Aenean nec eros. Vestibulum ante ipsum primis in faucibus orci luctus et ultrices posuere cubilia curae. Suspendisse sollicitudin velit sed leo.

Chuyên mục
  • Bài giảng
  • Các loại khác
  • Chia sẻ
  • Chưa phân loại
  • GH Hoàn Vũ
  • GH Việt Nam
  • Giáo dục
  • Hạnh các Thánh
  • HĐGM Việt Nam
  • Kinh Thánh
  • Phim giáo dục
  • Phụng vụ
  • Sách
  • Suy niệm Chúa nhật
  • Suy niệm hàng ngày
  • Tài liệu giáo dục
  • Tài liệu phụng vụ
  • Thần học
  • Thánh ca
  • Thánh lễ
  • Thánh lễ trực tuyến
  • Thư chung
  • Thư viện
  • Tin tức
  • Triết học
  • Tư liệu
  • UBGD Công giáo
  • uncategorized
  • Video
From Gallery
Stay Connected
UyBanGiaoDucHDGM.net
  • Trang chủ
  • Thư chung
    • HĐGM Việt Nam
    • UBGD Công giáo
  • Tin tức
    • GH Việt Nam
    • GH Hoàn Vũ
  • Phụng vụ
    • Thánh lễ
    • Thánh lễ trực tuyến
    • Suy niệm hàng ngày
    • Suy niệm Chúa nhật
    • Tài liệu phụng vụ
  • Giáo dục
    • Chia sẻ
    • Tài liệu giáo dục
  • Thư viện
    • Sách
      • Kinh Thánh
      • Triết học
      • Thần học
      • Các loại khác
    • Video
      • Bài giảng
      • Thánh ca
      • Phim giáo dục
      • Hạnh các Thánh
      • Tư liệu
  • Liên hệ
Give Online

Danh mục: Giáo dục

Home / Giáo dục
11Tháng Bảy
2020

Cha mẹ trẻ giáo dục con cái

11/07/2020
Anmai
Giáo dục, Tài liệu giáo dục
0

Mỗi nghề nghiệp là một ơn gọi dựa trên quá trình đào luyện mang tính chuyên biệt, nhằm mục đích đáp ứng những nhu cầu khách quan và phục vụ cho người khác, đổi lại được đền đáp cách tương xứng mà nghề khác không có được.[1] Giáo dục là việc đào luyện “nghề làm người”[2], “nhằm dạy dỗ có hệ thống nhằm phát triển trí tuệ, tinh thần và thể chất của con người”[3]. Với các cha mẹ Công giáo, họ còn có bổn phận đào luyện con cái nên con cái Thiên Chúa và Hội Thánh. “Gia đình là nơi cha mẹ trở thành những thầy dạy đầu tiên về đức tin cho con cái. Đó là một bổn phận “cha truyền con nối”[4] , từ con người đến con người”. Công việc có tính cách “thủ công”, “gia truyền” này được thực hiện trực tiếp theo trật tự từ thế hệ đi trước cho thế hệ đi sau. Trong phạm vi gia đình, cha mẹ có bổn phận đào luyện nghề làm người và làm con Chúa cho con cái của mình. Tay nghề của cha mẹ càng cao thì hoa trái càng dồi dào. Đương nhiên cha mẹ có nhiệm vụ đồng hành cùng con cái suốt hành trình làm người nhưng những năm tháng đầu đời của con cái thật quan trọng để cha mẹ chu toàn phận sự quan trọng hàng đầu và không một ai hay một cái gì có thể thay thế được. Bài viết này muốn lưu ý một số điểm quan trọng trong việc giáo dục con cái dành riêng cho các cha mẹ trẻ.

  1. TẦM QUAN TRỌNG CỦA GIÁO DỤC GIA ĐÌNH

Giáo dục là quá trình làm cho nhân cách được trưởng thành, mở rộng văn hóa và làm cho giá trị của con người được bồi bổ. Giáo dục gia đình là nền tảng cho mọi nền giáo dục và đào tạo con người. Bản chất và sứ mệnh giáo dục của gia đình, cách riêng vai trò của người mẹ không có gì có thể thay thế. Sứ mạng của cha mẹ bắt nguồn từ ơn gọi nguyên thủy khi tham gia vào công trình sáng tạo của Thiên Chúa. Gia đình là một nơi giáo dục các giá trị cơ bản. Nhiệm vụ rao giảng Tin Mừng của gia đình diễn ra chủ yếu qua việc giáo dục con em.[5]

Nhiệm vụ của giáo dục của cha mẹ Kitô giáo đến từ Bí Tích Hôn Phối và cách riêng từ chính quyền bính và tình yêu của Chúa Ba Ngôi.[6] Tự bản chất, cha mẹ thật sự là những nhà giáo dục đầu tiên và quan trọng nhất cho con cái họ về chiều kích đạo đức, và do đó trở thành cộng tác viên không thể thiếu của mọi lãnh vực giáo dục khác.[7] Thông qua giáo dục, các bậc cha mẹ giúp con cái của họ bước vào thế giới và gặp gỡ những người khác trong chân thiện mỹ.

Gia đình là không gian tự nhiên và văn hóa cho việc giáo dục con trẻ. Từ không gian này, con cái nhận được các quyền lợi, phẩm giá, ngôn ngữ, sự tôn trọng, cảm xúc, ý tưởng, óc phán đoán, năng khiếu, và nhiều loại kỹ năng sống từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Đối với các gia đình Công giáo, chiều kích thiết yếu của giáo dục là giáo dục đức tin vì nó là điều làm nên tất cả. Cha mẹ là những nhà giáo dục đức tin đầu tiên cho con cái[8], cách riêng là giáo dục cầu nguyện. Thật vậy, cầu nguyện vừa là sự biểu lộ đức tin, vừa là trường học đức tin. Thông qua lời cầu nguyện, đức tin được sống và truyền từ cha mẹ đến con cái. Điều quan trọng nhất là con cái thấy cha mẹ cầu nguyện.[9]

Khi nói về đức tin, Đức Thánh Cha Phanxicô đã đưa ra một nhận định đáng lưu tâm: “Tình trạng đức tin và thực hành tôn giáo suy yếu trong một số xã hội đã ảnh hưởng đến các gia đình rất nhiều và càng đẩy các gia đình lâm vào tình trạng phải chơ vơ chống chọi với những khó khăn của mình. Cái nghèo lớn nhất trong số những cái nghèo của nền văn hóa hiện nay là sự cô đơn, kết quả của tình trạng vắng bóng Thiên Chúa trong đời sống con người và tình trạng mong manh của những mối quan hệ”[10].

Như đã nói ở phần mở đầu, nguyên tắc giáo dục đức tin được Đức Thánh Cha Phanxicô nhấn mạnh như sau: “Gia đình là nơi cha mẹ trở thành những thầy dạy đầu tiên về đức tin cho con cái. Đó là một bổn phận “cha truyền con nối” , từ con người đến con người”. “Nghề làm người” của con cái phải được học cách thủ công, cách trực tiếp từ ông bà cha mẹ, từ đời nọ qua đời kia chứ không thể qua một trung gian nào. Cách thức ông bố Do thái dạy cho con mình về biến cố Vượt Qua là một bài học về cách giáo dục đức tin trong gia đình.[11]

Tông huấn giải thích bổn phận giáo dục đức tin của cha mẹ như sau: “Gia đình vẫn phải tiếp tục là nơi học biết những lí lẽ và vẻ đẹp của đức tin, để cầu nguyện và phục vụ tha nhân. Bắt đầu với Bí Tích Thánh Tẩy, việc nuôi dạy con cái của các bà mẹ là để “cộng tác vào sự sinh hạ thánh thiêng” … Cha mẹ là phương thế Thiên Chúa dùng để giúp cho đức tin của con cái được trưởng thành và phát triển”[12].

Thông truyền đức tin giả định rằng cha mẹ thực sự sống kinh nghiệm đức tin, tin tưởng vào Chúa, tìm kiếm Ngài, cần đến Ngài. Điều này đòi hỏi cha mẹ kêu xin Chúa hành động trong tâm hồn của con cái. Tuy không phải là chủ nhân của các tâm hồn nhưng nỗ lực sáng tạo của cha mẹ góp phần cộng tác với kế hoạch sáng tạo và cứu độ của Thiên Chúa. “Điều căn bản là con cái nhìn thấy tận mắt việc cầu nguyện thật sự quan trọng với cha mẹ của chúng. Vì thế, khi gia đình sum họp cầu nguyện và có những diễn tả lòng đạo đức bình dân có sức loan báo Tin mừng mạnh hơn bất kì việc dạy giáo lý và bài giảng đạo nào”. “Thực hành việc thông truyền đức tin cho con cái cho phép gia đình trở thành nhà rao giảng Tin mừng thông truyền đức tin cho mọi người xung quanh”, “loan báo Tin mừng cách minh nhiên, can đảm và liên tục qua các việc như: liên đới bằng cả tinh thần và vật chất với người nghèo và gia đình nghèo túng nhất, đón nhận những con người khác biệt, bảo vệ thiên nhiên, dấn thân cho công ích.”.[13]

Trong Tông huấn, Đức Thánh Cha Phanxicô lưu ý: “Nhiều lần chính ông bà đảm bảo việc truyền đạt các giá trị lớn lao cho các con cháu mình và nhiều người có thể nhận thấy chính ông bà đã khai tâm đời sống đức tin cho mình. Lời lẽ của các ngài, những sự âu yếm của các ngài hay chỉ với sự hiện diện của các ngài cũng đã giúp các em nhận ra rằng lịch sử không bắt đầu từ nơi chúng, và chúng là những người thừa kế của một cuộc hành trình dài và cần phải tôn trọng hậu cảnh là những gì đến trước chúng ta”.[14]

Tông huấn đưa ra một số thực hành trong việc giáo dục đức tin cho con cái: dạy con nhỏ hôn Chúa Giêsu hay Đức Mẹ, không ngừng cầu nguyện cho những người con đang lạc xa Chúa Kitô, đưa lịch sử đời mình vào cầu nguyện, cần biết chấp nhận chính mình, biết cách sống chung với những hạn chế của mình, biết tha thứ cho chính mình, cầu nguyện trong gia đình, lòng đạo đức bình dân. “Hành trình cầu nguyện chung của gia đình đạt tới đỉnh điểm trong việc tham dự Thánh lễ, nhất là trong khung cảnh ngày nghỉ lễ Chúa Nhật”. “Các đôi vợ chồng Kitô hữu là những cộng tác viên của ân sủng và là những chứng nhân đức tin cho nhau, cho con cái và cho các thành viên khác trong gia đình” . Thiên Chúa mời gọi họ thông truyền và chăm sóc sự sống. Đó là lí do tại sao gia đình “bao giờ cũng là ‘bệnh viện’ gần nhất”. “Chiêm ngắm từng người thân trong gia đình bằng đôi mắt của Thiên Chúa và nhận ra Đức Kitô nơi họ là một kinh nghiệm tâm linh sâu xa”.[15]

Việc giáo dục con cái của cha mẹ là nguồn gốc của sự thiện và sự ác trong gia đình và xã hội.[16] Không một ai có thể đạt được sự giáo dục luân lý cách tinh tế và hợp lý hơn cha mẹ, đặc biệt trong lãnh vực luân lý tính dục cho con cái mình. Sự sút kém về luân lý đạo đức nơi con trẻ có nguyên do sự sút kém trong việc giáo dục luân lý đạo đức của cha mẹ trong những năm đầu đời của trẻ.[17] Con cái phản ánh bộ mặt tốt hay xấu của cha mẹ một cách trung thực. Vì vậy, việc giáo dục lương tâm con cái là nhiệm vụ cha mẹ phải làm từ thời thơ ấu và đồng hành với con suốt đời.[18]

Là một cộng đoàn của sự sống và tình yêu, gia đình là một cộng đoàn giáo dục để giúp mỗi thành viên phát triển trong tình yêu.[19] Sự hiệp thông nhân vị là nhiệm vụ của việc giáo dục thường xuyên để có sự hiệp thông giữa những con người, điều mà Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đề xuất như là “nhiệm vụ đầu tiên”.[20]

Bổn phận giáo dục đã được đóng ấn trong ơn gọi làm cha và làm mẹ.[21] Đó là một ơn gọi cộng tác trực tiếp với Thiên Chúa sáng tạo.[22] Vì vậy, ơn gọi giáo dục của cha mẹ Kitô giáo, vừa là một đặc ân vừa là một trách nhiệm lớn lao, đã được Thiên Chúa trao ban. Tuy nhiên, khi cha mẹ dấn thân trong việc giáo dục con cái, họ luôn được Giáo Hội hỗ trợ và khuyến khích để họ thực hiện chức năng.[23]

Sự hiện diện của người cha trong việc giáo dục con cái thì thật quan trọng. Người cha vừa người bảo vệ, nhưng đồng thời hướng dẫn con cái đối diện với thực tại khắc nghiệt để tiến tới đời sống trưởng thành. Thiếu vắng người cha làm cho trẻ thiếu đi tính sáng tạo và lo sợ khi phải đối diện với sóng gió cuộc đời. Sự hiện diện của người cha giúp cân bằng tâm lý cho cả hai phái nam và nữ nơi con trẻ.

Vai trò của người mẹ thì rất quan trọng trong việc giáo dục con trẻ. Thông qua giao tiếp giữa mẹ và con, con trẻ có kinh nghiệm tình yêu và sự an toàn. Quan hệ giáo dục giữa mẹ và con có nguồn gốc của nó ngay cả trong giai đoạn đầu của thai kỳ. Sau khi chào đời, trẻ em hoàn toàn phụ thuộc vào sự chăm sóc mẹ. Thông qua người mẹ, đứa trẻ khám phá thế giới xung quanh.

Vai trò của ông bà trong việc giáo dục bổ sung cho vai trò đó của cha mẹ khi họ ở gần gũi với cháu chắt của mình. Họ giúp cháu mình phát triển về mặt tình cảm và cảm xúc. Họ được coi là những người kể chuyện, bảo vệ và người nói về Thiên Chúa. Qua ông bà con trẻ cũng học được bài học của sự vâng phục.

Tóm lại, gia đình là nơi mà ơn cứu độ của Thiên Chúa ở cùng và đến lượt mình, qua giáo dục gia đình thực thi sứ mạng đem ơn cứu độ cho gia đình mình và cho thế giới.

  1. CỦNG CỐ VIỆC GIÁO DỤC CON CÁI
  2. Củng cố nền tảng việc giáo dục

Dù cách công khai hay kín đáo, cha mẹ luôn có ảnh hưởng trên việc hình thành nhân cách của con cái, “về điều tốt cũng như điều xấu”. Do mang tính ảnh hưởng trực tiếp, bữa ăn chung mang giá trị giáo dục và giá trị sống nhiều hơn là chỉ lo lắng cho tương lai mà đánh mất hiện tại, ấn định thời gian chất lượng cho đối thoại và lắng nghe là một nhu cầu để sống và để làm triển nở tình yêu.[24]

Tình yêu là một trong những bí quyết quan trọng nhất trong việc giáo dục con cái. “Sự phát triển tình cảm và đạo đức của một con người đòi hỏi một kinh nghiệm cơ bản: tin rằng cha mẹ của mình là đáng tin cậy. Đó là một trách nhiệm trong giáo dục: với tình thương và gương sáng cha mẹ tạo sự tin tưởng nơi con cái, truyền cho chúng một lòng kính trọng trong yêu thương”[25]. Tình yêu đó giúp cha mẹ dạy dỗ con cái nên người, giúp con cái thành công, là linh hồn của đời sống nhân bản, đạo đức, tâm lý và văn hóa. Tình yêu đó giúp con cái ổn định và an toàn. Linh mục Bruno Ferrero có một điều răn cho cha mẹ như sau: “Chính cha mẹ phải năng chăm sóc nhau nếu họ muốn chăm sóc con cái mình. Bổn phận đầu tiên của một người cha với con cái mình là yêu thương mẹ của chúng. Và ngược lại”.

Mỗi gia đình đều có lịch sử của riêng nó. Cha mẹ và con cái cần lưu ý về giá trị của lịch sử: Lịch sử là ông thầy dạy khôn, dạy xây dựng tương lai có ý nghĩa. Chuyện kể của ông bà rất tốt vì họ đặt trẻ em và người trẻ trong mối liên hệ với lịch sử của gia đình, thôn làng hay đất nước.

Có anh chị em, có họ hàng thân thuộc là môi trường quý báu để tạo tương quan huynh đệ, trường học lớn dạy sống tự do và hòa bình, học sống chung với nhau cuộc sống làm người. Việc chăm sóc, yêu thương và giúp đỡ lẫn nhau là một kinh nghiệm mạnh mẽ, tuyệt vời và độc đáo về tình huynh đệ trong gia đình có nhiều hơn một đứa con.

Trường học gia đình cần có những thực hành xây dựng tình tương thân tương ái: “Mỗi ngày gia đình phải sáng tạo những cách thức mới để gia tăng sự nhận biết lẫn nhau”[26].

Để con cái lớn khôn, có một ngôi nhà thắm tình thân ái, cảm thấy thoải mái, có bầu khí ấm cúng và mang trạng thái an bình là nhu cầu, là mơ ước hàng đầu trong các nhu cầu của mỗi người cha người mẹ, mỗi gia đình. Một ngôi nhà bình yên, với cả gia đình cùng đang ngồi quanh bàn tiệc, có ông bà, cha mẹ và con cháu là hồng ân và là phúc lộc Chúa dành cho kẻ kính sợ Người.

  1. Củng cố mục tiêu giáo dục

Đức Hồng y Jean-Louis Bruguès cho biết tự do đích thực là “khả năng con người được thật sự là mình và đạt tới sự sung mãn của mình”. Dự tính của mỗi người con hay mỗi con người xuất phát từ sự “trung tâm tự do”[27] ấy. Đó là một sự tự do có trách nhiệm trong bổn phận làm người. Sự tự do chỉ có nơi người trưởng thành, những người đã được huấn luyện lương tâm cách kỹ lưỡng.

Để có hành động tốt, một hành động đòi hỏi cố gắng và hy sinh từ bỏ, người ta cần “phán đoán đúng”, biết rõ điều phải làm, có động lực thúc đẩy ngay lành và biết rõ sự thiện có thể đạt được.[28] Những hành động xấu xa sẽ là nguyên nhân cho những hậu quả xấu xa. Người gây ra hậu quả xấu phải chịu trách nhiệm vì điều xấu đã gây ra cho người khác: “Điều quan trọng là kiên quyết dạy cho trẻ biết xin lỗi và sửa chữa những thiệt hại gây ra cho người khác”.[29]

Giáo dục giới tính là một công việc quan trọng. Để cho trẻ em và thanh thiếu niên biết sống cho một tình yêu cao thượng và quảng đại, cần phải có một nền giáo dục giới tính tích cực, khôn ngoan và tiệm tiến theo những tiến bộ của tâm lí học, sư phạm và giáo dục.[30]“Đức khiết tịnh là điều kiện quý báu cho sự tăng trưởng đích thật của tình yêu liên vị”[31], “đức khiết tịnh trong bậc sống của mỗi người là có thể thực hiện được và nó chính là nhân tố đem lại niềm vui”[32]. “Giáo dục giới tính cung cấp thông tin, nhưng thông tin phải đến đúng thời điểm theo cách thức phù hợp với lứa tuổi. Sẽ không ích lợi nếu thông tin đó chỉ làm biến dạng khả năng yêu thương của chúng… Nền giáo dục giới tính canh giữ sự e thẹn lành mạnh có một giá trị lớn lao”.[33]

  1. Củng cố đường hướng giáo dục

Đức Thánh Cha Phanxicô nhấn mạnh việc cha mẹ phải có định hướng cho cuộc đời của con cái. Giáo dục con cái là công việc của tình thương, nhưng đó là một loại tình thương có định hướng “giúp trưởng thành sự tự do”, “triển nở toàn diện”, có “sự tự lập đích thật” cho người con. “Những xác tín, mục tiêu, ước muốn, dự tính cuộc đời” của người con là điều mà cha mẹ có bổn phận quan tâm.[34]

Thanh thiếu niên thường xa lạ với việc quản lý thời gian và lên kế hoạch cho tương lai, vì thế tạo cho con cái một kế hoạch hay một mục tiêu cần vươn tới là bổn phận hướng nghiệp của cha mẹ. Kế hoạch cho tương lai sẽ là công cụ để con cái có thể tác động tới những biến cố xảy ra trong cuộc đời theo ý muốn, sẽ giảm thiểu những điều bất lợi.

Thói quen là một hoạt động tự động trong cuộc sống của mỗi cá nhân. Thói quen tốt và mang tính trung dung giúp con người tập trung tinh thần để làm những công việc cần thiết khác. Chính phẩm giá tự do nội tâm và trách nhiệm nên thánh đòi buộc người Kitô hữu phải có trách nhiệm trên thói quen của mình. Những tập quán nhân đức mà cha mẹ và con cái chuyển hóa thành nguyên tắc hành động thuộc nội tâm và bền vững sẽ gia tăng phẩm giá cho họ.[35]

Phạm lỗi là chuyện thường tình của con trẻ do sự bồng bột của tuổi thơ nhiều hơn là do cố ý. Tuy nhiên, không ít cha mẹ tỏ ra lúng túng trước lầm lỗi của con. Yêu con đến mức không sửa dạy những lỗi lầm dù rất nhỏ thì cũng không phải là yêu thương đích thực. Cha mẹ sửa lỗi làm sao để con cái cảm thấy chúng vẫn được quan tâm, yêu mến, tin tưởng và được đánh giá cao về những nỗ lực, tiềm năng và khả năng hướng thiện của chúng, để giải toả cảm tưởng bị đè nặng phải phục tùng ý muốn thống trị của người khác. Không sửa dạy những khiếm khuyết ngay khi còn thơ ấu của con cái, cha mẹ chỉ tạo thêm nhiều khó khăn không chỉ tương lai của con cái mà còn cho cả chính mình. Càng tạo nhiều sự dễ dãi, tạo lối sống không nguyên tắc cha mẹ càng tạo thêm những khó khăn và tập tính tắc trách trong tương lai. Sửa dạy nhưng cha mẹ phải luôn luôn nói “không” với bạo lực trong gia đình. Vì thế, cha mẹ cần khéo léo để giúp trẻ nhận ra “kỷ luật” cần thiết để đào luyện “phẩm giá” con người, là “một kích thích để luôn đi xa hơn”, là “một giới hạn có tính xây dựng của cuộc hành trình” hơn là “một bức tường cản trở”, “một lối giáo dục kiềm chế”, một “sự huỷ hoại ước muốn”.[36]

Một nguyên tắc mang tính sư phạm được phát biểu như sau: Giáo dục đạo đức phải tuân theo quy luật trong giới hạn và quy luật tiệm tiến: “Giáo dục đạo đức bao hàm việc chỉ đòi hỏi một đứa bé hay một người trẻ chỉ những điều đối với chúng không là một hi sinh quá mức chịu đựng, và chỉ đòi hỏi trong mức độ chúng phải nỗ lực mà không gây phẫn uất hoặc cảm thấy bị cưỡng bức. Hành trình thông thường là đề ra những bước nhỏ có thể được hiểu, được chấp nhận và được trân trọng, và bao gồm một sự từ bỏ hợp lí. Ngược lại, nếu đòi hỏi quá nhiều, thì sẽ không được điều gì cả. Con người ta ngay khi có thể được giải thoát khỏi quyền bính, có thể sẽ thôi không còn làm điều tốt nữa”.[37]

Trong đời sống gia đình không thể để bao trùm lối nghĩ thống trị lẫn nhau và sự cạnh tranh để xem ai là người thông minh hơn hay quyền lực hơn, vì như thế sẽ làm hủy diệt tình yêu. Lời khuyên cho gia đình sau đây cũng thật đáng giá: “Tất cả anh em hãy lấy đức khiêm nhường mà đối xử với nhau, vì Thiên Chúa chống lại kẻ kiêu ngạo, nhưng ban ơn cho kẻ khiêm nhường” (1 Pr 5,5).[38]

Cha mẹ có vai trò quyết định trong việc sống và truyền đạt khả năng chờ đợi trên con cái: “Giáo dục khả năng biết chờ đợi, biết trì hoãn không phải là khước từ ước muốn, nhưng là làm chậm lại sự thỏa mãn của mình”. Khả năng này đòi hỏi con người phải có “tinh thần hy sinh, một điều mà không có nó không một tình yêu nào có thể đứng vững dài lâu”, “quý mến và thực hành sự tự chủ và sự kiềm chế”, “vun xới thái độ nhẫn nhục”, “biết trì hoãn một số điều và học biết chờ đợi cho tới thời điểm phù hợp”, có “sự nhạy cảm với bệnh tật của con người”, “có chương trình giáo dục cảm xúc và bản năng”. “Khi trẻ em hoặc thanh thiếu niên không được giáo dục để chấp nhận rằng có những điều phải chờ đợi, chúng sẽ trở thành những kẻ kiêu căng độc tài, bắt mọi sự phục tùng để thỏa mãn nhu cầu trước mắt của chúng và chúng lớn lên cùng với thói hư muốn có “tất cả ngay lập tức” . Đó là một sự lừa dối kinh khủng vốn không giúp cho tự do triển nở, mà còn làm hại tự do”.[39]

Tóm lại, “nghề làm người” đòi hỏi phải có những nguyên tắc. Củng cố việc giáo dục con cái cũng chính là củng cố tình yêu giữa cha và mẹ. Việc giáo dục ở đây có phương pháp dựa trên tình yêu và trách nhiệm, có sự hỗ trợ của các môn khoa học nhân văn cũng như sự trợ giúp của Giáo Hội. Mức độ ý thức, hiểu biết, nhiệt tình, hợp lý và thích đáng trong việc giáo dục sẽ đo lường sự thành công của cha mẹ trong nhiệm vụ khó khăn và quan trọng này. Một nguyên tắc chủ đạo cho các cha mẹ Kitô hữu là có Chúa Giêsu trong cuộc sống gia đình mình. Như lời Người đã nói: “Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái, vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Ga 15,5).

III. THỰC HÀNH VIỆC DẠY DỖ CON CÁI

Việc giáo dục thời nay có nhiều khó khăn do môi trường xã hội, do sự vắng mặt thường xuyên của cha, của mẹ hoặc của cả cha lẫn mẹ, do cha mẹ thiếu một phương pháp giáo dục đúng đắn. Vì vậy, điều tiên quyết là cha mẹ có bổn phận dành nhiều thời gian để ở với con cái, tìm yêu mến và hiểu biết con cái nhiều hơn nữa và biết dạy dỗ theo phương pháp đúng đắn, luôn bắt kịp với thời đại để có những chỉ dẫn thích hợp cho con cái.

Khoa học ngày nay chứng minh rằng việc tiếp xúc thân tình giữa cha mẹ với con cái từ khi còn nhỏ rất quan trọng trong việc hình thành nhân cách và sức khỏe của trẻ. Thế nhưng, thật ngạc nhiên khi thống kê cho thấy rằng ở nhiều nơi, những người cha dành không quá một phút mỗi ngày để tiếp xúc cách gần gũi và thân thương với những đứa con của mình và không quá 5 phút để thực tình dạy dỗ con cái.

Cha mẹ nên thu xếp để cả gia đình có thể: Ăn uống chung với nhau, và lưu ý rằng truyền hình phải được tắt đi; Đọc cho nhau nghe: đem lại niềm vui, sự hiểu biết, mang lại niềm đam mê đọc sách, học hành; Gia đình sum họp cầu nguyện: giúp ích cho việc giữ gìn sự hợp nhất gia đình, làm phong phú về đời sống tâm linh; Tổ chức mừng những ngày bổn mạng, ngày sinh nhật, ngày kỷ niệm… của các thành viên trong gia đình.

Muốn giáo dục con cái, trước hết cha mẹ phải yêu mến và hiểu biết con cái. Họ phải biết sở thích của trẻ: Cuốn sách mà trẻ mới đọc sau cùng là gì? Món ăn khoái khẩu và ghét thậm tệ của trẻ? Món quà nào mà trẻ ao ước nhất? Trong số những cái mà trẻ có được, cái nào có tầm quan trọng nhất đối với chúng? Người bạn thân nhất của đứa trẻ là ai? Ca sĩ trẻ yêu thích? Trẻ thích thể loại âm nhạc nào? Môn thể thao nào giúp trẻ khuây khỏa hơn cả? Cha mẹ xét đến tương quan của con với tha nhân: Ở trường các bạn tặng cho trẻ biệt danh gì? Ngoại trừ thành viên trong gia đình, người nào có ảnh hưởng nhất đối với trẻ? Giáo viên nào được trẻ yêu thích nhất?

Cha mẹ phải hiểu biết tâm lý của trẻ: Trẻ có mặc cảm vì ngoại hình (mập, lùn, gầy…)? Trẻ cảm thấy thất vọng hay hài lòng về điểm số ở trường? Trẻ có hay vi phạm nội quy? Trong năm nay, điều nào đã làm trẻ thất vọng nhất? Trẻ có thường cảm thấy sợ hãi không? Trẻ có khả năng kiểm soát hành vi của mình không? Trẻ có ước vọng gì cho tương lai? Nhận thức có được về cái chết là gì?

Cha mẹ nên tự hỏi mình đã quan tâm con đến mức nào: Lần gần nhất tôi nói chuyện thân tình với con là khi nào? Đâu là những câu mà tôi thường nói nhiều nhất? Được bao nhiêu lần (và khi nào) tôi đã nói câu này: “Cha mẹ rất thương con”, “cha mẹ tự hào về con”? Tôi thường khuyến khích con? Tôi có biết thừa nhận những tiến bộ của con mình không? Tôi có sử dụng tiền bạc như một phương tiện để hứa hẹn với con cái và tự miễn thứ cho những hành vi quá độc đoán hoặc bù trừ sự “thiếu sót” trong tư cách làm cha mẹ? Con tôi có yêu căn nhà mình ở không? Tôi có coi căn nhà mình ở là nơi quan trọng nhất trong số những nơi mà tôi lui tới không? Máy truyền hình có choáng mất nhiều chỗ trong nhu cầu của trẻ và những giờ phút thân tình trong gia đình? Lần gần nhất tôi cùng cầu nguyện với con mình là khi nào?

  1. Môi trường giáo dục tại gia đình

Nguyên nhân chủ yếu gây căng thẳng xuất phát từ chính gia đình trước khi nó đến từ những nguyên nhân khác: bầu khí gia đình bị ô nhiễm nghiêm trọng do bố mẹ giận dữ, cãi vã và đánh lộn nhau. Khi trẻ quá lo âu có thể bị trầm cảm, rối loạn tiêu hóa, hoặc có cách ứng xử cứng cỏi: hay cãi, ngôn ngữ tục tĩu, tính khí thất thường, xấc láo bất cẩn, trộm cắp, quan tâm đến nội dung khiêu dâm… Khi gặp hiện tượng bên ngoài, cha mẹ thường khiển trách nặng lời mà ít khi chịu lội ngược dòng truy tìm nguyên nhân.

Các nhà tâm lý học đã cho biết rằng có đến khoảng 68% những gia đình mà cha mẹ không hòa thuận thì có con cái hư hỏng. “Tình yêu liên kết cha mẹ lại là đá tảng vững vàng trên đó con cái có thể xây dựng đời mình”. Dù còn bé, một đứa trẻ cũng cảm nhận được sự hiện diện của tình yêu chân thật và vị tha nơi gia đình. Đó là điều vô cùng quan trọng mà cha mẹ cần phải biết để chu toàn đối với hạnh phúc và tương lai của con cái mình. Bởi thế, các bậc cha mẹ cần phải dành thời giờ tâm sự với nhau, hòa giải các điểm bất đồng và “lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”.

Tạo bầu khí vui tươi, bình an trong gia đình mình phải là ưu tiên hàng đầu của cha mẹ. Gia đình phải là tổ ấm thân mật cho sự nghỉ ngơi cho thể lý và tinh thần, và đặc biệt là cung thánh của những tâm tình tôn giáo, nơi mà người ta được học biết về Thiên Chúa là Cha yêu thương, học biết tha thứ, hy sinh cho nhau… Muốn được như vậy, phải tạo nên “tinh thần gia đình” bằng cách mọi thành viên đều cùng tham gia để xây dựng gia đình mình, phải có khả năng để cùng nhau làm điều gì đó. Mỗi người đều được người khác đánh giá cao về bất cứ mặt tốt nào. Triết gia John Dewey nói: “Ham muốn lớn nhất của con người là ước muốn được người khác đánh giá cao, được người khác cho mình là quan trọng”. Khi gia đình có vấn đề, điều cần thiết là đừng ai hỏi “Lỗi tại ai?” nhưng bao giờ cũng là: “Chúng ta có thể giải quyết vấn đề bằng cách nào?” để không ai phải thua cuộc, phải mất mặt.

Các phương tiện truyền thông đại chúng ngày nay có ảnh hưởng không nhỏ đến nhân cách mỗi cá nhân và vì thế ảnh hưởng đến bầu khí gia đình. Về mặt luân lý đạo đức, những phim ảnh bạo lực và tình dục không chỉ làm chai cứng tâm trí của người lớn mà còn phá hủy sự an bình và trong trắng của trẻ thơ và thanh thiếu niên. Về mặt sinh học, việc trẻ xem ánh sáng xanh của màn hình quá sớm và quá nhiều có ảnh hưởng xấu đến cấu trúc của đại não do dòng âm cực sản sinh ra từ điện áp 20,000. “Tắt Tivi, bật ý tưởng” là châm ngôn truyền miệng của cha mẹ người Nhật.

  1. Biết lắng nghe và biết lựa lời mà nói với con

Lắng nghe con nói là việc không dễ dàng. Những người bị sang chấn tâm lý cho biết hồi nhỏ không tìm được sự an ủi của cha mẹ. Theo các chuyên gia tâm lý, nhiều cha mẹ đang mắc phải những sai lầm khó sửa trong việc nuôi dạy con đó là ít lắng nghe, hoặc lắng nghe con cái không đúng cách. Để rồi, khi con trẻ không phát biểu được ý kiến của mình, sẽ trở nên tự ti, mặc cảm, không dám khẳng định mình, và rồi dẫn đến nguy cơ tự đánh mất bản thân. Cha mẹ cần nắm một số quy tắc vàng của lắng nghe: Biết lắng nghe không chỉ với đôi tai, mà cả với đôi mắt cách ân cần. Có những lời gợi ý nhẹ nhàng như “Chà… Nó phải gây cho con khó khăn đấy… và rồi điều gì sẽ xảy ra nhỉ?”. Đừng vừa làm việc vừa nghe: nếu thấy việc quan trọng hơn điều trẻ cho là khẩn cấp, hãy sắp xếp với trẻ lúc nào cha mẹ có thể lắng nghe kỹ lưỡng. Đừng vội lấp đầy khoảng trống bằng những lời khuyên bảo, cảnh cáo, yêu cầu, hoặc lời nói tiêu cực: “Chỉ thằng ngốc mới làm điều đó”, “mày vụng về quá” “sao yếu đuối thế”, …

Nói lời yêu thương là thói quen hữu ích. Một cô bé thường mẹ bị mắng: “Con bé hàng xóm nó cũng ăn cơm mà sao nó học giỏi còn mày dốt thế”, “giá như tao đẻ được đứa con như nó”. Cô bé đã bị tổn thương nặng nề, và di chứng còn mãi về sau không thể xóa nhòa, ngay cả khi cô đã thành người lớn: “Nếu có phép màu, tôi ước sẽ xóa nhòa được những ký ức đau buồn về mẹ.” Một người thường xuyên bị phê bình, chỉ trích, và bị ngược đãi trong gia đình sẽ khó hay không thể có một nhân cách lành mạnh. Bởi thế, cha mẹ cần nhớ công thức: P: T = 1 : 5. Nghĩa là khi đứa trẻ bị trừng phạt (P) 1 lần trong một ngày, để bù vào sự trừng phạt đó, nó phải nhận được 5 lời khen ngợi hay phần thưởng (T).

Khả năng yêu thương được diễn tả qua phép lịch sự: “qua phép lịch sự, tôi chăm chú và tỏ ra lịch thiệp với tha nhân. Nó là hình thức sơ đẳng không thể thiếu được cho đức công bình và bác ái” (Jean-Louis Bruguès). Tông huấn Niềm vui yêu thương phát biểu rất tuyệt vời qua một định nghĩa ngắn gọn: “Yêu thương cũng có nghĩa là làm cho mình đáng yêu”. “Ai yêu thương thì có khả năng nói những lời động viên có sức vỗ về, trợ lực, an ủi, khích lệ”; Trong gia đình, chúng ta cần học cách ăn nói hòa nhã với nhau của Đức Giêsu: “Này con, cứ yên tâm!” (Mt 9,2); “Này bà, lòng tin của bà mạnh thật!” (Mt 15,28); “Hãy trỗi dậy đi!” (Mc 5,41); “Chị hãy đi bình an” (Lc 7,50); “Anh em đừng sợ” (Mt 14,27). “Bạn muốn tôi làm gì cho bạn?” (Mc 10,51).[40]

Ba từ thiết yếu[41] cần được nói trong gia đình là từ “permesso = xin phép” thể hiện sự nhún nhường, hiếu hoà; “grazie = xin cám ơn” bộc lộ tính vị tha, khiêm nhường; “scusa = xin lỗi” cho thấy tính thành thật, khiêm tốn. Thái độ khiêm nhượng nuôi dưỡng tình yêu, gây tin tưởng, đem lại hy vọng, bình an và niềm vui cho tâm hồn và cho gia đình. Một nhân cách trưởng thành sẽ không ngần ngại để nói với tất cả sự khiêm tốn và quảng đại.[42]

Theo linh mục Bruno Ferrero, những câu đối thoại mang tính xây dựng giúp bầu khí gia đình biến đổi, gây ấn tượng tích cực cho bản thân, rất cần cho con cái phát triển quân bình và tin tưởng vào cha mẹ như: “Anh yêu em”, “Cha mẹ rất yêu thương con”, “Con rất xinh”, “Cha mẹ thật hạnh phúc khi có con trong đời”, “Hãy tin tưởng vào bố mẹ!”, “Con đang nghĩ gì vậy?”, “Con có thể khóc nếu con muốn”, “Ba mẹ muốn lắng nghe con. Hãy nói cho ba mẹ biết!”, “Tại sao con không muốn điều đó?”, “Ba má tin tưởng con”, “Thật tuyệt vời khi quây quần bên nhau”, “Ba mẹ rất tự hào về con” v.v…

  1. Những món quà mà cha mẹ có thể trao tặng cho con cái

Bí quyết mà Don Bosco truyền lại cho các nhà giáo dục là “Hãy cố gắng làm cho mình được yêu mến”. Cha mẹ cần dạy con biết yêu mến người khác, và chính cha mẹ cũng phải luôn tỏ cho con cái biết là chúng được yêu thương. Cha mẹ càng biểu lộ lòng yêu mến đối với con cái, thì khi về già càng nhận được sự yêu mến và lòng biết ơn của chúng.

Vun trồng cho con trái tim nhạy cảm và lòng trắc ẩn giữa một xã hội mà bạo lực học đường có khuynh hướng gia tăng. Trước nỗi đau đớn và thống khổ của người khác, cha mẹ cần dạy con cái biết lưu tâm đến tha nhân, giúp đỡ họ những nhu cầu cần thiết, dạy cho các em biết kính trọng và cảm thông với người khác cách sâu xa, đồng thời biết đọc ra sự cô đơn, thống khổ đang đè nặng trên người khác. Bởi vì theo triết gia Alfred Adler: “Kẻ nào không quan tâm đến người khác, chẳng những sẽ gặp nhiều sự khó khăn nhất trong đời, mà còn là người có hại nhất cho xã hội”.

Tập cho con sống khoan dung. Thật khó để tránh được một ngày mà không có ai làm ta bực mình. Vì thế học biết khoan dung tha thứ là một kỹ năng sống. Muốn tha thứ, trước hết cần phải cầu nguyện cho kẻ xúc phạm mình, ít nhất là đọc một kinh Kính Mừng cho họ, rồi mọi sự sẽ êm dịu nhanh chóng. Ngoài ra, nếu tận mắt thấy cha mẹ tha thứ cho nhau, trẻ sẽ dễ dàng biết cách tha thứ cho tha nhân.

Dạy con sống thành thật. Bí quyết lớn nhất của sự thành công là sự thành thật. Sự thành thật đúng nghĩa đòi hỏi phải biết cả điều dở lẫn điều hay của mình. Phải nhìn nhận các khuyết điểm của mình đồng thời phải cố gắng phục thiện. Thông thường, trẻ em có thói quen nói dối do yếu đuối và sợ hãi hình phạt từ cha mẹ. Bởi thế, cha mẹ nên dùng những lời có phép thần diệu sau: “Cảm ơn con đã cho cha mẹ hay biết sự việc. Cha mẹ thật sự tin tưởng con”. Và một điều thiết yếu, gương sáng còn hiệu quả hơn: chỉ những bậc cha mẹ biết tôn trọng người khác, sống đứng đắn và đáng kính nể mới có thể dạy bảo sự tôn trọng, lòng trung thực và chữ tín cho con cái mình.

Nhắc nhở con cái phải biết ơn Thiên Chúa và tha nhân. Don Bosco thường nói với các học sinh: “Chúng ta hãy khóc thương kẻ vô ơn, vì họ không được hạnh phúc”. Lòng biết ơn là một trong những biểu lộ cao đẹp của tình yêu. Bởi thế, cha mẹ không chỉ dạy con cám ơn bằng lời mà còn bằng ánh nhìn, cử chỉ và nụ cười. Ngoài ra, cha mẹ cũng cần dạy cho trẻ phải biết cầu nguyện cho người đã làm điều tốt cho mình, một cách đáp trả cao quý, tế nhị. Ngoài ra, trẻ cũng cần học biết cám ơn qua thư từ, và bằng quà biếu. Đặc biệt, cha mẹ cần dạy trẻ biết cảm tạ Thiên Chúa luôn, vì Người là nguồn mạch của mọi điều tốt lành.

Tập cho con sống khiêm nhường. Có hình ảnh nào đẹp hơn khi Chúa Giêsu vốn là thầy, là Chúa mà còn cúi xuống rửa chân cho các môn đệ? Cha mẹ hãy dạy con sống khiêm nhường ngay từ nhỏ, bởi vì “Thiên Chúa chống lại kẻ kiêu căng nhưng ban ơn cho kẻ khiêm nhường” (1P 5,5). Cha mẹ nên dạy con không được chỉ trích người khác mà hãy nhìn vào những điểm mạnh của họ. Nếu con cái mình chăm ngoan học giỏi thì hãy nói với con rằng đừng khinh thường những bạn học yếu hơn, vì chưa chắc những lĩnh vực khác mình đã bằng họ. Đồng thời, nên khuyên bảo con kiến thức đó để giúp đỡ các bạn thay vì đi khoe khoang về sự thông minh của mình. Cha mẹ cũng cần cho trẻ biết việc thừa nhận sai sót của mình là rất cần thiết và điều đó lâu dần sẽ giúp bé trở thành người khiêm tốn. Cuối cùng và quan trọng nhất, cha mẹ cần chỉ cho con trẻ biết rằng những gì mình có đều là nhờ hồng ân của Thiên Chúa.

Dạy con sống tiết độ. Thánh sư Tôma Aquinô cho rằng đức tiết độ là gốc rễ sâu xa cho cả đời sống thiêng liêng lẫn đời sống cảm xúc. Sự tiết độ là vẻ đẹp của nhân cách: một cách tự nhiên, mọi người đều tỏ lòng khâm phục những ai biết tự kiềm chế và làm chủ được bản thân. Cha mẹ cần dạy con cách sử dụng tiền bạc, tránh xa cạm bẫy của chủ nghĩa tiêu dùng thái quá. Cha mẹ cần truyền sức mạnh để con cái không bị quảng cáo mê hoặc, cái bẫy của hàng “hiệu”, hàng “độc”, hàng “cầm tay”, hàng “đời mới”  Cha mẹ là những hướng dẫn viên cho con cái trong khu rừng rậm rạp của nạn khiêu dâm hiện nay. Ngoài ra, cha mẹ cần dạy con: “y phục xứng kỳ đức – ăn mặc hợp với phẩm giá”.

Giúp con sống dũng cảm. Lòng dũng cảm không được nhầm lẫn với sự liều lĩnh vô ý thức hoặc sự tàn bạo đến từ một số anh hùng trong phim ảnh. Ngày nay, dấu hiệu của lòng dũng cảm là khả năng bảo vệ những ý tưởng đặc thù của mình, không phải với tính bướng bỉnh. Đặc biệt, người can đảm phải dám “kiên trì và quyết tâm theo đuổi điều thiện”, bảo vệ công lý, cho dù gian nan thử thách cũng không khiếp sợ. Ngay từ nhỏ, con cái cần được cha mẹ khuyến khích để thực hành và tự đảm nhận những nhiệm vụ và công tác rõ ràng trong gia đình, nơi trường học và giáo xứ. Đồng thời, can đảm để trung thành với những điều đã cam kết.

Tập cho con sống lạc quan. Một gia đình đang vật lộn với khó khăn trầm trọng, người mẹ nói với các con: “Đừng khóc khi mặt trời mất, vì nước mắt sẽ ngăn cản ta chiêm ngưỡng những vì sao”. Bọn trẻ không bao giờ quên lời mẹ khi đã lớn khôn. Lạc quan, yêu đời trong cuộc sống đem lại nhiều lợi ích cho sức khỏe như giảm stress, chống trầm cảm, tăng cường miễn dịch, giúp sống thọ   Nếu trẻ

thường nghĩ tiêu cực rằng: “Mình là kẻ bất tài vô dụng” thì rồi nó cũng sẽ trở thành kẻ chẳng làm được gì. Vì vậy, cha mẹ cần tạo dựng lòng tin, niềm lạc quan, yêu đời cho trẻ, giúp trẻ chống lại khuynh hướng mặc cảm tự ti. Bởi vì, lạc quan không phải là đặc tính “bẩm sinh”, nhưng được tạo dựng từ sự tự tin của bản thân và sự hỗ trợ của cha mẹ.

Trong cặp sách học sinh của một bé gái có tấm thiệp: “Con gái cưng của mẹ, mẹ biết con buồn chán vì sổ học bạ có điểm kém. Con đừng lo lắng. Con có nhiều điểm xuất sắc mà chính mẹ và cha tin rằng chúng thật quan trọng trong cuộc sống! Con thật thà, trách nhiệm và tự chủ. Con thật sự là một người tuyệt vời!”. Chỉ có cha mẹ là những người có thể làm cho trẻ xác tín rằng: “Mình có thể làm được điều đó”. Bởi vậy, nên khuyến khích trẻ thường xuyên. Câu nói: “Cha mẹ thực sự tự hào về con” là một câu nói có phép kỳ diệu.

Giúp con chế ngự tính khí thất thường của tuổi mới lớn. Một ông bố răn dạy con mình: “Con có thể tức giận với chính mình hoặc với em gái, nhưng con sẽ không bao giờ được phép đánh đập em hay bất kỳ ai khác. Riêng việc đấm đá thì không bao giờ. Bây giờ, hãy lui vào phòng của con và nhắc nhở bản thân mình rằng không bao giờ đánh đập em hoặc bất cứ ai khác”. Tính khí thất thường hay ngự trị trong trẻ, đặc biệt trong những đứa trẻ ở độ tuổi “khủng hoảng” (dậy thì) , nó “thúc ép” trẻ làm điều sai trái khiến chúng phải hối tiếc. Cha mẹ phải thường xuyên nhắc nhở con cái để chúng ý thức kiểm soát tính khí của mình.

  1. Giáo dục về đời sống tâm linh, điều không thể thiếu

Gia đình phải là cái nôi của tâm tình tôn giáo. Một lần khi còn bé, Gioan Bosco và anh trai cùng ngước nhìn bầu trời sao lấp lánh, thốt lên: “Mẹ ơi, đẹp quá!”. Mẹ Margherita nói: “Các con coi, trời chúng ta đẹp như thế, thì Thiên Chúa, Đấng tạo dựng nên còn đẹp đẽ hơn biết chừng nào”. Gia đình là cái nôi, nơi bắt nguồn đời sống tâm linh: Trẻ em khám phá ra Thiên Chúa nơi cha mẹ chúng vì “không ai thấy Thiên Chúa bao giờ” (Ga 6, 46). Nhờ vậy, chúng tìm ra ý nghĩa của các ngôn từ như: tiếp đón, trung thành, hy sinh,… Việc cầu nguyện cùng với cha mẹ là một trong những kinh nghiệm gây ấn tượng khó phai trong tâm trí trẻ. Cha mẹ hãy tìm cách giúp con nuôi dưỡng tương quan thân tình với Thiên Chúa. Cha mẹ cần tạo ra các nghi thức, chẳng hạn: đọc những đoạn Thánh Kinh và cầu nguyện với một ngọn nến thắp sáng; tổ chức cầu nguyện ngày mừng sinh nhật, bổn mạng, ngày giỗ, kỷ niệm ngày cưới và những ngày đặc biệt khác…

Cha mẹ cũng cần giáo dục về đau khổ, sự chết, và việc dọn mình chết lành cho con cái. Cha thánh Bosco luôn muốn thanh thiếu niên của ngài nghĩ về cái chết của chính mình để loại bỏ những gì gây lo lắng và sợ sệt. Trước hết và trên hết, là việc loại bỏ tội lỗi. Trẻ nhỏ thường có cảm giác về bản thân như siêu nhân, như “cái rốn của vũ trụ”. Nếu không được chuẩn bị kỹ lưỡng trước, chúng có thể bị chấn thương tâm lý khi tiếp xúc với thực tế phũ phàng. Bởi thế, hãy cho trẻ biết rằng: nỗi đau thương gắn liền với đời người như hình với bóng, đời người vắng bóng đau khổ cũng được hiểu là đời người vắng bóng niềm vui. Cha mẹ cũng cần học hỏi để biết cách trả lời cho những câu hỏi của trẻ em đặt ra về sự chết, tránh làm chúng khiếp sợ. Bởi lẽ, theo đức tin Công giáo, sự chết chỉ là cửa ngõ đi vào cuộc sống hạnh phúc vĩnh cửu mai sau. Cha mẹ cũng cần dạy con “Dọn mình chết lành”, bao gồm việc xưng tội và rước lễ vào đầu mỗi tháng như thể đó là lần cuối cùng trong đời. Nhờ đó trẻ sẽ sống có trách nhiệm hơn, yêu đời hơn. Cha mẹ cũng cần dạy con cầu nguyện cho người đã khuất. Hãy dạy trẻ em đọc câu: “Chúng con cậy vì danh Chúa nhân từ…”, “Giêsu – Maria – Giuse, con mến yêu, xin cứu rỗi các linh hồn”, khi gặp đám tang hay đi qua nghĩa địa. Việc dự lễ, xin lễ và rước lễ để cầu nguyện cho người quá cố cũng giúp cho họ rất nhiều, vừa xoa dịu được nỗi đau đớn và rút ngắn được thời gian phải họ phải chịu thanh luyện trong luyện ngục.

  1. Một số điều lưu ý cha mẹ khi sửa dạy con

Đừng để “mất bò mới lo làm chuồng”. Chị đầu bếp nói với Don Bosco: “Chúng con mua được một số táo tươi ngon dành cho bữa ăn trưa và bọn trẻ đã ăn cắp hết!”. Don Bosco nói với chị: “Điều sai trước hết không phải là do bọn trẻ, mà là do các con”. Sau đó, ngài nhờ người làm cái rào chắn gắn bên cửa sổ để không bao giờ tạo cơ hội phạm tội cho bọn trẻ. Đa số các tình huống được các học giả phân chia thành ba giai đoạn: giai đoạn trước khi xảy ra sự kiện, giai hành xử của con cái, giai đoạn xảy ra hậu quả. Thông thường, hầu hết các bậc cha mẹ ứng xử khi sự việc đã đến giai đoạn 3 mà ít lưu ý đến việc phòng ngừa từ giai đoạn đầu.

Đừng áp đặt nhưng hãy đối thoại. Người mẹ nói với con: “Công việc của mẹ quá nhiều làm sao mẹ còn thời gian để dọn dẹp căn phòng của con, ít ra con cũng phải dọn dẹp căn phòng của mình cho sạch sẽ vào những ngày con nghỉ học chứ?”. Cả hai mẹ con đã tìm ra một giải pháp mà không phải bực dọc ra lệnh, kèm với thái độ bất mãn phản ứng lại. Các cha mẹ thường sai lầm khi dùng quyền hành để áp đặt ý muốn của mình trên con cái. Khi bị áp đặt, chúng thường có những phản ứng: bất mãn, căm ghét, nổi loạn và bỏ nhà ra đi; hoặc khi chúng không nghe, cha mẹ sẽ phải tủi nhục và khổ tâm. Cha mẹ cần tìm cách khuyến khích con cái thi hành quyết định để tập cho chúng suy nghĩ và xử lý vấn đề thì tốt hơn là áp đặt quyền bính hay đe dọa, vì trẻ sẽ tự hào vui vẻ nghe theo bởi được coi là “bình đẳng”, là “người lớn”. Hình phạt và lời la mắng chỉ nên dùng ở mức tối thiểu.

Đừng lạm dụng hình phạt. Don Bosco khuyên rằng những nhà giáo dục đừng lạm dụng hình phạt, và đặc biệt, hãy tránh hạ nhục trẻ em. Một nhà giáo dục danh tiếng khác cũng nói: “Những trẻ em ở nhà bị đánh đòn, chúng thường hay đánh bạn ở trường và rồi chúng sẽ đánh vợ, đánh chồng nó sau này”. Khi sửa dạy trẻ, cha mẹ cần tránh hai thái độ sau: (1) Cho rằng các nết xấu của con cái là chuyện vặt vãnh; hoặc dễ dãi nhượng bộ, vô tình làm cho trẻ hiểu rằng: “À, cứ làm rùm beng lên rồi sẽ được điều mình muốn”. (2) Can thiệp cách tàn nhẫn, kèm theo lời lăng mạ và chửi bới. Tốt nhất, cha mẹ cần tỏ rõ thái độ không chấp nhận những hành vi xấu của trẻ nhưng cũng tỏ cho trẻ biết rằng cha mẹ luôn muốn điều tốt cho chúng. Bởi thế, chẳng có gì là mâu thuẫn khi một người cha ôm hôn con cái và nói rằng ông muốn điều tốt cho em sau khi đã khiển trách vì em đã cư xử không tốt.

Vài lưu ý khi sửa dạy trẻ: vì trẻ thường quên ngay lỗi lầm đã phạm nên phải sửa ngay lập tức; con cái bị trách mắng cách đúng đắn khi đó là lỗi của chúng chứ không do sự bực dọc hay mệt nhọc của cha mẹ; vì trẻ nhỏ rất nhạy cảm nên cần phải giơ cao đánh khẽ, sửa dạy với mức độ vừa phải.

  1. Cần đồng hành và quan tâm đến việc học hành của con cái

Phụ huynh quan tâm nhiều đến việc trường lớp, thì con cái sẽ học hành khá hơn. Theo một vài nghiên cứu, trẻ em có phụ huynh quan tâm đến những hoạt động ở trường lớp như: tham gia hội phụ huynh học sinh, hỏi con về trường lớp, các bạn bè của trẻ, giúp trẻ làm bài tập, thời khóa biểu, các môn học ở lớp, sách vở được giao cho đọc, sinh hoạt ngoại khóa… thì con cái sẽ đạt được kết quả học hành mỹ mãn hơn những trẻ mà phụ huynh chẳng màng ngó ngàng gì. Cha mẹ có bổn phận tìm ra những lý do để khen ngợi và khuyến khích con cái, những lý do thường có rất nhiều nơi trường lớp, và tuyệt đối nên tránh những lời sỉ vả và chế giễu. Ngoài ra, cha mẹ cần giúp con nhớ nguyên tắc: “Chưa học xong bài chưa đi ngủ, chưa làm bài đủ chưa đi chơi”.

Giúp trẻ phát triển óc sáng tạo. Khả năng sáng tạo cần cho cuộc sống rất nhiều máy móc ngày nay. Cha mẹ Việt Nam thường thích con trẻ vâng lời hơn là sáng tạo; thích trẻ làm theo sự chỉ dẫn của mình hơn là có ý tưởng riêng; thích áp đặt cách làm của mình hơn là để trẻ được tự do thể hiện ý tưởng. Lối giáo dục đó chỉ làm chúng ta càng ngày càng tụt hậu. Mỗi trẻ em đều tiềm ẩn năng lực sáng tạo, vấn đề là người lớn biết cách để khơi dậy nguồn sáng tạo hay là ngăn cản. Cha mẹ hãy trao ban cho trẻ quyền có một không gian riêng để: đọc sách báo, sắp xếp các bộ sưu tập, suy nghĩ. Hãy khuyến khích trẻ ham hiểu biết, đừng đưa ra những câu giải đáp quá đơn giản trước các câu hỏi liên tục của trẻ, và cố gắng đừng bực mình trước cái ước muốn khám phá không ngừng của chúng. Hãy nói cho trẻ về sự hùng vĩ của thiên nhiên, về sự tốt lành, công lý, thế giới mộng tưởng và những tư tưởng lớn.

Giúp con vượt qua lứa tuổi khủng hoảng. Khoảng từ mười hai đến mười lăm tuổi, trẻ em trải qua một giai đoạn bão táp. Tình bạn trong giai đoạn này rất là quan trọng. Ở trường trẻ khó dạy hơn, ở nhà thì dường như trở thành kẻ xa lạ. Trẻ thường nghe theo bạn bè hơn là cha mẹ, và có những biểu hiện “nổi loạn” như đi chơi về muộn, thích chưng diện hay sao nhãng việc học hành… Các nhà tâm lí cho rằng đó là những biểu hiện bình thường mà hầu hết ai cũng phải đối mặt. Và hơn lúc nào hết, đây là thời điểm mà các bậc cha mẹ cần bình tĩnh, bao dung, chia sẻ và lắng nghe để các em cảm nhận được sự quan tâm, từ đó chủ động gần gũi với cha mẹ thay vì tự cô lập bản thân. Cha mẹ phải đóng vai trò như người dẫn đường của con để tuổi dậy thì trôi qua nhẹ nhàng và an toàn.

Giúp con tránh những băng nhóm xấu. Một nhà phân tâm học đã nghiên cứu về nhiều băng nhóm trẻ gây nhiều tội ác và thấy rằng hầu hết các thành viên đều có một điểm chung: thuộc những đứa trẻ mồ côi, những gia đình rạn nứt đổ vỡ hoặc cha mẹ dửng dưng hoặc ít quan tâm đến việc dạy dỗ. Thời nào cũng có các băng nhóm thanh thiếu niên. Khoảng từ 8 tuổi, trẻ em đã có thể rủ nhau kéo bè, hợp thành băng nhóm với những tên gọi tùy hứng và thường xuyên tranh cãi, đánh lộn với các băng nhóm khác. Đây là một hình thức mô phỏng theo các hiệp hội của người lớn và nhiều khi để chống lại người lớn. Cha mẹ cần bảo vệ con cái, và khuyên răn chúng tránh những băng nhóm xấu.

Giúp con tránh khỏi những kẻ bắt nạt ở trường. Một phụ huynh ở Hà Nội chỉ biết con bị bắt nạt suốt một thời gian dài ở trường cho đến khi có người gọi điện thông báo. Nguy hơn, bố mẹ cô nữ sinh cấp III này lúc ấy mới biết con gái mình từng cố gắng tự tử nhiều lần bằng thuốc ngủ. Cô bé chỉ đồng ý kể lại sự việc khi đã trải qua rất nhiều lần tư vấn với chuyên gia tư vấn học đường. Đa phần các học sinh bị bắt nạt tại trường không dám kể lại mọi việc với cha mẹ, bởi vì sợ bị bạn trả thù, tẩy chay hoặc bản thân các em chưa tin tưởng vào bố mẹ, thầy cô có thể giúp đỡ mình vượt qua khó khăn. Cha mẹ có thể nhận biết những dấu hiệu trẻ đang bị bắt nạt tại trường như sau: có các vết bầm tím, biểu hiện mệt mỏi, đau đầu, khó ngủ, hay gặp ác mộng, quần áo nhem nhuốc, xộc xệch, sách vở bị mất hoặc phá hỏng, tính cách thay đổi biểu hiện ít nói hơn, lo lắng hơn, căng thẳng, hay cáu gắt. Nếu trẻ bị bắt nạt kéo dài, ở mức độ nghiêm trọng có thể còn biểu hiện triệu chứng tuyệt vọng, không dám đi học, sợ trường học, ám sợ xã hội, bị sang chấn hoặc có xu hướng tự tử. Khi nhận thấy bất cứ dấu hiệu cảnh báo nào cho thấy con có thể đang bị bắt nạt tại trường học, cha mẹ đừng bỏ qua và tặc lưỡi “Chuyện trẻ con ấy mà!”. Hoặc ngược lại, nhiều bậc cha mẹ không chỉ giận kẻ đã bắt nạt mà họ còn bực vì con mình không kể lại sự việc sớm hơn. Nhưng “tiên trách kỉ, hậu trách nhân”, cha mẹ hãy xem lại liệu mình đã đủ gần gũi với con cái chưa?

  1. Hãy để trẻ vui chơi trong thiên nhiên, một người mẹ tuyệt vời

Người Nhật để con trẻ tiếp xúc với môi trường thiên nhiên ngay từ nhỏ nhằm giúp tăng sức đề kháng và giúp con phát triển toàn diện. Bởi thế, khi trẻ mới 2 tháng tuổi đã được cha mẹ bế đi dạo để cảm nhận khí trời vào buổi sáng sớm. Trong chương trình học hằng ngày, hằng tuần của học sinh luôn có những buổi dạo chơi công viên, ra vườn, trồng cây, thu hoạch hay chỉ đơn giản là ngắm nhìn thời tiết, cảnh vật thay đổi. Một chìa khóa của trí thông minh mà nhiều bậc cha mẹ quên cung cấp cho con cái: đồng hành với con cái mình trong ngôi trường học của thiên nhiên. Khi cùng hòa mình vào thiên nhiên, trẻ dễ dàng có những câu chuyện tương tác với các bạn cùng lứa tuổi, từ đó khuyến khích sự phát triển về ngôn ngữ của trẻ. Cha Luigi Cocco, Dòng Salêdiêng, đã diễn tả như sau: “Thanh thiếu niên giống như những con chim sẻ: ở trong lồng chúng sẽ chết”.

Trò chơi có tầm quan trọng đặc biệt. Các nhà tâm lý cho biết: “khi còn trẻ, ai càng được chơi nhiều và chơi đúng đắn, thì sau này sẽ tỏ ra mình là người hơn”. Nhà văn Pháp Montaigne thì viết: “Trò chơi phải được coi là hoạt động hệ trọng nhất của tuổi thơ ấu”. Thời nay, trẻ em không còn chơi đùa nhiều: chúng ngồi xem tivi, điện thoại, những trò chơi điện tử, vốn dĩ chỉ đáp ứng một phần nho nhỏ nhu cầu của một trò chơi thật sự. Có lẽ bài học quan trọng nhất mà trẻ học được từ trò chơi: “Khi bị thua cuộc thì thế giới cũng không sụp đổ”, “thua keo này bày keo khác”. Ngoài ra, việc chạy nhảy, vận động ngoài trời giúp trẻ phát triển tối đa các kỹ năng vận động, giúp trẻ cứng cáp và dẻo dai hơn. Những cú ngã bất ngờ trong những lần chơi đùa sẽ giúp trẻ học cách tự đứng lên và làm chúng mạnh mẽ hơn.

  1. THAY LỜI KẾT

Người mẹ có tên là Nancy do nỗ lực của mình đã dạy dỗ, khích lệ cậu bé Thomas Edison học hành nên người và thành một thiên tài thực sự như bà tin tưởng. Đức Giáo hoàng Gioan XXIII đã từng viết thư cho cha mẹ: “Chúa đã thương ban cho con nhiều chức vụ trong Hội thánh, đi nhiều nơi, học nhiều sách, nhưng không trường nào dạy dỗ con, làm ích cho con hơn hồi con được ngồi bên chân cha mẹ”. Không ai có thể phủ nhận tầm quan trọng của việc giáo dục nơi gia đình.

Tuy thế, ngày nay, nhiều bậc cha mẹ quá thiên về kinh tế hơn việc quan tâm giáo dục con cái vì nghĩ rằng đời sống sung túc sẽ mua được hạnh phúc cho con cái. Ắt hẳn, sự lệch lạc trong định hướng giá trị của cha mẹ sẽ đẩy đưa con cái tới ngõ cụt của thất bại vì thiếu trưởng thành.

Bởi thế, việc giáo dục con cái trong gia đình phải luôn là ưu tiên hàng đầu và phải được thực hiện với sự cẩn trọng và lòng nhiệt tâm. Trong công cuộc giáo dục này, cha mẹ vừa là người thầy hướng dẫn, người bạn đồng hành, đồng thời cũng là “một tấm gương soi” cho con cái. Cho nên, các bậc cha mẹ cũng phải luôn tự giáo dục mình, uốn nắn bản thân mỗi ngày để trở nên tốt hơn. Chúng tôi xin mượn một trích đoạn trong bài suy niệm của Linh mục Mi Trầm để thay cho lời kết: “Cây tốt sinh trái tốt, xem quả biết cây”. “Cha mẹ kiêu căng, thích nổ, hay khoe khoang, làm sao dạy được con sống khiêm tốn? Cha mẹ sống coi thường mọi người làm sao dạy con biết tôn trọng ai? Cha mẹ sống tham lam ích kỷ làm sao dạy con sống rộng rãi quảng đại yêu thương giúp đỡ mọi người? Cha mẹ sống dâm dục buông thả theo xác thịt, ngoại tình làm sao dạy con cái sống tiết độ chung thủy? Cha mẹ sống dối gian lừa lọc làm sao dạy con sống trung thực? Cha mẹ sống ăn miếng trả miếng hơn thua với mọi người làm sao dạy con sống nhẫn nhịn, bao dung? Cha mẹ bất hiếu không chăm sóc phụ mẫu mình làm sao dạy con sống có hiếu với mình? Cha mẹ lười biếng không siêng năng việc đạo nghĩa làm sao dạy con biết siêng năng thờ phượng Chúa? Cha mẹ sống vô cảm không biết yêu thương làm sao dạy con biết sống yêu thương?”

Ước gì các bậc cha mẹ luôn biết để tâm dạy dỗ con cái, và đặc biệt biết dạy con bằng đời sống đạo đức và gương sáng của mình để có những “hoa trái tốt lành” cho xã hội và Giáo hội.

SÁCH THAM KHẢO CHÍNH

  • Bộ Giáo Dục Công Giáo,Những định hướng cho việc giáo dục về tình yêu nhân bản – Đề cương cho việc giáo dục giới tính, 01/11/1983.
  • Bruno Ferrero, SDB,Cha mẹ hạnh phúc với phương pháp giáo dục của Don Bosco, Lm. Giuse Đinh Quang Vinh chuyển ngữ, NXB Hồng Đức – 2016.
  • Carlo Ambrôgiô,SDB.,Giáo dục theo gương Don Bosco,NXB Phương Đông, TP.HCM – 2015.
  • Công Đồng Vaticanô II, Hiến chế mục vụGaudium et Spes (GS) – Về Giáo Hội trong Thế Giới Ngày Nay, 21/11/1964.
  • Công Đồng Vaticanô II, Tuyên ngônGravissimum Educationis – Về Giáo dục Kitô Giáo, 28/10/1965.
  • Gioan Phaolô II, Tông huấnFamiliaris Consortio (FC)- Về những bổn phận của gia đình Kitô hữu, 22/11/1981, bản dịch của linh mục Augustinô Nguyễn Văn Dụ, Rôma – 2001.
  • Gioan Phaolô II, Lá thư gửi các gia đìnhGratissimam Sane – Lời chào thăm hết sức ưu ái, 02/02/1994.
  • Hội Đồng Giám Mục Việt Nam – Ủy Ban Giáo Lý Đức Tin,Catechismus Catholicae Ecclesiae – Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo (SGLC), Nhà xuất bản Tôn Giáo, Hà Nội – 2011.
  • Hội Đồng Giám Mục Việt Nam – Ủy Ban Giáo Lý Đức Tin,Công Đồng Vaticanô II, Nhà xuất bản Tôn Giáo, Hà Nội – 2012.
  • Hội Đồng Giám Mục Việt Nam – Ủy Ban Giáo Lý Đức Tin,Từ điển Công giáo,Nhà xuất bản Tôn Giáo, Hà Nội – 2016.
  • Hội Đồng Tòa Thánh về Gia Đình,Enchiridion della Famiglia (EDF), Documenti Magisteriali e Pastorali su Familia e Vita 1965-2004 – Tuyển tập về Gia đình, Các tài liệu Huấn quyền và Mục vụ liên quan đến Gia đình và sự sống, Edizioni Dehoniane Bologna, Bologna 2004.
  • Hội Đồng Tòa Thánh về Gia Đình,Sự thật và ý nghĩa về tính dục con người, những định hướng để giáo dục trong gia đình, bản dịch của UBMVGĐ/HĐGMVN, Nhà xuất bản Tôn Giáo, Hà Nội – 2018.
  • Jean-Louis Bruguès, O.P.,Từ điển Luân lý Công giáo, C.L.D.
  • Nguyễn Thị Oanh,Gia đình Việt Nam thời mở cửa, Tp. HCM: Trẻ, 1998.
  • Phanxicô, Tông huấnAmoris Laetitia – Niềm vui của Tình yêu, 19/03/2016, bản dịch của Văn phòng HĐGMVN,Nhà xuất bản Tôn Giáo, Tp. HCM – 2016.
  • Vũ Hòa Đức,“Giáo dục trẻ em.” Tài liệu mục vụ, Văn phòng Nghĩa binh Vĩnh Long, 1963.

Soạn xong ngày 31/01/2018, lễ thánh Gioan Boscô.
Trích Tập san Hiệp Thông / HĐGM VN, Số 105 (tháng 3 & 4 năm 2018)

[1] Xem từ “profession” trên trang https://en.wikipedia.org/wiki/Profession

[2] Jean-Louis Bruguès, mục “Tương đối”.

[3] Từ điển Công Giáo, mục “Giáo dục”, tr. 336.

[4] Nguyên văn tiếng Ý Tông Huấn Amoris Laetitia số 16 viết: “La famiglia è il luogo dove i genitori diventano i primi maestri della fede per i loro figli. È un compito “artigianale”, da persona a persona”. Danh từ compito = phần việc, nhiệm vụ, phận sự, bổn phận. Tính từ artigianale = thủ công, truyền thống, theo truyền thống, gia truyền.

[5] Evangelium vitae số 92

[6] x. FC 38

[7] Gratissimam sane, số 6.

[8] FC 50 – 52; 39.

[9] FC 60.

[10] AL 43.

[11] AL 16.

[12] AL số 287

[13] 2 x. AL các số 11, 77, 287, 288, 289, 290.

[14] AL 192.

[15] x. AL các số 287, 288, 107, 318, 321, 323.

[16] FC 81.

[17] Hội Đồng Tòa Thánh về Gia Đình, Toàn cầu hóa, kinh tế và gia đình, cfr. EDF, n. 3178, p. 1172.

[18] SGLC số 1784.

[19] Hội Đồng Tòa Thánh về Gia Đình, “Gia đình và các quyền con người” n. 16, in EDF, n. 3450, p. 1317.

[20] FC 18.

[21] Gratissimam sane, số 7

[22] FC 36.

[23] Sự thật và ý nghĩa về tính dục con người, các số 37-40, 29-30.

[24] X. AL các số 259, 50, 136.

[25] AL số 263.

[26] AL số 276.

[27] AL 262.

[28] AL 265, x. SGLC 1806.

[29] AL 268.

[30] x. AL 280 – 286.

[31] AL 206.

[32] Sự thật và ý nghĩa về tính dục con người, số 73.

[33] AL 281-182.

[34] AL 261.

[35] x. GS 17; AL 267, 266.

[36] x. AL các số 104, 269, 270.

[37] x. AL các số 269, 270.

[38] AL số 98.

[39] x. AL các số 275, 92, 277, 148.

[40] x. AL các số 99, 100, 323.

[41] Ba từ tiếng Anh: Please = làm ơn; thank you = cảm ơn; sorry = xin lỗi; May I? = Tôi có thể?     

[42] x. AL số 133.

 

 

Lm. Giuse Đinh Quang Vinh và
Tu sĩ Carôlô Nguyễn Đình Thiện, OP.

Read More
11Tháng Bảy
2020

Tóm Lược Đạo Công Giáo

11/07/2020
Anmai
Giáo dục, Tài liệu giáo dục
0

Tóm Lược Đạo Công Giáo

TÓM LƯỢC VỀ ĐẠO CÔNG GIÁO (Dựa theo lối trình bày mới nhất của Sách Giáo lý Công giáo và Sách Youcat để thắp sáng đức tin ) Linh mục Antôn Nguyễn Mạnh Đồng

A – CHỦ ĐÍCH KHI VIẾT BÀI TÓM LƯỢC VỀ ĐẠO CÔNG GIÁO

  1. CƠ HỘI.

Dịp trước tết, sau tuần tĩnh tâm năm 2014, cha phụ trách trong Ban Mục vụ giáo phận đến nhờ tôi viết cho “ba bài ngắn gọn cụ thể” về:

1 – Giáo lý Công giáo: 4 diều (Giữ Xin Tin Chịu).

2 – Hôn nhân Công giáo: 4 câu hỏi.

3 – Gia đình Công giáo: 4 đề tài.

để in vào Phần Phụ lục cuốn Sổ Gia đình Công giáo sắp được ban hành trong giáo phận, trong Năm về Gia đình. Tôi đề nghị cho tôi viết: một Bài Tóm lược về Đạo Công giáo, dựa theo Sách Giáo lý giáo hội Công giáo (1992) và sách Giáo lý cho người trẻ Youcat (2011), một bài Tóm lược về Hôn nhân và Gia đình dựa theo Tông huấn về gia đình (1981) là tài liệu độc nhất từ xưa tới nay của giáo hội về Hôn nhân và Gia đình,Tông huấn luôn liên kết hôn nhân đi đôi với gia đình. Hẹn đầu tháng 3 sẽ hoàn thành. Mồng 5 tháng 3, tôi đưa bài nhờ Cha sở An Thạnh đánh vào vi tính gửi cho cha phụ trách, và nhờ cha nói thêm là Bài Tóm lược về Đạo Công giáo tôi soạn rất công phu, nhằm giới thiệu ngắn gọn, cụ thể những gì cốt lõi và độc đáo nhất của đạo, vừa cần thiết, vừa hữu ích cho mọi người trong việc Tân Phúc âm hóa mà cả giáo hội đang quan tâm. Tôi cũng đề nghị nếu có thể phổ biến rộng rãi trong dịp lễ giỗ cha Phanxicô Diệp cho nhiều người cả lương lẫn giáo biết rõ đạo công giáo là gì. Khi quí cha trong ban họp, cha sở có nhắc đến  ước mong và đề nghị của tôi, nhưng không ai có ý kiến gì. Đang khi đó, tôi có gửi email bài đó cho Đức cha Phanxicô Sang, giám mục Thái bình đã về hưu. Ba hôm sau, đức cha hồi âm: “đã nhận được Bài Tóm lược về Đạo Công giáo, bài hay và dễ hiểu, sẽ lấy in thành tập nhỏ phát cho mọi người lương giáo. Tôi cũng gởi bài đó cho một cha giáo ở Cần Thơ, và nhận được hồi âm: “con đang tìm giờ để đọc thật kỹ bài này vì con thoáng thấy bài này đem lại nhiều lợi ích cho công việc truyền giáo, huấn giáo, mục vụ của chúng con. Rõ được các chính phụ trong việc Tân Phúc âm hóa.”

Thế rồi bất ngờ, 4 giờ chiều ngày 11-3 cha phụ trách đến gặp tôi cho biết: quí cha trong ban nhờ ngài nói với tôi là muốn phổ biến Bài Tóm lược rộng rãi cho nhiều người. Tôi sửng sốt và nghĩ ngay  đến ngày mai là lễ giỗ cha Phanxicô Diệp và trưa mai thì bế mạc, thế là không kịp phổ biến trong dịp tập họp rất đông người lương giáo rồi. Tôi trả lời cha là tôi rất vui mừng vì chỉ mong được nhiều người hiểu biết đạo công giáo là gì. Nhưng muộn còn hơn không. Mặc dầu tôi chưa phổ biến bài, nhưng một vài người đã thoáng thấy có cái gì hay và ích lợi, vì thế tôi muốn trình bày rõ ràng đầy đủ hơn chủ đích của tôi khi viết bài tóm lược như vậy.

II. CHỦ ĐÍCH KHI TÓM LƯỢC VỀ ĐẠO CÔNG GIÁO.

Tôi biết rõ tóm lược Đạo Công giáo không phải chuyện dễ, vì liên quan đến Thiên Chúa, vũ trụ, con người, đến lịch sử quá khứ, hiện tại, tương lai, đến đời này và cả đời sau…do đó cần xác định trong giới hạn mình có thể, nên tôi chọn bốn chủ đích:

1/- Nêu bật Đức Giêsu Kitô là trung tâm của đạo. Tôi đã nói với cha phụ trách là soạn bài tóm lược dựa vào 2 sách giáo lý hiện đại nhất của giáo hội. Sách giáo lý giáo hội công giáo thì nêu bật ngay từ đầu, trong Tông hiến giới thiệu sách, là: đặt Đức Giêsu Kitô ở vị trí trung tâm của giáo lý công giáo. Rồi trong suốt bốn phần của sách, Đức Giêsu luôn nắm vai trò chủ chốt, trong vấn đề đức tin, trong việc cử hành các bí tích đức tin, trong đời sống theo đức tin, và cầu nguyện theo đức tin. Còn sách giáo lý cho người trẻ cũng vậy, trong 527 câu chủ đề thì có 217 câu nói trực tiếp đến Đức Giêsu Kitô. Đức Giêsu Kitô là trung tâm của chương trình cứu rỗi, vì Người là Đấng mặc khải Phúc âm cứu rỗi, là Đấng thực hiện việc cứu chuộc, là Đấng thiết lập giáo hội để quy tụ và phục hồi mọi người trong Nước của Thiên Chúa.

2/- Chọn cụm từ Phúc âm hóa để trình bày cuộc cứu chuộc của Đức Giêsu Kitô. Dịp tháng 10 năm 2013 tôi đã gửi lên mạng Cần Thơ bài “Tìm hiểu tại saoTân Phúc âm hóa” trong đó có bàn về cụm từ Tân Phúc âm hóa. Cụm từ này mới được dùng trong giáo hội vào thế kỷ XX, còn trong các thế kỷ trước không dùng, nhưng cụm này lại có ý nghĩa rất phong phú, sâu sắc, ngắn gọn, không những để chỉ việc loan báo truyền dạy Phúc âm, việc huấn luyện cho có đức tin, mà còn hàm chứa cả việc biến đổi và phục hồi con người từ bên trong, để trở nên mới, nghĩa là từ tình trạng con người không biết không vâng phục Thiên Chúa trở về tình trạng làm con cái Thiên Chúa. Và cả hai sách giáo lý của giáo hội cũng đã trình bày trong câu số 1 của sách, đó là để con người nhận biết, yêu mến vâng phúc Thiên Chúa, làm việc lành theo ý Thiên Chúa để được thông phần hạnh phúc với Thiên Chúa. Do đó mà cụm từ Phúc âm hóa được áp dụng cho toàn bộ cuộc cứu chuộc của Đức Giêsu Kitô từ khi xuống thế làm người, qua thời gian giáo hội nối tiếp công cuộc của Người cho tới khi Người lại đến vào ngày tận thế.

3/- Nhắc nhớ tới đầy đủ các nhân tố và hoạt động cốt yếu trong cuộc Phúc âm hóa. Tất cả các nhân tố và hoạt động trong cuộc Phúc âm hóa, liên hệ đến đạo công giáo đều được nhắc tới: Từ Chúa Cha, Chúa Giêsu Kitô, Chúa Thánh Thần, Đức Maria Mẹ Thiên Chúa, các thánh Tông Đồ, các giáo phụ, các giáo sĩ tu sĩ giáo dân; đến Kinh Thánh Cựu ước và Tân ước; đến giáo hội và các hoạt động loan báo Phúc âm (truyền giáo), huấn luyện đức tin (huấn giáo), hướng dẫn sống đức tin (mục vụ), cùng với các tài liệu là sách giáo lý công giáo cho người lớn và cho người trẻ. Nhắc tới để có thể thấy nhân tố và hoạt động nào là chính là phụ, và có quan hệ mật thiết với nhau như thế nào trong đạo công giáo,đồng thời biết cái gì là cốt lõi nhất phải luôn đề cao.

4/- Nêu bật đạo công giáo là đạo vì hạnh phúc con người. Chủ đích thứ nhất đã nêu bật Đức Giêsu Kitô là trung tâm của đạo công giáo, vì Người là Thiên Chúa đã vì loài người chúng ta và để cứu rỗi chúng ta người đã từ trời xuống thế. Chủ đích thứ hai đề cao vai trò của Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa xuống thế để mặc khải Phúc âm cho con người. Phúc Âm này chính là chương trình yêu thương của Thiên Chúa đã tạo dựng vũ trụ và sáng tạo con người giống hình ảnh người để con người hưởng hạnh phúc với Thiên Chúa; để thực hiện việc cứu chuộc con người sau khi con người không vâng phục Thiên Chúa; để quy tụ con người trong giáo hội của Người và giúp họ được Phúc âm hóa.

Đạo công giáo muốn Phúc âm hóa con người bằng cách:

– Giúp con người biến đổi và phục hồi con người một cách cụ thể thiết thực, từ tình trạng không biết và không vâng phục Thiên Chúa, sống với nhau theo luật rừng, gây chết chóc khổ đau; sang tình trạng lại được làm con cái Thiên Chúa, tôn thờ Thiên Chúa như cha, trở thành anh chị với nhau con một cha, cùng chung hưởng hạnh phúc với nhau.

– Giúp con người noi gương Đức Giêsu Kitô sống yêu thương hiền hòa, công bình, phục vụ chia sẻ cho nhau.

Nhờ thế con người dẹp bỏ được thói quen cổ hủ chỉ biết đạo cách thuộc lòng, quen làm mấy việc bề ngoài, như “giữ xin tin chịu”, mà đời sống trong gia đình và xã hội thì không khác gì nhiều người không đạo, chưa chấm dứt lối sống cờ bạc, rượu chè, thụ động vô cảm, thờ hai ba chủ, sống nước đôi hai mặt… chưa loại trừ được những thành kiến cho rằng theo đạo là bỏ ông bà tổ tiên, là theo đạo ngoại lai bên tây phương, là mê tín dị đoan, đạo đức giả…

Ngày nay toàn giáo hội đang quan tâm để Tân Phúc âm hóa mọi người, nếu Phúc âm hóa mà không đổi mới hay không phục hồi gì cho đúng Phúc âm để đem lại hạnh phúc, lại xa rời Phúc âm và xa rời lối sống của Đức Giêsu Kitô, thì có nguy cơ đi vào vết xe cũ của thời xưa, chắc chắn sẽ thất bại như lịch sử giáo hội đã minh chứng.

  1. TÓM LƯỢC VỀ  ĐẠO CÔNG GIÁO

(Dựa theo lối trình bày mới nhất của Sách Giáo lý Công giáo

và Sách Youcat để thắp sáng đức tin )

* * *

  1. Đạo Công giáo là gì?

    Đạo Công giáo là tổ chức tôn giáo đem tin vui hay Phúc âm của Đức Giêsu Kitô cho mọi người, để biến đổi mọi người theo Phúc âm của Đức Giêsu Kitô nghĩa là để Phúc âm hóa mọi người.

Phúc âm này cho biết rằng: Thiên Chúa vì yêu thương đã sáng tạo vũ trụ vạn vật và con người, để chia sẻ hạnh phúc cho họ. Nhưng con người nghe theo qủi dữ cám dỗ, không muốn vâng phục Thiên Chúa rồi sa ngã trong tội lỗi, phải đau khổ và chết. Tuy nhiên Thiên Chúa vẫn  yêu thương đã cử Đức Giêsu Kitô là Con Thiên Chúa đến trần gian, không những báo tin vui cho mọi người biết dù loài người đã không vâng phục Thiên Chúa, Thiên Chúa muốn cứu họ; mà còn đích thân thực hiện việc cứu chuộc loài người khỏi tội lỗi, khỏi chết; đồng thời Đức Giêsu Kitô còn thiết lập Giáo hội Công giáo để sau khi Người hoàn tất việc cứu chuộc rồi về trời, Giáo Hội Công Giáo nối tiếp công việc của Người ở trần gian, loan báo Phúc âm của Người cho mọi người, quy tụ họ vào Giáo hội để họ lại có thể chia sẻ hạnh phúc với Thiên Chúa.

Thời gian đầu, những người theo Đức Kitô thường được gọi là Kitô hữu. (xem Cv11,26). Đầu thế kỷ II đạo của Đức Kitô được gọi là Kitô giáo.Về sau để phân biệt với các đạo khác như Phật giáo, Ấn Độ giáo, Hồi giáo… người ta quen gọi là đạo Công giáo.

Tất cả những công việc vừa tóm tắt trên, như:

– Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ và con người, chọn các tổ phụ, các tiên tri và chọn dân riêng của Thiên Chúa, được ghi chép cẩn thận trong các sách Cựu Ước (46 sách).

– Thiên Chúa cử Đức Giêsu Kitô xuống thế làm người, loan báo Phúc âm và thực hiện việc Phúc âm hóa, được ghi chép trong sách Tân Ước (27 sách).

Đạo Công giáo múc lấy đạo lý, sức sống và sức mạnh của mình từ Thiên Chúa, từ Sách Thánh (Cựu ước và Tân ước) và từ Thánh Truyền (là những thói quen trong lối sống nếp nghĩ của dân được truyền lại).

II. Đức Giêsu Kitô có vai trò nào trong Đạo Công giáo?

Đức Giêsu Kitô có vai trò trung tâm và quan trọng tuyệt đối trong (Đạo Công giáo), như Thánh Phêrô có nói: “Dưới gầm trời này không có một danh nào khác đã được ban cho loài người, để chúng ta phải nhờ vào danh đó mà được cứu rỗi” (Cv 4,12). Đức Giêsu Kitô có vai trò tuyệt đối, bởi vì:

– Thứ nhất Đức Giêsu Kitô là “Con Một Thiên Chúa” (Ga 3,16). Con Một của Thiên Chúa nghĩa là chỉ một mình Đức Giêsu Kitô đích thực là Con trên hết mọi người là con. Vì loài người chúng ta và để cứu rỗi chúng ta, Người đã từ trời xuống thế, sinh sống ở đất Do Thái. Đồng thời Đức Giêsu Kitô cũng là Thiên Chúa thật như Người đã mặc khải cho biết: Người với Chúa Cha là một (Ga 10, 30), nghĩa là Người cũng là Thiên Chúa. Do đó Đức Giêsu Kitô vừa là Thiên Chúa vừa là người. Đây thật là một mầu nhiệm. Mầu nhiệm này làm cho Đạo Công giáo thật sự là đạo xuất phát từ trời, từ Thiên Chúa là Đấng làm chủ trời đất.

– Thứ hai, Đức Giêsu Kitô là Con một Thiên Chúa và cũng là Thiên Chúa, đã xuống thế làm người để cứu chuộc, nên Người có ba nhiệm vụ cốt yếu đối với loài người là: mặc khải, cứu chuộc, qui tụ và phục hồi (SGLGHCG số 516, 517, 518).

+ Mặc khải. Chính Đức Giêsu Kitô là Đấng duy nhất mặc khải về Thiên Chúa là tình yêu và về chương trình cứu rỗi loài người: “ Không ai biết rõ Chúa Cha trừ người Con và kẻ mà người Con muốn mặc khải cho”(Mt 11, 27). Đức Giêsu Kitô biết rõ Thiên Chúa cũng như biết rõ con người, biết rõ ngôn ngữ hình ảnh nào diễn tả Thiên Chúa đúng nhất và dễ hiểu nhất cho con người để mặc khải. Người không chỉ dùng lời nói mà còn dùng toàn bộ đời sống Người, từ giáng sinh, sống âm thầm ở Nadarét, đi giảng dạy Phúc Âm, cho đến việc chết trên thập giá, sống lại,về trời, tất cả đều góp phần làm cho việc mặc khải của Người về Thiên Chúa và về con người được đầy đủ, trọn vẹn.

+ C ứu chuộc. Không những mặc khải, Đức Giêsu Kitô còn đích thân thực hiện chương trình cứu rỗi và cứu chuộc loài người, nghĩa là Phúc Âm Hóa họ, biến đổi họ từ thù nghịch với Thiên Chúa trở thành con cái nghĩa thiết với Thiên Chúa. Để chuộc lại tội không vâng phục Thiên Chúa, Người đã dâng cả cuộc đời để vâng phục thánh ý Thiên Chúa (Dt 10, 7).  Ngay từ 12 tuổi Người đã lo sống hiếu thảo với Cha trên trời (Lc 2, 49), ở Nadarét Người vâng phục cha mẹ là thánh Giuse và Đức Maria (Lc 2, 51). Người cùng với dân tộc Người tuân giữ việc thờ phượng, cảm tạ, cầu nguyện Thiên Chúa. Khi đi giảng đạo, Nguời tìm gặp gỡ mọi người, kêu gọi họ từ bỏ tội lỗi; dạy cho họ Tám mối Phúc để biết sống khó nghèo, yêu thương, công bằng, khiết tịnh, tha thứ; Người chữa bệnh, trừ quỉ, giúp con người thoát khổ; và để tỏ tình yêu thương đến cùng, Người vui lòng chết trên thập giá như một hiến tế chuộc tội cho mọi người, hòa giải con người với Thiên Chúa để họ lại có thể hưởng hạnh phúc vĩnh hằng với Thiên Chúa.

+ Qui tụ và phục hồi – Trong khi loan báo Phúc Âm để mặc khải cho mọi người biết chương trình cứu rỗi của Thiên Chúa, cũng như trong khi thực hiện việc cứu chuộc bằng cuộc sống vâng phục đến chết trên thập giá, Đức Giêsu Kitô đã biến đổi và phục hồi được một số đông người Do thái tin theo Người, và qui tụ họ thành nhóm 12 tông đồ để làm nền móng cho Giáo Hội Công giáo. Người cũng đã thiết lập Bí tích Thánh Thể và Bí tích Truyền chức thánh để ban ơn thiêng cho Giáo hội đủ khả năng nối tiếp công việc của Người. Trước khi về trời, Đức Giêsu Kitô đã sai giáo hội đi khắp trần gian “làm cho mọi dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Người đã truyền. Và Người hứa ở cùng giáo hội mọi ngày cho đến tận thế”(Mt. 28, 19-20). Sau khi về trời, Đức Giêsu Kitô đã cử Thánh Thần đến giúp Giáo hội.

Như vậy Đức Giêsu Kitô có vai trò độc đáo duy nhất trong đạo của Người, Người vừa là Thiên Chúa, vừa là Con một Thiên Chúa xuống thế làm người. Nói theo kiểu mới bây giờ, Người vừa là Đấng loan báo Phúc Âm, vừa là Đấng sống Phúc Âm một cách toàn hảo, vừa Phúc Âm Hóa mọi người, để biến đổi họ từ thù nghịch với Thiên Chúa trở thành bạn hữu của Thiên Chúa, qui tụ họ trong giáo hội của Người để hưởng hạnh phúc trong Nước Thiên Chúa. Việc Phúc Âm Hóa của Người là nền tảng mẫu mực cho việc Phúc Âm Hóa của giáo hội ở mọi thời mọi nơi. Người đã Phúc Âm Hóa vừa bằng lời nói vừa bằng cả đời sống luôn gắn bó nghĩa thiết với Thiên Chúa và hòa nhập với mọi người, nổi bật là đời sống cầu nguyện, hiền lành, nghèo khó, khiêm nhường, phục vụ. Việc Phúc Âm Hóa và cách Phúc Âm Hóa của Người đã được ghi chép trong bốn sách Phúc Âm.

III. Giáo hội Công giáo thi hành sứ vụ Phúc Âm Hóa :

Đức Giêsu Kitô khi ở trần gian đã Phúc Âm Hóa trong 33 năm trên đất Do Thái, đã biến đổi Giêrusalem thành trung tâm của giáo hội Người. Sau lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống, nhờ năng động của Phúc Âm là sức mạnh sống động do Đức Giêsu Kitô liên hợp với Chúa Thánh Thần, giống như ánh sáng và muối men có khả năng làm biến đổi , nhân văn hóa và siêu nhiên hóa cả cá nhân cũng như xã hội, các tông đồ và môn đệ của Đức Giêsu Kitô đã tiếp tục Phúc Âm Hóa trong đất Do Thái rồi mở rộng khắp đế quốc Rôma, trong thế  kỷ I.

Từ thế kỷ II, giáo hội Phúc Âm Hóa trong suốt hơn 20 thế kỷ trên khắp thế giới cho đến nay. Giáo hội theo truyền thống các tông đồ đã tiếp tục Phúc Âm Hóa, được “Sách Chỉ dẫn tổng quát về Huấn giáo”(1997) tóm lược trong ba hoạt động chính : truyền giáo, huấn  giáo và mục vụ.

– Truyền giáo là loan báo Phúc âm lần đầu cho những người chưa biết Đức Chúa Giêsu (quen gọi là kerygma) gồm 4 điểm: Đức Giêsu Kitô bị giết chết, Thiên Chúa phục sinh Người, Người tha tội cho mọi người, chúng tôi làm chứng về các điều trên. Đây chính là tóm lược trung tâm của mầu nhiệm Kitô giáo mà Giáo Hội loan báo cho người Do thái (xem Cv3, 12 – 26) còn cho người ngoài Do thái giáo thì nhấn mạnh đến Thiên Chúa sáng tạo và làm chủ lịch sử (xem Cv 17, 24 – 31).

– Huấn giáo là truyền đạt cho người đã tin toàn bộ Giáo lý Công giáo, giúp họ hiểu biết gặp gỡ Đức Giêsu Kitô. Từ mầu nhiệm Kitô giáo, giáo hội khai triển thành bốn thái độ và bốn nhiệm vụ của Kitô hữu là: tuyên xưng đức tin, cử hành bí tích  đức tin, sống theo đức tin trong Đức Giêsu Kitô và cầu nguyện theo Đức Giêsu Kitô. Đây là bốn cột trụ của Sách Giáo lý Công giáo, có tương quan rất chặt chẽ, để giúp Kitô hữu / Phúc âm hóa chính mình và Phúc âm hóa mọi người.

– Mục vụ là tổ chức giúp Kitô hữu sống đúng căn tính của mình, đó là sống hiệp thông với Đức Giêsu Kitô, sống như con cái Thiên Chúa Ba Ngôi, phục hồi lại địa vị con người đã đánh mất vì tội lỗi, qua việc thường xuyên giáo dục đức tin (lớp giáo lý, giảng trong lễ, sinh hoạt…), qua việc cử hành các bí tích, qua việc sống theo đức tin và các Điều răn của Thiên Chúa hay của giáo hội, trong gia đình cũng như trong xã hội. Tất cả để Kitô hữu sống Phúc âm như Đức Giêsu Kitô là người mẫu sống Phúc âm, và cũng là người mẫu trong việc Phúc âm hóa.

Theo lịch sử giáo hội, các hoạt động Phúc âm hóa có khi gặp hoàn cảnh thuận lợi đã phát triển rất mạnh như thời các  tông đồ và các giáo phụ, giáo hội phát triển thành thế giới Kitô giáo (thời Trung cổ); có khi khó khăn do phong trào tục hóa, do lối  sống giáo sĩ trị, việc Phúc âm hóa sa lầy, khiến nhiều Kitô hữu bỏ giáo hội. Giáo hội phải họp Công đồng Trentô (1545) để cải tổ, nhờ đó mới có Sách giáo lý Rôma lần đầu tiên để sử dụng (1566). Nhưng sau hơn 400 năm, hoàn cảnh giáo hội và thế giới lại đổi thay, phong trào tục hóa, duy vật vô thần, chống đối giáo hội phát triển, giáo hội không theo kịp đà tiến của xã hội, Kitô hữu lại bỏ giáo hội nhiều hơn, nên giáo hội phải họp Công đồng Vatican II để cập nhật hóa với thế giới (1963-1965), soạn Sách Giáo lý Công giáo theo Vatican II (1992) và Sách Giáo lý cho người trẻ (Youcat 2011), nhất là ngày nay đang tập trung lo Tân Phúc Âm hóa để thông truyền đức tin Kitô, giúp mọi người được Phúc âm hóa đúng nghĩa nhất.

Tóm lại, giáo hội đã đón nhận năng động của Đức Giêsu và Chúa Thánh thần để tiếp tục cuộc Phúc âm hóa của Đức Giêsu Kitô và các tông đồ qua việc tổ chức ba hoạt động là truyền giáo, huấn giáo, mục vụ. Đặc biệt là đã soạn sách giáo lý Rôma, sách giáo lý công giáo theo Vatican II, sách giáo lý cho người trẻ (Youcat) để làm tài liệu cần thiết và hữu hiệu nhằm phục vụ việc Phúc âm hóa.

IV. Giáo Hội Công Giáo khi thi hành sứ vụ Phúc âm hóa đã nhắm tới điều gì cốt lõi nhất ?

Để trả lời cho đúng , phải trở về nguồn là Phúc âm mà Đức Giêsu Kitô và các tông đồ của Người đã loan báo. Phúc âm cho biết Thiên Chúa muốn cứu rỗi, cứu chuộc loài người, nghĩa là muốn Phúc âm hóa, muốn biến đổi phục hồi con người từ tình trạng tội lỗi không biết Thiên Chúa, trở về tình trạng như Thiên Chúa đã sáng tạo ban đầu, đó là con người nhận biết và yêu mến vâng phục Thiên Chúa  để làm việc lành theo ý Thiên Chúa, và để thông phần sự sống hạnh phúc với Người (số 1 của Sách Giáo lý công giáo cũng như Sách Youcat). Loan báo truyền giảng Phúc âm là để mọi người nghe và tin. Ta cần hiểu tin cho chính xác và đầy đủ. Tin không phải chỉ là chấp nhận cho là đúng là thật là đáng hy vọng mà thôi. Kitô hữu tin Phúc âm, tin Đức Giêsu Kitô không phải chỉ là chấp nhận là đúng và thuộc lòng những điều phải tin trong Kinh Tin Kính, không phải là giữ một số thói quen làm dấu thánh giá, đọc kinh xem lễ, chịu một số bí tích, thực hành các Điều răn… Ngoài ra vẫn sống theo thói thường của người đời, ham hưởng thụ, ham giàu sang, nhậu nhẹt, bất công, gian dối, thờ hai ba chủ, sống nước đôi hai mặt…Đối với Kitô hữu, tin hay đúng hơn đức tin phải là ơn Thiên Chúa ban, là sức mạnh thiêng liêng Thiên Chúa soi sáng giúp ta hiểu biết, chọn lựa đi vào mối tương quan mật thiết và tình nghĩa với Đức Giêsu Kitô, đón nhận tất cả những gì Người mặc khải, sống theo Lời Người dạy, sống như Đức Giêsu Kitô sống trong mình (Gl 2,20), sống luôn hiệp thông với Chúa Cha, hiệp thông trong tâm tình cũng như trong hành động, sống thánh thiện như Đức Giêsu Kitô, gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.

Như vậy khi giáo hội Phúc âm hóa, giáo hội nhằm biến đổi và phục hồi con người thành một Kitô hữu là bạn thân tình của Đức Giêsu Kitô, luôn sống hiệp thông với Đức Giêsu Kitô trong suốt cuộc đời mình, trong khi sốt sắng tuyên xưng đức tin, sốt sắng cử hành các bí tích, trung thành tuân giữ các Điều răn, ở trong gia đình cũng như xã hội (xem Tài liệu Tân Phúc âm hóa để thông truyền đức tin số 18). Ngày nay giáo hội phải dùng toàn tâm toàn lực để lo Phúc âm hóa con người trở thành bạn hữu của Đức Giêsu Kitô và bạn hữu của nhau. Còn Kitô hữu Việt Nam ngày nay phải Phúc âm hóa thế nào để mọi người công nhận rằng Kitô hữu Việt Nam đã sống đạo thật chứ không phải chỉ giữ đạo bề ngoài; làm sao để cũng như các vị truyền giáo đầu thế kỷ XVIII ở Đàng Ngoài,đã ghi nhận: “Người lương dân gọi bổn đạo là những người theo đạo yêu nhau. (xem linh mục Đỗ Quang Chính sj ). Vì thế mọi người phải lấy Phúc âm của Đức Giêsu Kitô và cách Phúc âm hóa của Đức Giêsu Kitô làm mẫu mực. Tân Phúc Âm Hóa mà xa rời tinh thần Phúc âm và phương cách Phúc Âm Hóa của Đức Giêsu Kitô và các tông đồ, là đi theo vết xe cũ của thời xưa, chắc chắn gặp thất bại như lịch sử giáo hội đã chứng minh.

ĐỂ KẾT:

Toàn thể Giáo hội Công giáo đứng đầu là đức giáo hoàng Phanxicô đang bắt tay vào việc Tân Phúc Âm hóa. Mỗi người mang danh là Kitô hữu phải trở thành bạn hữu chân tình của Đức Giêsu Kitô. Giáo dân và tu sĩ đã được xức dầu Kitô khi lãnh nhận Bí tích Rửa tội và Thêm sức, giám mục và linh mục còn được xức dầu Kitô thêm lần nữa khi lãnh nhận bí tích Truyền chức thánh. Lãnh nhận có chút xíu dầu Kitô rồi sau đó bị chùi sạch ngay; nhưng cái mà dầu Kitô biểu tượng lại là ơn Chúa Thánh Thần, là sự thánh thiện của Đức Giêsu Kitô, là sự hiệp thông với Thiên Chúa Ba Ngôi và hiệp thông với moi người, được thể hiện trong nếp sống yêu thương, công bình, khó nghèo, khiêm tốn, phục vụ… những gì vừa được kể ra đây phải được nâng niu gìn giữ mãi mãi trong mình, không được để cho thế tục chùi sạch mất hết.

Lạy Chúa Giêsu Kitô, Chúa đã thiết lập Giáo hội Công giáo trên tảng đá Phêrô mà quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi. Khi sai giáo hội đi Phúc âm hóa muôn dân, Chúa vẫn luôn ở cùng giáo hội mọi ngày cho đến tận thế. Xin cho giáo hội luôn có những Kitô hữu mang trong mình dầu thánh thiện của Chúa, sống nghĩa thiết như bạn thân tình của Chúa, Phúc âm hóa theo đúng cách Phúc âm hóa của Chúa, chỉ có thế giáo hội mới có thể Phúc âm hóa được cả thế giới. Amen

Linh mục Antôn Nguyễn Mạnh Đồng

Read More
11Tháng Bảy
2020

12 Điều Mà Mọi Người Công Giáo Phải Trả Lời Được

11/07/2020
Anmai
Chia sẻ, Giáo dục
0

12 Điều Mà Mọi Người Công Giáo Phải Trả Lời Được

Kính gửi đến quý độc giả bài sau đây để thêm chất liệu suy nghĩ về đời sống đức tin chúng ta.

Tự do ngôn luận là một điều cao quý. Tiếc rằng chúng ta phải trả một giá rất đắt cho nó: Khi dân chúng được quyền tự do muốn nói gì thì nói, họ đôi khi dùng sự tự do đó để nói những điều ngớ ngẩn.  Và đó là 12 điều mà chúng tôi sẽ bàn ở đây.

Có một ít điều được nhắc đi nhắc lại, có những điều khác thì họa hiếm mới được nhắc đến, trong khi những người đề xướng những sai lầm này tự do quảng bá chúng, chúng ta là người Công Giáo có nhiệm vụ phải trả lời.

  1. “Không có gì là chân lý tuyệt đối cả. Ðiều đúng cho bạn chưa chắc đã đúng cho tôi.”

    Người ta dùng lý luận này rất nhiều khi họ không đồng ý với một câu nói và không có cách nào khác để chống đỡ tư tưởng của mình. Vậy, nếu không có gì là đúng cho tất cả mọi người, thì họ muốn tin gì thì tin, và không thể nói gì để làm họ đổi ý cả.

    Nhưng hãy nhìn lại câu nói “Không có gì là chân lý tuyệt đối cả” một lần nữa. Có phải chính câu này đã khẳng định nó là điều tuyệt đối không? Nói cách khác, nó áp dụng ít qui luật hay tiêu chuẩn cho mọi người — chính là điều mà những người theo tương đối nói là không thể được. Họ đã hóa giải lập luận của họ bằng cách đưa ra lập luận của họ.

    Một vấn đề khác với câu này là không có một người theo thuyết tương đối nào lại thật sự tin điều đó. Nếu có ai nói với bạn, “Không có chân lý tuyệt đối nào cả,” và bạn thụi vào bụng người đó, người đó có lẽ sẽ nổi nóng. Nhưng theo niềm tin của anh ta, anh ta phải nhận rằng đấm vào bụng ai có thể sai đối với anh, nhưng có thể đúng đối với bạn.

    Khi đó họ sẽ trở lại với một bổ túc cho câu nói nguyên thủy là: “Bao lâu bạn không làm đau người khác, bạn tự do muốn làm gì và tin gì tùy ý.”  Nhưng đây chỉ là một sự phân biệt tùy ý (cũng như là câu nói tuyệt đối khác). Ai nói là tôi không được làm đau người khác? Cái gì là đau? Luật này từ đâu mà đến?

    Nếu câu này được đưa ra dựa theo quyền của cá nhân, thì không có nghĩa gì đối với người khác. “Ðừng làm hại” chính nó là một thỉnh cầu đối với một cái gì cao trọng hơn – một loại phẩm giá chung  của con người. Nhưng câu hỏi lại là phẩm giá từ đâu đến.

    Như bạn có thể thấy, càng đi sâu vào những câu hỏi này, thì bạn càng hiểu biết rằng quan niệm về lẽ phải và chân lý không phải tùy ý, nhưng dựa vào một vài chân lý cao quý và phổ quát ngoại tại — một chân lý được viết trong chính bản tính của chúng ta. Chúng ta có thể không biết nó trọn vẹn , nhưng không thể chối rằng không có chân lý đó.

    2. Kitô giáo không hơn gì các tín ngưỡng khác. Tất cả mọi tôn giáo đều dẫn đến Thiên Chúa.”

    Nếu bạn không nghe đến câu này vài chục lần, bạn không rút ra được bao nhiêu. Ðáng buồn là những người nói lên điều này thương lại là Kitô hữu (ít ra trên danh nghĩa).

    Những trở ngại với quan điểm này thật không phức tạp gì cả. Kitô giáo đưa ra một chuỗi những lời xác nhận về Thiên Chúa và con người: Rằng chính Chúa Giêsu Nadareth là Thiên Chúa, và Người đã chết và sống lại — tất cả để chúng ta được giải thoát khỏi tội lỗi. Mọi tôn giáo khác trên thế giới phủ nhận tất cả những điều này. Cho nên, nếu Kitô giáo là đúng, thì đạo này nói cho thế gian biết một chân lý sống còn — một chân lý mà tất cả các tôn giáo khác phủ nhận.

    Chỉ điều này thôi đã làm cho Kitô giáo thành duy nhất.

    Nhưng nó không ngừng ở đó. Hãy nhớ lại lời Chúa Giêsu trong Tin Mừng Thánh Gioan. “Thầy là đường, sự thật, và sự sống; không ai có thể đến với Chúa Cha, mà không qua Thầy.” Trong Kitô giáo, chúng ta có trọn sự mạc khải của Thiên Chúa cho nhân loại. Ðúng là tất cả các tôn giáo chứa đựng một phần chân lý — số lượng thay đổi tùy theo tôn giáo. Tuy nhiên, nếu chúng ta khao khát mong muốn theo và thờ phượng Thiên Chúa, chúng ta có nên làm theo cách Ngài chỉ dạy không?

    Nếu Chúa Giêsu quả thực là Thiên Chúa, thì chỉ Kitô giáo chứa đựng hoàn toàn chân lý này.

    3. “Cựu Ước và Tân Ước trái ngược nhau ở nhiều chỗ. Nếu một Thiên Chúa toàn năng linh hứng Thánh Kinh, thì Ngài đã không để cho có sai lỗi.”

    Ðây là một luận điệu thông thường, người ta có thể thấy khắp nơi trên Internet (nhất là những websites vô thần và tự do tư tưởng). Một bài trên website của Vô Thần ghi rằng “Ðiều lạ thường về Thánh Kinh không phải vì tác giả là Thiên Chúa; chính là những mâu thuẫn được bịa đặt vô nghĩa mà người ta có thể tin là được Thiên Chúa thượng trí viết ra.”

    Những câu như thế thường được kèm theo một danh sách những câu “mâu thuẫn” trong Thánh Kinh.  Tuy nhiên, những điều cho là mâu thuẫn có ít sai lầm đơn giản. Thí dụ, người phê bình không đọc những sách khác nhau trong Thánh Kinh theo thể văn mà các sách đó được viết. Xét cho cùng, Thánh Kinh là một sưu tập nhiều loại văn tự… lịch sử, thần học, thơ phú, và khải huyền,vv…. Nếu chúng ta đọc các sách này cùng một cách cứng ngắc như chúng ta đọc báo ngày nay, thì chúng ta sẽ bị bối rối kinh khủng.

    Và danh sách “các mâu thuẫn” trong Thánh Kinh minh xác điều này. Thí dụ lấy điều đầu tiên trong danh sách Vô Thần của Mỹ:

“Hãy nhớ ngày Sabát, và giữ nó cách thánh thiện.” Xuất Hành 20:8

So với
“Người thì cho rằng ngày này trọng hơn ngày khác; người khác lại cho rằng ngày nào cũng như nhau. Vậy mỗi người phải xác tín trong thâm tâm mình.” Rom 14:5

Người vô thần la lên: Ðó! rõ ràng là một mâu thuẫn. Nhưng phê bình gia quên không nhắc đến điều mà mọi Kitô hữu đều biết: Khi Ðức Kitô thiết lập Giao Ước Mới, thì những đòi hỏi về nghi lễ của Giao Ước Cũ được làm trọn (và qua đi). Vì thế việc những luật lệ trong Cựu Ước về nghi lễ không còn được ứng dụng cho dân của Tân Ước là điều hoàn toàn hợp lý.

Nếu nhà phê bình hiểu giáo lý đơn giản này của Kitô giáo, thì anh đã không mắc phải một lỗi sơ đẳng như thế.

Ðiều kế tiếp trong danh sách của Vô Thần Mỹ cũng có khuyết điểm tương tự:

“…trái đất mãi mãi trường tồn.”   
Giảng Viên 1:4

So với:

“…các nguyên tố vật chất sẽ cháy tiêu tan, trái đất và các công trình trên đó sẽ bị thiêu huỷ.” 2 Phr 3:10

Vậy Cựu Ước cho rằng trái đất sẽ tồn tại đến muôn đời, trong khi Tân Ước nói rằng nó rồi sẽ bị hủy diệt. Chúng ta dung hòa hai câu này thế nào? Thực ra rất dễ, lại theo sự hiểu biết về thể văn mà theo hai sách này được viết ra.

Thí dụ Sách Giảng Viên so sánh cái nhìn thế tục và tôn giáo – và hẩu hết sách này viết theo quan niệm thế tục. Ðó là lý do tại sao chúng ta thấy những dòng như, “Bánh được làm cho vui, và rượu làm cho cuộc đời thêm tươi, và tiền bạc giải quyết được tất cả” (GV 10:19).

Tuy nhiên, ở cuối sách, tác giả đưa ra một khúc quanh, không cần tất cả “sự khôn ngoan” ông tặng và bảo chúng ta “Kính sợ Thiên Chúa, và tuân giữ giới răn Ngài; vì đó là tất cả nhiệm vụ của con người..” (12:13).

Nếu một độc giả ngưng đọc trước khi đến cuối, thì người ấy sẽ bối rối như phê bình gia Vô Thần Mỹ. Tuy nhiên, vì quan điểm đó nảy ra khái niệm về một thế giới trường tồn bị gạt bỏ ở hàng cuối cùng của sách, hiển nhiên là không có mâu thuẫn với điều được mạc khải sau đó ở trong Tân Ước. (Và đây chỉ là một cách để trả lời tố cáo về sự khác biệt này)

Những “mâu thuẫn” khác giữ Cựu và Tân Ước có thể được trả lời cách tương tự. Hầu như với điểm nào, nhà phê bình cũng bị lầm lẫn về mạch văn, không để ý đến thể văn, và không để dành chỗ nào cho việc cắt nghĩa cách hợp lý.

Không một Kitô hữu biết suy nghĩ nào phải bối rối về những danh sách này.

4. “Tôi không cần đến Nhà Thờ. Bao lâu tôi là một người tốt, chỉ có điều đó mới đáng kể.”

Luận điệu này dược dùng thường xuyên, và rất gian xảo. Khi một người nhận mình là “người tốt,” người đó thật sự ám chỉ rằng họ “không phải là một người xấu.” — người xấu là người sát nhân, hiếp dâm, và trộm cắp. Phần đông người ta không cần cố gắng mấy để tránh các tội này, và đó là tư tưởng: Chùng ta muốn làm một số việc tối thiểu để được thông qua. Ðiều đó không giống Ðức Kitô lắm, phải không?

Nhưng bỏ qua trạng thái tâm lý đó, có một lý do quan trọng để người Công Giáo đền Nhà Thờ hơn là chỉ để thực hành việc đi thêm một dặm nữa. Thánh Lễ là viên đá góc của đời sống đức tin của chúng ta vì một điều nằm ở trọng tâm của nó: Bí Tích Thánh Thể. Ðó là nguồn mạch của tất cả đời sống cho người Công Giáo, là những người tin rằng bánh và rượu trở nên Mình và Máu thật của Ðức Kitô. Chứ không phải chỉ là biểu tượng của Thiên Chúa, nhưng là Thiên Chúa hiện diện cách thể lý với chúng ta bằng một phương thế mà chúng ta chỉ có thể cảm nghiệm được bằng cầu nguyện.

Chúa Giêsu phán, “Thật, Thật, Ta bảo các người, trừ khi các người ăn thịt Con Người và uống máu Người, các người không có sự sống trong các người; ai ăn thịt và uống máu Ta có sự sống đời đời, và Ta sẽ cho người ấy sống lại trong ngày sau hết”  (Ga 6:53-54). Chúng ta tôn trọng lệnh của Chuá Giêsu và tin tường vào lời hứa của Người mỗi lần chúng ta đi dự Thánh Lễ.

Hơn nữa, bí tích Thánh Thể, cùng với tất cả các bí tích khác, chỉ dành cho những người ờ trong Hội Thánh. Là phần tử của Hội Thánh, nhiệm thể hữu hình của Ðức Kitô trên thế gian, đời sống chúng ta liên hệ mật thiết với đời sống của người khác trong Hội Thánh. Liên hệ cá nhân của chúng ta đối với Thiên Chúa thật quan trọng, nhưng chúng ta cũng có nhiệm vụ sống như những phần tử trung thành của nhiệm thể Ðức Kitô. Là “người tốt” mà thôi chưa đủ.

5. “Bạn không cần phải xưng tội với một linh mục. Bạn có thể đến thẳng cùng Thiên Chúa.”

Như một cựu mục sư Baptist, tôi có thể hiểu việc chống xưng tội của người Tin Lành (họ hiểu về chức linh mục một cách khác). Nhưng một người Công Giáo mà nói một điều như thế… thì thật là thất vọng. Tôi nghi rằng bản tính loài người là thế, người ta thường không thích nói cho người khác biết tội mình, nên đưa ra lý do để biện minh tại sao không làm thế..

Bí Tích Giải Tội đã có với chúng ta từ đầu, từ chính Lời của Ðức Kitô:

“Chúa Giêsu lại bảo các ông, ‘Bình an cho các con! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai các con.’ Nói rồi, Người thổi hơi vào các ông và bảo các ông, ‘Các con hãy nhận lấy Chúa Thánh Thần. Nếu các con tha tội cho ai, thì người ấy được tha; nếu các con cầm buộc ai, thì người ấy bị cầm buộc.’” (Ga 20:21-23)

Nên ghi nhận rằng Chúa Giêsu ban cho các tông đồ quyền tha tội.. Tất nhiên, họ không biết phải tha tội nào nếu họ không được nói cho biết là tội nào chúng ta phạm.

Việc xưng tội cũng được chứng minh trong thư thánh Giacôbê:
Có ai trong anh em đau ốm? Hãy mời các kỳ mục của Hội Thánh, và hãy để họ cầu nguyện trên người ấy, xức dầu cho người ấy nhân danh Chúa; Và lời cầu nguyện do đức tin sẽ cứu người bệnh; và Chúa sẽ nâng người ấy dậy, và nếu người ấy đã phạm tội, thì sẽ được Chúa thứ tha. Anh em hãy xưng tội với nhau và cầu nguyện cho nhau để được chữa lành. Vì lời cầu xin tha thiết của người công chính có hiệu lực rất lớn lao. (Gia 5:14-16)

Ðiều đáng quan tâm là không có chỗ nào Thánh Giacôbê (hay Chúa Giêsu) bảo chúng ta là chỉ xưng tội với Thiên Chúa, nhưng các Ngài có vẻ nghĩ là ơn tha tội đến bằng cách xưng tội công khai.

Và lý do thật dễ hiểu. Khi chúng ta phạm tội, chúng ta làm tổn thương không những mối liên hệ của chúng ta với Thiên Chúa, mà còn với Nhiệm Thể Người, là Hội Thánh (vì tất cả mọi người Công Giáo nối kết với nhau như con cùng một Cha). Cho nên khi chúng ta xin lỗi, chúng ta phải xin lỗi tất cả mọi nhóm liên hệ – Thiên Chúa và Hội Thánh.

Hãy nghĩ về xưng tội cach này. Thử tưởng tượng rằng bạn vào một tiệm và ăn cắp vài món hàng. Sau đó, bạn áy náy và hối hận về hành động tội lỗi này. Giờ đây, bạn có thể cầu xin Thiên Chúa tha cho bạn vì đã phạm giới răn của Ngài. Nhưng còn một phần tử khác liên hệ; bạn phải trả lại món hàng và đền bù cho hành động của bạn.

Ðối với Hội Thánh cũng thế. Trong toà giải tội, linh mục đại diện cho Thiên Chúa và Hội Thánh, vì chúng ta có tội với cả hai. Và khi ngài công bố lời tha tội, thì sự tha thứ chúng ta lãnh nhận được trọn vẹn.

6. “Nếu Hội Thánh thật sự theo Chúa Giêsu, thì đã bán các nghệ thuật, tài sản, và các công trình kiến trúc lãng phí, mà cho người nghèo.”

Khi một người nghĩ đến Thành Vatican, họ liên tưởng ngay đến một vương quốc giàu sang, với nơi ở như cung điện cho Ðức Giáo Hoàng và các hòm đầy vàng cất ở các xó nhà, chưa kể đến các sưu tầm nghệ thuật và đồ cổ vô giá. Nhìn đến Vatican cách này thì dễ thấy tại sao một số người trở thành bực tức vì những điều họ nghĩ là sự khoe khoang tài sản cách phô trương và phí phạm.

Nhưng sự thật thì hoàn toàn khác. Các dinh thự chính gọi là “Ðiện Vatican” không phải được xây làm chỗ ở xa hoa của Ðức Giáo Hoàng. Thực ra, khu vực gia cư tương đối nhỏ. Phần lớn điện Vatican được dùng vào việc nghệ thuật, khoa học, điều hành công việc Hội Thánh, và điều hành chung của điện. Có một số đông nhân viên của Hội Thánh và hành chánh sống trong điện Vatican cùng ÐTC, làm cho nó thành trụ sở chính của Hội Thánh.

Còn về những sưu tầm nghệ thuật, thực sự là sưu tập quý nhất trên thế giới, Vatican coi đó như một “kho tàng không thể thay thế được,” nhưng không phải về diện tài chánh. ÐTC không làm chủ những tác phẩm nghệ thuật này, và nếu ngài muốn, ngài cũng không được phép bán chúng; chúng chỉ được đặt dưới sự săn sóc của Toà Thánh. Các tác phẩm này không đem nguồn lợi đến cho Hội Thánh, mà ngược lại, Tòa Thánh phải đầu tư một số tài nguyên không nhỏ để bảo tổn các sưu tầm này.

Sự thật của vấn đề này là Tòa Thánh có một ngân sách khá eo hẹp Nếu thế thì tại sao lại giữ những nghệ phẩm này? Vì tin vào một trong các sứ mệnh của Hội Thánh là một động lực truyền bá văn minh trong thế giới. Cũng như các thầy dòng thời trung cổ cẩn thận chép lại các sách cổ để cung cấp cho các thế hệ tương lai — nếu không thì những văn bản này không còn nữa — Hội Thánh tiếp tục bảo trì nghệ thuật để chúng không bị mai một với thời gian. Trong nền văn hóa sự chết ngày nay khi mà từ “văn minh” chỉ được dùng cách lỏng lẻo, sứ vụ truyền bá văn minh của Hội Thánh ngày nay còn quan trọng hơn bao giờ hết.

7. “Chống đối thực sự là điều tích cực, vì tất cả chúng ta phải có đầu óc cởi mở đối với những tư tưởng mới.”

Ngày nay có lẽ bạn đã nghe lập luận này nhiều rồi, nhất là trong vụ gương mù về lạm dụng tính dục trong Hội Thánh. Ai cũng muốn tìm giải pháp cho vấn đề, trong đó có người đưa ra những tư tưởng ngoài đức tin Công Giáo (như cho phụ nữ, hay mở cửa cho đống tính luyến ái làm linh mục, v.v…). Nhiều người đổ tội cho Hội Thánh vì quá cứng rắn về đức tin và không muốn thử những điều mới.

Sự thật là nhiều tư tưởng về cải cách được đề ra khắp nơi ngày nay không có gì là mới mẻ cả. Chúng đã được đề ra từ lâu, và Hội Thánh đã quan tâm đến chúng. Thực ra, Hội Thánh đã bỏ cả đời ra nghiên cứu cẩn thận các tư tưởng và quyết định rằng tư tưởng nào hợp với luật Thiên Chúa và tư tưởng nào không. Hội Thánh đã gạt ra hết lạc giáo này đến lạc giáo khác trong khi cẩn thận xây dựng giáo lý Ðức Tin. Chúng ta không ngạc nhiên gì khi thấy có cả ngàn giáo hội Kitô khác ngày nay — tất cả các giáo hội đó đều một thời có “những tư tưởng mới” mà Hội Thánh cho là ngoài Kho Tàng Ðức Tin.

Hội Thánh có môt nhiệm vụ quan trọng là bảo vệ sự ven toàn của Ðức Tin. Hội Thánh không bao giờ loại bỏ ngay các tư tưởng như một số người chống đối kết án, nhưng đã có hai ngàn năm cầu nguyện và nghiên cứu đằng sau những gì phải tin và phải giữ gìn là chân thật.

Ðiều này không có nghĩa là chúng ta không bao giờ bất đồng ý kiến với nhau ở điểm gì. Luôn luôn có chỗ để thảo luận làm thế nào để đào sâu sự hiểu biết của chúng ta về chân lý — thí dụ, làm sao để cải tiến các chủng viện hay các tương quan giữa giáo sĩ và giáo dân– tất cả đều trong phạm vi của những nguyên tắc Ðức Tin.

8. Nếu giải thích đúng, Thánh Kinh không lên án đồng tính luyến ái. Nhưng đúng hơn là chống lối sống bừa bãi – dù là đồng tính hay giữa nam nữ. Vì vậy, chúng ta không có lý do để chống liên hệ tình yêu đồng tính.”

Khi hành vi đồng tính luyến ái được chấp nhận rộng rãi hơn trong nền văn hóa của chúng ta, thì sẽ có nhiều áp lực hơn giữa các Kitô hữu để giải thích sự cấm đoán điều này cách tỏ tường trong Thánh Kinh. Hiện thời tiêu chuẩn của phe cấp tiến là cho rằng Thánh Kinh — khi hiểu đúng — không cấm những hành vi đồng tính.

Nhưng luận điệu này hoàn toàn trái ngược với những câu rõ ràng trong cả Cựu Ước lẫn Tân Ước. Các câu đầu tiên dĩ nhiên là câu chuyện thời danh về Sođôm và Gômôra. Nếu bạn nhớ lại chuyện hai thiên sứ được Thiên Chúa sai đến thăm ông Lót:

“Nhưng khi các ngài đi nằm thì dân trong thành, tức là người Sôđôm, bao vây nhà, từ trẻ đến già, tất cả mọi người không trừ ai. Chúng gọi ông Lót và bảo: “Những người vào nhà ông đêm nay đâu rồi? Hãy đưa họ ra cho chúng tôi chơi.” Ông Lót ra trước cửa gặp chúng, đóng cửa lại sau lưng,” rồi nói: “Thưa anh em, tôi xin anh em đừng làm bậy. Đây tôi có hai đứa con gái chưa ăn ở với đàn ông, tôi sẽ đưa chúng ra cho anh em; anh em muốn làm gì chúng thì làm, nhưng còn hai người này, xin anh em đừng làm gì họ, vì họ đã vào trọ dưới mái nhà tôi.” Chúng đáp: “Xê ra! Tên này là một kiều dân đến đây trú ngụ mà lại đòi xét xử à! Chúng tao sẽ làm dữ với mày hơn là với những tên kia!” Họ xô mạnh ông Lót và xông vào để phá cửa. Nhưng hai người khách đưa tay kéo ông Lót vào nhà với mình, rồi đóng cửa lại.(STK 19:4-10)

Thông điệp của đoạn này thật rõ ràng. Các người Sôđôm là người đồng tính luyến ái muốn liên hệ tính dục với những người thanh niên ở trong nhà. Ông Lót cho họ con gái ông, nhưng họ không thích. Ít giờ sau, Sôđôm bị Thiên Chúa thiêu hủy để đền tội dân chúng phạm — đó là các hành vi đồng tính luyến ái.  Sự thật này được Tân Ứớc xác nhận:

Như Sôđôm, Gômôra và các thành lân cận cũng có cùng một thái độ như họ, buông tuồng trong việc tà dâm, và chạy theo những chuyện xác thịt trái tự nhiên, thì đã được dùng để làm gương, bằng cách chịu phạt trong lửa đời đời. (Giuđa 7)

Nhưng không phải chỉ có những đoạn này trong Thánh Kinh lên án hành vi đồng tính. Cựu Ước còn có một câu khác lên án cách rõ ràng: “Ngươi không được nằm với đàn ông như nằm với đàn bà: đó là điều ghê tởm.” (Levi 18:22).

Và những câu này không chỉ được giữ trong Cựu Ước mà thôi.

“Vì lý do đó mà Thiên Chúa đã để mặc họ theo dục tình đồi bại. Phụ nữ của họ đã đổi những liên hệ tự nhiên lấy những liên hệ trái tự nhiên. Ðàn ông cũng thế, bỏ liên hệ tự nhiên với phụ nữ để nôn nao thèm muốn lẫn nhau. Ðàn ông làm việc tồi bại với đàn ông, và như thế chuốc vào thân hình phạt xứng với sự suy đồi của họ.” (Rom1:26-27)

Thật khó vô cùng cho những Kitô hữu cấp tiến giải thích câu này cách ngược lại. Ở đây không chỉ nói đến việc dâm loàn hay hiếp dâm của người đống tính; nhưng Thánh Phaolô chống lại bất cứ liên quan đồng tính nào (mà ngài diễn tả là “trái tự nhiên,” “tồi bại” và “đồi bại”).

Các Kitô hữu cấp tiến bị trói tay. Sau cùng, một người làm thế nào mà dung hòa đồng tính luyến ái với Thánh Kinh? Xem ra giải pháp của họ là lấy đi quyền về luân lý của Thánh Kinh, và giải thích vòng vo để tránh thông điệp thật rõ ràng này.

9. “Người Công Giáo nên theo lương tâm trong mọi sự… dù là phá thai, ngừa thai, hay phong chức thánh cho phụ nữ.”

Ðúng –Sách Giáo Lý nói rất thẳng, “Con người có quyền hành động theo lương tâm và sự tự do để tự mình quyết định về luân lý. “Không được cưỡng bách ai hành động trái với lương tâm của họ. Cũng không được ngăn cản họ hành động theo lương tâm, đặc biệt là trong những vấn đề tôn giáo ” (1782). Giáo huấn này là trọng tâm của điều gọi là có ý chí tự do.

Nhưng điều đó không có nghĩa là lương tâm chúng ta không phải chịu trách nhiệm hay có thể gạt luật của Thiên Chúa ra ngoài. Ðây là điều mà Giáo Lý gọi là có “một lương tâm được huấn luyện chu đáo.”

Sách Giáo Lý trao cho lương tâm con người một trách nhiệm nặng nề:

“Lương tâm luân lý, hiện diện trong lòng người, ra lệnh vào lúc thích hợp cho con người làm lành lánh dữ…. Lương tâm chứng nhận quyền bính của chân lý bằng cách chiếu theo Sự Thiện Hảo tối thượng (Thiên Chúa), là Ðấng mà con người được thu hút và đón nhận mệnh lệnh. Khi nghe theo tiếng lương tâm, người khôn ngoan có thể nghe tiếng Thiên Chúa đang nói” (1777).

Nói cách khác, lương tâm chúng ta không phải chỉ là “cái gì chúng ta cảm thấy đúng”; mà là những gì chúng ta phán quyết là đúng dựa theo những điều chúng ta biết là giáo huấn của Thiên Chúa và Hội Thánh.  Và để phán đoán, chúng ta có nhiệm vụ học hỏi và cầu nguyện rất cẩn thận về những giáo huấn này. Sách Giáo Lý có trọn một phần dành riêng cho việc huấn luyện lương tâm cách kỹ lưỡng — và nó quan trọng thế nào trong việc quyếtb định đúng.

Và sau cùng, dù đúng hay sai, chúng ta vẫn chịu trách nhiệm về việc chúng ta làm: “Lương tâm giúp chúng ta gánh nhận trách nhiệm đối với việc chúng ta làm” (1781). Khi được đào luyện đúng, nó giúp chúng ta thấy khi nào chúng ta làm sai và cần được tha thứ tội lỗi chúng ta.

Bằng cách cố gắng để có một lương tâm được đào luyện hoàn toàn, chúng ta thật sự cảm nghiệm được sự tự do lớn lao, vì chúng ta được lôi cuốn lại gần chân lý vô cùng của Thiên Chúa. Nó không phải là một gánh nặng hay là một cái gì ngăn cản chúng ta làm điều chúng ta thích; nhưng là một sự hướng dẫn giúp chúng ta làm những gì là đúng. “Việc giáo dục lương tâm đảm bảo sự tự do và đem lại bình an trong tâm hồn” (1784).

10. Phương Pháp Tự Nhiên chỉ là một cách ngừa thai của Công Giáo.”

Phương Pháp Tự Nhiên (PPTN) có kẻ thù mọi mặt. Có người tin rằng đó là một cách ngừa thai khác thiếu thực tế (mà cách nào họ cũng không cho là có tội) trong khi người khác lại cho rằng nó cũng xấu chẳng khác gì ngừa thai.. PPTN phải đi giữa ranh giới của hai cực đoan.

Trước nhất, vấn đề chính của việc ngừa thai là nó ngược lại với bản chất của cơ thể chúng ta — và cách chung sự tự nhiên. Mục đích của nó là tách rời hành động (tính dục) ra khỏi hậu quả (có thai), chính là hạ sự thánh thiện của tính dục xuống thành sự theo đuổi lạc thú thuần túy.

PPTN, khi dùng vì lý do chính đáng, thì còn hơn là một dụng cụ được dùng để xem đôi hôn nhân có phương tiện (dù là tài chánh, thể lý, hay tâm lý) để đón nhận một đứa trẻ vào cuộc đời của họ. Nó liên quan đến việc hiểu biết chính thân thể của mình, cẩn thận lưu tâm đến hoàn cảnh của bạn trong cuộc đời, thảo luận vấn đề với bạn đời, và trên hết là cầu nguyện. Thay vì thoát ly thực trạng đầy đủ của tính dục, bạn tham gia vào đó với một sự hiểu biết hơn về mọi khía cạnh liên quan.

Những người ủng hộ việc hạn chế sinh sản chỉ vào những người không thể cố gắng có thêm con, hay sức khỏe có thể bị nguy hiểm vì mang thai thêm. Nhưng đó là những lý do hoàn toàn chính đáng để dùng PPTN — những hoàn cảnh mà phương pháp này hoàn toàn hiệu quả — và Hội Thánh cho phép dùng nó.

Những người khác nghĩ rằng dùng bất cứ phương thức nào để giới hạn số con trong gia đình là đóng vai Thiên Chúa, hơn là để Ngài cung cấp cho chúng ta như Ngài thấy cần. Ðúng là chúng ta phải tin tưởng vào Thiên Chúa và luôn chấp nhận sự sống Ngài ban cho chúng ta, nhưng chúng ta không phải hoàn toàn buông xuôi về phương diện này.

Thí dụ, thay vì phung phí tiền bạc lung tung và nói rằng “Thiên Chúa sẽ cung cấp,” các gia đình cẩn thận dự trù ngân sách tài chánh và cố gắng không tiêu xài quá khả năng của mình. PPTN cũng giống như ngân sách đó, giúp chúng ta suy nghĩ đến hoàn cảnh của chúng ta trong cuộc đời và hành động theo đó trong tinh thần cầu nguyện. Biết mình và dùng trí khôn cùng ý chí tự do, thay vì thụ động mong chờ Thiên Chúa lo liệu mọi sự, là một phần của bản tính con người. Chúng ta được mời gọi để trở nên những người quản lý tốt các hồng ân Chúa ban; chúng ta phải cẩn thận đừng coi thường các ân huệ này.

11. “Người ta có thể vừa ủng hộ phá thai (tự do chọn lựa) vừa đồng thời là Công Giáo.”

Trong khi đây là một huyền thoại thông thường nhất mà người Công Giáo hiểu về đức tin của họ, nó cũng là một điều dễ đánh tan nhất. Sách Giáo lý không chẻ một chữ nào khi nói về phá thai: nó được liệt kê cùng với tội giết người trong các tội phạm đến điều răn thứ năm, “Chớ giết người.”

Những đoạn sau nói rõ: “Sự sống con người phải được tôn trọng và bảo vệ cách tuyệt đối từ giây phút thụ thai” (2270). “Ngay từ thề kỷ thứ nhất Hội Thánh đã xác nhận sự dữ về luân lý của mọi cuộc phá thai cố tình. Giáo huấn này không thay đổi và sẽ không bao giờ thay đổi” (2271). “Hợp tác chính thức vào việc phá thai là tội trọng. Hội Thánh gán hình phạt vạ tuyệt thông cho các tội phạm đến sự sống con người” (2272).

Có thể nói rõ ràng hơn thế nữa. Tuy nhiên, có những người sẽ lý luận rằng là người “tự do chọn lựa” không có nghĩa là ủng hộ phá thai; nhiều người cho rằng phá thai là sai, nhưng không muốn áp đặt tư tưởng của mình trên người khác.

Ðó là lại là luận “điều đúng cho bạn có thể không đúng cho tôi” mà thôi. Hội Thánh cũng có câu trả lời cho lập luận này: “Những quyền bất khả xâm phạm của con người phải được xã hội dân sự và chính quyền nhìn nhận và tôn trọng. Những quyền này không lệ thuộc vào các cá nhân, hay cha mẹ, cũng không phải là một nhân nhượng của xã hội và của quốc gia, nhưng thuộc về bản tính con người và gắn liền với con người do chính hành động sáng tạo của Thiên Chúa mà từ đó sinh ra con người” (2273)..

Tính linh thiêng của sự sống là một chân lý phổ quát không thể coi thường được. Khuyên ai phá thai, hay ngay cà bỏ phiếu cho các chính trị gia cổ võ việc phá thai, là một tội trọng, vì nó đưa người khác đến tội trọng – là điều mà Sách Giáo Lý gọi là làm gương mù (2284).

Hội Thánh mạnh dạn và dứt khoát chống phá thai, và chúng ta là người Công Giáo cũng phải khẳng định lập trường của chúng ta như thế.

12. “Việc người ta nhớ lại cuộc sống ở kiếp trước chứng tỏ rằng luân hồi là đúng… và quan điểm của Kitô Giáo về Thiên Ðàng, Hỏa Ngục là sai.”

Khi xã hội trở nên mê hoặc nhiều hơn với những hiện tượng siêu hình, chúng ta có thể chắc sẽ thấy thêm những vụ nhận rằng “nhớ lại kiếp trước”. Quả thật, bây giờ có những tổ chức giúp bạn trở lại các kiếp trước của bạn bằng cách dùng thôi miên.

Trong khi điều này có thể thuyết phục một số người, chắc chắn rằng không thuyết phục được những người quen thuộc với thôi miên. Hầu như ngay từ đầu, các nhà khảo cứu đã ghi nhận rằng các bệnh nhân ngủ mê trong lúc bị thôi miên thường thêu dệt những câu chuyện ký ức phức tạp, mà sau đó được tỏ ra là không có thật. Những nhà chữa trị danh tiếng đã biết rõ hiện tượng này, và cẩn thận cân nhắc những gì bệnh nhân nói khi bị thôi miên.

Ðáng buồn là đây không phải là trường hợp đối với những người muốn tìm “bằng chứng” của luân hồi. Có lẽ thí dụ điển hình nhất của sự bất cẩn này là trường hợp nổi tiếng của Bridey Murphy. Nếu bạn không biết chuyện đó, thì đây là một tóm lược: Năm 1952, một bà nội trợ ở Colorado tên là Virginia Tighe được thôi miên. Bà bắt đầu nói giọng Ái Nhĩ Lan và cho rằng có thời bà là một phụ nữ tên là Bridey Murphy sống ở Cork, Ái Nhĩ Lan.

Câu chuyện của bà ta được viết thành cuốn sách bán chạy nhất, “Cuộc tìm kiếm Bridey Murphy,” và được nhiều chú ý. Các ký giả lục xoát khắp Ái Nhĩ Lan để tìm người nào, hay chi tiết nào có thể xác nhận việc trở lại kiếp trước này. Trong khi không tìm được gì, trường hợp của Bridey Murphy tiếp tục được dùng để chống đỡ các lý luận về luân hồi.

Ðây là một điều bẽ bàng, vì Virginia Tighe bị phanh phui là giả trá vài chục năm qua. Thử nghĩ xem, các bạn bè của Virginia nhớ lại trí tưởng tượng linh động của bà, và khả năng bày đặt những câu chuyện phức tạp (thường xoay quanh tài nhái giọng mà bà ta đã đạt đến mức hoàn bị). Không những chỉ có thế, mà bà còn rất thích Ái Nhĩ Lan, một phần vì tình bạn với một phụ nữ người Ái mà tên họ là — bạn oán xem — Bridie.

Hơn nữa, Virgiania thêm vào câu chuyện trong lúc bị thôi miên nhiều điều khác nhau từ chính đời sống của bà (mà không cho nhà thôi miên biết sự song đôi này). Thí dụ, Bridey diễn tả về “Bác Plazz,” mà các nhà nghiên cứu cho là cách nói sai của người Gaelic “Bác Blaise.” Tuy thế họ bị cụt hứng khi khám phá ra rằng Virginia có một người bạn khi còn nhỏ mà bà gọi là “Bác Plazz.”

Các nhà nghiên cứu ngạc nhiên khi Virginia nhảy điệu jig của Ái Nhĩ Lan trong một lần bị thôi miên.. Làm sao mà một bà  nội trợ ở Colorado lại học được cách nhảy jig? Ðiều huyền bí này được giải quyết khi người ta biết rằng Virginia đã học điệu nhảy này khi còn bé.

Như trường hợp Bridey Murphy cho thấy, những việc nhận là trở lại tiền kiếp luôn luôn gợi cảm hơn thức tế. Cho đến ngày nay, chưa có một trường hợp nào chứng minh được là có một người nhớ lại được kiếp trước. Chắc chắn là cò nhiều câu chuyện đã được kể lại dưới sự kiểm soát của một nhà thôi miên, tuy nhiên, bằng chứng của luân hồi (giông như Nàng Tiên Răng) vẫn tiếp tục tránh né chúng ta.

 

Tác giả: DEAL HUDSON
GLV Phaolô Phạm Xuân Khôi 
chuyển ngữ

Read More
11Tháng Bảy
2020

Hậu quả của quan hệ tình dục ngoài hôn nhân

11/07/2020
Anmai
Chia sẻ, Giáo dục
0

Hậu quả của quan hệ tình dục ngoài hôn nhân

Khi kết hợp tình dục xảy ra chưa đến thời điểm chín muồi, nghĩa là trong những quan hệ trước hôn nhân, thì sẽ nảy sinh nhiều vấn đề. Một số hậu quả về mặt cảm xúc có thể nhận thấy ngay, và một số khác thì ít rõ rệt hơn và xảy đến từ từ, có khi hàng năm sau đó.

  1. MỘT Ý NGHĨ SAI LẦM

Chắc chắn tất cả chúng ta đều biết quan hệ tình dục là một hoạt động thuộc thể xác. Vì thế nhiều bạn tuổi mới lớn tin rằng nếu họ tránh tất cả những hậu quả về thể xác, như các bệnh lây qua đường tình dục hay việc mang thai, thì tình dục sẽ vô hại. Ngoài điều này ra, không có sai lầm gì nhiều.

Tuy nhiên, hàng triệu những mẩu chuyện từ đời sống thật và đôi khi ngay cả trong phim ảnh, cũng cho thấy điều ngược lại. Một số phim có vẻ như không cho chúng ta thấy một chút gì về đức trong sạch hay sự thật nhưng lại biểu lộ một cái nhìn thoáng về thực tại rất đáng ngạc nhiên.

Trước khi Frau và Dr. Evil quan hệ tình dục trong phim Austin Power II: Điệp viên đeo bám (The spy who shagged me), họ thỏa thuận với nhau rằng sẽ không có gì “kỳ lạ” cả sau khi họ quan hệ tình dục. Trong ngôn ngữ của họ, “kỳ lạ” có nghĩa là bất cứ một sự gắn bó nào về tình cảm vốn thường đi đôi với quan hệ tình dục. Tuy nhiên, một hay hai hôm sau, cả hai đều thừa nhận “đã có cái gì kỳ lạ!” Họ đã không thể tuân giữ thỏa thuận của họ. Họ muốn tình dục chỉ là thú vui vô hại, nhưng không phải vậy: “Cuối cùng Frau giận dữ vì Dr. Evil đã không gọi điện thoại cho cô, và cô tuyên bố sẽ không bao giờ yêu người đàn ông nào nữa!”

“Yếu tố kia” luôn luôn có đi kèm, ngay cả khi chúng ta cố giả vờ rằng nó không hề có. Dù muốn dù không, thì tình dục cũng tạo nên một mối liên kết giữa hai cơ thể. Hai tâm hồn, hai khối óc và hai linh hồn quyện vào nhau. Các khía cạnh phi thể lý của tình dục xem có vẻ không có ảnh hưởng gì do hoạt động tình dục, nhưng thật ra là có.

Việc kích thích tình dục luôn ảnh hưởng đến tâm hồn, cho cả người nam lẫn người nữ. Mối liên kết với cảm xúc này không xảy ra ngẫu nhiên nhưng gắn liền với chính hành động thể lý ấy. Phụ nữ cảm thấy có một dòng chảy oxytocin – cũng là thứ hoóc-môn tiết ra khi làm việc hay khi cho con bú. Oxytocin gây ra lãng quên nơi người phụ nữ, giảm khả năng suy nghĩ theo lý trí và làm cho người phụ nữ gắn bó hết sức mạnh mẽ với người đàn ông đang ở bên mình. Đàn ông cũng tiết ra oxytocin trong quá trình giao hợp. Nhưng cơ thể của họ còn tiết ra một hoóc-môn khác được gọi là vasopressin. Vasopressin, được gọi là “phân tử một vợ một chồng”, được tiết ra sau hoạt động tình dục, và có ảnh hưởng làm tăng thêm ý thức trách nhiệm của người đàn ông [1].

Xét về mặt sinh học, Thiên Chúa ban cho chúng ta hoóc-môn để bảo đảm tình dục tác động đến cảm xúc của chúng ta. Tình dục nhằm phát sinh ra một mối liên kết mạnh mẽ đến độ có thể giúp cho vợ chồng gắn bó với nhau trọn cuộc đời.

Tuy nhiên, khi kết hợp tình dục xảy ra chưa đến thời điểm chín muồi, nghĩa là trong những quan hệ trước hôn nhân, thì sẽ nảy sinh nhiều vấn đề. Một sự kết hợp thể xác phát sinh do tình dục thì mâu thuẫn với quan hệ chưa có liên kết hôn phối thể hiện trên mặt cảm xúc, tâm trí và thiêng liêng. Một số hậu quả về mặt cảm xúc có thể nhận thấy ngay, và một số khác thì ít rõ rệt hơn và xảy đến từ từ, có khi hàng năm sau đó:

“Ở trường đại học, tôi, Heather, đã quyết định chọn sống trong sạch. Khi nghe bạn bè cùng trang lứa kể về những sinh hoạt tình dục của họ, tôi chú ý đến những hậu quả không lường trước của việc quan hệ tình dục trước hôn nhân, những hậu quả đó khác xa với niềm vui thú thể xác và tình yêu mà bạn bè tôi đã mong đợi. Sau khi xong đại học, tôi tiếp tục quan sát tất cả những hậu quả tiếp theo việc quan hệ tình dục ngoài hôn nhân trong mọi hoàn cảnh đời sống của người lớn mà chúng tôi trình bày sau đây”.

  1. HẬU QUẢ CỦA TÌNH DỤC NGOÀI HÔN NHÂN

  1. Làm giảm giá trị của tính dục

Mỗi khi chúng ta quan hệ tình dục ngoài hôn nhân là chúng ta đã tự nói với chính mình rằng tình dục không quan trọng đến nỗi phải gìn giữ cho hôn nhân. Chúng ta đã hạ giá tình dục, coi nó thấp hơn giá trị thật của nó, ngay cả khi chúng ta đang thật sự yêu nhau. Chúng ta đã làm giảm thiểu quà tặng thường xuyên để chỉ còn là món nợ vay tạm thời.

  1. Vướng vào các mối quan hệ không lành mạnh

Phần lớn người ta cảm thấy khó lòng mà từ bỏ sự an toàn và sự quan tâm trong một mối quan hệ lãng mạn. Khi có quan hệ tình dục thì sự khó khăn càng tăng thêm. Nhiều mối quan hệ kéo dài lâu hơn mong muốn cũng vì sự ràng buộc này.

  1. Các kỹ năng đối thoại và giải quyết vấn đề kém đi

Một cặp đôi không sống trong sạch thường để cho các hành vi thể lý lấn át trong mối quan hệ đến nỗi hy sinh sự phát triển trí tuệ, tình cảm và tâm linh. Các cặp đôi hay quan hệ tình dục thường dùng nó để giải quyết các vấn đề. Họ thường sống các mối quan hệ của họ qua việc dành thời gian để quan hệ tình dục hơn là để đối thoại với nhau. Trong khi những khía cạnh về thể xác trong mối quan hệ phát triển thì những khía cạnh khác phải chịu hy sinh. M. nói: “Tôi tự nhủ D. là người con gái dành cho tôi. Tuy nhiên, mỗi khi chúng tôi cãi vã thì chúng tôi thường kết thúc bằng quan hệ tình dục, và rồi khi mọi thứ trở lại bình thường thì tôi không còn lo lắng về mối quan hệ của chúng tôi nữa. Mọi thứ có vẻ tốt đẹp và D. thật tuyệt vời chừng nào chúng tôi còn quan hệ tình dục. Nhưng một lần chúng tôi ngưng quan hệ tình dục và cố gắng giải quyết vấn đề chỉ bằng đối thoại thôi. Than ôi, tôi chợt nhận ra cô ấy không phải là người con gái phù hợp với tôi”.

  1. Làm cằn cỗi việc phát triển nhân cách

Các cặp đôi trẻ có thể đắm mình trong các quan hệ tình dục nhiều đến nỗi họ tự tách mình ra khỏi các sinh hoạt, các sở thích và các mối tương quan khác vốn có thể giúp họ phát triển nhân cách.

 

  1. Cảm giác ghen tuông và ngờ vực

Mối dây liên kết mà tình dục tạo nên đã được hoạch định để hiệp nhất vợ chồng một cách trọn vẹn. Trong hôn nhân, cảm giác an toàn tuyệt đối phát sinh do sự kết hiệp này. Ngoài hôn nhân, ý nghĩa hiệp nhất giả tạo này sẽ tạo ra một sự bất an lớn. Người phụ nữ có khuynh hướng “đeo bám” và các chàng trai có thể trở nên kẻ chiếm hữu nhiều hơn.

  1. Cảm thấy như đồ vật bị đem ra sử dụng, tự đánh giá mình thấp kém

Trong một mối quan hệ chỉ biết có tình dục thì việc làm tình thường chiếm phần ưu tiên nhất. Điều này thường dẫn đến tình trạng một người hay cả hai người đều cảm thấy mình chỉ như một đồ vật bị đem ra sử dụng. J., một cô gái trẻ, cho biết: “Chắc chắn tôi không cảm thấy mình cao giá khi biết anh ấy lái xe hai tiếng đồng hồ để đến gặp tôi, mà là anh ấy chỉ muốn quan hệ tình dục thôi. Khi tôi nhận thấy rằng anh ấy chẳng muốn nói chuyện hay đi dạo bên tôi, tôi biết anh ấy muốn sử dụng tôi để quan hệ tình dục. Cho dù anh ấy có nói gì khác, nhưng hành động của anh ấy chứng tỏ là anh ta chẳng quan tâm gì đến tâm hồn tôi cả.”

  1. Lo lắng bị lây bệnh qua đường tình dục hoặc có thai

  1. đã không quan hệ tình dục cho đến ngày vào đại học. Ở đó cô gặp một chàng trai mà cô cho là tuyệt vời nhất. Cô muốn lần đầu tiên của mình thật đặc biệt và cô thật sự nghĩ rằng người mà cô muốn quan hệ là C.. Tuy nhiên, trong lần quan hệ tình dục đầu tiên, dù có dùng bao cao su bảo vệ, cô lại mắc bệnh lây qua đường tình dục. Ở tuổi 28, tất cả các cơ quan sinh sản của cô đều bị cắt bỏ vì ảnh hưởng của căn bệnh ấy. M. không bao giờ có thể có con được nữa.

Bao cao su không thể bảo vệ cơ thể chống lại mọi thứ, và nhiều bệnh đường tình dục lại lây nhiễm qua việc da tiếp xúc với nhau, như HPV (Human Papilloma Virus). Chỉ riêng HPV đã thấy nơi 75% những người Mỹ có quan hệ tình dục. Căn bệnh này hiếm khi được phát hiện (chẳng hạn chỉ có thể nhận thấy triệu chứng trong 8% đàn ông nhiễm bệnh), tuy nhiên HPV gây ra 99% ung thư tử cung ở phụ nữ [2].

Nếu bạn quan hệ tình dục mà không lo lắng gì về các bệnh lây qua đường tình dục thì bạn nên chú ý. Chỉ một bệnh về đường tình dục thôi cũng có thể dễ dàng và âm thầm đi vào cơ thể bạn để giết chết hoặc gây vô sinh cho bạn hay người bạn yêu.

  1. Thiếu tin tưởng hoặc sợ cam kết cho tương lai

Khi mối quan hệ tan vỡ thì theo sau là nỗi đau. Khi chúng ta bị tổn thương, khuynh hướng tự nhiên của chúng ta là tự bảo vệ mình. Khi tình cảm chúng ta bị tổn thương do tình dục, thì do tự vệ chúng ta thường trở nên cứng tin hơn và không dám trao trọn quả tim của mình cho ai nữa.

  1. Trầm cảm hay tự tử

Đôi khi nỗi đau đớn do tan vỡ quá lớn làm người ta không chịu đựng nỗi. Các nghiên cứu cho thấy rằng các bạn tuổi mới lớn có quan hệ tình dục thì dễ bị trầm cảm và muốn tự tử hơn nhiều so với các bạn không có quan hệ tình dục[3].

Br. và E. yêu nhau say đắm suốt thời trung học. Họ quan hệ tình dục và từ đó cảm thấy gắn kết với nhau. Khi cô ấy chia tay với anh vào cuối năm học cuối cấp, anh bị trầm cảm nghiêm trọng và cuối cùng đã tự tử. Nỗi đau mất E. quá lớn khiến anh không chịu đựng nỗi.

  1. Cảm thấy tội lỗi, xấu hổ và hối tiếc

Khi quan hệ tình dục trước hôn nhân, có thể chúng ta cảm thấy tội lỗi, một cảm giác thích đáng khi chúng ta làm điều gì sai trái. Chúng ta  có thể cảm thấy xấu hổ, cảm thấy mình không xứng đáng vì điều mình đã làm. Có thể chúng ta cảm thấy bối rối vì những điều người khác sẽ nghĩ về mình. Chúng ta có thể cảm thấy hối tiếc, nhận thấy rằng mình đã làm cho người khác và chính mình bị tổn thương qua những việc mình đã làm.

  1. Cái nhìn hoen ố về người bạn tình của mình

Chúng ta có thể sẽ có một cái nhìn lệch lạc về người bạn trai hay bạn gái của mình. Một khi đã có sự ràng buộc về quan hệ tình dục, chúng ta trở nên gắn bó với người ấy và bắt đầu đánh giá cao hơn về người ấy. Trong hôn nhân, kết quả này thì rất lành mạnh. Mối liên kết về tình dục giúp cho các mối quan hệ trở nên bền chặt và hiệp nhất.

Ngoài hôn nhân, mối liên kết này hoàn toàn không lành mạnh chút nào. Mới chỉ hôn Chad thôi, tôi, Heather, đã lơ đi các bạn bè khác. Những người bạn này vốn đã cho tôi biết về việc Chad thiếu đức tin và có vướng vào ma túy. Tôi ngưỡng mộ vẻ thanh lịch và điển trai của anh đến nỗi không còn chú ý nhiều đến những chuyện khác. Chỉ nghĩ đến những nụ hôn, tôi hầu như coi nhẹ những khác biệt chính yếu về lối sống của anh ấy. Nếu như chúng tôi mà có quan hệ tình dục hoặc có gì sâu xa hơn về mặt thể xác thì hẳn là tôi đã tiếp tục mối tình ấy với Chad.

 

  1. Khao khát chờ đợi tình dục trong hôn nhân bị giảm đi

Việc khám phá tình dục của cặp đôi có thể là một cuộc phiêu lưu. Tuy nhiên nếu cặp đôi đã thực hiện việc kết hợp tình dục trước hôn nhân, thì họ còn mong đợi điều ấy bao nhiêu vào đêm tân hôn, tuần trăng mật và những năm đầu cuộc hôn nhân? Một số khu nghỉ mát cho biết rằng ngày càng có nhiều cặp vợ chồng đi hưởng tuần trăng mật chỉ tìm các hoạt động vui chơi ngoài trời; phòng ngủ không còn là nơi hấp dẫn nhất của tuần trăng mật nữa[4].

  1. So sánh với những người yêu cũ

Ký ức về chuyện tình dục thường rất mạnh mẽ. Chúng ta nhớ lại những giây phút nhạy cảm và thân mật nhiều hơn các hoạt động khác. Xét về mặt thực tế, chúng ta cũng nhớ lại những gì làm người kia kích thích và rồi đem những ký ức và những kinh nghiệm đó vào giường của vợ chồng. Người vợ hay người chồng đã trải kinh nghiệm có thể hay có những so sánh. Người bạn đời không có kinh nghiệm thì có thể chiến đấu với những bóng ma những người bạn tình trước kia của vợ hay chồng mình.

Jennifer thừa nhận: “Tôi biết rằng chồng tôi đã quan hệ với nhiều cô gái khác trước tôi. Đôi khi tôi thấy mình cứ băn khoăn liệu mình có tốt như họ không, anh ấy có mong tôi tốt hơn không và điều chúng tôi chia sẻ cho nhau có thể nào làm anh ấy vỡ mộng sau tất cả những điều anh ấy đã trải qua? Lý tưởng mà nói thì những chuyện chỉ về xác thịt thôi trong quá khứ không thành vấn đề. Tôi biết anh ấy yêu tôi hơn những người kia, nhưng tôi cũng nhận ra rằng anh ấy có san sẻ về tâm hồn và cả quả tim với những người phụ nữ kia. Dù cho tôi vẫn hy vọng là chuyện quá khứ không là vấn đề, nhưng những ý nghĩ ấy vẫn cứ có trong tâm trí tôi”.

  1. Xa cách Thiên Chúa

Tội dâm dục là nặng nề vì tội ấy là việc sử dụng sai trái món quà Chúa ban cho chúng ta. Hãy tưởng tượng rằng bạn bỏ ra nhiều giờ để thực hiện món quà Giáng Sinh hoàn hảo cho mẹ của bạn. Bây giờ lại tưởng tượng tiếp, vừa khi mở món quà ra, mẹ liền nói: “Đây đâu phải là món quà mẹ cần”, rồi mẹ hủy nó, quăng nó vào thùng rác. Có lẽ bạn sẽ thấy tổn thương do hành động của mẹ, và chắc chắn nó sẽ có ảnh hưởng đến mối tương quan giữa hai mẹ con. Điều này cũng giống như trong mối tương quan của chúng ta với Thiên Chúa và cách chúng ta thường đối xử với món quà tính dục mà Chúa đã trao ban cho chúng ta.

Đối với những ai đã quan hệ tình dục trước hôn nhân (tà dâm) hay ngoài hôn nhân (ngoại tình), thánh Phaolô viết: “Những kẻ dâm đãng, thờ ngẫu tượng, ngoại tình, trụy lạc… sẽ không được Nước Thiên Chúa làm cơ nghiệp” (1Cr. 6,9-10). Rời xa ân sủng mà Chúa ban và ra khỏi quan hệ với Ngài là chọn lựa của chúng ta, chứ không phải do Thiên Chúa. Ngài muốn chúng ta được sống trong tình yêu chân thật, luôn tôn trọng sức mạnh cũng như món quà tính dục và không nếm hưởng điều gì thấp kém hơn sự biểu lộ cao nhất của tính dục.

Dĩ nhiên, không phải tất cả những hậu quả này sẽ xảy ra mỗi lần người ta quan hệ tình dục ngoài hôn nhân. Một số hậu quả xảy ra bất cứ lúc nào, chẳng hạn như làm chúng ta xa cách Thiên Chúa và hạ thấp giá trị tính dục. Một số khác có thể không ảnh hưởng đến cá nhân người quan hệ tình dục như họ không cảm thấy xấu hổ hay chán chường. Dĩ nhiên, những hậu quả tiêu cực này cũng có thể xảy đến trong những mối quan hệ không có tình dục, nhưng sẽ ít hơn và rõ ràng là ít trầm trọng hơn.

Nhiều bạn tuổi mới lớn cho rằng những hậu quả tiêu cực của việc sống thiếu trong sạch sẽ không xảy đến với họ. Một số bạn lại cho rằng các bạn đủ trưởng thành và sẵn sàng giải quyết các hậu quả. Tuy nhiên trong thực tế hai lối suy nghĩ ấy không thể chấm dứt hậu quả của việc quan hệ tình dục trước hôn nhân.

  1. viết:“Bởi vì tôi đã trưởng thành, 22 tuổi rồi và tôi chờ đợi đến tuổi này để có thể quan hệ tình dục, nên tôi nghĩ tôi đã sẵn sàng cho kinh nghiệm này. Điều mà tôi đã không nhận ra đó là không phải là tuổi tác là yếu tố chuẩn mực để người ta sẵn sàng cho một việc như thế, nhưng chính sự cam kết trọn vẹn trong hôn nhân mới là yếu tố cần được trình bày trước tiên. Tôi cảm thấy hối tiếc về quyết định của mình bởi vì tôi nhận thấy rằng tình dục sẽ trống rỗng nếu không có mức độ cao hơn về cảm xúc bên trong của người đã cam kết.”

 

___________

[1] Bonacci & Mary Berth, “Chastity”, 16-7-2002 (staycatholic.com).

[2] Viện Y Khoa, “Các sự kiện về virút Papilloma ở người”, 16/7/2002 (medinstitute.org).

[3] Peterson, Karen S., “Nghiên cứu về tình dục tuổi mới lớn có liên quan đến trầm cảm và tự tử”, USA Today, 06/6/2003 (usatoday.com).

[4] Harris, Joshua, “Boy Meets Girl: Say Hello to Courtship”, Portland, Ore. NXB Multnomah, 2000, 151..

Heather Gallagher, Peter Vlahutin

Gm. Luy Nguyễn Anh Tuấn và Gioan Lê Quang Vinh chuyển ngữ

Read More

Điều hướng bài viết

  • Previous page
  • Page 1
  • …
  • Page 111
  • Page 112
  • Page 113
  • …
  • Page 152
  • Next page
Bài viết mới nhất
THƯ GỬI SINH VIÊN, HỌC SINH CÔNG GIÁO NHÂN DỊP MỪNG XUÂN BÍNH NGỌ
11/02/2026
THƯ GỬI SINH VIÊN, HỌC SINH CÔNG GIÁO NHÂN DỊP MỪNG LỄ CHÚA GIÁNG SINH 2025
20/12/2025
THƯ GỬI ANH CHỊ EM GIÁO CHỨC CÔNG GIÁO NHÂN NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM 20.11.2025  
17/11/2025
Video nổi bật
https://www.youtube.com/watch?v=Td144YDsaGo
Sự kiện sắp tới

There are no upcoming events at this time.

Ủy ban Giáo dục Công giáo – Trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.

Liên hệ

72/12 Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, TP.HCM Get Directions

Phone: +84 931 436 131

Email: [email protected]

Ban chuyên môn
  • Ban Tài liệu và Truyền thông
  • Ban Giáo chức
  • Ban Kỹ năng và Giá trị sống
  • Ban Khuyến học
  • Ban Học viện Thần học
  • Ban Hội Học sinh – Sinh viên
Chuyên mục
  • Tin tức
  • Thư chung
  • Giáo dục
  • Phụng vụ
  • Thư viện
Bản quyền © 2020 thuộc về Ủy Ban Giáo Dục HĐGM VN. Design by JT.