Aenean nec eros. Vestibulum ante ipsum primis in faucibus orci luctus et ultrices posuere cubilia curae. Suspendisse sollicitudin velit sed leo.

Chuyên mục
  • Bài giảng
  • Các loại khác
  • Chia sẻ
  • Chưa phân loại
  • GH Hoàn Vũ
  • GH Việt Nam
  • Giáo dục
  • Hạnh các Thánh
  • HĐGM Việt Nam
  • Kinh Thánh
  • Phim giáo dục
  • Phụng vụ
  • Sách
  • Suy niệm Chúa nhật
  • Suy niệm hàng ngày
  • Tài liệu giáo dục
  • Tài liệu phụng vụ
  • Thần học
  • Thánh ca
  • Thánh lễ
  • Thánh lễ trực tuyến
  • Thư chung
  • Thư viện
  • Tin tức
  • Triết học
  • Tư liệu
  • UBGD Công giáo
  • Video
From Gallery
Stay Connected
UyBanGiaoDucHDGM.net
  • Trang chủ
  • Thư chung
    • HĐGM Việt Nam
    • UBGD Công giáo
  • Tin tức
    • GH Việt Nam
    • GH Hoàn Vũ
  • Phụng vụ
    • Thánh lễ
    • Thánh lễ trực tuyến
    • Suy niệm hàng ngày
    • Suy niệm Chúa nhật
    • Tài liệu phụng vụ
  • Giáo dục
    • Chia sẻ
    • Tài liệu giáo dục
  • Thư viện
    • Sách
      • Kinh Thánh
      • Triết học
      • Thần học
      • Các loại khác
    • Video
      • Bài giảng
      • Thánh ca
      • Phim giáo dục
      • Hạnh các Thánh
      • Tư liệu
  • Liên hệ
Give Online

Danh mục: Giáo dục

Home / Giáo dục
07Tháng Sáu
2020

Lãnh đạo như Giêsu 2

07/06/2020
Anmai
Giáo dục, Tài liệu giáo dục
0

Lãnh đạo như Giêsu_2_UBGD

Tôi có mong muốn noi theo gương mẫu lãnh đạo của Chúa Giê-su?

 

Bạn có thể nói rằng, “Trước khi tôi nhìn nhận Chúa Giê-su là mẫu gương lãnh đạo của tôi thì tôi cần hiểu lãnh đạo như Giê-su nghĩa là như thế nào.” Bản chất và khái niệm cốt lõi của lãnh đạo như Giê-su được tóm lược trong mệnh lệnh “giữa anh em thì không được như vậy” mà Chúa Giê-su truyền cho các môn đệ trong việc lãnh nhận và thực thi vai trò lãnh đạo. Hãy đọc Mt 20:25-28

“Nhưng Ðức Giêsu gọi các ông lại và nói: “Anh em biết: thủ lãnh các dân thì lấy quyền mà thống trị dân, những người làm lớn thì dùng uy mà cai quản dân. Giữa anh em thì không được như vậy: Ai muốn làm lớn giữa anh em, thì phải làm người phục vụ anh em. Và ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ anh em. Cũng như Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người”.

Đối với những môn đệ của Chúa, lãnh đạo phục vụ không phải là một lựa chọn, mà là một mệnh lệnh. Lãnh đạo phục vụ trở nên một tuyên bố sống động về việc chúng ta là ai trong Chúa Kitô, chúng ta đối xử với nhau như thế nào và chúng ta bày tỏ tình yêu của Chúa Giêsu cho thế giới ra sao.

Phần thú vị trong việc học hỏi lãnh đạo như Giê-su là Ngài sẽ không dẫn đưa chúng ta vào bất cứ hoàn cảnh nào một cách đơn độc, với một hoạch định để chúng ta thất bại. Gêrêmia 29: 11-14 cho ta thấy điều này:

“Vì chính Ta biết các kế hoạch Ta định làm cho các ngươi – sấm ngôn của Ðức Chúa -, kế hoạch thịnh vượng, chứ không phải tai ương, để các ngươi có một tương lai và một niềm hy vọng. Bấy giờ các ngươi kêu cầu Ta, các ngươi đến cầu nguyện với Ta, Ta sẽ nhận lời các ngươi. Các ngươi sẽ tìm Ta và các ngươi sẽ thấy, bởi vì các ngươi sẽ hết lòng kiếm Ta, Ta sẽ cho các ngươi được gặp – sấm ngôn của Ðức Chúa. Ta sẽ đổi vận mạng của các ngươi và sẽ thu họp các ngươi về từ khắp các dân, từ mọi nơi Ta đã xua các ngươi đến – sấm ngôn của Ðức Chúa -, Ta sẽ dẫn các ngươi trở về nơi Ta đã bắt các ngươi phải rời xa để đi đày.”

 

Như trong mọi việc, khi Chúa Giê-su nói với chúng ta về lãnh đạo thì Ngài nói về điều gì đúng đắn và hiệu quả. Chúng ta có thể xác tín rằng Lời của Ngài là minh chứng về tình yêu vô điều kiện và sự hy sinh của Ngài cho sự sống đời đời của chúng ta. Là những người theo Chúa Giêsu, chúng ta phải tin vào Ngài trong mọi hoàn cảnh, và chúng ta có thể mạnh dạn cầu xin Ngài ban ơn khôn ngoan trong mọi sự, cả trong vai trò lãnh đạo của chúng ta.

Có khi nào bạn tự hỏi: “Chúa Giê-su có phải là một mẫu gương lãnh đạo phù hợp trong thế giới ngày nay không?”

Một rào cản thường gặp nhất trong việc noi theo mẫu gương lãnh đạo của Chúa Giêsu là sự nghi ngờ tính phù hợp của những điều mà Chúa Giêsu dạy trong những tình huống lãnh đạo cụ thể của bạn. Dù với tâm thế thế nào đi nữa thì chúng ta cũng gặp phải cùng một sự hoài nghi như Phê-rô khi Chúa Giêsu yêu cầu Phêrô làm một việc khá bất thường và không đúng chút nào trong nghề đánh cá của ông. Hãy đọc Lc 5:1-11 bạn sẽ được giải đáp.

 

 

 

Một hôm, Đức Giê-su đang đứng ở bờ hồ Ghen-nê-xa-rét, dân chúng chen lấn nhau đến gần Người để nghe lời Thiên Chúa. Người thấy hai chiếc thuyền đậu dọc bờ hồ, còn những người đánh cá thì đã ra khỏi thuyền và đang giặt lưới. Đức Giê-su xuống một chiếc thuyền, thuyền đó của ông Si-môn, và Người xin ông chèo thuyền ra xa bờ một chút. Rồi Người ngồi xuống, và từ trên thuyền Người giảng dạy đám đông. 

 

Giảng xong, Người bảo ông Si-môn: “Chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá.” Ông Si-môn đáp: “Thưa Thầy, chúng tôi đã vất vả suốt đêm mà không bắt được gì cả. Nhưng vâng lời Thầy, tôi sẽ thả lưới.” Họ đã làm như vậy, và bắt được rất nhiều cá, đến nỗi hầu như rách cả lưới. Họ làm hiệu cho các bạn chài trên chiếc thuyền kia đến giúp. Những người này tới, và họ đã đổ lên được hai thuyền đầy cá, đến gần chìm.

 

Thấy vậy, ông Si-môn Phê-rô sấp mặt dưới chân Đức Giê-su và nói: “Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi!” Quả vậy, thấy mẻ cá vừa bắt được, ông Si-môn và tất cả những người có mặt ở đó với ông đều kinh ngạc. Cả hai người con ông Dê-bê-đê, là Gia-cô-bê và Gio-an, bạn chài với ông Si-môn, cũng kinh ngạc như vậy. Bấy giờ Đức Giê-su bảo ông Si-môn: “Đừng sợ, từ nay anh sẽ là người thu phục người ta.” Thế là họ đưa thuyền vào bờ, rồi bỏ hết mọi sự mà theo Người.

Bạn nghĩ Phê-rô đang nghĩ gì khi trả lời, “Thưa Thầy, chúng tôi đã vất vả suốt đêm mà không bắt được gì cả?” Nghe có vẻ như có thể ông ấy suy nghĩ đại lọai là: “Tôi đang lắng nghe Chúa Giêsu giảng cho đám đông một cách uy quyền và khôn ngoan. Tôi tôn trọng Ngài là người thầy và lời giảng của Ngài là Lời Chúa. Nhưng giờ đây Ngài yêu cầu tôi làm một việc trái ngược với kiến thức và bản năng của tôi trong công việc của mình. Ngài không biết đánh bắt cá. Tôi biết rõ về cá và việc đánh bắt cá, đó là công việc của tôi và điều Ngài yêu cầu không thực tế chút nào. Nếu tôi làm theo lời Ngài nói, có lẽ tôi sẽ phí thời gian và công sức và các thợ chài của tôi sẽ cho tôi là tên khùng điên.”

Tuy nhiên, sự nghi ngờ của Phê-rô không ngăn cản sự tin tưởng của ông vào người hướng dẫn ông. Nhờ lòng tin, ông đã chứng kiến một thành quả phi thường và ông chìm đắm trong nhận thức về sự khác biệt quá lớn lao giữa chính con người ông và những gì Chúa Giêsu nói.

Hãy dành ít phút để nhìn lại sứ mạng nơi trần thế của Chúa Giêsu. Bạn có đón nhận Chúa Giêsu như một người tư vấn cho vai trò lãnh đạo trong cuộc sống và nơi công sở của bạn không? Hãy nhìn lại những thách đố trong vai trò lãnh đạo dưới đây mà bạn có thể đang đối diện và tự hỏi, “Chúa Giêsu có bất cứ hiểu biết thực tiễn hoặc kinh nghiệm phù hợp nào trong việc giải quyết những vấn đề về lãnh đạo mà tôi gặp phải hàng ngày không?”

  • Làm việc hoặc sống với và chăm lo cho người không hoàn hảo
  • Huấn luyện, phát triển và ủy nhiệm
  • Chịu áp lực liên tục từ đối thủ cạnh tranh
  • Liên tục chịu thử thách về sự cam kết và tính chính trực
  • Xử lý những đối đầu, chỉ trích và loại trừ
  • Đối diện những yêu cầu đối nghịch từ bạn và thù
  • Bị cám dỗ về sự thỏa mãn, được công nhận và sử dùng quyền cách sai trái
  • Đối diện với hàng loạt những vấn đề cá nhân
  • Giao tiếp hiệu quả trong môi trường đa văn hóa
  • Thách thức những điều cũ và hệ thống cấp bậc để đổi mới
  • Nỗ lực truyền đạt về viễn cảnh mới một cách thấu đáo
  • Để ý đến những vai trò lãnh đạo yếu kém, thậm chí cho dù có rủi ro cho cá nhân
  • Đặt sự nghiệp hoặc tương quan vào tâm thế để phục vụ một mục đích cao cả hơn

Hầu hết trong mọi tình huống câu trả lời của bạn đều là “Có”. Tại sao vậy? Bởi vì tất nhiên Chúa Giêsu đã đối diện với mọi tình huống bạn gặp phải. Thư gởi tín hữu Do Thái có nói về Chúa Giêsu thế này:

Vì bản thân Người đã trải qua thử thách và đau khổ, nên Người có thể cứu giúp những ai bị thử thách… Vị Thượng Tế của chúng ta không phải là Đấng không biết cảm thương những nỗi yếu hèn của ta, vì Người đã chịu thử thách về mọi phương diện cũng như ta, nhưng không phạm tội. Bởi thế, ta hãy mạnh dạn tiến lại gần ngai Thiên Chúa là nguồn ân sủng, để được xót thương và lãnh ơn trợ giúp mỗi khi cần. (Dt 2:18, 4:15-16)

Ngoài hình ảnh nhà lãnh đạo, với những trải nghiệm cá nhân qua nhiều năm tháng, Chúa Giê-su cũng thấu hiểu những thách đố trong đời sống và công việc hàng ngày. Dù là Thiên Chúa, Chúa Giê-su không quản ngại làm công việc của một con người. Ngài đã sống ba mươi năm đầu tiên trên thế gian như một người lao động – thợ mộc thành Nazareth. Chúng ta sẽ khó mà nhận ra hết được sự tuyệt vời của việc Chúa Giê-su hiểu công việc trong một ngày và biết những khó khăn trong việc đáp ứng các nhu cầu. Ngài biết sự nản lòng khi gặp phải một khách hàng khó chịu và một khách hàng không thực hiện trách nhiệm thanh toán của mình. Ngài biết sự khó khăn trong việc sống trong một gia đình bình thường và trong một gia đình gia thế, và Ngài biết các vấn đề vay quanh chúng ta trong cuộc sống hàng ngày nơi dương thế.

Suy ngẫm:

Nếu bạn có nghi ngờ về việc noi gương lãnh đạo của Chúa Giêsu, hãy viết ra giấy những lý do vì sao bạn nghi ngờ. Điều gì về Chúa Giê-su làm bạn phải nghi ngờ? Điều gì từ phía bạn khiến cho bạn chần chừ?

Read More
05Tháng Sáu
2020

Chọn thánh ca phụng vụ sao cho đúng hướng dẫn của Giáo Hội?

05/06/2020
Anmai
Giáo dục, Tài liệu giáo dục
0

Việc chọn được một bài thánh ca hay, phù hợp với phụng vụ là vấn đề không dễ giải quyết đối với nhiều ca trưởng. Giải quyết vấn đề này cũng là tìm ra những tiêu chí cần thiết cho việc phê bình những sáng tác được gọi là thánh ca.

Huấn thị về âm nhạc trong Phụng vụ thánh (Instructiode Musicain Sacra Liturgia) do Thánh Bộ Lễ nghi ban hành ngày 5-3-1967 đã định nghĩa thánh nhạc là “loại âm nhạc được sáng tác để thờ phượng Thiên Chúa, nên phải biểu lộ tính thánh thiện và diễn tả được hình thức nghệ thuật tốt đẹp”.

Như vậy chúng ta có hai tiêu chuẩn rõ ràng để lựa chọn bài thánh ca dùng trong phụng vụ là: Tính thánh thiện (sanctitas) hay tiêu chuẩn tôn giáo và hình thức tốt đẹp (bonitas formae) hay tiêu chuẩn nghệ thuật.

Hợp xướng tổng hợp gồm các ca đoàn Gx Hiển Linh, Ban Hợp xướng Suối Việt, các thầy Dòng Tên tại trong lễ truyền chức ngày 25-8 tại Học viện Dòng Tên. Ảnh: Ban Truyền thông Dòng Tên

Ca từ của bài thánh ca dùng trong phụng vụ

Ca từ được coi như một nửa giá trị của ca khúc. Ca từ của một bài thánh ca phụng vụ trước hết phải bám sát bản văn phụng vụ (Kinh Thánh, Thánh vịnh, Thánh thi,…), ăn khớp với các động tác trong phụng vụ thánh lễ và phù hợp với Giáo lý Công giáo. Có thể xem ca từ như anh chị em với thơ.

Vì vậy, ngoài việc xứng hợp để dùng trong phụng vụ (tính thánh thiện), ca từ còn phải tuân theo những quy tắc của nghệ thuật thi ca (hình thức tốt đẹp), tránh những khuyết điểm căn bản như: Sai ngữ pháp; dùng từ không chuẩn, không có trong văn chương Việt Nam hoặc triết lý vụn vặt, luẩn quẩn; ngắt câu, ngắt chữ không đúng, làm sai lạc ý nghĩa; thô thiển, không có tính văn chương; có dấu giọng không phù hợp với giai điệu nhạc.

Nếu lấy hai tiêu chuẩn phù hợp với phụng vụ và mang tính thi ca để đánh giá ca từ của một bài thánh ca, chúng ta đã góp phần biểu lộ tính thánh thiện và diễn tả hình thức nghệ thuật tốt đẹp của thánh ca (đúng nghĩa) trong buổi cử hành phụng vụ.

Ngôn ngữ âm nhạc của bài thánh ca phụng vụ

Trong các yếu tố tạo thành âm nhạc, giai điệu đóng vai trò quan trọng hàng đầu. Về tính thánh thiện của âm nhạc dùng trong phụng vụ, Thánh Giáo hoàng Pi-ô X đã viết trong tự sắc (motu proprio):

“… Một sáng tác càng thánh thiện và càng mang tính phụng vụ, khi càng gần với bình ca về nhịp điệu, cảm hứng và phong cách…” .

Nhịp điệu, theo cách dùng từ của bản văn trên được hiểu là chuyển động của giai điệu. Chuyển động của giai điệu bình ca thường là loại chuyển động liền bậc (quãng 2 hoặc quãng 3 tùy loại thang âm) và chỉ sử dụng ba loại bán cung: Mi – Fa, Si – Do và La – Sib.

Như vậy:

– Một giai điệu càng chuyển động liền bậc, càng giống bình ca và do đó càng có tính thánh thiện.

– Những giai điệu mang nhiều bán cung nhân tạo (chromatic) thường biểu lộ tâm trạng ủy mị, kịch tính hơn là tính thánh thiện.

– Những giai điệu dùng quá nhiều chuyển động cách bậc (nhảy quãng xa) thường mang lại cảm giác phóng túng, phù hợp với ca nhạc sân khấu, opera hơn là tính thánh thiện của thánh ca phụng vụ.

Tuy nhiên, trong bình ca cũng có dùng giới hạn những quãng xa như: quãng 4 đúng, quãng 5 đúng; không chuyển động với quãng 4 tăng (được gọi là “con quỷ trong âm nhạc”, diabolus in musica); không chuyển động với quãng 5 giảm; rất hiếm khi chuyển động với quãng 6 (vì mang tính trữ tình, lãng mạn).

Xét về tiêu chuẩn hình thức tốt đẹp, một giai điệu liền bậc thường chứa đựng một nội dung hòa âm phong phú. Một giai điệu đẹp bao giờ cũng được xây dựng trên một khung (hay cấu trúc) hòa âm được chuẩn bị kỹ lưỡng.

Đã đành một giai điệu mang tôn giáo tính cần phải được viết trên một nền hòa âm xứng hợp nhưng không phải lúc nào sáng tác đúng luật hòa âm, đối âm (hình thức tốt đẹp) cũng đảm bảo được tôn giáo tính (tính thánh thiện).

Phải nhìn nhận rằng trình độ hòa âm, phối khí của các nhạc sĩ Công giáo ngày nay hơn hẳn các bậc đàn anh, đàn chị, tiền bối của nền thánh ca Việt Nam. Tuy nhiên, cũng có không ít nhạc sĩ đương thời tạo nên những bài thánh ca hợp xướng được xây dựng trên những liên kết hòa âm chỉnh về luật như ví dụ trong các sách giáo khoa về hòa âm nhưng giai điệu của từng bè khó hát hoặc hát khó nghe.

Một ngôn ngữ âm nhạc quan trọng khác là tiết điệu. Tiết điệu là yếu tố đầu tiên cấu thành âm nhạc. Trong cuốn Giáo trình sáng tác nhạc, nhà soạn nhạc người Pháp Vincent d’Indy có nói: “Có nhiều dân tộc không biết đến hòa âm, một vài dân tộc không biết đến cả giai điệu, nhưng không một dân tộc nào lại không biết tiết điệu”.


Những câu hỏi đặt ra khi chọn bài

• Có gì thú vị về giai điệu, hòa âm, tiết tấu?
• Âm nhạc và ca từ có phù hợp với nhau không?
• Nếu đây là một bản phối nhạc, hòa âm cho hợp xướng thì cần xem nó có phù hợp với tinh thần của bản gốc không, hay hòa âm quá mức cần thiết?
• Âm vực của các bè thế nào?
• Có phù hợp với ban hợp xướng của mình không?
• Phần bè hòa âm nghe có thú vị?
• Thử đánh giá xem tác phẩm này có hấp dẫn người biểu diễn và khán thính giả không?
• Có nằm trong khả năng của ca đoàn mình hay không?
 

TS Nguyễn Bách

Read More
05Tháng Sáu
2020

Giáo dục nhân bản trong gia đình

05/06/2020
Anmai
Giáo dục, Tài liệu giáo dục
0
  1. Gia đình Việt Nam hiện nay

Gia đình Việt Nam trong những thập kỷ qua có nhiều sự biến đổi dưới tác động của sự thay đổi nhanh chóng của xã hội theo nhiều chiều hướng, cả tích cực lẫn tiêu cực.

Một số dữ liệu thống kê cung cấp bức tranh tạm phác hoạ của gia đình Việt Nam:

– Tuổi kết hôn trung bình là 25 tuổi. Tuổi kết hôn có chiều hướng tăng qua các năm có thể cho thấy người trẻ có sự chín chắn, cẩn trọng hơn trong quyết định hôn nhân.

– Tỷ lệ lao động nữ đã qua đào tạo tăng từ 12,3% (2007) lên 20,9% (sơ bộ 2017). Các số liệu thống kê cho thấy tỷ lệ nữ giới được học tập và tham gia lao động ngoài xã hội ngày càng tăng. Tuy nhiên, sự tham gia của nam giới vào công việc nội trợ, và cả việc giáo dục con cái không tăng đáng kể và chưa tương xứng với sự gia tăng của phụ nữ tham gia thị trường lao động (Nguyễn Hữu Minh. (2015). Gia đình Việt Nam sau 30 năm Đổi mới. Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam. 11 (96)).

– Tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh trong gia đình Việt liên tục từ năm 2006 đến nay: 109,8 bé trai/100 bé gái (năm 2006) lên 113,8 bé trai/100 bé gái (năm 2013), mất cân bằng cả ở nông thôn và thành thị; người có điều kiện kinh tế, học vấn cao hơn lại lựa chọn giới tính khi sinh nhiều hơn. Theo dự báo đến năm 2050, VN thừa 3-4 triệu đàn ông không lấy được vợ.

– 27,5% gia đình Việt có xung đột: Theo khảo sát trên 1.500 người của Viện Nghiên cứu xã hội, kinh tế và Môi trường (iSEE) tiến hành trong tháng 5 và tháng 6/2015, gia đình Việt Nam đang đối mặt với một số vấn đề như xung đột, bất hòa giữa các thành viên trong gia đình (27,5%), ngoại tình (16%), nợ quá khả năng chi trả (9,9%) và các vấn đề khác.

– Theo số liệu của Tổng Cục thống kê, năm 2016 có 24.308 vụ ly hôn đã xét xử; năm 2017 là 27.948. Một số liệu khác lại cho thấy con số lớn hơn nhiều: năm 2000 là 51.361; năm 2005 là 65.929 (điều tra do Bộ VH-TT&DL, phối hợp với Tổng Cục Thống kê, với sự hỗ trợ của UNICEF, trích theo Family).

  1. Giáo dục gia đình qua một số nghiên cứu

2.1 Giáo dục gia đình và tác động đến con cái

– Nguyễn Thị Anh Thư (2006) phân tích 2 trường hợp trẻ được chẩn đoán tăng động giảm chú ý để chỉ ra tác động của giáo dục gia đình, đặc biệt vai trò của cha và mẹ trong việc kìm hãm, điều chỉnh những rối nhiễu ở trẻ hay làm tăng thêm rối nhiễu nếu cha mẹ không có cách giáo dục phù hợp. Đoàn Việt (2005) nghiên cứu các biện pháp giáo dục con của cha mẹ vùng nông thôn huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy cha mẹ vẫn quan niệm đánh, mắng con là những biện pháp, công cụ để giáo dục con; một số cha mẹ đã có thay đổi trong nhận thức về việc sử dụng các biện pháp bạo lực trong giáo dục con nhưng trong thực tế họ vẫn thỉnh thoảng sử dụng biện pháp bạo lực như giải pháp tức thời trong tình huống con phạm lỗi, điều này cho thấy sự lúng túng của cha mẹ trong việc đổi mới nhận thức và phương pháp giáo dục con.

– Tác giả Lưu Song Hà (2008) tìm hiểu đánh giá của chính cha mẹ về bản thân và so sánh với cảm nhận của con cái về cha mẹ ở học sinh trung học cơ sở. Kết quả cho thấy có những khác biệt về mức độ hiểu con giữa đánh giá của người cha về bản thân và cảm nhận của con về cha mình. Đối với người mẹ, sự khác biệt thể hiện ở tiêu chí tin tưởng và bình đẳng.

– Nghiên cứu về phong cách giáo dục của cha mẹ cho thấy cha mẹ có xu hướng giữ gìn các mối dây liên hệ cho sự hoà hợp gia đình mà vẫn ủng hộ độc lập của cá nhân (Hoàng M.K., 2005). Các cha mẹ Việt đều có chỉ số khuyến khích tự chủ-tự lập và chỉ số tình cảm cao hơn chỉ số kiểm soát độc đoán.

– Các nghiên cứu khác cũng cho thấy cha mẹ tỏ ra quan tâm nhiều đến con cái của mình ở những độ tuổi khác nhau (Lưu Song Hà, 2007; Lã Thị Thanh Thủy, 2009; Nguyễn Thị Anh Thư và Bùi Minh Đức, 2012). Đặc biệt, tác giả Lưu Song Hà trong nghiên cứu của mình đã nhận thấy rằng, các em học sinh ở độ tuổi trung học cơ sở dù biết rằng cha mẹ quan tâm nhiều đến mình, nhưng các em vẫn mong muốn được cha mẹ quan tâm hơn nữa, và đối xử với mình bớt nghiêm khắc hơn. Đây cũng chính là hai điều mà các em học sinh muốn cha mẹ mình thay đổi nhất. Theo lập luận của tác giả Lưu Song Hà thì nguyên nhân của mong muốn này xuất phát từ việc cha mẹ của các em rất bận rộn với công việc và không nhiều thời gian dành cho con – một thực tế chung cho phần lớn các gia đình hiện nay. Theo kết quả Điều tra Gia đình Việt Nam 2006, vẫn còn một tỷ lệ không nhỏ cha mẹ không dành chút thời gian nào để chăm sóc con cái dưới 15 tuổi: 6,8% người mẹ và 21,5% người cha.

– Sự thiếu hụt kiến thức của các bậc cha mẹ về đặc điểm phát triển nhận thức, sự thay đổi tâm sinh lý của con cái trong giai đoạn vị thành niên và không nắm được các phương pháp giáo dục con một cách hiệu quả là nguyên nhân quan trọng làm tăng nguy cơ xung đột giữa cha mẹ và con cái (Nguyễn Hữu Minh. (2015). Gia đình Việt Nam sau 30 năm Đổi mới. Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam. 11 (96)).

2.2 Tương quan giữa cha mẹ và con tuổi vị thành niên

Trẻ vị thành niên được nuôi dưỡng tốt nhất khi những mối quan hệ trong gia đình của trẻ tìm được sự cân bằng giữa sự tự chủ – tự lập và gắn bó với cha mẹ. Nghiên cứu của Allen và cộng sự (1994) về sự cần thiết của cha mẹ trong việc tạo ra cân bằng giữa phát triển tự chủ-tự lập và gắn bó với cha mẹ. Theo đó, có 2 loại hành vi đặc thù liên quan đến sự tự chủ-tự lập của trẻ vị thành niên: hành vi cho phép và hành vi kìm hãm. Những phụ huynh có hành vi cho phép được đánh giá cao thì thường chấp nhận con cái của họ, đồng thời giúp trẻ phát triển và đưa ra ý kiến riêng của mình thông qua những câu hỏi, sự giải thích, và sự bao dung về sự khác biệt quan điểm. Ngược lại, cha mẹ nào sử dụng nhiều hành vi kìm hãm thì sẽ khó chấp nhận cá tính của con em mình, đồng thời phản ứng lại với sự thể hiện suy nghĩ của trẻ bằng những lời nhận xét là thiếu tập trung, phán xét hoặc ít có giá trị. Trẻ vị thành niên có cha mẹ sử dụng nhiều hành vi cho phép lẫn một chút sự kìm hãm thì có khả năng thể hiện cá tính nhiều hơn và có nhiều tiến triển trong sự phát triển bản ngã cũng như năng lực tâm lý xã hội.

Thanh thiếu niên dần dần có được quyền tự chủ – tự lập từ cha mẹ. Tuy nhiên, như đã trình bày ở trên, khái niệm tự chủ tự lập được định nghĩa theo các khuynh hướng khác nhau. Tự chủ cảm xúc đề cập đến sự độc lập, tách rời, liên quan đến sự thay đổi trong tương quan giữa cha mẹ và trẻ. Tự chủ cảm xúc dường như đem lại những ảnh hưởng rất khác biệt đến trẻ vị thành niên, phụ thuộc vào mức độ của sự hòa hợp trong mối quan hệ giữa cha mẹ – trẻ. Những trẻ trở nên tự chủ về cảm xúc nhưng đồng thời có cảm giác xa cách, tách biệt với cha mẹ thì sẽ có biểu hiện kém trong mức độ đo lường về điều chỉnh tâm lý cá nhân, còn những trẻ khác, thể hiện cùng mức độ tự chủ cảm xúc nhưng vẫn đi kèm cảm giác gần gũi, gắn bó với cha mẹ thì có đời sống tinh thần khỏe mạnh hơn bạn bè cùng lứa.

Tự chủ về hành vi đề cập đến khả năng quyết định và thực hiện độc lập. Nỗ lực ban đầu của thanh thiếu niên để thiết lập hành vi tự chủ trong gia đình thường là nguyên nhân dẫn đến xung đột giữa cha mẹ và thanh thiếu niên. Giữa thời kỳ niên thiếu, trẻ vị thành niên hành động và được đối xử giống người lớn hơn. Trẻ có nhiều ảnh hưởng đến các quyết định gia đình, và do vậy, không cần khẳng định ý kiến của mình bằng các hành vi chưa trưởng thành (Grotevant, 1998). Trẻ cũng được phép dành nhiều thời gian riêng tư mà không phải chịu sự giám sát trực tiếp của cha mẹ.

Nhìn chung, thanh thiếu niên tự chủ- tự lập cho thấy họ khá thân với cha mẹ, thích có các hoạt động chung với gia đình, tuy có một ít xung đột với cha mẹ nhưng thanh thiếu niên vẫn cảm thấy thoải mái khi cha mẹ tư vấn, chia sẻ, và nói rằng họ muốn được như cha mẹ (Kandel và Lesser, 1972). Các mối quan hệ gia đình căng thẳng xuất hiện có liên quan đến thiếu tự chủ trong tuổi niên thiếu, chứ không phải với sự hiện diện tất yếu của thời kỳ vị thành niên.

Có những thay đổi trong sự hài hoà trong gia đình khi trẻ bước vào tuổi vị thành niên. Mặc dù có ít nghiên cứu tìm hiểu về tình cảm giữa trẻ vị thành niên và cha mẹ, nhưng một số ít minh chứng từ kết quả nghiên cứu cho thấy quan hệ giữa cha mẹ và con ít gần gũi hơn khi trẻ bước vào tuổi vị thành niên, được nhận thấy qua việc trẻ ít tham gia vào các hoạt động chung trong gia đình và cha mẹ và trẻ ít thể hiện tình cảm. Thực ra, mối quan hệ ít gần gũi giữa cha mẹ và trẻ vị thành niên chỉ là thể hiện mong muốn gia tăng sự độc lập và riêng tư của trẻ và vì trẻ đã lớn, cha mẹ ít thể hiện tình cảm qua cử chỉ, lời nói, đó không phải là không còn tình yêu và tôn trọng giữa cha mẹ và con cái (Montemayor, 1983, 1986). Nghiên cứu cho thấy các mối quan hệ có thể trở nên ít mâu thuẫn và thân mật hơn trong giai đoạn cuối tuổi vị thành niên (Thornton, Orbuch, và Axinn, 1995; Larson et al., 1996).Trong các gia đình có sự gắn bó tốt giữa cha mẹ và con ở tuổi đầu vị thành niên vẫn giữ được tương quan gần gũi trong giai đoạn vị thành niên mặc dù tần suất trao đổi, tương tác và các hoạt động chung giữa cha mẹ và con có thể giảm. Mặc dù một số trẻ vị thành niên và cha mẹ có những vấn đề mâu thuẫn, nhưng nhìn chung trong các gia đình, trẻ vị thành niên vẫn có mối quan hệ tốt với cha mẹ, tôn trọng cha mẹ và cảm nhận được tình yêu thương, quan tâm, chăm sóc cha mẹ dành cho mình (Steinberg, 2001).

Mặc dù xung đột là yếu tố đặc trưng trong mối quan hệ giữa trẻ vị thành niên và cha mẹ, nhưng nghiên cứu cho thấy rõ ràng những xung đột gay gắt, thường xuyên và dẫn đến bạo lực là không bình thường. Những ảnh hưởng tiêu cực của xung đột giữa trẻ vị thành niên và cha mẹ không nằm ở vấn đề của xung đột mà ở cách thức giải quyết xung đột. Xung đột thường được giải quyết bằng sự phục tùng của trẻ hoặc bằng việc rút lui (bỏ đi chỗ khác), hoặc bằng việc bỏ ngoài tai những lời của cha mẹ (Đỗ Hạnh Nga, 2014). Các cách thức này đều không đem lại hiệu quả cải thiện mối quan hệ cũng như giúp trẻ phát triển năng lực giải quyết vấn đề. Các nhà nghiên cứu cũng nhận thấy các gia đình rất khác nhau trong vấn đề mâu thuẫn và xung đột giữa cha mẹ và con tuổi vị thành niên. Smetana (1996) đưa ra ba nhóm mâu thuẫn gia đình: i) nhóm đông nhất thường xuyên có xung đột, nhưng không mâu thuẫn không gay gắt, lặt vặt và không có bạo lực; ii) một nhóm nhỏ các gia đình được thấy là không hề có xung đột giữa cha mẹ và con vị thành niên; iii) nhóm gia đình thứ ba cũng thường xuyên có xung đột, mâu thuẫn gay gắt và có thể dẫn đến bạo lực. Theo Smetana (1996), nhóm gia đình 1 thuộc loại gia đình với những xáo trộn điển hình trong thời kỳ này, nhóm 2 là một số ít các gia đình đã khéo léo vượt qua được các khó khăn và thành công trong việc điều chỉnh lại các mối quan hệ để phù hợp với đặc điểm phát triển của tuổi vị thành niên, nhóm 3 đại diện cho các gia đình với nguy cơ rối loạn tâm thần và các vấn đề về điều chỉnh hành vi nơi trẻ vị thành niên. Tóm lại, mâu thuẫn và xung đột thường xuyên, gay gắt, bạo lực là điều không bình thường trong thời kỳ vị thành niên; trong khi những tranh cãi về công việc nhà, quần áo, thời gian vào internet, hoặc các quy tắc, quy định là điều bình thường trong các gia đình có con tuổi vị thành niên. Hầu hết những mâu thuẫn này thể hiện sự thay đổi trong quá trình trưởng thành về nhận thức của trẻ, đặc biệt sự nhìn nhận và thể hiện quan điểm cá nhân về quy ước xã hội.

2.3 Phong cách giáo dục của cha mẹ

Nghiên cứu của Hoàng Mai Khanh (2014) về bốn yếu tố thể hiện phong cách giáo dục của cha mẹ tại một trường THCS quận 1, TP. HCM cho thấy cha mẹ tự đánh giá mình thể hiện sự yêu thương, quan tâm đến con cái tương đối khá, đồng thời không đề cao cách giáo dục áp đặt, con cái phải hoàn toàn tuân theo yêu cầu của cha mẹ. Tuy nhiên, cha mẹ vẫn sử dụng hình phạt với con cái. Cha mẹ vẫn sử dụng hình phạt như một cách thức kỷ luật đối với con: 83,8% cha và mẹ đồng ý và hoàn toàn đồng ý dùng hình phạt khi con hư, nhưng cha mẹ cũng nhận thức rằng hình thức chỉ trích và la mắng không phải là cách giáo dục tốt để con tiến bộ (71% cha mẹ ít đồng ý và không đồng ý với hình thức này).

Khuyến khích tự chủ – tự lập là yếu tố được cha mẹ quan tâm thực hiện trong giáo dục con cái ở độ tuổi THCS. 75% cha mẹ khuyến khích con tự tìm cách giải quyết vấn đề khi gặp khó khăn. Cha mẹ chỉ đóng vai trò hướng dẫn, tư vấn, trẻ được tự do suy nghĩ và chọn lựa. Một kết quả thú vị là cha mẹ rất chú trọng việc phát triển nhận thức, suy nghĩ độc lập cho con qua việc khuyến khích con đặt câu hỏi và suy nghĩ về cuộc sống (91% đồng ý và hoàn toàn đồng ý).

Một kết quả tích cực từ nghiên cứu là các chỉ số thể hiện sự xung khắc giữa cha mẹ và con được đánh giá thấp nhất. Chính trẻ vị thành niên cũng nhận xét ít có mâu thuẫn với cha mẹ. Kết quả này cho thấy xung đột giữa cha mẹ và trẻ vị thành niên thường là những xung đột nhỏ, lặt vặt, không gay gắt và không có bạo lực. Đây là những xung đột điển hình trong thời kỳ này, cả cha mẹ và trẻ đều đang trải qua một thời kỳ thích nghi với một giai đoạn/chu kỳ mới trong cuộc sống gia đình. Trẻ khám phá chính bản thân mình, khám phá khả năng tiềm ẩn của chính mình, học hỏi và rèn luyện những khả năng đó để định vị mình trong xã hội. Cha mẹ cũng học hỏi và thích nghi với sự trưởng thành của con cái.

Cũng giống như cha mẹ, cảm nhận của con về tình yêu thương quan tâm của cha mẹ có chỉ số cao nhất, tiếp đến là yếu tố khuyến khích tự chủ – tự lập. Trẻ vị thành niên cũng có nhận định cha mẹ mình không kiểm soát độc đoán cao trong giáo dục và ít có xung khắc giữa cha mẹ và con.

Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy cha mẹ và trẻ vị thành niên đều đánh giá cao yếu tố khuyến khích sự tự chủ – tự lập, và có sự tương đồng trong quan điểm, nhìn nhận sự tự chủ – tự lập trên 3 khía cạnh: trách nhiệm, thể hiện bản thân và khả năng chọn lựa. Cha mẹ và thiếu niên định nghĩa tự chủ – tự lập là có tinh thần trách nhiệm, chủ động, tự giác, thể hiện bản thân và khả năng quyết định. Quan điểm này phù hợp với khái niệm cái Tôi tự chủ trong liên đới (autonomous-related Self (Kagitcibasi, 1996)) không trở nên tách biệt, độc lập hoàn toàn với người khác, mà là hài hòa và phù hợp với người khác. Trong quá trình phát triển bản sắc cá nhân và xã hội, gắn bó an toàn và khích lệ của cha mẹ là một trong những điều kiện cần thiết. Trong quá trình đạt đến tự chủ – tự lập, trẻ phát triển bản sắc cá nhân và xã hội trong các mối quan hệ xã hội bình đẳng và hỗ trợ tích cực. Sự gắn bó an toàn và khích lệ của cha mẹ rõ ràng cần thiết và thúc đẩy quá trình phát triển tự chủ – tự lập của thanh thiếu niên. Có thể kết luận trong các gia đình lành mạnh, các thiếu niên thân thiết với cha mẹ, đáp ứng thẩm quyền của cha mẹ và tiếp tục tin tưởng vào sự tư vấn của cha mẹ, trong khi vẫn thể hiện tính tự chủ – tự lập ngày càng cao trong các hoạt động của cuộc sống.

2.4 Bàn luận về giáo dục nhân bản qua các kết quả nghiên cứu về giáo dục gia đình và những thách thức của gia đình

Giáo dục Nhân bản (bản chất của con người) là giáo dục nhằm giúp nhận biết con người thật của mình là hình ảnh của Thiên Chúa, duy nhất, độc đáo, độc lập, trọn vẹn giá trị. Theo định nghĩa này, bức tranh giáo dục của cha mẹ được trình bày từ các kết quả nghiên cứu có thể đưa đến kết luận như thế nào về giáo dục nhân bản trong gia đình?

Với phong cách giáo dục dân chủ – nghiêm minh, thể hiện tình yêu thương, quan tâm đối với con và khuyến khích sự tự chủ – tự lập, khám phá và phát triển “cái Tôi” duy nhất, độc đáo trong sự liên đới, trách nhiệm với con người, môi trường và xã hội, cha mẹ đã đáp ứng mục tiêu của giáo dục nhân bản.

Tuy nhiên, cũng cần nêu rõ là nghiên cứu thực hiện trên địa bàn quận trung tâm, các gia đình lành mạnh và cha mẹ có trình độ và hiểu biết tốt. Vẫn còn một tỷ lệ không nhỏ các cha mẹ bận rộn suốt ngày, trẻ con bị giảm thiểu các mối quan hệ giao tiếp và cũng là giảm thiểu những bài tập đầu tiên và cơ bản của giao tiếp xã hội. Ở nông thôn, cha mẹ bỏ ra thành phố kiếm việc dài ngày, con cái phó mặc cho ông bà già. Ở thành thị, trẻ được giao phó cho người giúp việc, trẻ chỉ nhận được tình yêu của cha mẹ qua vài dòng dặn dò ghi trên tấm bảng. Có trẻ tự nhận mình mồ côi ngay khi vẫn còn bố mẹ. Các cha mẹ giáo dục con cái không đúng cách, làm ngơ cho lỗi lầm của con trẻ, đánh đòn con bất kể lý do gì, hay có thái độ bất lực đối với các hành vi mắc lỗi của con cái. Số liệu điều tra Thanh niên và vị thành niên Việt Nam lần 2 (SAVY 2009) cho thấy, có đến 4,1% trẻ vị thành niên tuổi 14 – 17 cho biết đã bị người trong gia đình đánh thương tích, có thể hiểu chủ yếu là cha mẹ đánh. Số liệu Điều tra Gia đình Việt Nam 2006 cho biết, có 1,4% người làm cha mẹ đã đánh trẻ khi con cái mắc lỗi trong 12 tháng trước khảo sát. Sự thiếu hụt kiến thức của các bậc cha mẹ về đặc điểm phát triển nhận thức, sự thay đổi tâm sinh lý của con cái trong giai đoạn vị thành niên và không nắm được các phương pháp giáo dục con một cách hiệu quả là nguyên nhân quan trọng làm tăng nguy cơ xung đột giữa cha mẹ và con cái.

Bên cạnh những thách thức như công việc bận rộn, thời gian eo hẹp, cả cha và mẹ đều đi làm. Xung đột giá trị là một trong những thách thức lớn của gia đình. Trong bối cảnh của tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhất là dưới sự tác động của toàn cầu hóa, hệ giá trị gia đình ở Việt Nam đang có sự biến đổi rất lớn. Bên cạnh những giá trị cổ truyền như “kính trên, nhường dưới”, “trọng xỉ” (tôn trọng người cao tuổi), thì những giá trị mới như coi trọng “quyền tự do cá nhân”, “bình đẳng giới”, “quyền trẻ em”, “sự tự chủ – tự lập” cũng ngày càng được khẳng định. Các nghiên cứu xã hội học cũng ghi nhận xu hướng tiếp nhận giá trị mới, tiêu biểu nhất là sự bình đẳng giới, bình đẳng giữa các thế hệ trong đời sống gia đình. Tỷ lệ ưu tiên lựa chọn giá trị này ở mức trung bình (51,6%), phản ánh tính chất quá độ trong sự chuyển đổi của gia đình từ truyền thống sang hiện đại. Bình đẳng là một giá trị của xã hội hiện đại, hơn nữa, là một giá trị thuộc về chất lượng cuộc sống. Trong thời kỳ hiện đại, nhất là ở các xã hội đang chuyển đổi, người ta không thể không có sự lựa chọn giữa giá trị sinh tồn và giá trị tự biểu hiện, giá trị nâng cao chất lượng cuộc sống.

Sự biến đổi này, trong một chừng mực nhất định, đã làm cho mối quan hệ ông bà – cha mẹ – con cháu không thuận chiều như trước đây và làm tăng những mâu thuẫn và xung đột thế hệ. Điều tra Gia đình Việt Nam 2006 cho biết, có khoảng 1/10 số ý kiến từ các hộ gia đình có 3 thế hệ chung sống thừa nhận có sự không thống nhất về các vấn đề về lề lối sinh hoạt, cách quản lý tiền và tiêu tiền, cách thức làm ăn và phát triển kinh tế gia đình, cũng như về phương pháp giáo dục con cháu.

Tuy nhiên, từ các lý thuyết và kết quả nghiên cứu về phong cách giáo dục của cha mẹ, có thể thấy các giá trị truyền thống hay các giá trị mới đều không hề xung đột với phong cách giáo dục yêu thương, quan tâm, xây dựng tương quan gắn bó, tin tưởng, chia sẻ, lắng nghe và tôn trọng giữa cha mẹ và con và khuyến khích sự tự chủ – tự lập.

Bên cạnh đó, giáo dục nhân bản và giáo dục đức tin còn thông qua chính cuộc sống, công việc, các tương quan, ứng xử, các quyết định, chọn lựa hằng ngày của cha mẹ. Đó chính là cuốn sách sống động về giáo dục nhân bản và đức tin cho con cái.

Tóm lại, giáo dục là một ơn gọi, sứ mạng cao cả nhất của cha mẹ được thực hiện qua cuộc sống hằng ngày, qua từng ứng xử, từng lời nói với con cái. Giáo dục của cha mẹ mang tính cách độc đáo – cha mẹ là “người mẫu” (dù muốn hay không muốn). Trẻ thẩm thấu từ cha mẹ cách yêu thương chính mình và yêu thương người khác, các quan niệm và giá trị, các hành động, ứng xử, giải quyết vấn đề và các chọn lựa trong cuộc sống. Tương quan giữa cha mẹ và con cái là một tình yêu đặc biệt, không thể thay thế, cùng với những hiểu biết khoa học về giáo dục, tâm lý sẽ giúp cha mẹ trở thành Người thầy tuyệt vời nhất của con.

Biển Đức Hoàng Mai Khanh

Tài liệu tham khảo

  1. Allen, J., Hauser, S., Bell, K., and O’Connor, T. (1994). Longitudinal assessment of autonomy and relatedness in adolescent-family interactions as predictors of adolescent ego development and self- esteem. Child Development 64, pp. 179-194.
  2. Đỗ Hạnh Nga (2014), Xung đột tâm lý giữa cha mẹ và con lứa tuổi học sinh trung học cơ sở về nhu cầu độc lập. TP. HCM: NXB ĐHQG-HCM.
  3. Grotevant, H. (1998). Adolescent development in family contexts. In W. Damon (Series Ed.) and N. Eisenberg (Vol. Ed.), Handbook of child psychology: Vol. 3. Social, emotional, and personality development. (5th ed., pp. 1097-1150). New York: Wiley.
  4. Hoàng Mai Khanh. (2005). Pratiques éducatives parentales et l’autonomie de l’enfant. Comparaison France-Viet Nam. Thèse de doctorat en Sciences de l’Éducation. Université de Paris X – Nanterre, France.
  5. Hoàng Mai Khanh. (2014). Phong cách giáo dục của cha mẹ: tự đánh giá của cha mẹ và nhận định từ con cái lứa tuổi học sinh THCS. Đề tài NCKH trường ĐH KHXH&NV, ĐHQG TP. HCM.
  6. Kagitcibasi, C. (1996). Family and human development across cultures: A view from the other side. Hillsdale, NJ: Lawrence Erlbaum.
  7. Kandel, D., and Lesser, G. (1972). Youth in two worlds. San Francisco: Jossey-Bass.
  8. Lã Thị Thanh Thủy. 2009 Mức độ kỳ vọng của cha mẹ đối với con cái lứa tuổi tiểu học. Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế “Nhu cầu, định hướng và đào tạo tâm lý học đường tại Việt Nam”, Hà Nội, 08/2009, 232-237.
  9. Lưu Song Hà (2007), Tự đánh giá của cha mẹ và những khác biệt giữa nó với cảm nhận của con về cha mẹ trong quan hệ cha mẹ – con lứa tuổi học sinh trung học cơ sở, Tạp chí Tâm lý học, số 2-2007, tr.24-29.
  10. Lưu Song Hà. (2008). Tác động của giáo dục gia đình đến động cơ thành đạt của thanh niên. Tạp chí Tâm lý học, 8, 16-21.
  11. Montemayor, R. (1983). Parents and adolescents in conflict: All families some of the time and some families most of the time. Journal of Early Adolescence, 3, 83-103
  12. Montemayor, R. (1986). Family variation in parent-adolescent storm and stress. Journal of Adolescent Research, 1, 15-31.
  13. Montemayor, R., and Brownlee, J. (1987). Fathers, mothers, and adolescents: Gender-based differences in parental roles during adolescence. Journal of Youth and Adolescence, 16, 281-292.
  14. Nguyễn Hữu Minh. (2015). Gia đình Việt Nam sau 30 năm Đổi mới. Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam. 11 (96).
  15. Nguyễn Thị Anh Thư, (2006), Ảnh hưởng của giáo dục gia đình đến tăng động giảm chú ý ở trẻ em, Tạp chí Tâm lý học, số 11 (92), tr.34-39.
  16. Nguyễn Thị Anh Thư và Bùi Minh Đức. (2012). Mối quan hệ giữa ứng xử trong gia đình và kết quả học tập của học sinh trung học cơ sở. Tạp chí Tâm lý học, 8, 68-79.
  17. Smetana, J. G. (1996). Adolescent-parent conflict: Implications for adaptive and maladaptive development. Rochester, NY: University of Rochester Press.
  18. Steinberg, L., & Morris, A. S. (2001). Adolescent development. Annual Review Psychology, 52, 83-110.
  19. Thornton, A., Orbuch, T. L., and Axinn, W.G. (1995). Parent-child relationships during the transition to adulthood. Journal of Family Issues, 16, 538-564.
Read More
05Tháng Sáu
2020

Linh đạo tử đạo cho đời sống linh mục hôm nay

05/06/2020
Anmai
Chia sẻ, Giáo dục
0

Nếu cá nhân được đề nghị chọn một mẫu gương cho đời sống linh mục của thế kỷ XXI thì tôi sẽ chọn thánh Gioan Maria Vianney (1786 – 1859)[1], cha sở họ Ars. Có ba lý do cho việc chọn lựa này: Thứ nhất, ngài là mục tử nên giống Chúa Kitô Mục Tử nhân lành[2]; Thứ hai, ngài đã hòa hợp cuộc sống thừa tác viên của chính mình với sự thánh thiện của thừa tác vụ mà ngài đã lãnh nhận[3]; Thứ ba, con đường nên thánh của ngài là thi hành mục vụ tại họ Ars với tấm lòng tận tụy hy sinh của người mục tử[4]. Nói theo Đức Thánh Cha (ĐTC) Bênêđictô XVI trong Thư tuyên bố cử hành Năm linh mục thì việc chọn thánh Gioan Maria Vianney là gương mẫu cho hàng linh mục là dịp: “[…] Để mọi linh mục dấn thân canh tân chiều sâu nội tâm để trở thành chứng từ mạnh mẽ và sắc bén hơn cho Tin Mừng trong lòng thế giới hôm nay…”[5]

Thật vậy, tuy thời gian gần đây một số linh mục để lại nhiều vụ tai tiếng[6] làm cho Hội Thánh phải chịu đau khổ và thế giới lên án[7], nhưng đó không phải là dấu hiệu của sự phân rã mà là lời kêu gọi canh tân và trở về với những gốc rễ đích thực của sứ vụ linh mục[8]. Vì thế, để có được những suy tư liên quan đến lời mời gọi canh tân và trở về của hàng linh mục, thiết nghĩ chúng ta cùng tái khám phá một trong những ý nghĩa của đời sống linh mục đó là sự hy sinh và sự chết đi (Linh đạo Tử Đạo) qua gợi ý của Tông huấn Pastores Dabo Vobis[9]. Trong phạm vi bài viết, chúng ta sẽ tìm hiểu từ PDV đến ba yếu tố then chốt của linh đạo tử đạo cho đời sống linh mục hôm nay: (I) Nền tảng Thánh Kinh; (II) Con đường mục vụ dẫn đến sự hy sinh và chết đi; (III) Sự hoà hợp từ sứ vụ của Chúa Kitô đến sứ vụ của linh mục: một đề nghị thiết thực cho cuộc tử đạo mỗi ngày của người linh mục.

Con đường nên thánh của linh mục gắn liền với những tác vụ mà linh mục đã lãnh nhận, nghĩa là khi người linh mục được thánh hiến cho Thiên Chúa nhờ việc lãnh nhận Bí tích Truyền Chức Thánh thì linh mục không chỉ được mời gọi hướng đến sự hoàn thiện[10] mà còn trở nên khí cụ của Chúa Kitô trong việc phục vụ toàn thể Dân Chúa[11]. Do đó, nếu đời sống thiêng liêng của linh mục được xét như là nguồn mạch và cùng đích của việc thực thi các tác vụ thì việc canh tân đời sống của linh mục cũng gắn liền với canh tân chính những tác vụ mà linh mục đã lãnh nhận. Hơn nữa, việc canh tân này chỉ thiết thực khi chúng ta xác định lại yếu tố nền tảng cho đời sống linh mục dựa trên Thánh Kinh. Vậy PDV đã trình bày thế nào về nền tảng Thánh Kinh cho đời sống linh mục?

  1. Nền tảng Thánh Kinh

Tựa đề của văn kiện PDV được rút từ sách ngôn sứ Giêrêmia: “Ta sẽ cho các ngươi những mục tử đẹp lòng Ta”[12]. Qua lời tựa này, PDV đã xác định thuật ngữ “mục tử” là sợi chỉ xuyên suốt dùng để nói về các linh mục. Vì thế, hình ảnh người mục tử là bắt nguồn từ Lời Thiên Chúa hứa ban để coi sóc Dân Chúa.

Hơn nữa, về điểm này được PDV[13] làm sáng tỏ qua hai bản văn của Tân Ước: với Tin Mừng Gioan, Đức Giêsu nói về chính Ngài là “Mục Tử nhân lành”[14]; với thư Hípri nói về Đức Giêsu là “Mục Tử cao cả của đoàn chiên”[15]. Như vậy, từ nền tảng Thánh Kinh PDV muốn trình bày cho việc đào tạo linh mục và đời sống linh mục nhận biết rằng sứ vụ mà linh mục lãnh nhận là sẽ trở nên mục tử chăm lo mục vụ cho “đoàn chiên” của Chúa như lòng Chúa mong ước. Đồng thời, đời sống linh mục được mời gọi trở nên giống Chúa Kitô Mục Tử nhân lành[16]. Vì Chúa Kitô là cội nguồn duy nhất và bất khả thay thế[17], nhờ đó chúng ta mới thấu hiểu thực tại đời sống linh mục trong ý nghĩa sự hy sinh và chết đi mỗi ngày.

  1. Con đường mục vụ dẫn đến sự hy sinh và chết đi

Trong nguyên ngữ Hy Lạp từ “martyr” có nghĩa là người làm chứng. Các Kitô hữu khi đối diện những cuộc bách hại đức tin thì với cái chết của họ, chúng ta có thể thấy đó không phải là cái chết làm chứng cho sự anh hùng cá nhân hay cho một lý thuyết nào đó, nhưng họ làm chứng vì niềm tin vào Chúa Kitô. Có thể nói, họ dùng cái chết để diễn tả tương quan mật thiết với Chúa Kitô, một cuộc tử đạo quy hướng về Chúa Kitô và để nên giống Người[18].

Đối với đời sống linh mục hôm nay cũng vậy, tài liệu PDV nhấn mạnh qua Bí tích Truyền Chức Thánh thì người linh mục trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô là Đầu và là Mục Tử[19]. Khi dùng thuật ngữ “đầu” và “mục tử” dường như PDV muốn gắn kết ý nghĩa của hai từ này với nhau, nghĩa là PDV vừa làm nổi bật vai trò thủ lãnh Dân Chúa của Chúa Kitô Đầu – Mục Tử, vừa nói về linh mục là hình ảnh của Chúa Kitô[20]. Ngoài ra, PDV còn dùng thuật ngữ “hôn phu” đi kèm với từ “đầu” hoặc với “mục tử” hoặc cả ba thuật ngữ đi với nhau[21]. Tuy có chung ý nghĩa, nhưng từ “hôn phu” còn diễn tả sự trao hiến chính mình, yêu thương, nuôi dưỡng, chăm sóc Hội Thánh, cụ thể PDV trình bày như sau:

“Sự trao hiến mà Đức Kitô tự mình dành cho Giáo Hội, hoa trái của tình yêu Ngài, mang ý nghĩa độc đáo của sự trao hiến giữa vợ và chồng… Đức Giêsu là Phu Quân đích thực trao tặng rượu cứu độ cho Giáo Hội (x. Ga 2.11).” [22]

Như thế, người linh mục trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô là Đầu và là Mục Tử, nghĩa là linh mục hành động nhân danh và trong ngôi vị của Chúa Giêsu Kitô[23] qua con đường mục vụ mà linh mục đã lãnh nhận. Vậy đâu là ý nghĩa của sự hy sinh và sự chết đi của con đường mục vụ này? Thiết nghĩ đó là sự thống nhất nội tại của chính hữu thể con người linh mục và hoạt động mục vụ nơi người linh mục.

Thật vậy, PDV đưa ra gợi ý thiết thực cho đời sống của linh mục là cắm rễ sâu đời mình vào Chúa Kitô, nghĩa là giữa Chúa Giêsu Kitô và linh mục là mối liên kết hữu thể[24] qua việc linh mục được thánh hiến mang tính bí tích bởi Chúa Thánh Thần, để nhờ đó linh mục nên đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô[25]. Trong đó, linh mục mang tâm tư và hành động như Chúa Kitô, Đấng là Mục Tử đã hiến mạng sống mình cho đoàn chiên[26]. Vì thế, linh mục được mời gọi mặc lấy đức ái mục tử của Chúa Kitô bằng việc trao hiến hoàn toàn chính mình cho Hội Thánh, nó biểu lộ tình yêu của Chúa Kitô dành cho chiên của Người[27].

III. Sự hòa hợp từ sứ vụ của Đức Kitô đến sứ vụ của linh mục: một đề nghị thiết thực cho cuộc tử đạo mỗi ngày của người linh mục

Trong truyền thống Hội Thánh[28], khi nói về Chúa Kitô Thượng tế duy nhất thì vẫn dùng cách nói về sứ vụ của Người bao gồm ba chức năng: tư tế, ngôn sứ, vương đế. Đây là hình ảnh bắt nguồn từ giới lãnh đạo trong Cựu Ước, họ được Thiên Chúa chọn để dẫn dắt Israel qua việc phụng tự (tư tế), qua Lời Thiên Chúa (ngôn sứ), qua việc cai quản (vua). Vì thế, Hội Thánh cũng sớm dùng những hình ảnh này để nói về sứ vụ của Chúa Kitô Mục Tử nhân lành và sứ vụ chức thánh của mình.

Cũng vậy, PDV đã sử dụng mẫu thức truyền thống này để nói về sứ vụ của linh mục. Theo đó, PDV trình bày sứ vụ mục tử bao gồm[29]: (i) Thừa tác vụ Lời Chúa; (ii) Thừa tác vụ Bí tích; (iii) Lãnh đạo cộng đoàn. Vậy các sứ vụ này đã hoà hợp với sứ vụ của Chúa Kitô như thế nào?

(i) Thừa tác -vụ Lời Chúa:

PDV số 26 trình bày sứ vụ thứ nhất của linh mục như sau:

“Trước hết linh mục là thừa tác viên Lời Chúa. Linh mục được hiến thánh và sai đi để loan báo Tin Mừng Nước Trời cho mọi người.”

Với tác vụ Lời Chúa, linh mục được mời gọi thống nhất trong sứ vụ này: một đàng là người mang sứ điệp đến cho người khác, đàng khác chính linh mục cũng phải đón nhận sứ điệp ấy. Bởi PDV nhắc linh mục nhớ rằng, bản thân linh mục không phải là “chủ nhân” của Lời nhưng là “thừa tác viên”. Do đó, linh mục khi thi hành tác vụ Lời Chúa thì không rao giảng Lời của mình nhưng là tôi tớ nói Lời của Chúa Kitô và của Hội Thánh[30]. Nói cách khác, để là người phục vụ Lời thì đời sống linh mục phải trở nên thân thuộc với Lời[31], trở nên môn đệ đích thực của Chúa Kitô qua việc “đến” và “ở lại” trong Lời Chúa[32].

(ii)Thừa tác -vụ Bí tích:

Khi linh mục thi hành thừa tác vụ Bí tích là lúc linh mục nên giống Chúa Giêsu Kitô, đặc biệt là cử hành Bí tích Thánh Thể. Bởi PDV xác định một khi linh mục tiến dâng hy lễ cứu độ duy nhất nơi bàn tiệc vượt qua thì linh mục được thúc đẩy dấn thân phục vụ Dân Chúa để nuôi dưỡng họ bằng Lời và các Bí tích, đồng thời sẽ là chứng nhân đích thực cho đức tin và đức ái, sẵn sàng hiến dâng mạng sống như Chúa Kitô đã hiến mạng sống cho đoàn chiên và cho Thiên Chúa[33]. Trong PDV số 23 đã khẳng định:

“Chính từ Bí tích Thánh Thể mà linh mục nhận được ơn và trách nhiệm mặc cho toàn thể cuộc sống mình một ý nghĩa ‘hy tế’.”

Như thế, thừa tác vụ Bí tích một mặt được Hội Thánh đồng hóa với chức năng tư tế của Chúa Kitô, mặt khác đó cũng là phương thế để linh mục mỗi khi cử hành Bí tích thì nên giống Chúa Kitô nhập thể[34], dấn thân phục vụ và hy sinh tính mạng để cứu độ đoàn chiên[35].

(iii) Lãnh đạo cộng đoàn:

PDV trình bày sứ vụ thứ ba của linh mục liên quan đến vai trò lãnh đạo cộng đoàn. Tuy tài liệu dùng thuật ngữ truyền thống “munus regendi” (quyền cai quản)[36], nhưng vai trò này được PDV định hướng và mô tả là “đức ái mục tử”[37]. Vậy sứ vụ này được linh mục thi hành thế nào trong cộng đoàn?

Trước hết, qua Bí tích Truyền Chức Thánh, linh mục được nên đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô là Đầu và là Mục Tử, nhờ đó linh mục được thông dự vào “quyền năng thiêng liêng” mà Chúa Kitô dùng để dẫn dắt Hội Thánh[38]. Vì thế, linh mục là mục tử trong tư cách thủ lãnh không phải để thống trị nhưng là tôi tớ cúi mình phục vụ đoàn chiên, là dám trao hiến trọn vẹn đời mình cho đoàn chiên, kể cả mạng sống của chính mình để đoàn chiên được sống[39]. Ngoài ra, linh mục còn là mục tử có trái tim và lòng dạ của người mẹ[40]. Bởi vì, linh mục không chỉ ở trong và thuộc về cộng đoàn mà linh mục còn phải đối diện với cộng đoàn[41], nhờ thế linh mục sẽ có khả năng yêu thương, khả năng chịu đựng những “đau đớn do việc sinh con” cho đến khi “Đức Kitô được thành hình” trong các tín hữu[42].

Tiếp đến, PDV số 26 đưa ra gợi ý để linh mục sống đức ái mục tử:

“Đây là một thừa tác vụ đòi linh mục phải có một đời sống thiêng liêng sâu đậm, giàu những phẩm cách và nhân đức dành riêng cho người ‘chủ tọa’ và ‘chỉ đạo’ một cộng đoàn… Đó là lòng trung thành, tính nhất quán, sự khôn ngoan, khả năng tiếp nhận mọi người, thái độ hoà nhã. lòng vô vị lợi tự bản thân, tính kiên nhẫn.”

Do đó, linh mục nên giống Chúa Kitô trong sứ vụ lãnh đạo cộng đoàn là phải mang tâm tư và trái tim mục tử như Chúa Kitô[43], một thái độ đượm đức ái mục tử[44].

KẾT LUẬN

Có thể nói, văn kiện PDV là một khảo luận về mầu nhiệm căn tính linh mục, đồng thời PDV vẫn tiếp tục soi sáng cho đời sống linh mục hôm nay trong việc canh tân và trở về với cội nguồn đích thực của người linh mục là trở nên giống Chúa Kitô Mục Tử Nhân Lành[45]. Nói cho cùng, linh mục được chọn và gọi là để bước đi theo Chúa Kitô, vì Người là dung nhan lòng thương xót của Thiên Chúa Cha. Đó chính là mầu nhiệm đức tin Kitô giáo mà chúng ta được mời gọi mỗi ngày phải tuyên xưng[46].

Thật vậy, hình ảnh Chúa Kitô Mục Tử Nhân Lành và giàu lòng thương xót có thể được tóm gọn và trở nên khuôn đúc cho cuộc đời người linh mục hôm nay như sau: Chúa Giêsu Kitô là Con Một Thiên Chúa, Người đã nhập thể trong thân phận phàm nhân, Người sống như chúng ta, Người còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết trên cây thập giá vì chúng ta[47]. Cả cuộc đời của Người là bài ca tình yêu của Mục Tử đã hiến mạng sống vì đoàn chiên[48]. Hơn nữa, Người đã yêu mến tất cả đoàn chiên bằng một trái tim nhân loại đến nỗi trái tim cực thánh của Người đã bị đâm thâu vì tội lỗi và để cứu độ đoàn chiên[49]. Nói như CĐ Vaticanô II: “Khi nhập thể, Con Thiên Chúa một cách nào đó đã nên một với mọi người”[50], để rồi Người làm mọi sự là cho chúng ta, Người không sống cho bản thân nhưng là cho chúng ta[51].

Như vậy, người linh mục hôm nay được mời gọi đi vào sự hiệp thông các mầu nhiệm của Chúa Giêsu Kitô[52], đó là một dấu chỉ tình yêu ở mãi nơi cuộc đời linh mục và cũng là để uốn lòng người linh mục nên giống trái tim mục tử của Chúa Kitô [53]. Có thế, người linh mục sẽ được nâng đỡ trên đường lữ hành của hôm nay và ngày mai [54], đồng thời linh mục được tình yêu Chúa Kitô thúc bách mang yêu thương và sống chứng nhân giữa đời [55]. Thiết nghĩ, đó chính là ý nghĩa của linh đạo tử đạo mỗi ngày trong đời sống linh mục.

Trích Tập san Hiệp Thông / HĐGMVN, Số 109 (tháng 11 & 12 năm 2018)

 __________

[1] Xem (x). NGUYỄN NGỌC VINH, SDB, Người chạnh lòng thương, nxb. Tôn Giáo, 2016, tr.191-199.

[2] x. BÊNÊĐICTÔ XVI, Thư tuyên bố cử hành Năm linh mục (16.06.2009), Lm. Luy Nguyễn Anh Tuấn chuyển dịch, https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/thu-cua-duc-thanh-cha-benedicto-xvi-tuyen-bo-cu-hanh-nam-danh-cho-cac-linh-muc-17934, truy cập 06/2020

[3] ĐTC Bênêđictô XVI đã có sáng kiến công bố Năm linh mục 2009 – 2010 nhân dịp kỷ niệm 150 năm qua đời của thánh Gioan Maria Vianney, ngài không chỉ là bổn mạng các cha sở mà còn là bổn mạng của các linh mục. x. Như vẫn trích (nvt.).

[4] x. Kinh Sách các bài đọc, Tập 4, Bản dịch của Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ, phần Lời nguyện ngày lễ thánh Gioan Maria Vianney, nxb. Tp.HCM, 1999, tr.514.

[5] x. BÊNÊĐICTÔ XVI, Thư tuyên bố cử hành Năm linh mục.

[6] x. RONALD D. WITHERUP, PSS, Gold Tested in Fire – A New Pentecost for the Catholic Priesthood (Vàng được thử lửa – Một lễ Hiện Xuống mới cho hàng Linh mục Công giáo), Lm. Giuse Lê Công Đức, PSS và Nhóm Anh Việt 2014 Đại Chủng Viện Huế dịch, nxb. Tôn Giáo, 2015, tr.5.

[7] x. BÊNÊĐICTÔ XVI, Thư tuyên bố cử hành Năm linh mục.

[8] x. RONALD D. WITHERUP, PSS, Gold Tested in Fire., sách đã dẫn (sđd.), tr.7.

[9] GIOAN PHAOLÔ II, Tông huấn Pastores Dabo Vobis (25.03.1992), Bản dịch của Lm. Phaolô Đậu Văn Hồng, nxb. Hồng Đức, 2015. Viết tắt: PDV.

[10] Đức Giêsu mời gọi các môn đệ: “Anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện.” (Mt 5,48 GKPV). Để thuận tiện việc theo dõi, các trích đoạn Kinh Thánh ( bản dịch tiếng Việt ) trong bài viết được người viết trích từ: Kinh Thánh (Ấn bản 2011), Bản dịch của Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ (GKPV), nxb. Tôn Giáo, 2011.

[11] x. Công Đồng (CĐ) VATICANÔ II, Sắc lệnh về tác vụ và đời sống linh mục Presbyterorum Ordinis (07.12.1965), Bản dịch của Ủy Ban Giáo Lý Đức Tin trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, nxb. Tôn Giáo, 2012, số 12. Viết tắt: PO.

[12] Gr 3,15 GKPV.

[13] x. PDV 1.

[14] Ga 10,11 GKPV.

[15] Hr 13,20 GKPV.

[16] Dung mạo đích thực của Linh mục được PDV khẳng định: “Chắc hẳn luôn luôn có ‘một diện mạo cốt yếu, không thay đổi, của người linh mục: thực vậy, không kém gì linh mục hôm nay, linh mục ngày mai sẽ phải nên giống Chúa Kitô’” (PDV 5).

[17] x. PDV 12.

[18] x. NGUYỄN TRỌNG SƠN, Lịch sử linh đạo, Đại Chủng Viện Thánh Giuse Sài Gòn, 2009, tr.56-59.

[19] x. PDV 15 – 18.20 – 23.

[20] x. NGUYỄN TRỌNG SƠN, Linh mục giáo phận nên giống Chúa Giêsu Kitô mục tử, Đại Chủng Viện Thánh Giuse Sài Gòn, 2013, tr.36.

[21] x. PDV 3.16.22 – 23.25.29.

[22] PDV 22.

[23] x. NGUYỄN TRỌNG SƠN, Linh mục giáo phận…, sđd., tr.38.

[24] x. PDV 11.13.16.

[25] x. PDV 15.16.

[26] x. PDV 21.

[27] x. PDV 23.

[28] x. RONALD D. WITHERUP, PSS, Gold Tested in Fires đd., tr.27.

[29] x. PDV 26.

[30] x. PDV 26

[31] x. NGUYỄN TRỌNG SƠN, Linh mục giáo phận…, sđd., tr.72.

[32] x. Ga 1,39.

[33] x. PDV 15.

[34] x. Dt 10,4 – 7 (x. NGUYỄN TRỌNG SƠN, Linh mục giáo phận., sđd., tr.73.)

[35] x. PDV 26.

[36] x. PDV 26.

[37] x. PDV 21 – 23.

[38] x. PDV 21.

[39] x. PDV 21 – 23. Riêng ở số 23, PDV nhấn mạnh: “Cốt lõi của đức ái mục tử là trao hiến chính mình, trao hiến hoàn toàn cho Giáo Hội, theo hình ảnh sự trao hiến của Đức Kitô và thông phần với Ngài.”

[40] x. PDV 22.

[41] x. PDV 16.22.

[42] x. Gl 4,19 (x. PDV 22).

[43] x. Pl 2,5.

[44] x. PDV 21 – 23.26.

[45] x. RONALD D. WITHERUP, PSS, Gold Tested in Fires đd., tr.41.

[46] x. FRANCIS, Bull Of Indiction Of The Extraordinary Jubilee Of Mercy “Misericordiae Vultus” (11.04.2015). “Jesus Christ is the face of the Father’s mercy. These words might well sum up the mystery of the Christian faith.” (no. 1).

[47] x. Ga 1,14; Pl 2,5-8; 1Tm 3,16.

[48] x. Gl 2,20.

[49] x. Sách Giáo lý của Hội Thánh Công Giáo (11.10.1992), Bản dịch của Ủy Ban Giáo Lý Đức Tin trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, nxb. Tôn Giáo, 2010, số 478. Viết tắt: GLCG.

[50] CĐ VATICANÔ II, Hiến chế mục vụ Gaudium et Spes (07.12.1965), Bản dịch của Ủy Ban Giáo Lý Đức Tin trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, nxb. Tôn Giáo, 2012, số 22.

[51] x. GLCG, 519.

[52] x. GLCG, 521.

[53] x. PO 12; PDV 21.23.27.

[54] x. GLCG, 1418-1419.

[55] x. 2Cr 5,14.

__________

TÀI LIỆU THAM KHẢO

I/ THÁNH KINH

  1. Kinh Thánh (Ấn bản 2011), Bản dịch của Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ (GKPV), nxb. Tôn Giáo, 2011.

II/ HUẤN QUYỀN

  1. CĐ VATICANÔ II, Bản dịch của Ủy Ban Giáo Lý Đức Tin trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, nxb. Tôn Giáo, 2012.
  2. Hiến chế mục vụ Gaudium et Spes (07.12.1965).
  3. Sắc lệnh về tác vụ và đời sống linh mục Presbyterorum Ordinis (07.12.1965).
  4. BÊNÊĐICTÔ XVI, Thư tuyên bố cử hành Năm linh mục (16.06.2009), Lm. Luy Nguyễn Anh Tuấn chuyển dịch, https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/thu-cua-duc-thanh-cha-benedicto-xvi-tuyen-bo-cu-hanh-nam-danh-cho-cac-linh-muc-17934, truy cập 06/2020
  5. FRANCIS, Bull Of Indiction Of The Extraordinary Jubilee Of Mercy “Misericordiae Vultus” (11.04.2015).
  6. GIOAN PHAOLÔ II, Tông huấn Pastores Dabo Vobis (25.03.1992), Bản dịch của Lm. Phaolô Đậu Văn Hồng, nxb. Hồng Đức, 2015.
  7. Sách Giáo lý của Hội Thánh Công Giáo (11.10.1992), Bản dịch của Ủy Ban Giáo Lý Đức Tin trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, nxb. Tôn Giáo, 2010.

Lm. Tôma Aquinô Nguyễn Đức Khôi
III/ CÁC TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

  1. Kinh Sách các bài đọc, Tập 4, Bản dịch của Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ, nxb. Tp.HCM, 1999.
  2. NGUYỄN NGỌC VINH, SDB, Người chạnh lòng thương, nxb. Tôn Giáo, 2016.
  3. NGUYỄN TRỌNG SƠN, Lịch sử linh đạo, Đại Chủng Viện Thánh Giuse Sài Gòn, 2009.
  4. NGUYỄN TRỌNG SƠN, Linh mục giáo phận nên giống Chúa Giêsu Kitô mục tử, ĐCV Thánh Giuse Sài Gòn, 2013.
  5. RONALD D. WITHERUP, PSS, Gold Tested in Fire – A New Pentecost for the Catholic Priesthood (Vàng được thử lửa – Một lễ Hiện Xuống mới cho hàng Linh mục Công giáo), Lm. Giuse Lê Công Đức, PSS và Nhóm Anh Việt 2014 Đại Chủng Viện Huế dịch, nxb. Tôn Giáo, 2015.
Read More

Điều hướng bài viết

  • Previous page
  • Page 1
  • …
  • Page 121
  • Page 122
  • Page 123
  • …
  • Page 154
  • Next page
Bài viết mới nhất
Di chúc thiêng liêng của Linh mục Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp
11/07/2026
Hoa trái thiêng liêng hậu tuần Cửu nhật
11/07/2026
Chứng tá về căn tính môn đệ Đức Kitô nơi cha Trương Bửu Diệp
11/07/2026
Video nổi bật
https://www.youtube.com/watch?v=Td144YDsaGo
Sự kiện sắp tới

There are no upcoming events at this time.

Ủy ban Giáo dục Công giáo – Trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.

Liên hệ

72/12 Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, TP.HCM Get Directions

Phone: +84 931 436 131

Email: [email protected]

Ban chuyên môn
  • Ban Tài liệu và Truyền thông
  • Ban Giáo chức
  • Ban Kỹ năng và Giá trị sống
  • Ban Khuyến học
  • Ban Học viện Thần học
  • Ban Hội Học sinh – Sinh viên
Chuyên mục
  • Tin tức
  • Thư chung
  • Giáo dục
  • Phụng vụ
  • Thư viện
Bản quyền © 2020 thuộc về Ủy Ban Giáo Dục HĐGM VN. Design by JT.