2020
Tôn vinh Chúa Ba Ngôi trong cuộc sống Ki-tô hữu
Trong trình thuật việc Đức Giê-su chịu phép rửa tại sông Gio-đan, thánh Mác-cô đã tóm tắt mấy dòng sau đây: “Hối ấy, Đức Giê-su từ Na-gia-rét miền Ga-li-lê đến, và được ông Gio-an làm phép rửa dưới sông Gio-đan. Vừa lên khỏi nước, Người liền thấy các tầng trời xé ra, và thấy Thần Khí tựa chim bồ câu ngự xuống trên mình. Lại có tiếng từ trời phán rằng: ‘Con là con yêu dấu của Cha, Cha hài lòng về Con’” (Mc 1, 9-11).
Một bức tranh chấm phá nhẹ nhàng, nhưng rất sinh động, rất ý nghĩa, đầy ấn tượng về sự hiện diện của Cha và Thánh Thần trong giờ phút linh thiêng, giới thiệu và chuẩn nhận nguồn gốc, vai trò, sứ mệnh của Con, Đức Giê-su Na-da-rét, Ngôi Hai Thiên Chúa làm người. Đây cũng là một cách nhìn thần học rất sâu sắc của thánh sử về một biến cố đặc biệt, về một mầu nhiệm quan trọng trong cuộc đời của Đức Giê-su.
Thực ra, không phải chỉ có lúc xảy ra phép rửa ở sông Gio-đan chúng ta mới nghe nói về Ngôi Cha, về Ngôi Thánh Thần, mà qua Tin Mừng, chúng ta có thể dễ dàng nhận ra việc Đức Giê-su luôn sống, hoạt động, suy nghĩ và cầu nguyện với Cha.
Thánh Lu-ca đã tường thuật ngắn về việc Đức Giê-su lúc mười hai tuổi, ngồi giữa các bậc thầy Do thái ở Đền Thờ Giê-ru-sa-lem, vừa nghe họ, vừa đặt câu hỏi. Khi cha mẹ Ngài là ông Giu-se và bà Ma-ri-a tìm thấy Ngài trong Đền Thờ, lên tiếng hỏi về việc lạc mất con, Ngài đã trả lời: “Sao cha mẹ lại tìm con? Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao?” (x. Lc 2, 41-50).
Câu nói trên của Đức Giê-su vừa là một trả lời vấn nạn của cha mẹ, vừa là một khẳng định về mạc khải mối quan hệ đặc biệt giữa Ngài và Cha của Ngài. Thực vậy, trong cuộc đời tại thế của mình, Đức Giê-su đã chứng tỏ Ngài luôn hiện diện với Cha, luôn thực hiện chương trình cứu độ mà Cha đã trao cho Ngài. Đức Giê-su đã từng nói: “Cho đến nay, Cha tôi vẫn làm việc, thì tôi cũng làm việc” (Ga 5, 17).
Quả vậy, Đức Giê-su Na-da-rét tràn đầy kinh nghiệm sống với Cha và kinh nghiệm hiệp thông trong Thánh Thần. Những kinh nghiệm ấy Ngài muốn chia sẻ với chúng ta. Thánh Gio-an đã quả quyết: “Không ai đã thấy Thiên Chúa bao giờ; nhưng Con Một là Thiên Chúa và là Đấng hằng ở nơi cung lòng Chúa Cha, chính Người đã tỏ cho chúng ta biết” (Ga 1, 18).
- Đức Giê-su chia sẻ kinh nghiệm về Chúa Cha
Trong đời sống tại thế của mình, Đức Giê-su không bao giờ tỏ ra là người sống đơn độc, ngay cả khi bị thử thách nhất, lúc cái chết gần kề, Ngài cũng cảm thấy Cha đang có mặt để nghe Ngài than thở: “Cha ơi, nếu Cha muốn, xin tha cho con khỏi uống chén này. Tuy vậy, xin đừng làm theo ý con, mà xin theo ý Cha” (Lc 22, 42).
Quả thực, trong bất kỳ hoàn cảnh nào và với tâm trạng nào, Đức Giê-su luôn luôn hiện diện với Cha để sống tâm tình của một người con đích thực.
- Ngài luôn vâng lời và trung tín: “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy, và hoàn tất công trình của Người” (Ga 4, 34).
- Ngài quan tâm lo lắng chu toàn bổn phận: “Sao cha mẹ lại tìm con? Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao?” (Lc 2, 49).
- Ngài được Cha tin tưởng và yêu mến: “Quả vậy, Đấng được Thiên Chúa sai đi thì nói những lời của Thiên Chúa, vì Thiên Chúa ban Thần Khí cho Người vô ngần vô hạn. Chúa Cha yêu thương Người Con và đã giao mọi sự trong tay Người” (Ga 3, 34-35).
- Ngài tuyệt đối trung thành đường lối của Cha: “Đạo lý tôi dạy không phải là của tôi, nhưng là của Đấng đã sai tôi” (Ga 7, 16).
- Ngài hoàn toàn hy sinh vì sứ vụ: “Mạng sống của tôi, không ai lấy đi được, nhưng chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình. Tôi có quyền hy sinh và có quyền lấy lại mạng sống ấy. Đó là mệnh lệnh của Cha mà tôi đã nhận được” (Ga 10, 18).
- Ngài phản ánh cách tuyệt vời dung mạo của Cha: “Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha” (Ga 14, 9).
- Ngài coi trọng tuyệt đối việc thực thi ý Cha: “Phàm ai thi hành ý muốn của Cha tôi, Đấng ngự trên trời, người ấy là anh chị em tôi, là mẹ tôi” (Mt 12, 50).
- Ngài tín thác tuyệt đối nơi Cha: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha” (Lc 23, 46).
Riêng thánh Phao-lô đã tóm tắt cách sâu đậm sứ mệnh thiên sai của Đức Giê-su như sau:
“Đức Giê-su Ki-tô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” (Pl 2, 6-8).
Kinh nghiệm của Đức Giê-su đã củng cố niềm tin của chúng ta vì sau này, qua Hội thánh Chúa Ki-tô, chúng ta được thừa kế ân huệ làm nghĩa tử thần linh của Chúa Cha trong và nhờ Chúa Ki-tô. Chúng ta cũng được quyền gọi Thiên Chúa là Cha như Đức Giê-su Ki-tô đã gọi.
- Đức Giê-su chia sẻ kinh nghiệm về Thánh Thần
Linh mục Amédée Brunot trong cuốn “Bàn tiệc Khôn ngoan” đã viết như sau: “Thần Khí đã đạt đến mức hoàn hảo trong nhân vị của Đức Giê-su Nadarét, con người mang Thần Khí một cách tiêu biểu. Được thụ thai trong lòng trinh nữ Ma-ri-a do Thần Khí, được Thần Khí đưa ra mắt hôm chịu thanh tẩy ở sông Gio-đan, được Thần Khí hướng dẫn suốt cuộc đời, được Thần Khí mạc khải qua cái chết”.[1]
Thực vậy, Thánh Thần hiện diện với Ngôi-Con-nhập-thể như một sức mạnh nội tại và nguồn lực thâm sâu, thường xuyên và mạnh mẽ. Suốt cuộc đời thực thi sứ vụ thiên sai của mình, Đức Giê-su luôn được nâng đỡ, hướng dẫn, hỗ trợ bởi Thánh Thần, Đấng mà Ngài đã lãnh nhận lúc chịu phép rửa:
“Thần Khí Chúa ngự trên tôi,
Vì Chúa đã xức dầu tôn phong tôi,
Để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn” (Lc 4, 18).
Vì được Thiên Chúa ban Thần Khí vô ngần vô hạn (x. Ga 3, 34), nên Đức Giê-su sung mãn kinh nghiệm sống trong và với Thánh Thần. Ngài cũng muốn chia sẻ cho chúng ta kinh nghiệm hiệp thông với Thánh Thần. Hiệp thông để có sức mạnh hoàn thành sứ mệnh cứu chuộc và hoàn tất cuộc Vượt Qua đầy gian khổ.
- Sức mạnh chống chọi cám dỗ thử thách: “Bấy giờ Đức Giê-su được Thần Khí dẫn vào hoang địa, để chịu quỷ cám dỗ…” (x. Mt 4, 1-11).
- Sức mạnh để chu toàn sứ vụ: “Nếu tôi dựa vào Thần Khí của Thiên Chúa mà trừ quỷ, thì quả là triều đại Thiên Chúa đã đến giữa các ông” (Mt 12, 28).
- Sức mạnh để tái sinh, đổi mới toàn diện: “Không ai có thể vào Nước Thiên Chúa, nếu không sinh ra bởi nước và Thần Khí” (Ga 3, 5).
- Sức mạnh để bước vào sự thờ phượng Thiên Chúa một cách mới mẻ, chính đáng và chân thật: “Nhưng giờ đã đến – và chính là lúc này đây – giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật, vì Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ phượng Người như thế” (Ga 4, 23).
- Sức mạnh để vượt thắng mọi sóng gió nguy nan: “Chính Thầy đây, đừng sợ!” (Ga 6, 20).
- Sức mạnh để yêu mến và tuân giữ các lệnh truyền của Thiên Chúa: “Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy. Cha của Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha của Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy… Đấng Bảo Trợ là Thánh Thần Chúa Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy, Đấng đó sẽ dạy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em” (x. Ga 14, 22-26).
- Sức mạnh để làm chứng cho sự thật: “Khi Đấng Bảo Trợ đến, Đấng mà Thầy sẽ sai đến với anh em từ nơi Chúa Cha, Người là Thần Khí sự thật phát xuất từ Chúa Cha, Người sẽ làm chứng về Thầy. Cả anh em nữa, anh em cũng làm chứng, vì anh em ở với Thầy ngay từ đầu” (Ga 15, 26-27).
- Tôn vinh Chúa Ba Ngôi trong đời sống Ki-tô hữu
Đức Giê-su chẳng những chia sẻ cho ta kinh nghiệm về Ngôi Cha và Thánh Thần, mà Ngài còn ban ơn giúp ta sống trọn vẹn tình nghĩa con thảo với Cha trong Thánh Thần. Chúng ta đang sống thời kỳ hậu-Phục-sinh, nên có đủ ơn huệ dồi dào và điều kiện cần thiết để hiệp thông cách sâu xa với Thiên Chúa Ba Ngôi.
Linh mục Amédée Brunot cũng đã khẳng định: “Ba Ngôi thần linh muốn sống bên trong mỗi một chúng ta. Thiên đàng của Ba Ngôi chẳng phải là nơi thần thoại nào, nhưng chính là tâm hồn của ta…”[2]
Bản thân và cuộc sống Ki-tô hữu chúng ta, vì đã mặc lấy Đức Ki-tô nên trở thành đền thờ của Thiên Chúa và cũng là của lễ toàn thiêu làm đẹp lòng Thiên Chúa nhất. Chúng ta đã được ơn tái sinh, ơn gia nhập cộng đoàn cứu độ, ơn được làm con cái Thiên Chúa, ơn làm anh em nghĩa thiết với Đức Ki-tô. Với những ơn ấy, chúng ta không ngừng cảm tạ và tôn vinh Thiên Chúa bằng cách tích cực sống đạo.
Đó là điều mà chính Chúa Giê-su đã truyền dạy: “Chính anh em là ánh sáng cho trần gian… Ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời” (x. Mt 5, 14-16).
“Những công việc tốt đẹp” không gì khác hơn là những hoa trái của một đời sống đạo chân chính và tích cực.
Đó là thi hành trọn vẹn, mọi nơi mọi lúc, thánh ý Thiên Chúa theo ơn gọi của mình.
Đó là nêu gương sáng chứng nhân Ki-tô hữu giữa trần gian.
Đó là thực thi bác ái Ki-tô giáo một cách hoàn hảo và sâu đậm.
Đó là theo gương Chúa Ki-tô và các tông đồ hiến tế đời mình theo lời mời gọi của Tin Mừng
Đó là để cho Chúa Thánh Thần hướng dẫn, vững bước đi theo đường lối của Chúa chỉ dẫn, xứng đáng với tư cách là con cái Thiên Chúa.
Đó là biết đồng cảm với những thao thức của Chúa và Hội thánh, biến những điều đó thành mối quan tâm của chính mình.
Tóm lại, sự tôn vinh Chúa Ba Ngôi sẽ là hoàn hảo và tuyệt vời, khi chúng ta sống đầy ắp tâm tình của Đức Giê-su Ki-tô, khi chúng ta cảm nhận trong tin yêu tình yêu bao la của Cha và khi chúng ta hiệp thông sâu xa trong Thánh Thần./.
[1] A. Brunot, diễn giải Lời Chúa CN lễ Hiện Xuống năm A q. I, Editions Salvator, Mulhouse 1980, trang 99
[2] A. Brunot, Sđd trang 104
Aug. Trần Cao Khải
2020
Xây dựng chiến lược truyền thông cho Caritas và các tổ chức Công giáo
Mọi người được đánh động bởi những câu chuyện. Những câu chuyện giúp chúng ta cảm nghiệm thế giới. Chúng dẫn đưa chúng ta đến với cuộc sống của những người khác và truyền cảm hứng cho chúng ta hành động. Khi bi kịch xảy ra – bất kể do con người hay do tự nhiên như: bão hay động đất – thì những hình ảnh và câu chuyện về những người bị ảnh hưởng khiến chúng ta cảm động. Trong những hình ảnh và câu chuyện đó, chúng ta thấy có những chủ đề phổ quát như: hành động anh hùng, tình yêu, sự mất mát, tuyệt vọng, hy vọng, sự giải cứu…
Là người truyền thông, nhiệm vụ của chúng ta là tìm ra những câu chuyện và xác định thông điệp để kết nối khán giả của chúng ta với những người và với mục đích mà chúng ta nhắm tới, cũng như truyền cảm hứng cho việc cầu nguyện, hành động và quyên góp. Chìa khóa để có được những câu chuyện phù hợp là hãy tìm hiểu rõ sự thật về các câu chuyện bạn muốn kể. Việc biết bạn là ai và bạn đại diện cho tổ chức nào cũng sẽ giúp bạn tinh chỉnh thông điệp và điểm nhấn của câu chuyện để người khác có thể tham gia vào sứ vụ của bạn.
Tất cả những điều mà tổ chức của bạn làm – từ logo, đến trang Facebook, đến các cuộc trả lời phỏng vấn bạn đưa ra cho các nhà báo, cho đến chương trình bạn làm cho tổ chức của bạn – đều kể câu chuyện về tổ chức của bạn. Chiến lược truyền thông kết hợp các thành phần này lại với nhau để đảm bảo rằng bạn luôn kiên định trong việc kể câu chuyện mà bạn muốn trên các kênh truyền thông. Khi bạn kể câu chuyện của bạn một cách có chiến lược, là bạn đang xây dựng sự nhận diện tên hiệu và nâng cao sự nhận thức về vấn đề bạn nỗ lực kêu gọi. Đồng thời, bạn cũng đang thu hút các nhà tài trợ và những người ủng hộ khác để giúp khuếch đại công việc của bạn.
Dù bạn đang tham gia cho tổ chức Caritas hay cho các tổ chức hoạt động xã hội nào của Giáo hội Công giáo thì công việc đó đều dựa trên bối cảnh xung quanh như: một cơn bão hay hạn hán lan rộng sẽ đưa bạn vào tình trạng ứng phó khẩn cấp; một Thông điệp mới như Laudato Si’ sẽ trở thành một lời kêu gọi liên hồi về môi trường và thúc đẩy bạn nỗ lực vận động mọi người thực hiện; một số tiền tài trợ mà bạn nhận được sẽ luôn đi kèm với sự ủy thác dành cho bạn, để bạn nỗ lực thực hiện điều mà nhà tài trợ muốn. Mỗi kịch bản mới đòi hỏi một cách tiếp cận khác nhau – một chiến lược truyền thông khác nhau.
Chiến lược truyền thông như một bản đồ dẫn đường giúp bạn xác định các mục tiêu bạn muốn đạt được. Tuy nhiên, đó không phải là cách tiếp cận theo kiểu “một mẫu cho tất cả”: bạn cần điều chỉnh chiến lược truyền thông của mình theo nhu cầu và trải nghiệm cụ thể của người tiếp nhận thông tin – ví dụ cách bạn sử dụng các tài liệu và kỹ thuật để dạy mọi người sống trong trại tị nạn biết về tầm quan trọng của việc rửa tay, sẽ khác với cách bạn báo cáo kết quả về chiến dịch truyền thông đó cho các tổ chức tài trợ.
Sau đây là tám bước tạo nên một chiến lược truyền thông hiệu quả:
- Phân tích bối cảnh
- Xác định những mục tiêu của bạn.
- Xác định đối tượng của bạn.
- Xây dựng thông điệp của bạn.
- Chọn các kênh truyền thông hiệu quả nhất của bạn.
- Làm việc với những gì bạn có.
- Thiết lập khung thời gian.
- Đánh giá tác động truyền thông của bạn.
- Phân tích bối cảnh
Bước đầu tiên cho bất kỳ chiến lược truyền thông thành công nào cũng là việc tìm hiểu môi trường, hoàn cảnh công việc của bạn bằng một phương pháp phân tích đơn giản, được gọi là phương pháp phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thử thách (Strengths, Weaknesses, Opportunities, and Threats – Phương pháp SWOT). Phương pháp phân tích SWOT giúp bạn đánh giá vị trí đang đứng hiện tại của tổ chức, đưa ra chỉ dẫn rõ ràng về những gì bạn có thể đẩy mạnh, và hỗ trợ bạn trong việc phác thảo các vấn đề tiềm ẩn mà bạn cần giải quyết.
Bảng thực hiện phương pháp phân tích SWOT: những điểm mạnh (Strengths), những điểm yếu (Weaknesses), những cơ hội (Opportunities) và những thử thách (Threats)
| Những điểm mạnh | Những điểm yếu |
| Bạn (tổ chức của bạn) có sẵn những nguồn lực nào?
Mọi người biết đến bạn nhờ vào gì?
Bạn khác biệt với đối thủ cạnh tranh về điều gì?
|
Bạn (tổ chức của bạn) có thể cải thiện trong những lĩnh vực?
Bạn đang thiếu nguồn lực ở đâu?
Hiện tại có nhận thức tiêu cực nào về công việc của bạn không?
|
| Những cơ hội | Những thử thách |
| Hiện tại, bạn có thể tận dụng những sự kiện hoặc xu hướng nào?
Bạn có thể tận dụng những điểm mạnh của mình vào những cơ hội mới bằng cách nào?
|
Những yếu tố bên ngoài nào có thể ảnh hưởng đến công việc của bạn?
Hiện nay, đối thủ cạnh tranh của bạn có chú ý tới công việc của bạn không?
Có những điểm yếu nào tác động đến nhận thức của mọi người về tổ chức của bạn không?
|
- Xác định những mục tiêu của bạn:
Hiện tại, điều gì là điều quan trọng nhất mà tổ chức của bạn hy vọng đạt được thông qua việc truyền thông trong một lĩnh vực cụ thể? Thông qua chiến dịch truyền thông, bạn hy vọng sẽ tạo ra những thay đổi trong thái độ hoặc hành vi nào của cộng đồng? Bạn mong đợi một tác động toàn diện ra sao?
Cố gắng cô đọng những gì bạn muốn đạt được với chiến lược truyền thông thành một đến ba mục tiêu rõ ràng và ngắn gọn. Bắt đầu bằng cách tự hỏi: tôi muốn đạt được điều gì? Sử dụng phương pháp phân tích SWOT để giúp xác định những gì bạn có thể đạt được một cách hợp lý với bất kỳ mối nguy hiểm hoặc điểm yếu hiện tại nào. Ví dụ: nếu bạn không có ngân sách để thuê một đội quay phim chuyên nghiệp, thì đừng bao gồm việc tạo video trong các mục đích của bạn.
Càng cụ thể càng tốt và chắt lọc từng mục tiêu thành một tuyên bố ngắn gọn như:
- Chúng tôi muốn tạo ra 1 triệu USD để tài trợ cho tình hình khẩn cấp đang xảy ra.
- Mục tiêu của chúng tôi là nâng cao nhận thức và thúc đẩy sự ủng hộ cho những người tị nạn đến cộng đồng của chúng tôi.
- Khi kết thúc chiến dịch quảng bá cách sống vệ sinh sẽ có 65% các gia đình sống trong các trại tị nạn sẽ áp dụng các biện pháp rửa tay như một phần của thói quen hàng ngày.
Hãy chắc chắn rằng bạn đã đề ra các mục tiêu có thể đo lường được, có thể đạt được và kịp thời. Cần định lượng được khoảng thời gian bạn cần để đưa chiến lược truyền thông của bạn vào hành động và lên kế hoạch phù hợp.
Chiến lược truyền thông là một bản đồ giúp bạn dẫn dắt đối tượng của bạn. Xác định được mục tiêu cách rõ ràng là điều cần thiết trong việc hướng dẫn bạn triển khai một kế hoạch truyền thông hiệu quả.
Để giúp bạn xác định được mục tiêu, hãy đặt những câu hỏi sau đây:
- Điều chính yếu mà tổ chức của tôi muốn thực hiện là gì?
- Tổ chức của tôi muốn có được những thay đổi nào về thái độ hoặc nhận thức của cộng đồng?
- Tổ chức của tôi mong đợi một tác động toàn diện nào?
Các bạn hãy hình dung một kết quả thành công và tự hỏi: tổ chức sẽ biết kết quả thành công đó bằng cách nào, với số liệu nào, tiêu chuẩn nào?
Hãy xác định ba mục tiêu chính cho chiến lược truyền thông của bạn:
| Mục tiêu 1:
|
| Mục tiêu 2:
|
| Mục tiêu 3:
|
- Xác định đối tượng truyền thông của bạn:
Dành một chút thời gian để suy nghĩ về loại thông tin và ngôn ngữ nào sẽ có tác dụng tốt nhất cho các đối tượng sau:
- Một công ty muốn tham gia với một tổ chức phi chính phủ như một phần trong chiến dịch Trách nhiệm Xã hội của họ
- Một người làm công tác mục vụ giới trẻ công giáo đang tìm cách thu hút họ vào các vấn đề công bằng xã hội
- Một người tị nạn muốn biết nơi trú ẩn và các dịch vụ cứu trợ khác
- Một thành viên của tổ chức truyền thông
Một người truyền thông giỏi là người biết mình tiếp cận với ai và làm thế nào để nói ngôn ngữ của họ. Giống như một nhà báo sẽ cần đến thông tin về một chiến dịch biến đổi khí hậu hơn là một người tham gia vào chiến dịch đó; một quan chức chính phủ sẽ cần đến những điều khác với điều mà các tình nguyện viên sức khỏe cộng đồng cần.
Mặc dù bạn có thể sẽ có nhiều đối tượng cùng lúc cho bất kỳ một chương trình hoặc chiến dịch truyền thông cụ thể nào, nhưng điều quan trọng là bạn cần xác định đối tượng chính của bạn và điều chỉnh các nỗ lực truyền thông của bạn cho hợp với đối tượng mục tiêu đó. Xem xét các yếu tố như: Điều gì thúc đẩy đối tượng của bạn hành động? Họ có được lôi kéo bởi sự kết nối về cảm xúc không? Họ có cần sự thật và số liệu cứng trước khi họ quyên góp không? Họ sử dụng phong cách ngôn ngữ nào để truyền đạt ý tưởng của họ trong kỹ thuật, pháp lý, và kể chuyện? Họ biết gì về tổ chức của bạn?
Hãy tự hỏi mình:
- Ai là đối tượng cần tiếp cận của bạn?
- Thông tin nhân khẩu của họ là gì? (gồm các đặc điểm về dân cư: chủng tộc, độ tuổi, thu nhập, trình độ giáo dục, tình trạng sở hữu nhà, tình trạng công việc,…)
- Họ muốn loại thông tin nào?
- Họ sử dụng ngôn ngữ nào?
- Họ có kiến thức gì về vấn đề này và về tổ chức của bạn?
- Rào cản tiếp cận đối tượng của bạn là gì?
- Làm thế nào thu hút đối tượng để có lợi cho tổ chức của bạn?
Bảng xác định đối tượng truyền thông:
| Câu hỏi | Đối tượng mục tiêu | Đối tượng phụ |
| Đối tượng của bạn là ai?
|
||
| Thông tin nhân khẩu của họ là gì? (gồm các đặc điểm về dân cư: chủng tộc, độ tuổi, thu nhập, trình độ giáo dục, tình trạng sở hữu nhà, tình trạng công việc,…)
|
||
| Họ muốn loại thông tin nào?
|
||
| Họ sử dụng loại ngôn ngữ nào? (kỹ thuật, đàm thoại, hình ảnh…)
|
||
| Bạn có nên dùng thuật ngữ chuyên biệt hoặc từ thông dụng trong giao tiếp không?
|
||
| Đối tượng của bạn có kiến thức gì về vấn đề và tổ chức của bạn?
|
||
| Rào cản tiếp cận đối tượng của bạn là gì?
|
||
| Làm thế nào thu hút đối tượng để có lợi cho tổ chức của bạn?
|
- Xây dựng thông điệp của bạn
Mỗi ngày chúng ta bị “dội bom” thông tin từ đủ mọi nguồn: các bảng hiệu, các quảng cáo trên Tivi, trên mạng, các bài học ở trường, các chương trình radio, v.v… Mọi người sẽ lọc thông tin họ nhận được và chỉ nhớ một vài điểm chính. Vượt qua những tiếng ồn trên, làm cho thông điệp của bạn trở nên đáng nhớ là một thách thức cho công việc của bạn.
Sau khi bạn đã xác định mục tiêu chính bạn muốn đạt được qua chiến dịch truyền thông (mục 2), thì hãy xác định ba điểm bạn muốn nói với đối tượng chính của bạn. Với việc xác định thông điệp, tốt nhất là hãy tuân thủ tâm lý tối giản. Cũng như việc xác định mục tiêu, việc xác định thông điệp của bạn cũng phải rõ ràng và súc tích. Hãy tránh các thuật ngữ chuyên ngành, trừ trường hợp bạn đang làm việc với một tập thể tài trợ hoặc với nhà tài trợ chính.
Hãy điều chỉnh thông điệp cho hợp với đối tượng của bạn và cố gắng bao gồm trong đó: một kế hoạch tổng thể của bạn; những gì bạn cần; và những gì bạn mong đợi từ đối tượng đó. Khi bạn tiếp cận với đối tượng, hãy bám vào những điểm chính đó. Sử dụng sự lặp đi lặp lại để giúp họ nhớ tổ chức của bạn và những gì bạn hy vọng sẽ đạt được. Hãy dựa vào sức mạnh của chuyện kể và hãy tạo sự kết nối bằng cách đưa ra các ví dụ liên quan trực tiếp đến kinh nghiệm của đối tượng. Thay vì đưa ra những con số ngẫu nhiên, như “125.000 người bị mất nhà ở”, bạn hãy cá nhân hóa thông điệp đó để nó trở nên đáng nhớ hơn như: “ (thảm họa) làm 125.000 người bị mất nhà ở, tương đương với dân số của… (tên một thị trấn địa phương mà đối tượng quen biết, và có số dân với tương đương với con số đó)”.
Bảng xây dựng thông điệp:
Thông điệp chính của bạn cần thể hiện bạn (hoặc tổ chức của bạn) là ai và những gì bạn muốn thực hiện với các mục tiêu của mình.
Khi phát triển thông điệp của bạn, hãy ghi nhớ những câu hỏi sau:
- Đối tượng chính của bạn sử dụng loại ngôn ngữ nào để liên lạc? Kỹ thuật? Đàm thoại? Hình ảnh?
- Bạn muốn cài vào thông điệp của bạn tinh thần hoặc tâm trạng nào? Bạn có muốn truyền đạt tính cấp bách hoặc một nghĩa vụ đạo đức nào không?
- Bạn đang cố gắng đạt được điều gì với thông điệp của bạn? Vận động chính sách hay kêu gọi hành động?
- Điều gì đánh động đối tượng của bạn?
- Thông điệp có tạo ra sự liên kết về cảm xúc hoặc về tinh thần giữa đối tượng của bạn với cộng đồng và với mục đích bạn theo đuổi không?
Hãy làm cho thông điệp của bạn rõ ràng, súc tích và phù hợp với đối tượng của bạn.
| Thông điệp 1:
|
| Thông điệp 3:
|
| Thông điệp 3:
|
- Chọn các kênh truyền thông hiệu quả nhất của bạn
Mọi người nhận thông tin dựa trên sở thích của họ và các nền tảng sẵn có khác nhau. Các chương trình của Caritas sử dụng nhiều kỹ thuật khác nhau để củng cố khả năng tiếp nhận của các nhà tài trợ. Ví dụ, các thông điệp quan trọng về dinh dưỡng in trên áo của các nhân viên y tế cộng đồng sẽ nhắc nhở cho mọi người về những gì họ đã được học khi nhân viên y tế cộng đồng đi ngang qua. Một bức tường trong trại tị nạn được vẽ bởi một nghệ sĩ địa phương sẽ giúp quảng bá những thông điệp quan trọng về vệ sinh. Điện thoại có thể gửi lời nhắc hoặc danh sách kiểm tra cho người nông dân về giá cả thị trường và điều kiện thời tiết địa phương. Trong mỗi trường hợp, người làm chương trình cần chọn các kênh truyền thông hiệu quả nhất để tiếp cận đối tượng chính của họ.
Bốn kênh truyền thông chính mà bạn có thể sử dụng là:
- Liên hệ trực tiếp:Tiếp cận trực tiếp với các cá nhân hoặc nhóm. Chẳng hạn, bạn có thể trình bày chương trình của mình cho một nhóm giới trẻ Công giáo, thăm viếng thực tế một dự án, hoặc tổ chức một cuộc họp báo.
- Ấn phẩm:Bạn có thể gửi các tài liệu, các ấn phẩm qua đường bưu điện hoặc phát chúng tại các sự kiện để gia tăng hiệu quả loan truyền thông điệp của bạn tới những đối tượng mà bạn không thể tiếp cận trực tiếp. Ví dụ, những tài liệu ấn phẩm bao gồm: tờ chia sẻ bài học kinh nghiệm, báo cáo, tờ hướng dẫn cách áp dụng vào thực tiễn, tài liệu giới thiệu, tờ rơi, áp phích, hình ảnh, lịch, bưu thiếp…
- Các phương tiện truyền thông đại chúng:Sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng như: đài phát thanh, bài báo, bài xã luận và truyền hình để loan truyền thông điệp và giúp bạn tiếp cận đối tượng mới.
- Internet:Được truy cập trên toàn cầu, Internet: email, trang web, blog và mạng xã hội… cho phép bạn truyền tải thông điệp đến những người ủng hộ bạn và nhiều người khác…
Bảng danh sách kiểm tra kênh truyền thông
Hãy suy nghĩ về đối tượng của bạn và cách họ muốn nhận thông tin. Sử dụng điều đó để xác định các kênh truyền thông tốt nhất để tiếp cận họ một cách hiệu quả nhất.
Các kênh bạn có thể nhấn bao gồm các mục sau:
| Liên hệ trực tiếp tại:
□ Quán cà phê, quán ăn… □ Buổi thuyết trình trong nhà thờ □ Hội nghị, cuộc họp □ Sự kiện □ Hội chợ việc làm □ Họp báo □ Nhà riêng □ Nhóm người trẻ □ Khác ______ □ Khác ______ □ Khác ______ |
Các phương tiện truyền thông đại chúng:
□ Bài quảng cáo… □ Thư cho các biên tập viên báo, đài □ Bài tham vấn báo chí □ Bài báo □ Bài phản hồi xã luận (Op-ed) □ Thông cáo báo chí □ Chương trình Radio □ Bài phỏng vấn trên TV □ Khác ______ □ Khác ______ □ Khác ______ |
| Tài liệu, Ấn phẩm:
□ Băng rôn □ Tờ quảng cáo □ Lịch □ Thiệp Giáng sinh □ Bản tin nhà thờ □ Thư quyên góp □ Thư mời □ Tờ rơi □ Bài học kinh nghiệm □ Hình ảnh □ Bưu thiếp □ Áp phích □ Bài học thành công □ Báo cáo □ Ấn phẩm nghiên cứu □ Bài báo học thuật □ Card cảm ơn □ Ấn phẩm thương mại □ Tờ rơi ngắn (2 mặt giấy) □ Khác: □ Khác: □ Khác: |
Internet:
□ Biểu ngữ quảng cáo □ Blog □ Mạng xã hội Facebook □ Google chat □ Thư viện ảnh □ Webinar □ Trang web □ YouTube □ Khác: □ Khác: □ Khác: |
- Làm với những gì bạn có
Không giống như các tập đoàn lớn có ngân sách để chi cho các chiến dịch quảng cáo lớn, các tổ chức Caritas hay tổ chức công giáo địa phương thường dựa vào một đội ngũ nhân viên tối thiểu và nguồn lực hạn chế. Tuy nhiên, bạn vẫn có thể đạt được thành công lớn với ngân sách eo hẹp. Bí quyết là tối đa hóa những điểm mạnh bạn có và sử dụng chúng để chiếm lợi thế.
Có thể bạn không có tiền để tạo video, nhưng nhân viên của bạn đã tích cực chụp ảnh về các dự án của bạn và bạn có nhiều lựa chọn để sử dụng những hình ảnh đó. Có thể một thành viên trong đội ngũ nhân viên của bạn có mối quan hệ tốt với những người dẫn chương trình tại một đài phát thanh Công giáo địa phương và họ có thể giới thiệu bạn tham gia ở vị trí khách mời trong một vài chương trình radio nổi tiếng. Bạn có lẽ đã tích cực hoạt động trên mạng xã hội: Twitter và Facebook; bạn có thể dựa vào những người theo dõi bạn để giúp truyền tải thông điệp của bạn.
Tạo một danh sách để kiểm tra các nguồn lực và tài liệu có sẵn của bạn và sử dụng nó để xác định bạn nên đầu tư ngân sách hiện tại của bạn vào đâu. Ví dụ: nếu bạn đang nhắm mục tiêu vào các phương tiện truyền thông, bạn có thể đề nghị để cung cấp các bức ảnh đi kèm với các câu chuyện mà các phóng viên có thể viết; hoặc sử dụng ngân sách của bạn để trả chi phí đi lại khi làm chương trình.
Bảng danh sách kiểm tra ngân sách và nguồn lực hiện có:
Ngân sách: ________________________
Thời gian dành cho dự án: ____________
Trưởng dự án: ______________________
| Kỹ năng:
□ Viết □ Nhiếp ảnh □ Video □ Nói trước công chúng □ Thiết kế □ Chỉnh sửa Nhiệm vụ: _____ Thành viên của đội: ____ |
Kỹ năng:
□ Chỉnh sửa □ Thiết kế □ Nhiếp ảnh □ Nói trước công chúng □ Video □ Viết Nhiệm vụ: ____ Thành viên của đội: ____ |
| Kỹ năng:
□ Chỉnh sửa □ Thiết kế □ Nhiếp ảnh □ Nói trước công chúng □ Video □ Viết Nhiệm vụ: _____ Thành viên của đội: ____
Kỹ năng: □ Chỉnh sửa □ Thiết kế □ Nhiếp ảnh □ Nói trước công chúng □ Video □ Viết Nhiệm vụ: _____ Thành viên của đội: ____
|
Nguồn lực hiện có:
□ Bài viết □ Biểu ngữ □ Tài liệu quảng cáo □ Bản tin □ Những bài học kinh nghiệm □ Thư tin điện tử □ Ảnh □ Tài liệu thuyết trình PowerPoint □ Áp phích □ Ấn phẩm □ Những câu chuyện thành công □ Video □ Trang web □ YouTube |
- Thiết lập khung thời gian
Lập kế hoạch trước và nhận biết thời gian giới hạn là rất quan trọng đối với một kế hoạch truyền thông thành công. Phải mất thời gian để tạo ra các tài liệu, ấn phẩm, sản phẩm truyền thông, đặc biệt là khi phải dựa vào các nhà cung ứng bên ngoài như nhà thiết kế hoặc nhà in.
Hãy chủ động trong kế hoạch của bạn: tận dụng những ngày có ý nghĩa quan trọng đối với sứ vụ của bạn như Ngày Nước Thế Giới hoặc Mùa Chay, khi mọi người đang thảo luận về các lĩnh vực mà bạn đang dấn thân. Với các sự kiện quan trọng hàng năm này, bạn có thể bắt đầu chuẩn bị trước để đảm bảo bạn phổ biến liền mạch các tài liệu của bạn.
Đối với các dự án lớn hơn như hội nghị hoặc chiến dịch lớn, bạn hãy lên lịch chi tiết các việc cần hoàn thành theo từng mùa, từng tháng, từng tuần và thậm chí từng ngày. Tính thời gian bạn sẽ cần để tạo tài liệu, tạo ra sản phẩm và đưa chúng đến đối tượng của bạn.
Bảng tính khung thời gian
Hãy bắt đầu làm việc với dự án của bạn càng sớm càng tốt, nhờ đó bạn có thời gian dự phòng cho những điều bất ngờ. Tùy thuộc vào tầm mức công việc của bạn, hãy tạo các kế hoạch làm việc hàng ngày, hàng tuần và hàng tháng cho các nhiệm vụ bạn muốn hoàn thành.
Hãy xác định những ngày mà nhóm của bạn phải đạt được các mốc quan trọng, sau đó xác định mục tiêu cho hàng ngày, hàng tuần và hàng tháng.
| Những mục tiêu Tháng | Những kết quả bàn giao |
| Ngày bàn giao:
|
|
| Những mục tiêu Tuần | Những kết quả bàn giao |
| Ngày bàn giao:
|
|
| Những mục tiêu Ngày | Những kết quả bàn giao |
| Ngày bàn giao:
|
- Đánh giá tác động truyền thông của bạn
Dành thời gian để đánh giá tác động truyền thông có thể giúp bạn rút ra những bài học quý giá và hữu ích cho các chiến lược khác trong tương lai. Hãy đo lường mức độ thành công của bạn trong việc tiếp cận đối tượng chính và mức độ đạt được mục tiêu đề ra của bạn. Đối với các chiến dịch truyền thông xã hội, hãy sử dụng các công cụ như Tweet Reach hoặc Facebook Insights để xem bạn đã phổ biến thông điệp của mình hiệu quả ra sao. Đối với phương tiện truyền thông đại chúng, hãy ghi lại số lần các bài báo trích dẫn lời của bạn hoặc số lần bạn xuất hiện trong các cuộc phỏng vấn trên các đài phát thanh. Số tiền quyên góp vượt trội trong trường hợp khẩn cấp cũng cho thấy hiệu quả truyền thông của bạn trong việc tiếp cận đối tượng.
Hãy sử dụng các mục tiêu chính mà bạn đã đề ra để đánh giá công việc của bạn. Nếu bạn đặt mục đích có 10.000 chữ ký của giới trẻ để kiến nghị cho việc thực hiện chính sách biến đổi khí hậu, thì hãy thu thập những con số đó và đánh giá hiệu quả của bạn. Nếu bạn ở dưới mục tiêu, hãy phân tích lý do và thực hiện các điều chỉnh cần thiết. Nếu bạn vượt quá mong đợi, hãy phân tích những gì bạn đã làm đúng, lưu giữ lại chúng để áp dụng cho các chiến dịch khác.
Caritas Internationalis
Văn Việt dịch từ Communication Manual
2020
Người trẻ trưởng thành toàn diện
Các Kitô hữu trẻ luôn là mối quan tâm đặc biệt của toàn thể Giáo Hội. Vì thế, Thượng Hội đồng Giám mục lần thứ XV họp tại Rôma vào tháng 10 năm 2018 đã bàn về chủ đề: “Giới trẻ, đức tin và việc phân định ơn gọi”. Ngay sau khi kết thúc Thượng Hội đồng, Đức Thánh Cha Phanxicô đã ban hành Tông huấn Chúa Kitô đang sống – Christus vivit (Cv), gửi người trẻ và cộng đoàn dân Chúa. Trong đó ngài mời gọi các bạn trẻ chiêm ngắm tuổi trẻ của Đức Giêsu để lớn lên và trưởng thành cách toàn diện theo gương của Người: Trong thời gian sống tại Nadarét, Đức Giêsu vâng lời cha mẹ, ‘lớn lên, thêm khôn ngoan và đầy ân sủng trước mặt Thiên Chúa và người ta’ (Lc 2,52) (x. Cv, số 26-27).
Cùng chung những thao thức ấy, Hội đồng Giám mục Việt Nam quyết định chọn chủ đề Mục vụ Giới trẻ cho Giáo Hội Việt Nam trong ba năm tới (2020-2022): Năm 2020: Đồng hành với người trẻ hướng tới sự trưởng thành toàn diện; năm 2021: Đồng hành với người trẻ trong đời sống gia đình; năm 2022: Đồng hành với người trẻ trong đời sống Giáo Hội và xã hội[1]. Như vậy, chủ đề năm 2020 là đồng hành với người trẻ trong tiến trình hướng tới sự trưởng thành toàn diện. Vậy một câu hỏi đặt ra cho chúng ta là: Như thế nào được gọi là trưởng thành toàn diện?
Tiến sĩ tâm lý học Đinh Đoàn cho rằng dưới góc nhìn khoa học, toàn diện, biện chứng ngày nay, có thể nói về ba loại, hay ba khía cạnh trưởng thành của con người: Trưởng thành sinh lý, trưởng thành tâm lý và trưởng thành văn hoá – xã hội.[2]
Trong ba loại trưởng thành nói trên, trưởng thành sinh lý là điều dễ nhận thấy nhất và cũng là điều dễ đạt được nhất nơi mỗi người, bởi nó được đo bằng chiều cao, cân nặng… Người trưởng thành về sinh lý là người có khả năng xây dựng gia đình, lấy vợ hoặc gả chồng và nếu không có bệnh tật gì đặc biệt, thì có thể sinh con. Trên thế giới, tại nhiều quốc gia, người đủ mười tám tuổi được coi là trưởng thành xét theo pháp luật, nghĩa là người đó phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những hành vi của mình gây ra[3].
Trưởng thành tâm lý thì ở cấp độ cao hơn, là thứ khó đạt hơn, bởi nó không có sẵn, mà mỗi người tự phấn đấu rèn luyện, thì mới có thể đạt được. Vì thế, không thể đánh giá chính xác tiêu chuẩn trên tuổi tác của con người. Trưởng thành tâm lý được đánh giá bởi sự tự lập, suy nghĩ chín chắn, nhìn trước ngó sau, ứng xử phải đạo, không hấp tấp, vội vàng. Trưởng thành về tâm lý đồng nghĩa với khả năng giải quyết những khủng hoảng, những khó khăn, lấn cấn về mặt tình cảm. Người trưởng thành không để những xô lấn của tình cảm, của những xung đột bên trong và bên ngoài cuộc sống ảnh hưởng đến lề lối suy nghĩ, cung cách và thái độ sống của mình. Ngoài ra, trưởng thành tâm lý cũng giúp phát triển và trưởng thành tâm linh, vì trong tâm lý cũng có sự phát triển về đạo đức và luân lý. Trưởng thành tâm lý cũng gắn với những thứ “có”: Có vợ hoặc chồng, có con cái, có nghề nghiệp, có địa vị xã hội nhất định (là ai đó trong xã hội, chứ không nhất thiết phải là ông nọ, bà kia), có nhà để ở, có tiền để tiêu cho những nhu cầu của bản thân và gia đình.
Loại trưởng thành cuối cùng là trưởng thành về mặt văn hoá – xã hội, cũng là đòi hỏi ở mức cao nhất, không phải ai cũng đạt được. Người trưởng thành về văn hoá – xã hội không chỉ thấu hiểu quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm, mà còn dành nhiều thời gian nghĩ đến người khác, nghĩ đến “đạo lý”, đến “lương tâm”, nghĩ đến phận người, kiếp người. Người trưởng thành về văn hóa – xã hội luôn có xu hướng vị tha hơn vị kỉ, sống hướng đến những người xung quanh nhiều hơn là sống cho bản thân mình. Trong gia đình, họ sống có trách nhiệm và chu toàn bổn phận của mình, là một người con hiếu thảo với cha mẹ, một người chồng trung tín, yêu thương chia sẻ cuộc sống cùng vợ, đồng thời một người cha luôn hết lòng yêu thương chăm sóc và giáo dục con cái. Ngoài xã hội, họ chú trọng và quan tâm đến những thiếu thốn của người khác, và tìm cách giúp đỡ, đồng thời họ sống theo đạo lý, theo tiếng nói của lương tâm, tôn trọng quyền lợi của người khác và không vì danh vọng mà bán rẻ lương tâm.
Đối với các Kitô hữu, những người có niềm tin vào Thiên Chúa, ngoài ba khía cạnh trưởng thành theo các nhà tâm lý học nói đến như sinh lý, tâm lý và văn hoá – xã hội chúng ta vừa đề cập ở trên. Đối với các Kitô hữu hay những người có niềm tin, trưởng thành về đời sống tâm linh cũng là một đòi hỏi cần thiết. Đức Thánh Cha Phanxicô viết trong Tông huấn Chúa Kitô đang sống rằng: “Nhiều người trẻ quan tâm đến thân thể mình, tìm cách phát triển thể lý hoặc ngoại hình. Những người trẻ khác thì cố gắng phát huy tài năng và kiến thức của mình… Một số người trẻ khác nhắm cao hơn, cố gắng dấn thân hơn và tìm kiếm một sự phát triển tâm linh…” (Cv, số 158).
Quả thật, việc gặp gỡ và củng cố tình bạn với Chúa Kitô, Đấng đang sống, là điều thật quan trọng và cần thiết cho mỗi người Kitô hữu, nhất là những Kitô hữu trẻ. “Bởi lẽ, dù chúng ta có sống và trải nghiệm đến đâu chăng nữa, cũng sẽ không bao giờ chạm đến ý nghĩa sâu xa nhất của tuổi trẻ và không nhận biết được tuổi trẻ đầy đủ nhất, nếu chúng ta không gặp gỡ Người Bạn lớn mỗi ngày, nếu chúng ta không sống trong tình bạn với Đức Giêsu” (x. Cv, số 150). Vì “Đức Giêsu là ‘người trẻ giữa những người trẻ để nên mẫu gương cho người trẻ và thánh hiến họ cho Chúa.” (Cv, số 22). Qua việc gặp gỡ Chúa, người trẻ sẽ được Người hướng dẫn, đồng hành giúp đỡ trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống. Người trẻ gặp gỡ “Người Bạn lớn” nhờ cầu nguyện với Lời Chúa, tôn thờ Thánh Thể, tham dự phụng vụ cách tích cực và sốt sắng.
Bên cạnh đó, theo Đức Thánh Cha: Dấu hiệu của người trẻ trưởng thành là khi họ đưa ra lựa chọn và đi đến quyết định trong những vấn đề nghề nghiệp, xã hội, chính trị. Ngoài ra, họ còn phải đưa ra những quyết định khác, triệt để hơn, những quyết định mà sẽ định đoạt đến hướng đi dứt khoát cho cuộc đời họ, quyết định liên quan đến tình yêu, việc chọn lựa người bạn đời và việc có những đứa con đầu tiên (x. Cv, số 140). Ngài nói tiếp: Dấu hiệu của người trưởng thành là khi người ta bắt đầu đi làm… Việc làm xác định và ảnh hưởng đến căn tính và ý thức về chính mình của một người trẻ, đồng thời là nơi chủ yếu để phát sinh tình bằng hữu và các mối tương quan khác (x. Cv, số 268). Đối với người trẻ, việc làm cũng là điều cần thiết cho cuộc sống, là con đường để trưởng thành, để phát triển nhân bản và hoàn thiện con người mình hơn (x. Cv, số 269). Hơn nữa, với người trẻ chúng ta, việc làm không đơn thuần chỉ là để kiếm tiền, mà còn là thể hiện phẩm giá con người, một con đường để trưởng thành và hòa nhập xã hội (x. Cv, số 271).
Ngoài ra, người trẻ sống trưởng thành là người biết khôn ngoan phân định điều gì tốt, cần phát huy và điều gì xấu, cần xa tránh. Điều này đòi hỏi người trẻ phải luôn luôn huấn luyện lương tâm ngay thẳng, “việc huấn luyện này bao hàm để cho Chúa Kitô biến đổi mình, đồng thời, đó là một thói quen làm điều thiện, kiểm điểm lại việc thực hành này khi xét mình” (Cv, số 282).
Đức Thánh Cha mong người trẻ biết quý trọng bản thân mình, thật nghiêm túc với chính mình và cố gắng phát triển bản thân về đời sống thiêng liêng. Nhiệt huyết đặc trưng của những người trẻ trưởng thành là việc tìm kiếm “sự công chính, đức tin, đức ái, bình an” (2 Tm 2,22) (x. Cv, số 159). Đồng thời, người trẻ trưởng thành cũng là những người “sẵn sàng đáp lại lời kêu gọi hoạt động thiện nguyện, trở nên công dân tích cực và sống tình liên đới trong xã hội” (Cv, số 170).
Dựa vào hướng dẫn từ chính Tông huấn, Hội đồng Giám mục Việt Nam trong Thư chung gửi cộng đoàn dân Chúa và đặc biệt người trẻ năm 2019, mời gọi các mục tử, những người làm công tác mục vụ giới trẻ, đặc biệt là cha mẹ, hãy đồng hành để giúp các thanh thiếu niên lớn lên và trưởng thành. Cũng như chính mỗi người trẻ chúng ta được mời gọi tự đào luyện về thể lý, tâm lý, tâm linh, để có thể sống hoàn thiện hơn trong mọi phương diện hầu trở nên người có ích cho xã hội và Giáo Hội.
Trước hết về thể lý, người trẻ được mời gọi rèn luyện thân thể khỏe mạnh, giữ kỷ luật đối với chính bản thân, phòng ngừa các đam mê nguy hại như rượu, bia, ma túy, cờ bạc, nghiện game.
Thứ đến về phương diện tâm lý, người trẻ tập luyện các đức tính nhân bản, đặc biệt tính trung thực, ý thức công bằng, lương tâm ngay thẳng, tinh thần trách nhiệm. Người trẻ tập sinh hoạt cộng đồng, nhờ đó hướng mở tới tha nhân, tập sống chung và làm việc chung với tinh thần liên đới, quảng đại, vị tha. Những người đồng hành mở các lớp kỹ năng sống giúp người trẻ nhận diện giá trị bản thân, trưởng thành tâm lý và tính dục, phát triển tương quan hài hòa với mọi người.
Ngoài ra, đời sống tâm linh, các bạn trẻ được mời gọi gặp gỡ và củng cố tình bạn với Chúa Kitô, Đấng đang sống, nhờ cầu nguyện với Lời Chúa, tôn thờ Thánh Thể, tham dự phụng vụ cách tích cực. Để thực hiện mục tiêu này, các mục tử và giáo lý viên cần canh tân việc dạy giáo lý cho giới trẻ bằng cách tổ chức các buổi tọa đàm, thảo luận theo chuyên đề, nhất là những vấn đề thiết thân với giới trẻ.
Về văn hóa, “không thể tách rời việc đào tạo tâm linh ra khỏi đào tạo về văn hóa” (Cv, số 223). Đào tạo văn hóa đích thực là phát triển sự khôn ngoan, tức là tri thức nhân văn và phát triển nhân bản, chứ không chỉ tìm lợi ích vật chất và hiệu quả cụ thể tức thời.
Cuối cùng là việc phân định ơn gọi, người trẻ cũng cần được đồng hành và hướng dẫn trong việc phân định tiếng gọi của Thiên Chúa, kêu mời họ bước vào đời sống tu trì hoặc đời sống hôn nhân, để họ có thể đáp lại tiếng gọi của Chúa với tất cả tự do, ý thức đức tin và quảng đại dấn thân.
Như vậy, để là một người trưởng thành, ngoài sự nở nang và sự phát triển về thể xác, mỗi người còn phải được phát triển về tâm lý. Điều này được kiểm chứng bằng sự quân bình trong giao thiệp, nói năng, cư xử và giải quyết những khó khăn, khủng hoảng trong cuộc sống hằng ngày. Ngoài ra, theo tôn giáo, sự trưởng thành thể lý và tâm lý cần thiết để giúp con người phát triển và đi tới sự trưởng thành tâm linh. Thay cho lời kết, xin được nhắc lại lời của một học giả gửi đến cho chúng ta: Trưởng thành không phải là lúc ta làm được những chuyện lớn lao mà là lúc ta hiểu được những điều bé nhỏ. “Hiểu những điều bé nhỏ”, để quan tâm đến người khác và muốn cho họ sống vui. Đó là bí quyết của hạnh phúc.
[1] Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, Thư chung gửi cộng đoàn dân Chúa, đặc biệt là các bạn trẻ năm 2019.
[2] Đinh Đoàn, Tâm lý học: Thế nào là người trưởng thành? http://dinhdoan.net/tam-ly-hoc-the-nao-la-nguoi-truong-thanh/, truy cập ngày 09/3/2020.
[3] x. Trần Mỹ Duyệt, Người Kitô hữu trưởng thành, http://tinmung.net/GIADINH/GiaDinhKitoHuu/KitoHuuTruongThanh/NguoiKitoHuuTruongThanh.htm, truy cập ngày 08/3/2020.
Vinc. Thiên Phúc
2020
Đời tu – một nỗ lực tìm kiếm cái đẹp
Cuộc sống là những chuỗi ngày dài tìm kiếm, nhưng tìm gì đó mới là điều quan trọng. Con người thời nay có xu hướng tìm những thứ vật chất bên ngoài: tiền tài, danh vọng, địa vị… đến nỗi một số người bất chấp tất cả để được sống cuộc sống mà họ gọi tên là “Hạnh phúc”. Bên cạnh đó lại có những người đi ngược với quy luật cuộc sống, cũng một khát khao, một hoài bão nhưng họ mang theo chúng vào cuộc sống gọi là “Đời tu” và nơi ấy họ từ bỏ tất cả để tìm được thứ mà mình muốn. Vậy họ tìm gì? Như Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II có nói: “ Đời tu là một nỗ lực tìm kiếm cái đẹp” (trích Tông huấn đời sống Thánh hiến). Câu nói ấy gợi lên trong tâm trí một Thỉnh sinh tu Dòng như tôi những suy nghĩ về “ cái đẹp” trong đời tu, đồng thời cũng là lời cảnh tỉnh cho những ai đang tìm kiếm thứ gì khác ngoài “cái đẹp” mà đời tu mang lại.
Theo cách nói của người Việt Nam: Tu sĩ là những người dâng mình cho Thiên Chúa. “Tu là sửa”. Nếu gọi Nha sĩ là chuyên vể răng, Nhạc sĩ chuyên về nhạc thì hiểu nôm na “Tu sĩ” là những người chấp nhận tu bổ, sữa chữa bản thân theo lời mời gọi của Chúa Giêsu: “Anh em hãy hoán cải, sửa đổi và nên hoàn thiện” ( Mt 5,48).
Xưa kia, Chúa gọi mời gọi các tín hữu tiên khởi sống với nhau “ một lòng một trí” ( Cr 2, 42 – 47) thì ngày nay Chúa cũng thôi thúc chúng ta: “ Hãy theo Thầy” (Ga 21,19) bằng cách tự hiến chính bản thân, quảng đại dâng mình cho Ngài vào một cuộc sống bị coi là “ngược đời” nhưng ẩn chứa biết bao “Cái đẹp” mà Chúa mời gọi ta “Hãy đến mà xem” ( Ga 1, 39).
Khác với những vẻ đẹp tự nhiên, “Cái đẹp” mà đời tu mang lại chính là một “Tâm hồn đẹp” mà người khác không thể nhìn nhận và đánh giá, vì nó thuộc về nội tâm của chính chủ thể đang đi trên hành trình của mình. Nhưng cũng không dễ để khám phá “Cái đẹp” tiềm ẩn ấy, nó đòi ta phải có một khao khát mãnh liệt cùng sự can đảm, dám nỗ lực tìm kiếm, chấp nhận con người thật của mình để tìm đến những giá trị cao cả, thiêng liêng liêng hơn qua việc nhạy bén để nhận ra thánh ý Chúa trong từng giây phút.
Một tâm hồn đẹp là một tâm hồn luôn hướng về Thiên Chúa, nghĩa là luôn quy về sự thiện. Khi hướng về sự thiện mọi suy nghĩ, lời nói, hành động của ta sẽ trở nên bác ái và yêu thương hơn với hết mọi người. Nhờ vậy, đời tu không chỉ giúp ta hình thành một con người đạo đức, thánh thiện, đời tu còn mang ơn phúc đến cho những ai cần đến ơn Chúa, cũng như phần rỗi các linh hồn cho cha mẹ, gia đình của ta.
Một khi sự nỗ lực tìm kiếm được Chúa trả công, tâm hồn của ta sẽ tràn ngập niềm vui và bình an dù trước mắt là một tá những gian nan thử thách.
Đối với tôi, trước khi đi tu việc san sẻ đồ của mình cho anh em trong gia đình là một việc không dễ, nhưng nay, khi bước vào đời tu, tôi có thể mau mắn và sẵn sàng gom những thứ mình có làm của chung cho một cộng đoàn toàn người xa lạ. Tôi hạnh phúc và bình an khi được cho đi, chính vì khám phá ra một thực tế “ Chúa Giêsu xây đắp nên tâm hồn ta, bản chất là đẹp và tuyệt vời hơn những gì ta nghĩ, nó rộng, quảng đại và bao dung hơn tôi tưởng. Điều đó trở nên hấp lực khiến tôi ngày càng muốn lún sâu, chinh phục và khám phá con đường dâng hiến của mình, con đường Chúa đã mời gọi tôi …
Vậy tại sao có những người “cảm” và tìm được “cái đẹp” trong tâm hồn của mình nhưng lại có những người chẳng tìm được gì ngoài một tâm hồn sáo rỗng? Phải chăng họ đang tìm một thứ gì khác ngoài “ Cái đẹp” mà Chúa Giê su muốn nơi họ?
Có rất nhiều bạn trẻ đi tu vì những lí do rất dễ thương và trong sáng: Được Lời Chúa tác động, được người quen giới thiệu, thích thú với bộ áo dòng, hay đơn giản tò mò đời tu như thế nào như tôi, nhưng chắc hẳn tất cả đã nằm trong kế hoạch gọi mời “ chung sống” của Chúa.
Bên cạnh đó, có những người đặt chân vào dòng vì muốn trốn tránh những bon chen của thế gian, sợ rằng mình không thể bon chen giữa cuộc sống ấy và họ tìm đến đời tu như “ một nơi ẩn nấp”. Lại có những người nghĩ rằng đời tu mới có thể đưa tài năng của họ đến cho nhiều người biết và chỉ đi tu, tài năng của họ mới được khai phá triệt để. Đó phải chăng là tìm đến đời tu như một “bàn đạp danh vọng” để tìm kếm “cái tôi” của bản thân? Lại có người tìm đến đời tu như một “nhà trọ cao cấp” với đầy đủ tiện nghi để học tập và làm việc như ý họ muốn.
Kết quả là gì? Dù có thể sống lâu năm trong đời tu đi chăng nữa đời sống của họ chẳng thể nào thăng tiến, cuộc sống cứ “tà tà” và không có gì ngoài những thứ phù vân mà họ đang tìm kiếm. Nhưng điều ấy có thể thay đổi, nếu họ nhận ra một khoảng trống trong tâm hồn mình.
Đời tu tiềm ẩn biết bao “Cái đẹp” song “Cái đẹp” ấy chỉ dành cho những ai thực sự nỗ lực tìm kiếm.
Chính vì vậy Chúa Giê su đã nói: “ Người được gọi thì nhiều mà kẻ được chọn thì ít”. Một cuộc sống dù bình đến mấy mà thiếu vắng Chúa thì cũng là thứ “ bình an ảo”. Bình an thực sự sẽ đến với những ai đang từ bỏ và nỗ lực mỗi ngày để biến đổi mình theo ý Chúa muốn. Đó là “ bình an” mà chẳng ai lấy mất được.
Đáp lại lời mời gọi: “Đến mà xem” ( Ga 1,39) tôi đã có mặt và ở lại với Ngài nơi Hội dòng tôi thuộc về. Để luôn giữ được ngọn lửa ấy, tôi luôn dành thời gian định kỳ để củng cố đời tu của mình hầu không bị lệch ra khỏi con đường ân sủng của Chúa, qua đó mỗi ngày tích thêm nhiều năng lượng tích cực để phục vụ Chúa và tha nhân.
Nếu bạn cũng giống tôi, khao khát khám phá “Cái đẹp”, thì chỉ có một chọn lựa duy nhất là dấn bước vào đời tu, bạn sẽ dần khai phá được những nét đẹp tiềm ẩn nơi bản thân là hình ảnh Chúa tao dựng. Muốn thế bạn hãy “ Đến” và “ Ở lại” trong Chúa và trong cộng đoàn.
