người, tương tự như trường hợp Giu-đa bán Chúa (x. Mt 26, 15).
“Nguy hiểm vì nó dễ làm cho con người trở nên loại Pha-ri-sêu giả hình tỏ vẻ đạo đức, ‘kinh kệ dài dòng, nhưng lại nuốt trôi gia tài những bà góa’ (x. Mt 23, 14).
“Nguy hiểm vì nó dễ làm ta coi thường những sự thánh, giống như những người đổi chác tiền bạc mà Chúa đã đuổi ra khỏi đền thờ (x. Mt 21, 12-16).
“Nguy hiểm, vì nó cũng dễ đẩy ta vào số phận chết không kịp chuẩn bị, như người phú hộ nọ trong Phúc Âm đang lúc mải miết tính toán tiền bạc, thì thần chết ập tới lôi đi (x. Lc 12, 16-21).
“Trong một thế giới mà ảnh hưởng của đồng tiền bao trùm quá rộng từ kinh tế, chính trị, văn hóa, đến cả luân lý, đạo đức, thì những lời cảnh cáo của Chúa sẽ bị coi như lạc lõng. Chúa biết, nhưng Người đã nói: ‘Dù trời đất qua đi, Lời Ta sẽ không qua đi bao giờ’ “ (Lc 21, 23).
ĐTC Phan-xi-cô, trong bài giảng thánh lễ sáng ngày 18-10-2018 tại nhà nguyện thánh Marta, đã nhắc đến ba cách thức sống nghèo trong đời sống của người Ki-tô hữu, trong đó ngài nhấn mạnh là người môn đệ phải sống nghèo với con tim không dính bén với giàu sang.
Ngài giải thích: Cách thức sống nghèo đầu tiên của người môn đệ là không dính bén với tiền bạc và sự giàu có. Đó là điều kiện để bắt đầu hành trình của người môn đệ. Nó bao hàm một “con tim khó nghèo”, đến nỗi nếu trong việc tông đồ, cần những tổ chức và cơ cấu mà dường như cho thấy sự giàu có, hãy sử dụng chúng thật tốt – nhưng đừng dính bén.
Thực thế, người thanh niên giàu có trong Tin Mừng đã làm Chúa Giêsu cảm động nhưng anh không thể theo Người bởi con tim anh dính bén với của cải. Nếu ai muốn theo Chúa Giêsu, hãy chọn con đường nghèo khó và nếu giàu có thì đó là bởi Thiên Chúa đã ban nó để phục vụ người khác, nhưng con tim thì đừng dính bén. Người môn đệ không sợ nghèo khó, mà ngược lại, người ấy cần phải sống nghèo. [2]
Chúng ta nhớ lại Lời Chúa phán: “Nếu người ta được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì nào có lợi gì?” (Mt 16, 26).
Ki-tô hữu và lý do không tôn thờ tiền bạc
Nhiều người có nhiều tiền nhưng họ làm chủ nó và sử dụng nó vào những việc đem lại lợi ích cho bản thân, gia đình và xã hội. Trái lại, có rất nhiều người khác có tiền, quý tiền, mê tiền và tôn thờ tiền bạc như thần tượng của mình. Thay vì họ làm chủ tiền bạc thì đàng này, tiền lại sai khiến và khống chế họ.
Là Ki-tô hữu, chúng ta phải luôn cảnh giác trước nguy cơ rơi vào cái não trạng coi tiền là tất cả, là thần-tài, là vua, là chúa mà mình phải thờ.
“Chúng ta đều biết rằng trong Tin Mừng, Chúa Giê-su đã khuyến cáo và kêu gọi thật mạnh mẽ: “Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi tiền của được” (Lc 16, 13). Chúa không cấm chúng ta làm ra tiền, Chúa cũng không cấm chúng ta để dành tiền của trong ngân hàng, mà Chúa nhắc nhở Ki-tô hữu luôn chú ý không được trở nên nô lệ của tiền bạc, không để mình trở thành kẻ làm tôi của thần Mammon.
“Tiền bạc và của cải là phương tiện chứ không là ông chủ. Đó là vị trí đúng đắn nhất của nó. Thật buồn cho Ki-tô hữu nào thay đổi vị trí đúng đắn của tiền bạc, nghĩa là đặt tiền bạc của cải vật chất thành trung tâm điểm của cuộc sống, thành ông chủ của chính họ”. [3]
Thánh Phao-lô cũng quan tâm nhắc bảo chúng ta về vấn đề tiền bạc. Ngài viết trong thư gửi cho Ti-mô-thê, như sau: “Thật thế, cội rễ sinh ra mọi điều ác, là lòng tham muốn tiền bạc, vì buông theo lòng ham muốn đó, nhiều người đã lạc xa đức tin và chuốc lấy bao nỗi đớn đau xâu xé” (1Tm 6, 10).
Ngạn ngữ Pháp có câu “Tiền bạc là tên đầy tớ trung thành nhưng lại là ông chủ gian ác”. Điều đó có nghĩa là nếu ta để cho tiền bạc làm chủ mình thì nó sẽ chỉ huy cả con người và cuộc sống mình theo ý hướng xấu của nó. Kinh nghiệm đời người cho thấy chữ “tiền” thì luôn đi đôi với “bạc”, tức là bạc tình, bạc nghĩa, bạc phúc, bạc ơn. Có thể nói, hơn phân nửa những vụ án mạng nghiêm trọng xảy ra hàng ngày đều xuất phát từ tiền bạc.
Thực vậy, tiền bạc gây cho người ta đau khổ nhiều hơn là đem lại cho họ hạnh phúc. Một danh nhân đã khẳng định thế này: “Tiền bạc chưa bao giờ và sẽ không bao giờ khiến con người hạnh phúc, trong bản chất nó không có gì có thể tạo ra hạnh phúc. Một người càng có nó nhiều bao nhiêu càng muốn nó nhiều bấy nhiêu”. (Benjamin Franklin)
Có một câu chuyện thế này. Cách đây nhiều năm, một nguyệt san xuất bản tại Luân Đôn có yêu cầu độc giả đưa ra một định nghĩa về tiền bạc và cho biết độc giả nào đưa ra câu định nghĩa hay nhất sẽ được thưởng. Tòa soạn đã nhận được cả ngàn câu định nghĩa và đây là câu định nghĩa đã trúng giải nhất.
– Tiền bạc là giấy thông hành đại đồng, với nó chúng ta có thể đi bất cứ nơi đâu trên thế giới, trừ lên trời là không được, với nó chúng ta có thể mua được mọi sự, trừ hạnh phúc.
Thánh Giacôbê đã nói về số phận người giàu có thế này: “Quả thế, mặt trời mọc lên tỏa ra sức nóng làm cho cỏ khô, khiến hoa rụng xuống, vẻ đẹp tiêu tan. Người giàu có cũng sẽ héo tàn như vậy trong các việc làm của họ” (Gc 1, 11).
Ngài viết tiếp: “Giờ đây, hỡi những người giàu có, các ngươi hãy than van rên rỉ về những tai họa sắp đổ xuống trên đầu các ngươi. Tài sản của các ngươi đã hư nát, quần áo của các ngươi bị mối ăn. Vàng bạc của các ngươi đã bị rỉ sét; và chính rỉ sét ấy là bằng chứng buộc tội các ngươi; nó sẽ như lửa thiêu hủy xác thịt các ngươi. Các ngươi đã lo tích trữ trong những ngày sau hết này. Các ngươi đã gian lận, mà giữ lại tiền lương của những thợ đi cắt lúa trong ruộng của các ngươi…” (Gc 5, 1–4).
Ki-tô hữu và việc sử dụng tiền bạc
Mọi người bất kể là ai đều có bổn phận làm việc để kiếm tiền nuôi thân và gia đình, tất nhiên họ có quyền giữ tiền và có quyền tiêu tiền. Đó là việc thường tình trong đời sống con người. Vấn đề quan trọng đặt ra cho mỗi chúng ta, đó là nguồn gốc tiền bạc mà chúng ta có và cách mà ta sử dụng nó như thế nào.
Trước hết, Chúa Giê-su cảnh giác chúng ta về lòng tham. Vì lòng tham thì vô đáy. Không phải người nghèo mà không tham. Cũng không phải người giàu có là hết tham. Mọi người đều có lòng tham. Người tham ít, người tham nhiều. Người tham cách này, người tham cách khác. Trong Tin Mừng Lu-ca, Chúa đã nhắc nhở thế này: “Anh em phải coi chừng, phải giữ mình khỏi mọi thứ tham lam, không phải vì dư giả mà mạng sống con người được bảo đảm nhờ của cải đâu” (Lc 12,15).
Chúng ta biết, tham lam là một trong bảy mối tội đầu. Do lòng tham nên ta có thể kiếm tiền một cách bất chính. Vì tham nên ta có thể ăn gian, nói dối trong kinh doanh buôn bán. Vì tham nên ta có thể lường gạt bằng mọi thủ đoạn để cái túi của mình đầy tiền. Vì tham nên ta có thể vi phạm đức công bằng và bác ái một cách nặng nề. Vì tham nên ta có thể hy sinh tất cả để bảo toàn quyền lợi bất chính của mình.
Người tham lam lại thường là người hà tiện nữa. Hà tiện chứ không phải là tiết kiệm. Hà tiện cũng hiểu theo nghĩa là keo kiệt, bủn xỉn, bần tiện. Vì hà tiện nên ta không dám chi tiêu để giúp đỡ tha nhân hay làm việc công ích. Vì hà tiện nên ta chỉ muốn thu tích cho đầy túi mà không biết cho đi, ban phát. Vì hà tiện mà ta làm ngơ không ngó ngàng gì tới cảnh khó nghèo, túng thiếu của người lân cận.
Trong Tin Mừng, Chúa đã nhắc bảo: “Anh em đừng tích trữ cho mình những kho tàng dưới đất, nơi mối mọt làm hư nát, và kẻ trộm khoét vách lấy đi. Nhưng hãy tích trữ cho mình những kho tàng trên trời, nơi mối mọt không làm hư nát, và kẻ trộm không khoét vách lấy đi” (Mt 6,19-20). Đối với Chúa, chúng ta có nhiều của cải hay có ít, điều đó không quan trọng. Vấn đề chính yếu là chúng ta không tôn thờ tiền bạc, không tham lam thu tích cho mình nhiều của cải, không kiếm tiền của cách bất chính, không hà tiện chắt bóp thái quá…Bởi như thế thì chúng ta khó lòng mà sống thanh thoát để tìm kiếm sự công chính trên trời.
Đối với Ki-tô hữu, Chúa luôn khuyến khích chúng ta biết ăn ở rộng rãi, sống quảng đại và sẵn sàng chia sẻ tiền của vật chất cho người anh em thiếu thốn. Vì chúng ta tâm niệm rằng: “Cho thì có phúc hơn là nhận”.
Thánh Phao-lô đã giảng giải rất rõ thế này: “Vấn đề không phải là bắt anh em sống eo hẹp để cho người khác bớt nghèo khổ. Điều cần thiết là phải có sự đồng đều. Trong hoàn cảnh hiện tại, anh em có được dư giả, là để giúp những người đang lâm cảnh túng thiếu, để rồi khi được dư giả, họ cũng giúp đỡ anh em, lúc anh em lâm cảnh túng thiếu. Như thế sẽ có sự đồng đều, hợp với lời đã chép : kẻ được nhiều thì không dư, mà người được ít thì không thiếu” (2Cr 8, 13 – 15).
Lời Chúa còn đây: “Hãy bán tài sản của mình đi mà bố thí. Hãy sắm lấy những túi tiền không hề cũ rách, một kho tàng chẳng thể hao hụt ở trên trời, nơi trộm cắp không bén mảng, mối mọt cũng không đục phá. Vì kho tàng của anh em ở đâu, thì lòng anh em cũng ở đó” (Lc 12, 33-34) ./.
Aug. Trần Cao Khải
__________________
[1]ĐGM GB Bùi Tuần – Nói với chính mình – NXB VH-VN năm 2015 – Trang 74
[2] vaticannews.va
[3] dongten.net
