2020
Đời sống thiêng liêng
ĐỜI SỐNG THIÊNG LIÊNG
- ĐỜI SỐNG THIÊNG LIÊNG
- NHÌN VÀO THỰC TẾ CỦA CUỘC SỐNG CON NGƯỜI
Chúng ta thường tất bật lo lắng đủ chuyện, nhưng cuộc sống lại đầy ắp những lo âu buồn chán, không mấy khi được bình an.[1] Lo âu chán nản bởi vì chúng ta bỏ ra nhiều công sức, nhưng cuối cùng chúng ta luôn tự hỏi:
– Liệu có ai để ý đến những gì chúng ta làm không?
– Liệu những việc làm này có ý nghĩa gì không?
1.1. Lo âu chán nản bởi vì chúng ta bỏ ra nhiều công sức, nhưng cuối cùng chúng ta luôn tự hỏi: liệu có ai để ý đến những gì chúng ta làm không?
1.2. Buồn chán có liên hệ mật thiết với đau xót.
Khi chúng ta tự hỏi những gì chúng ta làm thật sự có quan trọng dưới mắt một người nào đó không, thì chúng ta có cảm giác bị điều khiển, bị khai thác, bị bóc lột, là nạn nhân bị sử dụng bởi những người không còn tôn trọng chúng ta như một con người.
Lập tức sự giận dữ nhói lên trong tim và không ngừng dằn vặt chúng ta. Cơn giận nóng dần dần biến thành cơn giận lạnh, chính cơn giận này, là sự đau xót, đã đầu độc chúng ta (trg. 18).
1.3. Nản chí.
Rồi khi chúng ta khám phá ra rằng không những sự hiện diện của chúng ta không quan trọng mà hơn nữa, người ta còn thích sự vắng mặt của chúng ta, thì chúng ta mau chóng đi đến cảm giác kiệt quệ… Chúng ta có cảm giác tội lỗi là mình đã hiện hữu (trg.19).
1.4. Buồn chán, đau xót, nản chí, liên hệ mật thiết đến cảm giác bị cắt đứt. Ba cảm giác này làm chúng ta tin rằng sợi dây nối chúng ta với đời sống đã bị cắt đứt, và đồng thời cũng làm chúng ta tin rằng chúng ta chẳng còn là một thành phần nào nữa.
Trong những liên hệ giao tiếp, nó tạo nên một cảm giác cô đơn kinh khủng, cho dù được bao bọc bởi những người chung quanh, chúng ta tự xem như những cá nhân cô lập, không thuộc vào một cộng đồng nào để được bồi dưỡng và nâng đỡ (trg. 20).
1.5. Cảm giác cắt đứt này là trọng tâm của đau khổ nhân loại.
Chúng ta có thể chịu đựng một số đau đớn thể xác, và ngay cả một số đau đớn tinh thần, nếu chúng ta biết rằng sự đau đớn này làm chúng ta góp phần vào đời sống của nhân loại, nhưng khi chúng ta có cảm giác cắt đứt với đại gia đình nhân loại, thì chúng ta mất can đảm một cách mau chóng.
Cho đến lúc nào chúng ta còn tin sự đau khổ và sự chiến đấu nối liền tình nhân loại với nhau thì chúng ta sẵn sàng chấp nhận làm việc khó nhọc cực khổ. Nhưng khi chúng ta tự xem như người ngoài cuộc, không dự phần vào lịch sử nhân loại, thì lúc đó sự đau khổ không còn là một sự đau khổ để lớn lên, sự chiến đấu không còn là sự chiến đấu để dẫn đến một đời sống mới (trg. 21).
Cuối cùng, một điều phải xảy đến là chúng ta không chấp nhận đau khổ, không chấp nhận thánh giá, nhưng khổ một nỗi là đau khổ và thánh giá cứ tới tấp đến với chúng ta.
- HƠN NỮA CHÚNG TA CÒN LO ÂU CHÁN NẢN, BỞI VÌ CHÚNG TA BỎ RA NHIỀU CÔNG SỨC, NHƯNG CUỐI CÙNG LUÔN TỰ HỎI: LIỆU NHỮNG VIỆC LÀM NÀY CÓ GIÁ TRỊ GÌ KHÔNG?
2.1. Một cuộc sống đầy ứ những việc phải làm.
Một ngày làm việc của chúng ta có không biết bao nhiêu chuyện phải làm, bao nhiêu người phải gặp, bao nhiêu dự án phải thực hiện, bao nhiêu thư phải viết, bao nhiêu cú điện thoại phải trao đổi và bao nhiêu cuộc hẹn phải tôn trọng. Đời sống chúng ta như một chiếc vali chất đầy đồ đạc, chỉ muốn đứt tung đường chỉ (trg. 11).
2.2. Một cuộc sống với những công việc còn dang dở.
Chúng ta luôn bị ám ảnh, bị quấy rầy bởi những việc chưa làm xong, những lời hứa, những đề nghị chưa thực hiện. Khi nào cũng có một cái gì đó phải nhớ, phải làm hay phải nói. Luôn luôn còn công việc bỏ dở chưa làm, còn những người chưa kịp nói, chưa kịp gặp và còn một bổn phận nào đó chưa hoàn thành (trg. 162).
2.3. Một cuộc sống đầy dẫy những ước đoán.
Chúng ta hay nói: ”Nếu tôi bị cảm? Nếu tôi mất việc làm? Nếu người ta tấn công tôi? Nếu có chiến tranh? Nếu sắp tận thế? Nếu…Nếu…? Tất cả những chữ nếu này tràn ngập đầu óc đầy lo âu khắc khoải. Phần lớn những đau khổ của chúng ta là do những ước đoán, những dự liệu không đâu (trg. 13).
2.4. Một cuộc sống dồn dập những tin tức.
Các thông tin của báo chí, truyền thanh, truyền hình, khiến chúng ta phải sống trong một không khí thường xuyên khẩn cấp. Giọng kích thích của người viết, khuynh hướng thích đưa những tin giật gân, những tai nạn khủng khiếp, những tội ác tày trời, những cách ứng xử trước tội lỗi. Nói tóm lại, tất cả những khốn cùng của nhân loại được họ cung cấp từng giờ, từng phút, đã từ từ làm cho chúng ta rơi vào trạng thái nơm nớp lo sợ một tai họa như thể sắp xảy ra ngay sát chúng ta (trg. 15).
2.5. Một cuộc sống tràn ngập những quảng cáo.
Tiếp theo là một loạt những quảng cáo dồn dập được tung ra. Họ nhấn mạnh làm sao để chúng ta luôn nghĩ rằng chúng ta sẽ thiếu một điều quan trọng gì đó, nếu chúng ta không đọc quyển sách này, không dự buổi diễn thuyết nọ, không mua sản phẩm kia. Các điều này lại càng làm cho chúng ta thêm bối rối, thêm lo lắng trước đủ mọi mặt phức tạp của đời sống cộng thêm những lo lắng đã có sẵn muôn đời. Xã hội chúng ta bị lệ thuộc vào những lo lắng giả tạo này (trg. 15).
Chúng ta luôn bị kẹt trong mạng nhện của những dự kiến giả tạo và những nhu cầu đặt định: những bận rộn và những lo lắng lấp đầy đời sống bên ngoài cũng như bên trong. Chúng ta thường tất bật lo lắng đủ chuyện, nhưng cuộc sống lại đầy ắp những lo âu buồn chán, không mấy khi được bình an. Lo âu chán nản bởi vì chúng ta bỏ ra nhiều công sức, nhưng cuối cùng chúng ta luôn tự hỏi:
– Liệu có ai để ý đến những gì chúng ta làm không?
– Chúng ta bận tâm lo lắng quá nhiều chuyện và cùng một lúc mang tâm trạng cay đắng, không bằng lòng, nản chí và cô độc, bởi vì chúng ta bỏ ra rất nhiều công sức, nhưng cuối cùng chúng ta luôn tự hỏi: liệu những việc làm này có ý nghĩa gì không? (trg. 17)
– Làm sao đây?
- GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
- ĐỀ NGHỊ CỦA ĐỨC GIÊSU
Đứng trước cuộc sống tất bật và đầy lo âu của chúng ta, Đức Giêsu không khuyên chúng ta đừng quá xao xuyến.
Chúa cũng không cho rằng việc chúng ta làm không quan trọng, không có giá trị hay không hữu ích. Chúa cũng không khuyên chúng ta xa rời đời sống để đi theo con đường an bình, yên nghỉ, tránh mọi chiến đấu trần gian tục lụy. Chúa chỉ đề nghị chúng ta đi từ “quá nhiều việc” đến “chỉ có một việc cần thiết” là: “Trước hết hãy tìm Nước Thiên Chúa, mọi sự sẽ đến dồi dào với con sau.” (trg. 28)
Nước Thiên Chúa, tức là Nước của Cha Người.
Mục tiêu chính yếu của Đức Giêsu là đem chúng ta về Nhà Cha Người. Chúa Giêsu đến không chỉ để giải phóng chúng ta khỏi tội lỗi và sự chết, nhưng Người còn muốn chúng ta tham dự vào đời sống thần linh của Người.
Được gọi để chia sẻ đời sống với Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần không có nghĩa là từ bỏ đời sống thế gian. Ngược lại những ai thấm nhập sâu xa đời sống thiêng liêng, họ chính là những người được gởi đến thế gian để tiếp tục và hoàn tất công việc mà Chúa Giêsu đã bắt đầu. Đời sống Thánh Linh không làm chúng ta xa rời đời sống thế gian mà làm chúng ta hòa nhập sâu xa hơn vào đời sống trần thế (trg. 39–40).
Chúa Giêsu đã nói với Chúa Cha: “Như Cha đã sai Con đến thế gian, thì Con cũng sai họ đến thế gian.” (Ga 17,18).
Chúa đã nói một cách chính xác rằng không phải vì các tông đồ không thuộc về thế gian mà họ không thể sống trong thế gian.
Chúa đã sống được thì họ cũng sống được.
“Con không xin Cha cất họ khỏi thế gian, nhưng xin Cha gìn giữ họ khỏi ác thần. Họ không thuộc về thế gian cũng như Con đây không thuộc về thế gian.” (Ga 17,15–16).
Ở trong thế gian nhưng không thuộc thế gian. Lời này tóm tắt những gì Chúa Giêsu muốn nói đến đời sống thiêng liêng, đó là đời sống chúng ta được biến đổi trong Chúa Thánh Thần (trg. 40–41).
- BƯỚC VÀO ĐỜI SỐNG THIÊNG LIÊNG
2.1 Đời sống thiêng liêng là gì?
Đời sống thiêng liêng là đời sống tinh thần. Khi nói đến đời sống tinh thần, người ta thường hiểu đó là sinh hoạt của con người nhằm tới ba đối tượng: Chân, Thiện, Mỹ. Ba đối tượng ấy tương ứng với ba năng khiếu: lý trí, ý chí và óc thẩm mỹ.
Những ai chỉ phát huy ba năng khiếu ấy trong phạm vi thế giới hữu hình, thì chỉ có một đời sống con người khép kín. Còn ai phát huy thêm cả năng khiếu tín ngưỡng hướng về siêu việt, thì đời sống tinh thần trở nên phong phú hơn vì mở rộng hơn.
Đời sống tinh thần siêu nhiên cũng gọi là đời sống thiêng liêng. Đó là đời sống tinh thần của những người nhận được sự mạc khải tối hậu và viên mãn của Thiên Chúa trong Đức Kitô [Dt 1,1–2; Cl 1,19; 2,9;Ep 4,13;Ga 1,16–18].
Nó phát xuất từ nguồn gốc trên cao, vì thế được gọi là nguồn gốc siêu nhiên.
Nói cách khác, đời sống thiêng liêng của người Kitô hữu không phải chỉ phát xuất từ những năng khiếu tự nhiên qui hướng về Chân–Thiện–Mỹ trong thế giới hữu hình; và cũng không phải chỉ gồm các nỗ lực của năng khiếu tôn giáo đi tìm những thực tại siêu việt trong các kinh nghiệm tín ngưỡng tự nhiên; nhưng còn là gặp gỡ Đấng Siêu Việt là Thiên Chúa của Thánh Kinh: Thiên Chúa đã tự nguyện tỏ lộ khuôn mặt rất thánh của Ngài cho nhân loại trong ân sủng và tình yêu. Khuôn mặt ấy được biểu lộ cách cụ thể nơi Đức Kitô, Ngôi Lời Nhập Thể Cứu Chuộc [2Cr 4,6].[2]
Gặp gỡ Đấng Siêu Việt như thế nào?
Các giáo phụ Hy Lạp thường diễn tả việc con người gặp gỡ Thiên Chúa qua cuộc hành trình: phát xuất từ Chúa Thánh Thần, qua Chúa Giêsu và tới cùng Chúa Cha. Ngược lại với lộ trình Thiên Chúa đến với con người: Phát xuất từ Chúa Cha (Ga 17,26; Eph 1,3–4), được mạc khải nhờ Chúa Con (Ga 3,16) và được hoàn tất trong Chúa Thánh Thần (Gl 4,6; Rm 5,5).
Vậy đời sống thiêng liêng Kitô hữu là đời sống trong Thần Khí, nghĩa là đời sống do Chúa Thánh Thần làm phát sinh. Đó chính là đời sống mà Chúa Thánh Thần làm cho con người đáp lại tình yêu của Thiên Chúa (trg. 4).
Cho nên lý tưởng của người Kitô hữu sẽ không phải là sự hoàn thiện luân lý đặt cơ sở trên việc tuân giữ một số giới luật. Đó chỉ là một lý tưởng trừu tượng và khô khan.
Điều mà người Kitô hữu quan tâm thực hiện là sống ngay bây giờ sự kết hiệp với Thiên Chúa Ba Ngôi trong đức tin, đức cậy và đức mến. Đó là sự sống đời đời mà ta được bắt đầu nếm cảm ngay trên trần gian này: “Sự sống đời đời đó là họ nhận biết Cha, Thiên Chúa duy nhất và chân thật, và nhận biết Đấng Cha sai đến là Đức Giêsu Kitô”[Ga 17,3] (trg. 15).
2.2. Bước vào đời sống thiêng liêng
Có một đời sống thiêng liêng
– Không có nghĩa là:
- phải từ bỏ gia đình, việc làm, thay đổi cách làm việc,
- từ bỏ các sinh hoạt xã hội, chính trị,
- mất hết thú vui văn chương, nghệ thuật.
– Cũng không có nghĩa là đời sống khổ tu, trường kỳ cầu nguyện.
– Nhưng là một sự trở lại,
- Một sự trở lại luôn bao gồm một kinh nghiệm nội tại, đồng nhất. Những mâu thuẫn, đau khổ, công việc, hy vọng, gia đình, bạn bè, các sinh hoạt, các dự trù, các cảm hứng, chúng ta không còn xem đó là một chuỗi công việc mệt mỏi không dính vào đâu, ngược lại chúng ta xem đó như những xác nhận và mạc khải của Chúa Thánh Thần trong chúng ta. “Những điều ấy”, mà trước đây chúng ta bận tâm lo lắng, bây giờ đến với chúng ta như ân huệ, như thử thách để làm mạnh và làm sâu đời sống mới vừa được khám phá[3].
- Sự trở lại ở đây không làm giảm bớt đau khổ. Đôi khi sự đau khổ còn nhân lên gấp bội. Nhưng trọng tâm chú ý của chúng ta không còn ở chuyện nhiều hay ít. Quan trọng ở chỗ là chúng ta biết chú ý nghe tiếng Chúa Thánh Thần và ngoan ngoãn đi đến nơi mà Ngài dẫn ta đến, dù nơi đó là nguồn hoan lạc hay đau đớn.
- Sự nghèo khó, sự đau đớn, sự đấu tranh, sự lo lắng, sự hấp hối và ngay cả nội tâm tăm tối, những điều này vẫn tiếp tục là một phần trong đời sống chúng ta.
- Sẽ không còn mệt mỏi, đau xót, nản chí, cô đơn, bởi vì cuối cùng chúng ta hiểu, tất cả chỉ là từng giai đoạn, từng chặng trên con đường về Nhà Cha (trg. 43).
- CHÚA THÁNH THẦN TRONG ĐỜI SỐNG THIÊNG LIÊNG
Ở đây, Henri JM. Nouwen đã mô tả đời sống thiêng liêng như sự hiện diện sinh động của Chúa Thánh Thần trong đời sống đầy lo âu của chúng ta. Nó chỉ có thể thực hiện được khi chúng ta dọn một khoảng không gian nội tâm để thực hiện hai kỷ luật sống một mình trong thinh lặng và sống trong cộng đồng, để Chúa Thánh Thần ở giữa chúng ta.
Chúng ta sống trong một thế giới đầy lo âu, nhiều chuyện làm chúng ta bận tâm, rối trí, chúng ta cảm thấy mệt mỏi, đau xót, chán nản và cô độc. Giữa thế giới này, Chúa Giêsu đem đến cho chúng ta một đời sống mới, đời sống của Chúa Thánh Thần. Chúng ta ước muốn có được đời sống này, nhưng chúng ta biết rằng nó thật sự khác hẳn đời sống chúng ta đang sống.
Làm sao chúng ta đi từ một đời sống ngắt quãng qua một đời sống đồng nhất, đi từ nhiều chuyện quá độ đến một chuyện cần thiết duy nhất, từ cuộc đời phân tán đến cuộc đời hiệp nhất trong Chúa Thánh Thần?
Chúng ta phải chiến đấu khó khăn để Chúa Thánh Thần làm việc trên chúng ta và tái tạo chúng ta. Nhưng sự chiến đấu này không quá sức chúng ta. Nó đòi chúng ta phải có phương cách đặc biệt và biết tiên liệu. Nó đòi hỏi chúng ta có một vài giây phút một mình với Chúa để lắng nghe Ngài giữa muôn vàn lo lắng thường nhật. Nó đòi hỏi chúng ta ứng xử khác với người khác, và xem người khác như bạn đồng hành, cùng với họ chúng ta tạo một khoảng không gian mới cho Chúa. Cách sắp đặt có hoạch định, có kỷ luật là những cách cụ thể để tìm Nước Chúa. Nó từ từ phá tan quyền lực của lo âu để dẫn chúng ta đến cầu nguyện không ngừng (trg. 70–71).
Bước đầu sống đời sống thiêng liêng thường rất khó, không phải vì sức mạnh làm chúng ta chìm đắm trong lo âu quá lớn mà vì sự hiện diện của Chúa Thánh Thần thật khó minh định. Nhưng nếu chúng ta trung thành với kỷ luật này, thì một cơn khát mới sẽ nắm bắt chúng ta mà chúng ta không biết. Đó là dấu chỉ đầu tiên có sự hiện diện của Chúa. Nếu chúng ta vẫn còn chăm chú với sự hiện diện thần thánh này thì chúng ta luôn được dẫn dắt càng ngày càng đi sâu vào Nước Chúa. Với ngạc nhiên vui mừng, chúng ta sẽ khám phá mọi sự là một tiến trình thường xuyên đổi mới (4).
III. CÁC NẤC THANG CỦA ĐỜI SỐNG THIÊNG LIÊNG
Giovanni Martinetti đưa ra một số gợi ý để giúp chúng ta biết mình đang ở vị trí nào trong đời sống thiêng liêng.
Như mưa đổ xuống, đau khổ không phân biệt một ai cả: thánh nhân, thường dân, người lành hay tội lỗi thì cũng thế. Nó không tha cho một loại người nào cả. Nếu Đấng Tạo Hóa cho phép có đau khổ, thì chính vì nó là một trường học với nhiều lớp, nhiều cấp khác nhau để tiến dần đến Mục Tiêu Chính Yếu[4] mà mục tiêu chính yếu của con người là mọi người đều có thể nhận thấy và cảm nghiệm rằng khả năng và khát vọng lý tưởng tột đỉnh chính là Tình Yêu sâu thẳm, phổ quát và hoàn hảo.
Tức là Tình Yêu trọn vẹn, “với trọn quả tim, linh hồn và sức lực” song phương, nghĩa là đón nhận và trao hiến, đối với Đấng có tất cả mọi giá trị thượng đẳng. Tức là một Tình Yêu, qua Đấng ấy, biết mở lòng ra để yêu thương bạn bè, người thân, toàn thể nhân loại và hết thảy mọi tạo vật một cách thiết thực.
Tức là một Tình Yêu biết vượt lên trên mọi thứ tình cảm để bao giờ cũng thực sự và thiết tha mong muốn điều tốt cho tất cả. Một Tình Yêu không tì vết, không suy giảm, vĩnh viễn sinh động.
Chính vì Tình Yêu này mà chúng ta sinh vào đời. Tất cả mọi điều tốt khác đều chỉ được xem như là phương thế để đạt cho được Tình Yêu ấy. Thiên đàng không phải là một nơi chốn, mà là tình trạng toàn hảo của Tình Yêu ấy. “Ngươi hãy yêu mến Thiên Chúa ngươi với tất cả con tim, linh hồn và trí lực của ngươi. Đó là giới răn lớn nhất và trên hết trong mọi giới răn. Giới răn thứ hai cũng tương tự như giới răn thứ nhất: Ngươi hãy yêu thương người thân cận như chính mình ngươi” (Mt 22,37–39)(trg. 45).
Theo Giovanni Martinetti, nấc thang của đời sống thiêng liêng được phân chia như sau:
- Đối với những ai không được nhận vào trường Trung Cấp (tức là những ai có lương tâm xấu xa đến một mức độ trầm trọng), thì đau khổ được xem như là hình phạt Thiên Chúa gửi đến (trg. 49).
- Học viên trung cấp
Những học viên trường Trung cấp, lớp thấp hay lớp cao, là đại đa số các tín hữu nguội lạnh, những người bình thường, những người ít nhiều lãnh đạm, những thành phần được người đời coi là “lương thiện” hay “đạo hạnh”, nhưng lại không đặt Mục Tiêu Chính Yếu làm ưu tiên số một. Đại khái, để cho yên lương tâm, họ cố gắng giữ luật luân lý vừa đủ, thường là theo hình thức, bằng cách tránh những lỗi nặng; và họ để cả chú tâm và ước muốn vào nơi những giá trị – phương thế (như gia đình, lợi lộc, sức khoẻ, tình yêu, thành công, văn hóa, bạn bè…), biến chúng trở thành mục đích tối hậu của đời họ.
Họ là những khách hàng của Thiên Chúa, chỉ biết “dùng” Thiên Chúa để chiếm hữu cho được những giá trị trần thế hơn là dùng các giá trị trần thế để đi đến với Thiên Chúa.
Họ là những người nghĩ rằng có dùng tới lời cầu nguyện, thì đặc biệt là để “giật” cho được từ tay Thiên Chúa ít ra một mớ phúc lộc tối thiểu và một “bảo chứng” miễn trừ cho khỏi phải gặp tai họa để họ sống thoải mái mà hưởng thụ với những thần tượng của họ. Những biến cố bi hài mà Đấng Quan Phòng để xảy đến trong cuộc đời của họ: tức tối khó chịu, họ cho đó là những hình phạt không đáng phải chịu, nhưng một khi bực tức nổi loạn qua đi, họ bình tâm để cho những biến cố ấy tác dụng giúp họ nhận ra qua kinh nghiệm là họ nhầm lẫn lớn vì đã xem như mục tiêu chính yếu những gì chỉ là phương thế tương đối – tức là có thể được dùng thay đổi bù chì cho nhau – để đạt tới mục tiêu đích thực. Sự sụp đổ trị giá chứng khoán của những tài sản phù du cảnh giác họ biết là hãy lo đầu tư vào một dịch vụ có lợi hơn, ổn định và vững chắc hơn. Chẳng thế mà thánh vịnh đã lưu ý “Đả thương rồi, Chúa lại chữa lành”(trg. 49–50).
- Sinh viên đại học
Cuối cùng là những sinh viên đại học đang dọn cao học, tiến sĩ. Họ là một nhóm thiểu số đang học chuyên môn. Đó là những tín hữu có một đức tin sâu sắc. Thấm nhuần các bài học, và nhờ biết tích trữ những kho tàng ơn Chúa, họ có khả năng rút ra từ trong mọi biến cố bất lợi, những cấu tố đắng cay chua xót của đau khổ, để tổng hợp thành những hóa chất mới trong mối hiệp thông liên chủ thể. Đối với họ, tai họa có thể xảy đến song đó là cơ hội để cộng tác với cuộc Khổ Nạn của Đức Kitô nhằm cứu độ thế gian. Đối với họ, không bao giờ thánh giá là nặng đến độ không vác nổi và làm cho họ mất bình an, vì họ luôn luôn cảm nghiệm có một sức sống mới và một niềm hạnh phúc sinh động của Thiên Chúa đang hoạt động mạnh mẽ để tái tạo toàn bộ tâm hồn của họ. Đó là một phép lạ của Chúa; và hơn nữa, có thể nói đó là một phép lạ lớn nhất. Đó là niềm vui đích thực mà các thánh hằng cảm nhận ngay cả khi phải sống giữa những gian nan cay đắng của cuộc đời.
Chính trong ánh sáng này, chúng ta nhận ra hoạt động của Chúa Quan Phòng. Sách Thánh của các tôn giáo, nhất là Thánh Kinh đều hiểu việc Chúa Quan Phòng như là một hành động, qua đó, Thiên Chúa hướng dẫn những người biết ra sức dùng những vui buồn sướng khổ giữa cuộc đời mà cộng tác với Ngài, để đi đến chỗ hiệp thông trong một tình yêu bền vững và chia sẻ những phúc lợi thiêng liêng với Ngài (trg. 51).
- TIẾN TRÌNH CỦA ĐỜI SỐNG THIÊNG LIÊNG
Pascal M. Foresi muốn phác họa con đường thăng tiến của người Kitô hữu đi đến Thiên Chúa, trong đời sống tông đồ. Phác họa sau đây, dầu chỉ là một phỏng đoán, có thể lợi ích cho tâm hồn chúng ta và giúp chúng ta tiến tới gần Thiên Chúa hơn. Có thể nó có giá trị đặc biệt vì chúng ta đã ý thức được những trở ngại phải vượt qua, và chúng ta có thể thấy được những thử thách do Thiên Chúa gởi đến hay cho phép, có thể giúp chúng ta tiến bộ. Dĩ nhiên, không phải tất cả những điều Pascal M.Foresi nói đây, sẽ là những gì xác thực như được phác họa, và không phải mọi chi tiết sẽ áp dụng cho tất cả mọi người.[5]
- BƯỚC KHỞI ĐẦU
Khi chúng ta hiểu được bản chất Kitô giáo và chấp nhận trở về với Thiên Chúa, khi chúng ta hiểu rõ rằng mọi sự đều là “phù du ảo ảnh”, và dành chỗ nhất cho Thiên Chúa, chúng ta đã làm bước khởi đầu trong việc chọn lựa Thiên Chúa. Đây là sự khởi đầu của một cuộc linh thao, một thanh tẩy thực sự các giác quan. Rõ ràng là lúc bắt đầu đời sống thiêng liêng, Thiên Chúa đặt chúng ta trong những hoàn cảnh, nơi đó chúng ta thanh tẩy chính chúng ta. Tự nhiên, tất cả chúng ta có khuynh hướng tìm kiếm khoái lạc và hưởng thụ, giác quan, nhưng Thiên Chúa, qua ngọn lửa tình yêu bừng cháy trong linh hồn chúng ta, làm cho chúng ta kiềm chế được giác quan chúng ta.
Trong đời sống tông đồ, việc hãm mình, không được tìm kiếm vì chính nó, nhưng đúng hơn là được thi hành vì tình yêu anh em, và dù do hoàn cảnh mang lại. Như thế việc hãm mình thường rất quan trọng trong đời sống thiêng liêng.
Thực sự, tình thương yêu người lân cận, khuyến khích chúng ta giúp đỡ người khác, nâng đỡ họ, và điều này bao hàm sự từ bỏ chính mình.
Ngay cả, khi vì tình yêu thúc đẩy, người ta không còn cảm thấy được sự hy sinh lớn lao của mình, nhưng không vì thế mà sự hãm mình giảm bớt hay không còn là một công đức.
Trái lại, có thể nói, tình yêu càng lớn thì công đức càng cao, ngay cả khi người ta không còn cảm thấy sự hy sinh. Đối với những việc khác, con đường dẫn tới Thiên Chúa chắc chắn hệ tại ở sự hãm mình và thống hối, nhưng thống hối đến từ việc dâng hiến và từ tình yêu người lân cận.
Điều quan trọng trong giai đoạn này, cũng như trong suốt đời sống thiêng liêng, là sống cuộc sống hiện tại với tràn đầy sức sống, và dồn tất cả chú ý và quyết tâm vào công việc đang ở trong tầm tay, quên đi quá khứ.
Trong thời gian này, đời sống thiêng liêng của chúng ta được xác định do nhất quyết yêu Chúa và tha nhân với tất cả linh hồn, lý trí, sức lực, cho đến khi nào chúng ta tự hiến hoàn toàn. Và nếu chúng ta sống được như thế trọn cả ngày, bấy giờ, khi chúng ta một mình với Chúa, chúng ta sẽ thấy gần gũi với Ngài dễ dàng, vì thực sự chúng ta đã sống với Ngài cả ngày, khi tự hiến hoàn toàn cho tha nhân.
Trong giai đoạn này, đối với Pascal M. Foresi, hình như không có thử thách đặc biệt, nhưng dấu hiệu đặc trưng là sự nồng nhiệt và vui vẻ.
Một ít thử thách nhỏ có thể xảy đến, nhưng chúng ta sẽ giải quyết mau lẹ. Và hình như toàn thể quá khứ chúng ta đã hầu như hoàn toàn bị bỏ qua và quên lãng, những cám dỗ trong quá khứ cũng chỉ là một kỷ niệm xa mờ. Hầu như chúng ta cảm thấy đã đạt được một sự bình an vững chắc, vì thường thường ngay cả cám dỗ cũng không thấy xảy đến. Khởi đầu là giác quan chúng ta được Thiên Chúa chiếm hữu và lôi kéo về với Ngài, vì chúng ta đã được sử dụng cho Ngài (trg. 121–122).
- GIAI ĐOẠN HAI
2.1. Một số hiện tượng có thể xảy ra trong giai đoạn này
Sau giai đoạn một, có thể kéo dài rất lâu, tất cả những ơn mà giác quan có thể cảm thấy được, và những ơn mà Thiên Chúa ban cho để trợ giúp chúng ta trở lại, sẽ ít được cảm thấy hơn.
Thiên Chúa không cất ơn Ngài đi, nhưng Ngài mời gọi chúng ta dâng hiến trọn vẹn hơn. Ở điểm này, những thu hút nội tâm mà trước kia có thể điều khiển giác quan chúng ta, không còn mãnh liệt như trước, và do đó không đủ sức gây nên sự nhiệt thành tự hiến của chúng ta. Giờ thì tình yêu Thiên Chúa sâu đậm mà tinh ròng hơn phải hướng dẫn và nâng đỡ sự dâng hiến của chúng ta.
Và chính trong Chúa Giêsu chịu đóng đinh và bị bỏ rơi, mà chúng ta có thể hiểu rõ hơn và chúng ta có thể tìm thấy sức lực để thắng vượt những khó khăn khởi đầu.
Thiên Chúa muốn thanh tẩy linh hồn một cách sâu xa hơn. Cho nên Ngài bắt đầu thử thách chúng ta bằng cách gởi đến chúng ta những khó khăn dưới nhiều hình thức đau khổ. Chẳng hạn như chúng ta có thể cảm thấy những bối rối thuộc quá khứ, hay những cám dỗ trong tư tưởng. Hầu hết những cám dỗ này chúng ta không phân biệt được đâu là cám dỗ, đâu là tội. Nghi ngờ về đức tin cũng có thể xảy đến. Những nghi ngờ này hầu như xuất hiện nơi những người có thói quen suy tư lập luận tự lập, mà bây giờ họ cần phải loại bỏ. Thường thường những thử thách này có liên quan đến những tật xấu trong quá khứ. Nó phát sinh do tập quán xấu mà bây giờ chúng ta thấy được, để loại bỏ nó, nhờ đó chúng ta có thể thanh tẩy được chúng ta.
Tôi không muốn nói về sự thanh tẩy trọn vẹn, đây chỉ là sự tẩy rửa ban đầu để tấn tới trong đời sống thiêng liêng. Tuy nhiên, đây là lúc cảm thấy được sự khổ tâm thực sự và sâu xa. Vì chưng, chúng ta không cảm được đời sống thiêng liêng, và không tiến bộ hoàn toàn trong việc kết hợp với Thiên Chúa: Một sự xáo trộn trong linh hồn, và chúng ta cảm tưởng rằng chúng ta đang xuống dốc.
Các tác giả tu đức diễn tả sự khổ tâm này như là hậu quả của tia sáng mới mà Thiên Chúa rọi xuống linh hồn chúng ta, cho chúng ta nhìn thấy chúng ta một cách hoàn toàn khác. Hầu hết những đau khổ này không là gì khác là sự hiện diện của Thiên Chúa, Đấng bắt đầu hành động và đi sâu vào hữu thể chúng ta (trg. 123–124).
2.2. Những nguy hiểm trong giai đoạn này
2.2.1. Nguy hiểm thứ nhất.
Một ít người có thể nghĩ: “Trước kia mình đã toàn thiện, thế mà giờ đây, khi mà mình còn thực sự yêu mến Thiên Chúa với tất cả linh hồn và trí khôn, mình phải gánh chịu những đau khổ này, nghĩa là mình sống không nổi, mình bắt đầu sống tu đức tệ hơn, trước kia mình đỡ hơn nhiều…” Do đó, có nguy hiểm là bị thất vọng, nó có thể mang nhiều tai hại dưới nhiều hình thức.
Trong thực tế, sự ngã lòng đè nặng chúng ta, vì những nguyên nhân nào đó, đưa chúng ta đến một trạng thái hầu như mời mọc phạm tội, không phải một sự quyến rũ đặc biệt nào, nhưng vì thiếu sức mạnh và sức sống thiêng liêng (trg. 124).
2.2.2. Nguy hiểm thứ hai.
Nguy hiểm thứ hai ngược lại với sự ngã lòng: đó là khuynh hướng chạy trốn những khó khăn, để khỏi đương đầu với chúng.
Linh hồn không chấp nhận thánh giá, nhưng né tránh và phí phạm chịu đựng thánh giá. Sánh với một linh hồn bối rối, thì linh hồn này uể oải hơn, và nhìn mọi sự cách quá đơn giản, không phải vì chưa được thanh tẩy, nhưng vì không còn can đảm để đương đầu và chấp nhận sự thanh tẩy đó (trg. 124).
2.3. Bí quyết để giải quyết những khó khăn trong giai đoạn này
Bí quyết để giải quyết khó khăn trong giai đoạn này là yêu mến Chúa Kitô bị đóng đinh và bị bỏ rơi, và trong mọi lúc, yêu mến và hiến thân cho tha nhân. Lúc bắt đầu, tình yêu người lân cận bao hàm sự hãm mình ép xác, tiếp đến, tình yêu người lân cận thắng vượt điều linh hồn chúng ta cảm thấy khó chịu, giúp chúng ta tìm gặp Chúa qua sự tiếp xúc với anh em. Bởi đó thương yêu người lân cận và kết hợp với anh em là những phương tiện giúp chúng ta thắng vượt những thử thách này.
Thiên Chúa gởi đến chúng ta những thử thách vì Ngài muốn chúng ta thắng vượt chính chúng ta, thắng vượt những đau khổ và những thương tâm của chúng ta. Sự thắng vượt mọi sự được hoàn tất không phải do sự chạy trốn (quả thực, chỉ cần mở tâm hồn cho kẻ nào có thể giúp chúng ta), nhưng đúng hơn là do việc hiến thân cho tha nhân, vì nhờ họ mà ta gặp được Chúa Giêsu. Và những kẻ khác cũng cần thiết không ít về những gì xảy đến trong tâm hồn chúng ta.
Khi Thiên Chúa đã đạt được đối tượng rồi, tức là linh hồn, đã một lần nguội lạnh khô khan, trở nên hiểu được chương trình của Thiên Chúa, thì Thiên Chúa cất đi những thử thách đó, đôi khi qua lời nói của anh em (trg. 125).
- GIAI ĐOẠN BA: LINH HỒN ĐI VÀO MỘT LỊCH TRÌNH MỚI
3.1. Một số hiện tượng có thể xảy ra trong giai đoạn này
Chúng ta tự hỏi làm sao thấy được những thử thách trong quá khứ. Chúng ta không biết chúng xuất hiện lúc nào và ra sao, vì chúng ta hoàn toàn tiến đến một lịch trình mới của đời sống thiêng liêng.
Lịch trình mới này là một giai đoạn mà nơi đây, sau khi đã cảm được Thiên Chúa hơn, chúng ta bắt đầu tự hiến một cách tự do.
Khả năng của chúng ta hầu như vô tận. Chúng ta ảnh hưởng trên những người tiếp xúc với chúng ta, và chúng ta hiến cuộc đời cho hết thảy mọi đoàn thể Kitô hữu; hàng ngàn kết quả thiêng liêng mang lại, làm vinh danh Thiên Chúa.
Nhưng nếu linh hồn chúng ta rày đã tiến bộ và lớn lên trong đàng thiêng liêng, vẫn còn nhiều mầm mống ẩn khuất phát triển những gì có thể cản trở sự hiệp nhất tâm hồn với Thiên Chúa và tình thương yêu kẻ lân cận. Do đó, cái cây linh hồn bắt đầu sinh hoa trái, phải được người làm vườn là Chúa Giêsu tỉa xén.
Linh hồn, trong mọi tác động, không phải được Thiên Chúa thúc đẩy hoàn toàn. Mọi năng lực của nó được dùng để ban phát. Nó không thể hành động một cách khác, nó phải bảo tồn trọng lượng tinh thần mới mẻ của nó, tuy nhiên tác động của nó vẫn còn mang tính cách nhân loại (trg. 126).
3.2. Những hậu quả
3.2.1. Hậu quả một.
Một trong những thử thách này thường gây ra đau khổ, nhất là không thể hiểu được những kẻ cùng chung sống với chúng ta trong đức tin và quảng đại. Chúng ta đau khổ vì chúng ta không hiểu được tại sao, sau khi trao ban tất cả những gì chúng ta có thể cho, những người mà chúng ta nâng đỡ và trợ giúp, không ít thì nhiều lại bắt đầu chỉ trích chúng ta. Điều đó có thể đưa đến một phản ứng thảm thương rất là tai hại. Thay vì nhìn nhận rằng chính những hành động bác ái của chúng ta chưa hoàn toàn vị tha, chúng ta có thể quay lại chỉ trích họ, vì chúng ta cảm thấy bị xúc phạm bởi những phán đoán của họ. Và bị cám dỗ rút lui, làm loạn, qui ẩn, bỏ đi xa, tất cả những sự này ngăn chặn mức tiến bộ thiêng liêng của chúng ta (trg. 126).
3.2.2. Hậu quả hai.
Nhưng Thiên Chúa dùng mọi sự để thánh hóa chúng ta và để giúp chúng ta tiến bộ.
Một thử thách khác phát sinh do không một kết quả thấy được thành tựu, cho dù chúng ta hoàn toàn tự hiến cho anh em. Điều đó có thể xảy đến, vì con đường chuyển đạt sứ mệnh của chúng ta chưa hoàn toàn ăn rễ sâu vào Thiên Chúa mà còn quá nông cạn. Do đó, nó chưa thật sự bén rễ sâu cho nên có nguy hiểm là thất vọng và phiền toái những khó khăn hiện tại do hoàn cảnh bên ngoài mang đến (trg. 127).
3.2.3. Hậu quả ba.
Những thử thách sau cùng của giai đoạn này được đưa đến là khi chúng ta cảm thấy rằng các đấng bề trên không nhìn thấy được những việc thiện mà chúng ta đã và đang thi hành. Sự đau khổ này sinh ra do lòng tự ái gắn liền với việc thiện mà chúng ta hoàn thành (trg. 127).
3.3. Kết luận cho giai đoạn ba
Nói tóm lại, trong mọi trường hợp, chúng ta có thể cắt nghĩa hoàn cảnh theo các hạn từ sau đây: linh hồn đã thực sự ban phát chính mình, và đã làm nhiều việc thiện, tuy nhiên Thiên Chúa muốn nâng linh hồn lên một mức độ cao hơn, và cho nó khám phá ra một thế giới khác theo sự nhận thức của nó. Như thế, cần phải biết đón nhận ơn Chúa, là những ơn rất đỗi lớn lao. Nếu người ta không nhận được nhiều ơn, người ta sẽ không tiến bộ gì hơn qua nhiều năm tháng.
Cần phải biết đón nhận ơn thánh, vì những thử thách vừa nói trên, chỉ đến với kẻ nào sẵn sàng phục vụ Thiên Chúa. Thiên Chúa không đòi hỏi nhiều đối với kẻ chưa bao giờ phục vụ Ngài.
Giờ thì chúng ta thấy rõ rằng: Nếu chúng ta thắng vượt những thử thách đó, chúng ta thấy được Thiên Chúa mời gọi chúng ta kết hiệp mật thiết với Ngài hơn. Chúng ta hiểu được rằng chúng ta chịu thử thách để thanh tẩy yếu tố nhân loại trong hoạt động tông đồ của chúng ta.
Ở đây, sự thanh tẩy trở nên trọn hảo nhờ kết hiệp với anh em. Lúc đầu chúng ta gặp thấy ngay phải hy sinh vì tình yêu đối với anh em. Kế đến tình yêu anh em cho phép chúng ta thắng được những thử thách tinh thần tiên khởi. Sau cùng, sự thành thật đến từ anh em loại bỏ được nơi chúng ta những khuyết điểm mà chúng ta không nhận thấy được, vì chúng ta tưởng rằng chúng ta không thể có.
Trong giai đoạn của đời sống thiêng liêng này, nó rất là quan trọng đặc biệt với những kẻ mang nhiều tư tưởng, muốn làm sự thiện theo sáng kiến riêng. Con người đó cần phải biết lắng nghe kẻ khác, biết phân biệt tư tưởng của mình với tư tưởng của người khác, đó là sự thanh tẩy tuyệt hảo ý chí, lý trí và con tim.
Nên chi, trong việc kết hiệp với người lân cận, chúng ta thanh tẩy được chính chúng ta mà nếu sống cô lập, chúng ta không thể nào đạt được một cách nhanh chóng. Nếu chúng ta thực sự hiểu rằng chính Chúa Giêsu thanh tẩy chúng ta qua lời nhắc bảo của anh em về lỗi lầm của chúng ta, và nếu chúng ta nhận thấy điều họ nói là đúng, dù nó làm ta đau khổ, thì sự chân thật đó sẽ giải thoát chúng ta, và khuyết điểm dần dần sẽ biến đi.
Cũng cần đạt đến sự hiệp nhất với anh em, ngay khi chúng ta bị chỉ trích và phê bình. Giả sử như nếu người khác nghĩ không đúng về ta, điều đó tự nó sẽ tan biến đi trong tâm trí họ, vì tình thương huynh đệ và sự hiệp nhất chỉ phù hợp với sự chân thật của Chúa Giêsu chân thật và hằng sống.
Ở đây, thấy được con đường chính yếu là sự bác ái huynh đệ. Và nhất là nếu chúng ta cảm thấy bị kẻ khác hiểu lầm, đó là lúc chúng ta phải yêu mến họ, vì họ có thể nhìn thấy nơi chúng ta những khuyết điểm mà chúng ta không thấy được. Thật là vô ích nếu có mặc cảm bị hiểu lầm. Chính trong sự hiệp nhất với người lân cận, với tất cả anh em chúng ta, mà chúng ta trở thành khách quan và đích thực như Thiên Chúa muốn. Đàng khác, chúng ta có thể hiểu mình tự cô lập, tạo nên một thế giới trong đó, chúng ta tìm thấy được một sự kết hợp nơi Thiên Chúa, sự kết hợp bên trong một nhóm người hạn hẹp, nhưng chỉ với những người chịu đựng nổi và hiểu được chúng ta thôi. Tuy nhiên cần phải thận trọng. Những thử thách này có thể xảy đến cho một linh hồn đang tiến bộ trong đàng thiêng liêng, và có thể làm cho nó sa ngã và mất đi đà tiến bộ.
Càng kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa thì càng hợp nhất với người lân cận. Nếu đạt được sự kết hợp mật thiết với Thiên Chúa bằng cách cô lập ta với người lân cận, thì chắc chắn ta chưa có một đời sống thiêng liêng đích thực.
Tôi xin lặp lại, yêu mến người lân cận, có Chúa Giêsu trong lòng, sống giây phút hiện tại, yêu mến thánh giá. Đó là con đường chính yếu phải đi trong cả cuộc đời chúng ta (trg. 128–129).
- TIẾN VÀO CON ĐƯỜNG THIÊNG LIÊNG HOÀN HẢO
Linh hồn, sau khi đã vượt qua những chặng đường của đời sống thiêng liêng được vắn tắt diễn tả trong chương này, có thể được tinh luyện nhiều hơn, cảm thấy được nhiều hơn những việc làm của Thiên Chúa. Trong đời sống tông đồ, nó mang nhiều kết quả, phát triển mạnh mẽ hoa trái của đời sống siêu nhiên. Đôi khi chỉ một sự hỏi han, một lời nói, đủ để giúp người khác nhận thấy được sự hiện diện của Thiên Chúa nơi trần gian.
Dĩ nhiên, thử thách vẫn còn, nhưng bây giờ linh hồn thật sự đã bắt đầu học biết phai mờ đi, vì nó đã hoàn toàn hoà hợp trong đời sống của Thiên Chúa và trong tình yêu đối với người lân cận.
Sự thanh tẩy trở nên cao vượt hơn lúc được thanh luyện bởi các khuyết điểm, vì bây giờ nó được xây dựng trên ý muốn của Thiên Chúa là giữ linh hồn khỏi bị ràng buộc vào những việc làm của nó.
Nhờ đó mà một kẻ đã trưởng thành trong đường lối này, hiểu được rằng chỉ có một mình Thiên Chúa là quan trọng thực sự, và ngoài ra không còn gì khác, dù bị ngược đãi, dù không có kết quả nào mang lại. Đừng quan trọng hóa vấn đề chúng ta lành mạnh hay đau yếu, dễ chịu hay khó chịu trong khi làm việc, cũng đừng quan tâm đến sự biết ơn hay khinh dể việc chúng ta làm.
Đối với những người này, chỉ có một điều quan trọng là vinh danh Thiên Chúa, họ không lo lắng gì đến việc có thể xảy ra hay không thể xảy ra, với họ chỉ cần tình yêu và vinh danh Thiên Chúa là đủ. Một khi chúng ta tiến bộ được như thế sau nhiều năm chuẩn bị, có thể nói được rằng chúng ta bắt đầu một đời sống thiêng liêng hoàn hảo.
Dù chúng ta không thể nào đạt được một tình yêu hoàn hảo tuyệt đối, nhưng thái độ này của linh hồn có thể có giá trị và trổi vượt hơn mọi tác động khác. Ở đây, mọi sự đều qui hướng và nối liền với tình thương yêu người lân cận, với đời sống kết hợp cùng anh em.
Thực sự, một khi chúng ta tiến bộ trong mối tương quan với Thiên Chúa, dần dần tình yêu và sở thích của chúng ta trong các khó khăn thuộc bản tính nhân loại trở thành rộng lớn và phổ quát hơn. Khó khăn của Giáo Hội trở thành khó khăn của chúng ta, không phải do một cố gắng nào của ý chí, nhưng do thông cảm với sự đau khổ mà Giáo Hội phải chịu, vì biết rằng Giáo Hội không phải là một tổ chức thuần túy bên ngoài, nhưng là một nhân loại tính được tái sinh qua phép thánh tẩy, là một thân thể bao hàm tất cả yếu tính nhân loại của các chi thể mình.
Một sự thăng tiến như thế làm cho nhiều đấng thánh biết kết hợp họ với những khó khăn của thời đại và của tổ quốc họ, và biết tìm ra những giải đáp vừa có bản chất tinh thần vừa có bản chất xã hội. Chính sự kết hợp linh hồn với Chúa Kitô, sau khi đã đạt đến cao độ, đã cho linh hồn tiến bộ không ngừng với tất cả nhân loại tính của nó. Quả thực, Chúa Kitô là khởi điểm (alpha) và là cùng đích (omega) của đời sống thiêng liêng chúng ta (trg. 130–131).
- ĐỜI SỐNG THIÊNG LIÊNG CỦA CHÚA GIÊSU
Điều không chối cãi là Chúa Giêsu có một đời sống lấp đầy: Chúa giảng Tin Mừng cho các tông đồ, cho dân chúng, săn sóc kẻ đau ốm, trừ quỷ, trả lời các câu hỏi của bạn bè, của kẻ thù và đặc biệt không bao giờ ở lâu một chỗ (trg. 132).
“Chiều đến, khi mặt trời đã lặn, người ta đem mọi kẻ ốm đau và những người bị quỷ ám đến cho Người, cả thành xúm lại trước cửa. Chúa Giêsu chữa nhiều kẻ ốm đau mắc đủ thứ bệnh tật, và trừ nhiều quỷ. Sáng sớm, lúc trời còn tối mịt, Người đã dậy, đi vào nơi hoang vắng và cầu nguyện. Simon và các bạn kéo nhau đi tìm. Khi gặp Người, các ông thưa: ‘Mọi người đang tìm Thầy đấy!’. Người bảo các ông: ‘Chúng ta hãy đi đến các làng xã chung quanh, để Thầy còn rao giảng ở đó nữa, vì Thầy ra đi cốt để làm việc đó.’ Rồi Người đi khắp miền Galilê rao giảng trong các hội đường và trừ quỷ” (Mc 1,32–39).
Tất cả những gì chúng ta biết về Chúa Giêsu đều nói lên một điều quan trọng là làm theo ý Chúa Cha.
Điểm nổi bật trong Phúc âm là sự vâng lời tuyệt đối này.
Từ những lời đầu tiên Chúa nói trong Đền Thánh: “Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao?” (Lc 4,9), cho đến những lời cuối cùng: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha” (Lc 23,46).
Mối lo duy nhất của Chúa Giêsu là hoàn thành ý Chúa Cha.
Người nói: Người Con không thể tự mình làm bất cứ điều gì, ngoại trừ điều Người thấy Chúa Cha làm. Công việc của Chúa Giêsu làm là sứ mạng Chúa Cha giao phó để hoàn thành, và những lời Chúa rao giảng là những lời Chúa Cha truyền.
Người đã nói rõ rằng: “Nếu tôi không làm việc của Cha tôi, các ông đừng tin tôi.” (Ga 10,37) “ và lời anh em nghe đây không phải của Thầy nhưng là của Chúa Cha, Đấng đã sai Thầy” (Ga 14,24).
Chúa Giêsu là Đấng Cứu Chuộc không chỉ do những gì Người rao giảng hay những gì Người làm cho chúng ta, nhưng còn vì Người đã rao giảng và thi hành đúng theo ý muốn của Chúa Cha.
Mối quan hệ do sự vâng lời Chúa Cha là trọng tâm đời sống của Chúa Giêsu.
Điều này khó hiểu đối với chúng ta, bởi vì ở xã hội chúng ta đang sống, chữ vâng lời có nhiều nghĩa tiêu cực. Vâng lời làm ta nghĩ đến nhà cầm quyền áp đặt ý chí của họ trên ước muốn của chúng ta, nhắc ta nhớ đến những kỷ niệm khó khăn thuở thơ ấu, vâng lời dưới sự đe dọa của hình phạt. Nhưng vâng lời này không tương ứng với vâng lời của Chúa Giêsu.
Vâng lời của Chúa Giêsu là sự lắng nghe hoàn toàn và không hề nghi ngờ vào Người Cha yêu quý. Giữa Người Cha và Người Con chỉ có tình yêu. Tất cả những gì thuộc về Người Cha, Người Cha giao phó cho Người Con, và tất cả những gì Người Con nhận, Người Con dâng lại cho Người Cha. Người Cha giao phó hoàn toàn cho Người Con và đặt mọi sự trong tay Người Con: tất cả sự hiểu biết (Ga 12,50), tất cả vinh quang (Ga 8,54), tất cả quyền lực (Ga 5,19–21). Và Người Con phó thác hoàn toàn cho Người Cha và hoàn lại tất cả trong tay Người Cha. “Thầy từ Cha mà đến và Thầy đã đến thế gian. Thầy lại bỏ thế gian mà đến cùng Chúa Cha.” (Ga 16,28).
Tình yêu không thể cạn giữa Người Cha và Người Con, tình yêu này đã ôm hết tất cả các dạng tình yêu khác và còn làm vượt trội hẳn lên. Tình yêu này bao gồm tình yêu của cha, mẹ, anh, chị, chồng, vợ, người thầy và người bạn. Nó vượt xa tình yêu của con người vốn là một tình yêu có giới hạn. Đây là một tình yêu chăm chú và đòi hỏi, một tình yêu vị nghĩa nhưng nghiêm khắc, một tình yêu êm dịu nhưng mạnh mẽ. Đó là một tình yêu cho sự sống và chấp nhận sự chết. Chính trong tình yêu thần thánh này mà Chúa Giêsu nhập thể làm người và chịu chết trên cây Thánh Giá. Tình yêu này, bao gồm tất cả và thể hiện mối liên hệ giữa Người Cha và Người Con, là một Đấng Thánh, ngang hàng với Người Cha và Người Con. Đấng có một danh hiệu riêng, đó là Chúa Thánh Thần. Người Cha yêu Người Con và tỏa lan trong Người Con. Người Con được Người Cha yêu và trả lại tất cả những gì thuộc về Người Con cho Người Cha. Chúa Thánh Thần chính là tình yêu, bao gồm muôn đời Người Cha và Người Con.
Cộng đồng tình yêu muôn đời này là trọng tâm và cội nguồn đời sống thiêng liêng của Chúa Giêsu, một đời sống chăm chú liên tục vào Người Cha, trong tình yêu của Chúa Thánh Thần. Chính đời sống này đã nuôi dưỡng cuộc đời Chúa Giêsu. Dù lúc ăn, lúc uống, lúc nhịn đói, lúc cầu nguyện hay hành động, lúc di chuyển hay nghỉ ngơi, lúc rao giảng hay dạy bảo, lúc trừ quỷ hay chữa bệnh, Chúa đã làm trong Chúa Thánh Thần của tình yêu. Chúng ta sẽ không bao giờ hiểu toàn diện ý nghĩa chức vụ dồi dào, biến thiên của Chúa Giêsu nếu chúng ta không thấy tất cả mọi sự này bám rễ sâu trong một điều:
Lắng nghe Chúa Cha trong mối liên hệ yêu thương vẹn toàn.
Chỉ lúc nào chúng ta hiểu được sự bám rễ này thì lúc đó chúng ta mới hiểu mục đích của Chúa Giêsu là đưa chúng ta vào cộng đồng này, đi vào một cách mật thiết nhất.[6]
Đức Giêsu là câu trả lời cho sự hiện hữu có vẻ tràn đầy nhưng thật thông thoáng, có vẻ tất bật nhưng thật sự cắt đứt với thế giới, sống mọi nơi nhưng không bao giờ ở tại nhà mình.
Chúa muốn dẫn chúng ta vào nơi cư trú thật. Nhưng tiếng gọi của Người kéo chúng ta lại với đời sống thiêng liêng chỉ có thể được thực hiện khi chúng ta sẵn sàng cáo mình, thẳng thắn nhìn nhận chúng ta đã kéo lê một đời sống thật ưu phiền, hoàn toàn mất trọng tâm và nhận biết đời sống này đã cắt vụn đời sống của chúng ta ra từng mảnh (trg. 24).
Chỉ lúc đó ước muốn gặp lại nơi cư trú thật mới có thể phát triển trong chúng ta.
Chính ước muốn này mà Đức Giêsu nói với chúng ta: “Trước hết hãy tìm Nước Thiên Chúa, mọi sự sẽ đến dồi dào với con sau.”
Lm. Giuse Đỗ Văn Thụy
__________
- Henri JM. Nouwen,Making All Things New – An Invitation to the Spiritual Life, trg. 16.
- Norberto,Sống bởi Thánh Khí, trg.3.
- Giovanni Martinetti,Đau Khổ: vấn đề gai góc,trg.3.
- Pascal M.Foresi,Reaching for more (Con đường thăng tiến), trg.120.
- Pascal M.Foresi,Reaching for more (Con đường thăng tiến), trg.120.
- Henri JM. Nouwen,Making All Things New – An Invitation to the Spiritual Life, trg. 30–35.
2020
Tác động của chủ nghĩa tương đối trên giới trẻ
“Sự độc tài của chủ nghĩa tương đối” là cụm từ gắn liền với Đức Bênêđictô XVI, vị giáo hoàng kêu gọi Giáo Hội phải cảnh giác và chống lại chủ nghĩa tương đối vì những tác động tai hại của nó trên mọi lãnh vực của đời sống con người và xã hội. Cùng một nhận định, trong tông huấn Evangelii Gaudium, Đức giáo hoàng Phanxicô viết: “Tiến trình tục hóa đã đẩy đức tin và Giáo Hội vào lãnh vực cá nhân riêng tư và thầm kín. Hơn nữa, với việc phủ nhận tất cả chiều kích siêu việt, nó tạo ra những sai lệch về mặt đạo đức, làm suy yếu ý nghĩa về tội cá nhân và xã hội, âm thầm đẩy mạnh chủ nghĩa tương đối, đưa đến việc mất định hướng nói chung, đặc biệt là trong giai đoạn vị thành niên và tuổi trẻ, là nhóm người rất dễ bị chao đảo trước những thay đổi như thế” (số 64).
Vậy, chủ nghĩa tương đối là gì? Tại sao nó gây tác hại cho đời sống con người, cách riêng là giới trẻ? Giáo Hội có thể làm gì trước những tác hại này? Đây là những câu hỏi mà bài viết này quan tâm nghiên cứu và gợi ý suy nghĩ.
- TỪ NGỮ VÀ LỊCH SỬ
Theo Từ điển Webster, “chủ nghĩa tương đối” có hai nghĩa.
Một là “lý thuyết cho rằng nhận thức có tính tương đối do bản chất giới hạn của tâm trí và do những điều kiện nhận thức”. Hai là quan điểm cho rằng “những chân lý về mặt đạo đức tùy thuộc vào các cá nhân và các nhóm tuân giữ”. Nói cách khác, không có chân lý phổ quát, chỉ có những chân lý khác nhau. Thế nên Simon Blackburn, giáo sư Triết học tại đại học Cambridge, giải thích chủ nghĩa tương đối là “những ý kiến khác nhau, không có quyền bính độc nhất, có bao nhiêu dân tộc, xã hội, văn hóa, thì có bấy nhiêu ‘chân lý’.
Chủ nghĩa tương đối không phải là điều tự nhiên từ trời rơi xuống, nhưng có thể tìm về gốc gác trong triết học Hi Lạp từ thế kỷ V trước Công nguyên. Protagoras (490–420 B.C.) được coi như tiếng nói chính thức đầu tiên về chủ nghĩa tương đối khi ông tuyên bố, “Con người là thước đo mọi sự”. Trước Protagoras còn có Heraclites với chủ trương “mọi sự đều thay đổi”, không ai tắm hai lần trên cùng một dòng sông, do đó chẳng có gì là tuyệt đối.
Đến thời Trung Cổ, William Ockham (thế kỷ 14) đặt nền móng cho chủ thuyết Duy danh (Nomenalism), không nhìn nhận các phổ hữu, chỉ nhìn nhận sự hiện hữu của cái đặc thù, những cá thể sự vật. Sự tương tự giữa các sự vật không còn được coi như đặc tính chung về bản tính, do đó những ý niệm, luật lệ, ý tưởng trừu tượng và phổ quát chỉ là “tên gọi” hoặc những hình ảnh trong tâm trí.
Trong thời đại ngày nay, có thể thấy phản ánh của chủ thuyết duy danh nơi lý thuyết được gọi là Đạo đức hoàn cảnh (Situation Ethics). Người ta cho rằng tình yêu là nguyên lý chính yếu trong mọi quyết định luân lý. Có thể xem đây là một nỗ lực giữ thế trung dung giữa một bên là nền luân lý xây dựng trên những mệnh lệnh tuyệt đối (và bị coi là duy lề luật), còn một bên là lối sống phóng túng, chẳng có lề luật hay nguyên tắc nào hướng dẫn cả. Thế nhưng vấn đề ở đây là “nguyên lý tình yêu” cũng dễ trở thành nguyên lý thực dụng, nghĩa là nhằm đem lại những điều tốt nhất cho nhiều người nhất. Nghe thì rất hay, nhưng liệu có nguy cơ “lấy mục đích để biện minh cho phương tiện” không? Đề cao tình yêu mà không có nội dung đạo đức cụ thể sẽ dẫn đến những chọn lựa luân lý tùy theo sở thích mỗi cá nhân.
- NHỮNG LOẠI HÌNH CỦA CHỦ NGHĨA TƯƠNG ĐỐI
Chủ nghĩa tương đối xuất hiện dưới nhiều hình thức:
- a) Tương đối về thẩm mỹ:Quan điểm triết học cho rằng phán đoán về cái đẹp tùy thuộc vào các cá nhân, nền văn hóa, thời đại, bối cảnh, do đó không có những tiêu chuẩn phổ quát cho cái đẹp. Một tác phẩm nghệ thuật hoặc điêu khắc có thể được người này cho là đẹp nhưng người khác thì không.
- b) Tương đối về nhận thức:Mọi chân lý đều là tương đối. Không có hệ thống chân lý nào vững chắc hơn hệ thống kia, cũng chẳng có những chuẩn mực khách quan về chân lý. Hệ quả là chẳng có Thiên Chúa của chân lý tuyệt đối, cũng không chấp nhận niềm tin cho rằng lý trí có thể khám phá chân lý tuyệt đối.
- c) Tương đối và duy chủ thể (Subjectivism):Mỗi cá nhân hoặc chủ thể (cùng với cảm giác, ý tưởng, thái độ, cảm xúc, niềm tin của họ) chiếm vị thế ưu tiên trong trật tự thế giới cũng như trong nhận thức về thế giới.
Các học giả ngày nay thường nói đến bốn trường phái tư tưởng liên quan đến chủ nghĩa tương đối: tương đối văn hóa, tương đối nhận thức, tương đối về cấu trúc xã hội, và tương đối hậu hiện đại.
- a) Tương đối văn hóa:Các nhóm ngôn ngữ và văn hóa khác nhau có thể có những quan điểm nền tảng khác nhau, dẫn đến vũ trụ quan khác nhau. Không có nền văn hóa nào cao hơn, mọi nền văn hóa đều bình đẳng.
- b) Tương đối nhận thức:Quan điểm về hữu thể luận tùy thuộc vào những khung nhận thức và những phạm trù khác nhau.
- c) Tương đối về cấu trúc xã hội:Những lực khác nhau trong cấu trúc xã hội dẫn đến việc hình thành những từ ngữ và quan điểm khác nhau.
- d) Tương đối hậu hiện đại:Không chấp nhận khách thể tính, khước từ những ý niệm phổ quát cũng như chân lý phổ quát. Có lẽ đây là lãnh vực mà Giáo Hội phải quan tâm nhiều nhất.
- ĐẶT VẤN ĐỀ VỚI CHỦ NGHĨA TƯƠNG ĐỐI
Ngay từ đầu, bài viết này đã nhắc tới cụm từ “sự độc tài của chủ nghĩa tương đối”. Để diễn tả đầy đủ hơn, cần đọc lại nguyên văn bài giảng của Hồng y Joseph Ratzinger trong Thánh Lễ khai mạc Mật nghị bầu giáo hoàng: “Ngày nay, việc có một đức tin rõ ràng dựa trên Kinh Tin Kính của Hội Thánh lại thường bị dán nhãn hiệu là bảo thủ. Đang khi đó, chủ nghĩa tương đối, nghĩa là để mình “bị sóng đánh trôi dạt theo mọi chiều gió đạo lý” (x. Ep 4,14) xem ra lại được coi là thái độ phù hợp nhất với thời đại. Người ta đang xây dựng thứ độc tài của chủ nghĩa tương đối vốn không nhìn nhận bất cứ điều gì là vững vàng, và mục đích tối hậu của nó chỉ là cái tôi và ước muốn ích kỷ của bản thân”.
Trong một dịp khác, khi bàn đến “Nền tảng nhân học của gia đình”, Đức Bênêđictô XVI nói rõ hơn: “Ngày nay, có một lực cản đặc biệt đáng ngại trong việc giáo dục, đó là sự hiện diện rộng khắp của chủ nghĩa tương đối trong xã hội và văn hóa. Chủ nghĩa này không nhìn nhận điều gì là vững vàng, cuối cùng tiêu chuẩn tối thượng duy nhất là cái tôi và những ước muốn của nó. Và ẩn dưới dáng vẻ của tự do, nó lại biến thành ngục thất cho mỗi người vì nó ngăn cách con người với nhau, khóa chặt mỗi người trong cái tôi ích kỷ của mình”.
Như thế, chủ nghĩa tương đối không chỉ là vấn nạn riêng cho Giáo Hội Công giáo nhưng còn là vấn nạn chung cho cả xã hội và văn hóa. Bản chất độc tài của chủ nghĩa tương đối là ở chỗ nó chỉ chấp nhận quan điểm cho rằng mọi chọn lựa chủ quan của mỗi người đều có giá trị như nhau; do đó kẻ nào chủ trương có những chân lý và thiện hảo khách quan… thì bị coi là thiếu khoan dung!
Quan điểm này chắc chắn sẽ gây tác hại khôn lường về mặt đạo đức. Một người chủ trương tương đối về mặt luân lý sẽ định nghĩa luân lý là cái gì mang tính cá nhân, chủ quan, có thể thay đổi. Luân lý mang tính chủ quan và phải tôn trọng tự do của mỗi cá nhân. Do đó, cái được gọi là những chuẩn mực khách quan trong đời sống luân lý sẽ bị coi là sự áp đặt từ trên xuống mỗi cá nhân, gây ra mặc cảm tội lỗi cho người ta… và như thế, đương nhiên là sai và không thể chấp nhận.
Thế nhưng, khẳng định “Mọi chân lý đều là tương đối” có hợp lý không? Nếu khẳng định mọi chân lý đều tương đối, thì ngay cả khẳng định đó “Mọi chân lý đều tương đối” cũng không thể là tuyệt đối, nhưng chỉ có tính tương đối! Nếu cho rằng chúng ta chỉ có thể thấy những khía cạnh khác nhau của cùng một thực tại (chứ không phải chính thực tại), vậy giả như những cái nhìn đó mâu thuẫn nhau thì liệu chúng ta có thể tin vào nhận thức của mình không? Hai tác giả Francis J. Beckwith và Gregory Koukl, trong cuốn Relativism: Feet Firmly Planted in Mid–Air (1998) đưa ra bảy sai lầm lớn của chủ nghĩa tương đối:
- a) ”Người chủ trương tương đối không thể kết tội người khác làm sai”.Vì không có điều được nhìn nhận là chân lý khách quan, nên bạn không thể kết luận người khác làm sai, bởi lẽ không có chuyện làm sai, mỗi người đều làm đúng theo chuẩn mực cá nhân của họ. Phải có một chuẩn mực luân lý chung thì mới có thể nói người này làm sai, người kia làm đúng. Còn nếu chỉ là chân lý chủ quan thì chúng ta không thể nói người khác là sai.
- b) ”Người chủ trương tương đối không thể than phiền về vấn đề sự dữ”.Vì không có chân lý khách quan nên sự dữ cũng không hiện hữu. Tại sao? Trong một thế giới theo chủ nghĩa tương đối, ý niệm về “sai, trái” không hiện hữu, do đó cũng không thể coi sự dữ là “sai, trái”. Người chủ trương tương đối đơn giản là phải chấp nhận sự dữ như là chân lý chủ quan của người khác, chứ không phải là cái gì sai trái.
- c) ”Người chủ trương tương đối không thể nguyền rủa, cũng không thể ca tụng ai”.Vì không có chuẩn mực khách quan cho cái đúng và cái sai, nên cũng không có chuẩn mực để đánh giá tốt hay xấu, ca tụng hay nguyền rủa.
- d) ”Người chủ trương tương đối không thể nói đến bất công hay bất toàn”.Vì không có chuẩn mực cho cái đúng hay sai, nên cũng không có chuyện bất công hay bất toàn. Trong một nền văn hóa chủ trương mọi sự là tương đối, cái gọi là “bất công” đơn giản chỉ là người khác hành động theo chân lý chủ quan của họ. Hành động đó có thể gây ra “bất công” cho người khác, nhưng lại là điều đúng và tốt theo chân lý chủ quan của họ.
- e) ”Người chủ trương tương đối không thể tiến triển về mặt đạo đức”.Vì không có chuẩn mực cho cái đúng và cái sai, tốt và xấu, nên làm sao có sự tiến triển từ cái sai đến cái đúng, từ cái xấu đến cái tốt? Phải có chuẩn mực khách quan để đánh giá thì mới có thăng tiến.
- f) ”Người chủ trương tương đối không thể bàn chuyện luân lý cách nghiêm túc”.Vì cho rằng luân lý tính là chủ quan, tùy vào mỗi cá nhân, nên không thể nào bàn đến chuyện đạo đức vì mỗi người chủ trương khác nhau. Điều được cho là đúng với người này không hẳn đã là đúng với người kia.
- g) ”Người chủ trương tương đối cũng không thể nói đến sự khoan dung”.Không có chuẩn mực cho cái đúng, sai, nên không ai đúng và cũng chẳng sai sai. Như thế, làm gì có cái gọi là khoan dung.
- TÁC ĐỘNG CỦA CHỦ NGHĨA TƯƠNG ĐỐI TRÊN GIỚI TRẺ
Thật khó để đo lường tác động của chủ nghĩa tương đối trên giới trẻ. Không có thống kê hoặc dữ liệu để có thể khẳng định những tác động tiêu cực hoặc tích cực của chủ nghĩa tương đối trên giới trẻ. Chỉ có thể dựa vào những tiếp cận thường ngày và kinh nghiệm mục vụ để nói rằng tác động này rất tinh tế và điều đáng quan tâm hơn cả là tác động của chủ trương tương đối về đạo đức. Một số người nghĩ rằng chủ trương tương đối về mặt đạo đức đem lại ích lợi là giúp phát triển sự đa dạng văn hóa và thực hành đạo đức, đồng thời làm cho người ta thích nghi tốt hơn khi nhận thức và kỹ thuật thay đổi trong xã hội. Dù có một vài mặt tích cực thì trong thực tế, nền văn hóa với chủ trương tương đối đang đặt ra cho Giáo Hội nhiều thách đố đáng quan ngại. Ở đây xin nói đến năm lãnh vực liên quan đến tác động của chủ trương tương đối về mặt đạo đức.
- a) Kiếm tìm sự độc lập
Chủ trương tương đối tác động trên cách nghĩ và cách sống của người trẻ rất tinh tế khiến chính họ cũng không ý thức. Cách tổng quát, có những nghiên cứu cho thấy nền văn hóa trong thời đại chúng ta cho rằng chân lý chỉ có tính tương đối. Ai cũng có lập trường của mình và điều buồn cười là ai cũng cho rằng chỉ có mình là đúng. Đối với người trẻ, tìm kiếm sự độc lập là thành phần trong tiến trình tăng trưởng. Từ tuổi thiếu niên phải sống lệ thuộc bước sang tuổi teen muốn sống độc lập, người trẻ luôn đi tìm căn tính của mình. Sự tìm kiếm này song hành với nhu cầu khẳng định bản thân trong xã hội. Do đó, sự khẳng định tính độc lập này dẫn người trẻ đến chủ trương tương đối. Chẳng hạn một bạn trẻ có thể cảm thấy cách để khẳng định bản thân là nhấn mạnh lập trường của mình. Cho dù lập trường của bạn đó có phần hợp lý, nhưng thái độ này có thể dẫn người trẻ đến chỗ không dễ dàng đón nhận chân lý khách quan.
- b) Sự khoan dung
Một vài tác giả cho rằng “khoan dung” cũng có thể là một trong những nguyên cớ góp phần củng cố chủ nghĩa tương đối. Đôi khi sự khoan dung có thể ảnh hưởng đến tính khách quan của chân lý. Chúng ta dạy người trẻ phải tôn trọng, đón nhận, không đối đầu…là đúng, nhưng điều này cũng có thể làm giảm nhẹ tính khách quan và những đòi hỏi của chân lý. Những người chủ trương tương đối thường bảo vệ lập trường của họ bằng cách khẳng định rằng họ khoan dung hơn những người khác, bởi lẽ đối với họ, mọi sự là tương đối và không có niềm tin nào là duy nhất tốt lành và đúng đắn. Trong bối cảnh thời đại đa văn hóa, đa chủng tộc, dĩ nhiên khoan dung là một đức tính cần trân trọng, tuy nhiên nó cũng có thể mang lại hậu quả tiêu cực do ảnh hưởng của chủ nghĩa tương đối.
- c) Tục hóa
Không thể phủ nhận rằng làn sóng tục hóa đang lan rộng khắp thế giới, len lỏi vào mọi lãnh vực của đời sống. Giữa tục hóa và chủ nghĩa tương đối có mối liên hệ mật thiết đến nỗi có người cho rằng tục hóa là một trong những hệ quả của chủ nghĩa tương đối. Người chủ trương tương đối không chấp nhận chân lý tuyệt đối, do đó một trong những điều phải vứt bỏ ngay là các tôn giáo với hệ thống tín điều và cơ cấu tổ chức. Đây chính là dấu hiệu cụ thể của tục hóa như Charles Taylor nói, “Tục hóa hệ tại ở việc rời bỏ niềm tin và thực hành tôn giáo, và việc người ta xa rời Thiên Chúa, không đến nhà thờ nữa”.
Sự khước từ tôn giáo dẫn đến một xã hội tục hóa, ở đó mỗi cá nhân tự quyền quyết định tốt, xấu. Không ai có quyền đưa ra lề luật hoặc quy tắc ứng xử vì mỗi người đều cho mình là đúng nhất. Hơn ai hết, người trẻ ngày nay chịu ảnh hưởng bởi lối suy nghĩ này. Không có lề luật luân lý khách quan nào cả, mỗi người thoải mái làm những gì mình cho là đúng. Thực tế của châu Á cho thấy đang gia tăng số người trẻ rời bỏ Giáo Hội, cụ thể là tại Hàn quốc, nơi vẫn được đánh giá cao về đời sống đức tin và nhiệt tình truyền giáo.
- d) Toàn cầu hóa
Người trẻ thường chịu ảnh hưởng của các nhóm bạn. Trong thời đại toàn cầu hóa, nhóm bạn không chỉ là những người mà họ gặp gỡ trực tiếp nhưng còn là số đông họ gặp trong thế giới ảo (mà tác động lại rất thật): Facebook, Twitter, những mạng xã hội khác. Khi chủ nghĩa tương đối thấm vào văn hóa hiện đại thì qua những phương tiện truyền thông này, nó tác động rất nhanh trên người trẻ. Hãy thử đọc những comments của người trẻ về nhiều vấn đề cuộc sống, hãy thử theo dõi những chương trình truyền hình thực tế, sẽ thấy ảnh hưởng của chủ nghĩa tương đối lớn ra sao. Câu nói quen thuộc của người trẻ ngày nay là: Nếu người khác làm được, tại sao tôi lại không được? Và cứ thế, những giá trị đạo đức khách quan dần dần bị xói mòn.
Thêm vào đó, lượng thông tin khổng lồ qua các phương tiện truyền thông làm cho con người nói chung, người trẻ nói riêng, bị chìm ngập, không còn giờ để suy nghĩ về ý nghĩa và mục đích sâu xa hơn của đời sống, chỉ mong tìm những gì thỏa mãn thị hiếu và khao khát nhất thời.
- e) Mất căn tính văn hóa
So với những thế hệ trước, người trẻ ngày nay có quá nhiều phương tiện để tiếp cận thông tin và các nền văn hóa trên thế giới: internet, du lịch, di dân… Sự tiếp cận này dẫn đến những so sánh và loại trừ những giá trị đạo đức truyền thống vì bị coi là cổ hủ. Chẳng hạn tại châu Á, hôn nhân thử và quan hệ tình dục trước hôn nhân đang trở thành một trào lưu được cho là tự nhiên và hợp lý. Với nhiều người trẻ, đức khiết tịnh chỉ còn là món đồ xa xỉ. Mỗi người có quyền chọn và sống theo những gì mình cho là đúng, có như thế cuộc sống mới đúng nghĩa tự do và hạnh phúc. Rõ ràng là chủ nghĩa tương đối đã thấm vào cách nghĩ và cách sống của họ.
Có thể tóm lại bằng nhận định của Hội đồng Giám mục Hoa Kỳ: “Giáo Hội nhấn mạnh các nguyên tắc luân lý khách quan, có giá trị đối với tất cả mọi người, nhưng có nhiều người lại cho rằng các giáo huấn này thật bất công, nghịch với những quyền căn bản của con người. Các lý luận này cách chung phát xuất từ một hình thức của chủ nghĩa tương đối về luân lý, nối kết với sự tin tưởng vào quyền tuyệt đối của mỗi cá nhân. Dựa theo đó, người ta cho rằng Giáo Hội xem ra đã có thiên kiến và can thiệp vào sự tự do của các cá nhân…Do đó phải có sự giáo dục giúp suy nghĩ chín chắn và đưa ra một đường hướng trưởng thành về các giá trị” (Persons with a Homosexual Inclination: Guidelines for Pastoral Care).
- ĐỒNG HÀNH MỤC VỤ
Dưới tác động của chủ nghĩa tương đối về luân lý, xem ra chúng ta đang tuột dốc rất nhanh và không biết phải làm gì để thắng lại. Đức Bênêđictô XVI mô tả chủ nghĩa tương đối như mối đe dọa lớn nhất cho đức tin Kitô giáo ngày nay. Đây không chỉ là một vấn đề đòi hỏi phải có suy tư ở chiều sâu, nhưng còn là vấn đề mục vụ, nghĩa là làm sao để tìm ra cách thế đồng hành với các tín hữu, để họ đứng vững trước sự đe dọa của chủ nghĩa tương đối và không đánh mất cảm thức về Thiên Chúa là chính Chân Lư.
Đòi hỏi này càng khẩn thiết hơn với mục vụ giới trẻ. Một đàng, Giáo Hội đánh giá cao về giới trẻ: “Nhiều vấn đề phức tạp mà giới trẻ phải đối diện ngày nay trong thế giới đang thay đổi tại châu Á thúc đẩy Giáo Hội nhắc nhớ người trẻ về trách nhiệm của họ với xã hội và Giáo Hội, đồng thời nâng đỡ, khuyến khích họ sẵn sàng đảm nhận trách nhiệm này” (Ecclesia in Asia, số 47). Đàng khác, chúng ta lại đối diện với thực tế phũ phàng là nhiều người trẻ đang rời bỏ Giáo Hội như linh mục người Hàn quốc John JunYang Park nhận định: “Gần đây tại châu Á, chúng ta chứng kiến hiện tượng nhiều người trẻ rời bỏ Giáo Hội, và điều này được coi như tín hiệu thật sự nguy hiểm trong một vài quốc gia, đặc biệt những nước Đông Á như Hàn quốc”. Thực tế đó đặt ra cho Giáo Hội những câu hỏi cụ thể phải suy tư: Tại sao người trẻ rời bỏ Giáo Hội? Đâu là những nguyên nhân chính? Có thể làm gì trước tình hình này?
Trong Gioan 18,38, Philatô hỏi Chúa Giêsu: “Sự thật là chi?” Đây cũng là câu hỏi then chốt mà chủ nghĩa tương đối đặt ra. Theo thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II trong thông điệp Veritatis Spendor, “Sự thật soi sáng trí khôn và định hình tự do của con người, dẫn họ đến chỗ nhận biết và yêu mến Chúa”. Sự thật là đối tượng chính yếu nhất của lý trí, cũng là mục đích tối hậu của hiện hữu nhân sinh, xét như là những hữu thể có lý tính. Sự thật được thể hiện trọn vẹn, sống động và cụ thể nơi Đức Giêsu Kitô, Đấng là Đường, Sự Thật, Sự Sống. Vấn đề là làm sao giúp người trẻ chạm đến Sự Thật đó và để họ thấy tầm quan trọng của sự thật trong cuộc đời họ. Đây chính là thách đố mục vụ rất lớn mà mỗi thừa tác viên trong Giáo Hội, trong bối cảnh xã hội cụ thể mình đang sống, phải suy nghĩ và tìm ra phương thế thích hợp.
Cách tổng quát, mục vụ giới trẻ và việc dạy giáo lý cần phải “đem đức tin vào đời sống và đem đời sống vào đức tin”.
- a) Đem đức tin vào đời sống
Tại châu Á nói chung và Việt Nam nói riêng, số người trẻ Công giáo đi lễ Chúa nhật vẫn còn khá đông, mặc dù đã giảm sút. Sau Thánh Lễ, họ kéo nhau đi uống café hay đi chơi, nói với nhau nhiều chuyện nhưng hầu chắc là không nói gì đến tôn giáo! Liệu đức tin có ý nghĩa gì trong đời sống và những chọn lựa của các bạn trẻ không? Có lẽ các bạn vẫn tin vào Chúa và những điều Giáo Hội dạy nhưng không cảm thấy Chúa có liên hệ gì đến đời sống thường ngày của mình. Về mặt thần học, tác giả Clarence Devadass cho rằng “Chủ nghĩa tương đối cũng thách đố Giáo Hội nhìn lại chính mình, nhìn lại những ý niệm và thực hành đã giữ từ nhiều thế kỷ. Lời than phiền thường xuyên nghe từ giới trẻ ngày nay là giáo huấn của Giáo Hội đã lỗi thời rồi. Tại nhiều nơi ở châu Á, người dân, cách riêng giới trẻ, không thấy được sự liên hệ của đức tin với đời sống thường ngày của họ. Sự tách ly giữa đức tin cử hành với kinh nghiệm sống cụ thể xem ra ngày càng gia tăng”. Trong tình hình đó, mục vụ giới trẻ nên quan tâm đến những sinh hoạt ngoài Thánh Lễ, ví dụ những nhóm nhỏ cùng cầu nguyện và chia sẻ Lời Chúa, ở đó các bạn biết nhau cách thân tình hơn và cùng nhau tạo nên gạch nối giữa đức tin và những vấn đề thực tiễn mà họ đang đối diện trong cuộc sống. Chắc chắn những sinh hoạt này không mang tính đại chúng như việc dự lễ, nhưng chỉ với những nhóm nhỏ. Tuy nhiên chính những nhóm nhỏ này, nếu được thấm nhuần Lời Chúa và kinh nghiệm sống đức tin, lại là hạt mầm và nòng cốt cho sứ vụ Phúc–Âm–hóa. Chính người trẻ là tông đồ cho người trẻ.
- b) Đem cuộc sống vào đức tin
Ở đây trách nhiệm của các linh mục được quan tâm đặc biệt, nhất là trong việc giảng Lời Chúa, dạy giáo lý và đồng hành thiêng liêng. Hơn ai hết, Đức giáo hoàng Phanxicô thấy rơ điều này nên trong tông huấn Evangelii Gaudium, ngài đưa ra những chỉ dẫn cụ thể cho các linh mục:
– Lắng nghe: “Vị giảng thuyết phải chú tâm lắng nghe dân chúng để khám phá điều gì họ cần được nghe. Vị giảng thuyết vừa là người chiêm niệm Lời Chúa, vừa chăm chú vào giáo dân”. Nhờ đó, vị giảng thuyết mới có thể “nối kết sứ điệp của bản văn Kinh Thánh với hoàn cảnh cụ thể của con người, với những gì họ sống, với kinh nghiệm họ cần đến ánh sáng của Lời Chúa” (số 154).
– Đơn sơ và rõ ràng: Đức Phanxicô nhận xét, “Điều thường xảy ra là các vị giảng thuyết dùng những ngôn từ trong thời học hành và ở những môi trường học thuật, nhưng lại không phải là ngôn từ thông dụng của người nghe. Đó là những thuật ngữ đặc thù thần học hay giáo lý, nhưng phần đông tín hữu không hiểu được”. Vì thế, ngài khuyên các linh mục phải sử dụng thứ ngôn ngữ đơn sơ và rõ ràng, đơn sơ trong ngôn từ và rõ ràng trong cách trình bày (số 159).
– Tích cực: “Đừng nói nhiều về những điều không nên làm, nhưng hãy đề nghị điều người ta có thể làm tốt hơn”. Như thế, bài giảng định hướng tương lai hơn là than trách và lên án quá khứ, bài giảng mang đến hy vọng hơn là gieo rắc sợ hãi: “Thật đáng mừng nếu người ta không nhìn chúng ta như những nhà chuyên môn dự báo thảm họa hay những thẩm phán đen tối, nhưng như các sứ giả hân hoan đề nghị những giải pháp cao cả, những người trân trọng điều thiện hảo và vẻ đẹp chiếu tỏa trong một cuộc sống trung tín với Tin Mừng” (số 168).
Thiên Triệu
Tổng hợp từ các bài viết trong FABC Papers no. 135:
– Fr. Clarence Devadass, STD., Relativism: A Deeper Understanding and Its Impact on the Youth in Asia.
– Dominic Veliath, SDB., Fundamentalism and Relativism.
– Fr. John JunYang Park, Fundamentalism and Relativism: Why Young People Are Leaving the Church?
2020
Đức Giêsu Kitô – Đường thánh thiện
Chương Trình Mục Vụ Giới Trẻ 2020-2022
Mỗi tháng một hình ảnh hay tước hiệu Đức Giê-su Ki-tô (8)
Đức Giê-su Ki-tô
ĐƯỜNG THÁNH THIỆN
(Chủ đề học hỏi và suy niệm tháng 8 năm 2020)
+ Pet. Nguyễn Văn Viên
Các bạn trẻ thân mến,
Tháng Bảy vừa qua, chúng ta đã suy niệm chủ đề Đức Giê-su Ki-tô – Đường Mục Tử Nhân Lành. Tháng Tám này, cùng nhau chúng ta suy niệm chủ đề Đức Giê-su Ki-tô – Đường Thánh Thiện. Chúng ta biết rằng Thiên Chúa là Đấng Thánh và là Nguồn mọi sự thánh thiện. Đức Giê-su, Con Thiên Chúa, đã đi Đường Thánh Thiện để đến với gia đình nhân loại. Đường đó tiếp tục sống động trong Giáo Hội, Thân Thể Mầu Nhiệm của Người, và được diễn tả cách cụ thể nơi đời sống của các Ki-tô hữu qua mọi thời đại.
Thông thường, thánh thiện được hiểu như là tình trạng của thực thể (người hoặc sự vật) được dành riêng cho mục đích tôn giáo hoặc tiến dâng cho Thiên Chúa. Còn theo thánh Tô-ma A-qui-nô, thánh thiện là đức hạnh mà con người diễn tả chính mình cũng như hành động phù hợp với thánh ý Thiên Chúa. Người thánh thiện là người ‘gần với căn tính’ của mình nhất. Kinh nghiệm của các thánh trong dòng lịch sử Giáo Hội cho chúng ta biết như vậy. Đặc biệt, đây cũng là kinh nghiệm của thánh Au-gút-ti-nô và Tô-ma Mơ-tần (Thomas Merton, tu sĩ Dòng Trappist). Nói cách khác, con người càng thánh thiện bao nhiêu, thì càng gần gũi với căn tính của mình bấy nhiêu.
Mặc khải Kinh Thánh cho chúng ta nhận thức rằng Thiên Chúa là Đấng Tự Hữu và là Đấng Thánh. ‘Tên’ của Thiên Chúa là ‘Thánh’ (Ed 36,22-24; Lc 1,49). Trong tiếng Do-thái, hạn từ ‘thánh’ là ‘qadosh’ và được dịch sang tiếng Hy Lạp là ‘hagios’. Hạn từ này có nghĩa nguyên thủy là cắt, tách biệt. Thiên Chúa tách ra khỏi những gì phàm tục. Người siêu việt muôn vật muôn loài trong thế giới thụ tạo. Thiên Chúa được tung hô: ‘thánh, thánh, thánh’ (Thiên Chúa ba lần thánh) nhằm diễn tả sự siêu việt với ‘sức mạnh vô song’ và ‘thánh thiện tuyệt đối’ của Người. Cách tung hô này được đề cập hai lần trong bộ Kinh Thánh, một lần trong Cựu Ước và một lần trong Tân Ước (Is 6,3; Kh 4,8). Trong mỗi Thánh Lễ, trước khi bánh và rượu được thánh hiến, cộng đoàn Thánh Thể tung hô ‘thánh, thánh, thánh’. Sự thánh thiện tuyệt đối của Thiên Chúa là đặc tính căn bản nhất, các đặc tính khác liên kết hoặc diễn tả đặc tính thánh thiện của Người.
Thiên Chúa thông truyền sự thánh thiện của Người cho muôn vật muôn loài. Người thông truyền qua việc thánh hiến, tách biệt con người và vật ra khỏi thế giới phàm tục theo ý định của Người. Chẳng hạn, Thiên Chúa đã tách biệt Dân Do-thái khỏi các dân khác và trao ban sứ mệnh cộng tác vào chương trình cứu độ của Người. Trong sách Lê-vi, Thiên Chúa phán: “Các ngươi phải thuộc về Ta, phải thánh thiện, vì Ta, Đức Chúa, Ta là Đấng Thánh, và Ta đã tách biệt các ngươi ra khỏi các dân để các ngươi thuộc về Ta” (Lv 20,26). Ngay trong Dân Do-thái, chi tộc Lê-vi được dành riêng để ‘chuyên lo việc Nhà Chúa’. Một số đồ vật cũng được thánh hiến hay dành riêng cho việc tế tự.
Sự thánh thiện của Thiên Chúa được biểu lộ qua vinh quang của Người. Vinh quang chiếu giãi vào đời sống con người và biến đổi con người thành không gian thánh thiện, nhờ đó, con người diễn tả sự thánh thiện và lòng nhân hậu của Thiên Chúa. Điều này có nghĩa là con người không chỉ thụ động đón nhận phẩm chất thánh thiện Thiên Chúa trao ban, mà còn được mời gọi cộng tác với Thiên Chúa trong việc thánh hóa bản thân, thánh hóa người khác và cùng nhau làm lành lánh dữ. Sự thánh thiện song hành với thực thi đời sống luân lý tốt đẹp là hệ quả tất yếu của tương quan giữa Thiên Chúa là Đấng Thánh và con người được mời gọi nên thánh.
Trong phụng vụ của Giáo Hội, theo Kinh nguyện Thánh Thể II: Thiên Chúa là ‘nguồn mạch mọi sự thánh thiện’. Điều này có nghĩa rằng sự thánh thiện của Thiên Chúa là sự thánh thiện Gốc, sự thánh thiện Nguồn. Các hình thức thánh thiện trong môi trường thế giới thụ tạo phản chiếu sự thánh thiện của Thiên Chúa. Đặc biệt, sự thánh thiện của Thiên Chúa được biểu lộ cách trọn vẹn nơi sự thánh thiện của Đức Giê-su trong hành trình trần thế.
Là Thiên Chúa trong thân phận con người, sự thánh thiện của Đức Giê-su được diễn tả qua hai hình thức phân biệt nhau: ‘Sự thánh thiện từ trên xuống’ và ‘sự thánh thiện từ dưới lên’. ‘Sự thánh thiện từ trên xuống’ có nghĩa rằng Đức Giê-su diễn tả sự thánh thiện của Thiên Chúa đối với con người, bởi vì Người là Thiên Chúa thật. ‘Sự thánh thiện từ dưới lên’ có nghĩa rằng Đức Giê-su diễn tả sự thánh thiện của con người, bởi vì Đức Giê-su là con người thật. Nhân danh toàn thể nhân loại, Đức Giê-su đã vâng phục đáp lại chương trình của Thiên Chúa và trở nên mẫu gương hoàn hảo cho tất cả mọi người trong gia đình nhân loại. Chúng ta có thể nói rằng hai hình thức thánh thiện này trở nên một nơi Đức Giê-su, Ngôi Hai Thiên Chúa xuống thế làm người. Như vậy, Đức Giê-su là Đường Thánh Thiện hai chiều, từ Thiên Chúa đến con người và từ con người đến Thiên Chúa.
Trong Cựu Ước, sách Sáng Thế cho chúng ta biết sau khi Nguyên Tổ phạm tội, Thiên Chúa đã ban Lời Hứa về chiến thắng của sự thánh thiện trên sự dữ (St 3,15). Khoảng 700 năm trước Biến Cố Giáng Sinh, ngôn sứ I-sai-a loan báo về Đức Giê-su, Đấng gánh tội nhân loại để muôn người được trở nên thánh thiện (Is 53,11). Trong Tân Ước, khi sứ thần Gáp-ri-en truyền tin cho Đức Ma-ri-a rằng ‘bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giê-su’, thì Đức Ma-ri-a rất bối rối. Sứ thần đã trấn an Đức Ma-ri-a rằng người con mà bà cưu mang là bởi Chúa Thánh Thần và quyền năng Đấng Tối Cao. Người con đó là ‘Đấng Thánh’ và là Con Thiên Chúa (Lc 1,30-35).
Sự thánh thiện của Đức Giê-su được diễn tả cách đặc biệt trong hành trình rao giảng của Người. Trong Diễn Từ Bánh Hằng Sống, Đức Giê-su hỏi Nhóm Mười Hai: “Cả anh em nữa, anh em cũng muốn bỏ đi hay sao?” (Ga 6,67). Nhân danh các môn đệ, thánh Phê-rô đáp: “Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời. Phần chúng con, chúng con đã tin và nhận biết rằng chính Thầy là Đấng Thánh của Thiên Chúa” (Ga 6,68-69). Chứng kiến sự thánh thiện và quyền năng của Đức Giê-su trước mẻ cá lạ, thánh Phê-rô nói: “Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi!” (Lc 5,8). Với những người Pha-ri-sêu, Đức Giê-su nói: “Ai trong các ông chứng minh được là tôi có tội?” (Ga 8,46). Trong cuộc khổ nạn, sau khi Đức Giê-su trả lời câu hỏi của thượng tế Cai-pha, một tên trong nhóm thuộc hạ của thượng tế đánh Đức Giê-su, thì Người nói: “Nếu tôi nói sai, anh chứng minh xem sai ở chỗ nào; còn nếu tôi nói phải, sao anh lại đánh tôi?” (Ga 18,23). Trong thư thứ nhất, thánh Gio-an viết: “Phần anh em, anh em nhận được dầu, do tự Đấng Thánh, và tất cả anh em đều được ơn hiểu biết” (1 Ga 2,20). Cũng trong thư này, thánh nhân viết: “Đức Giê-su đã xuất hiện để xóa bỏ tội lỗi, và nơi Người không có tội lỗi” (1 Ga 3,5). Như thế, Kinh Thánh cho chúng ta bức tranh khá đầy đủ về sự thánh thiện của Đức Giê-su.
Không chỉ các môn đệ hay những ai lắng nghe và tin tưởng vào Đức Giê-su mới nhận ra sự thánh thiện của Người, các thế lực chống đối Người hay ma quỉ cũng nhận ra điều đó. Chẳng hạn, khi Đức Giê-su giảng dạy tại Ca-phác-na-um, ngày sa-bát, Người vào hội đường, có kẻ bị thần ô uế nhập la lên: “Ông Giê-su Na-da-rét, chuyện chúng tôi can gì đến ông mà ông đến tiêu diệt chúng tôi? Tôi biết ông là ai rồi: ông là Đấng Thánh của Thiên Chúa!” (Mc 1,24). Chứng kiến cái chết của Đức Giê-su và những sự kiện lạ lùng, viên đại đội trưởng và những người canh giữ Đức Giê-su thốt lên: “Quả thật ông này là Con Thiên Chúa” (Mt 27,54). Như vậy, sự thánh thiện của Đức Giê-su là sự thánh thiện siêu việt và biểu lộ trong mọi hoàn cảnh. Muôn vật hữu hình và vô hình đều nhận biết, kính sợ và thành khẩn tuyên xưng.
Sự thánh thiện của Đức Giê-su là sự thánh thiện trổi vượt trên tất cả các hình thức thánh thiện trong thế giới thụ tạo. Đồng thời, Đức Giê-su chia sẻ sự thánh thiện của Người cho tất cả mọi người để mọi người được ơn cứu độ. Do đó, khi chúng ta nói rằng Đức Giê-su là Đấng cứu độ mọi người cũng tương tự như nói rằng Người là Đấng làm cho mọi người trở nên thánh thiện.
Chúng ta đề cập đến sự thánh thiện của Đức Giê-su trong sự liên kết với Chúa Thánh Thần, vì ‘bởi phép Đức Chúa Thánh Thần, Đức Trinh Nữ Maria đã thụ thai và sinh hạ Đức Giê-su’. Chính Chúa Thánh Thần đồng hành cùng Đức Giê-su trong mọi nơi, mọi lúc, mọi hoàn cảnh. Chẳng hạn, thánh Gio-an Tẩy Giả nói về Phép Rửa trong Chúa Thánh Thần: “Tôi thì tôi làm phép rửa cho anh em trong nước, còn Người [Đức Giê-su], Người sẽ làm phép rửa cho anh em trong Thánh Thần” (Mc 1,8). Sau khi Đức Giê-su lãnh nhận Phép Rửa tại sông Gio-đan và chịu cám dỗ trong sa mạc, Người về Na-da-rét. Ngày sa-bát, Đức Giê-su vào hội đường, người ta trao cho Người sách ngôn sứ I-sai-a, mở sách ra Người gặp đoạn: “Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa” (Lc 4,18-19). Đặc biệt, Đức Giê-su mặc khải cho chúng ta Ngôi Vị Chúa Thánh Thần (Ga 14,16.26). Sau khi sống lại và trong Chúa Thánh Thần, Đức Giê-su tiếp tục hiện diện và hoạt động trong môi trường nhân loại để thực thi chương trình của Thiên Chúa qua việc thánh hóa nhân loại.
Ý định của Thiên Chúa là tất cả mọi người trở nên thánh thiện, đẹp lòng Thiên Chúa. Trong thư gửi tín hữu Ê-phê-xô, thánh Phao-lô viết: “Trong Đức Ki-tô, Người đã chọn ta trước cả khi tạo thành vũ trụ, để trước thánh nhan Người, ta trở nên tinh tuyền thánh thiện, nhờ tình thương của Người” (Ep 1,4). Thánh Phao-lô mời gọi các Ki-tô hữu sống đời thánh thiện bằng cách thực thi những việc tốt lành và lánh xa những điều nguy hại, gây tổn thương hoặc đánh mất sự thánh thiện (Ep 5,1-14). Còn thánh Phê-rô khuyên dạy các tín hữu: “Anh em hãy sống thánh thiện trong cách ăn nết ở, để nên giống Đấng Thánh đã kêu gọi anh em, vì có lời Kinh Thánh chép: Hãy sống thánh thiện, vì Ta là Đấng Thánh” (1 Pr 1,15-16). Như vậy, trong nhãn quan của thánh Phê-rô và Phao-lô, hiểu biết về sự thánh thiện và thực thi đời sống thánh thiện đi đôi với nhau trong ơn gọi của các Ki-tô hữu.
Đời sống thánh thiện không dành riêng cho cá nhân hay cho cộng đoàn đặc biệt nào trong Giáo Hội. Hiến Chế Tín Lý Về Giáo Hội Lumen Gentium của Công Đồng Vatican II (1962-1965) dành một chương về chủ đề thánh thiện (LG 39-42). Công Đồng nhấn mạnh đến sự thánh thiện duy nhất của Thiên Chúa được Đức Giê-su diễn tả và Người trở nên mẫu gương cho con người trên bình diện cá nhân cũng như cộng đoàn. Công Đồng nhấn mạnh tầm quan trọng của thánh thiện theo ‘đấng bậc mình’ và minh định: “Mọi Ki-tô hữu, dù ở địa vị nào, bậc sống nào, đều được Chúa kêu gọi đạt tới sự trọn lành thánh thiện như Chúa Cha trọn lành, tùy theo con đường của mỗi người” (LG 11). Tất cả mọi người được mời gọi không ngừng hoán cải để ngày càng trở nên thánh thiện hơn.
Quả thật, sự thánh thiện của con người là ‘sự thánh thiện hoán cải’. Điều này có nghĩa là con người không ngừng trở về với chính mình và với Thiên Chúa. Đây là đặc điểm chung nhất của các thánh trong lịch sử Giáo Hội. Các ngài không phải là những người ‘sinh ra là thánh thiện’, nhưng là những người không ngừng hoán cải để nhận diện căn tính của mình cách rõ ràng hơn và luôn qui hướng về Thiên Chúa là Đấng Thánh duy nhất. Con người trở nên thánh thiện nhờ đời sống hòa hợp giữa ‘tâm hồn không ngừng hoán cải’ và ‘ân sủng nhưng không’ của Thiên Chúa. Nói cách khác, con người trở nên thánh thiện khi chân thành đáp lại ân sủng của Thiên Chúa bằng trái tim không ngừng hoán cải của mình.
Tác giả thư gửi tín hữu Do-thái viết: “Thiên Chúa sửa dạy là vì lợi ích của chúng ta, để chúng ta được thông phần vào sự thánh thiện của Người” (Dt 12,10). Lịch sử Giáo Hội cho chúng ta biết người thánh thiện không phải là người không bao giờ bị cám dỗ, người không có tội hay người không bao giờ phạm tội. Người thánh thiện là người luôn ý thức rằng chỉ có Thiên Chúa là Đấng Thánh và mình không thể tự làm cho mình trở nên thánh thiện được. Người thánh thiện là người nhận thức rằng mình không ngừng trở về, tìm hiểu, trả lời, thay đổi và tiến tới trong tình yêu và sự quan phòng của Thiên Chúa. Người thánh thiện chính là người hoàn toàn tín thác vào Thiên Chúa và để Người sử dụng mình như khí cụ thuận tay Người.
Sự thánh thiện được thể hiện trong các tương quan của đời sống cá nhân, đời sống cộng đoàn, cũng như tương quan với Thiên Chúa và toàn thể thế giới thụ tạo. Các thánh trong lịch sử Giáo Hội khi đang sống trên trần gian không ai nghĩ rằng mình là ‘một vị thánh’. Các ngài không ‘soi gương ngắm sự thánh thiện của mình’, nhưng luôn hướng về Thiên Chúa là Đấng Thánh với tinh thần đơn sơ, phó thác. Các ngài luôn nhận thấy bản thân mình bất xứng, khiếm khuyết và nhiều khi ‘đêm tối bao phủ tâm hồn’. Thánh Tê-rê-xa A-vi-la, Tê-rê-xa Hài Đồng Giê-su, Tê-rê-xa Can-cút-ta là những vị thánh điển hình. Các ngài luôn cảm thấy đời sống mình ‘bất tương hợp’ với danh hiệu và ơn gọi Ki-tô hữu, đặc biệt, ‘bất tương hợp’ với sự thánh thiện và tình yêu vô bờ của Thiên Chúa. Đức Thánh Cha Phan-xi-cô cũng có kinh nghiệm tương tự như vậy. Khi được hỏi: “Ngài là ai?” Đức Thánh Cha Phan-xi-cô đã trả lời: “Tôi là người tội lỗi.”
Với một số người, sự thánh thiện nên ‘dành riêng cho địa hạt tôn giáo’. Tuy nhiên, trong thực tế, sự thánh thiện cần được sống và diễn tả trong bất cứ môi trường nào của thực thể có tên gọi là ‘con người’. Chẳng hạn, để góp phần xây dựng nền văn minh tình thương và văn hóa sự sống mà Giáo Hội hằng khuyến khích, cổ vũ, tất cả mọi người được mời gọi ý thức hơn về đời sống thánh thiện của mình. Tương tự như vậy, trong bối cảnh hôm nay, ‘phát triển con người toàn diện’ trở thành khẩu hiệu chung của gia đình nhân loại. Chúng ta có thể khẳng định rằng bao lâu con người chưa ý thức được tầm quan trọng của đời sống thánh thiện, bấy lâu con người còn xa vời mục tiêu đó. Dưới nhãn quan của một số người, phát triển con người toàn diện được thực hiện chủ yếu dựa trên nồng độ tri thức, đặc biệt trong lĩnh vực khoa học, kỹ thuật và công nghệ. Lịch sử nhân loại minh chứng rằng tri thức con người và những sản phẩm của nó có thể đem lại những hoa trái nhất định chứ không phải là yếu tố then chốt cho sự phát triển con người toàn diện.
Người ta kể lại rằng trong đại chiến thế giới lần thứ hai (1939-1945), có một viên tướng nói: “Nếu tôi có được mười người như Phan-xi-cô Át-xi-di, tôi có thể chinh phục cả thế giới này”. Chúng ta có thể nhận định: Với quãng đời binh nghiệp truân chuyên, viên tướng đó đã nghiệm ra sự thật rằng sức mạnh lý trí, ý chí và súng đạn không phải là giải pháp tối ưu để ‘bình thiên hạ’. Chỉ có sức mạnh thánh thiện, hy sinh, quên mình của những người như thánh Phan-xi-cô Át-xi-di mới có thể thực hiện được. Câu hỏi đặt ra là ‘vì sao vậy?’ Thưa, vì những người thánh thiện luôn ý thức rằng khi con người chỉ cậy dựa vào mình mà không màng quan tâm đến sự hiện diện và hoạt động của Thiên Chúa, cũng là khi con người đi đường tăm tối và những hành động của con người không đem lại hạnh phúc thực sự cho mình cũng như anh chị em đồng loại. Các thánh là những người xây dựng đời sống cá nhân, cộng đoàn và gia đình nhân loại bằng những giá trị của Nước Thiên Chúa mà Đức Giê-su đã loan báo và thực thi, chứ không chỉ bằng lý trí, ý chí và những gì thuộc thế gian này.
Mặc khải Ki-tô Giáo cho chúng ta nhận thức rằng sự thánh thiện biến đổi con người, biến đổi xã hội, biến đổi thế giới thụ tạo. Đức Giê-su là Đấng Thánh của Thiên Chúa, đã hiện diện trên trần gian, đã sống trọn thân phận con người, giống chúng ta mọi đàng, ngoại trừ tội lỗi (Dt 4,15; 1 Pr 2,22). Theo lẽ thường, đã thánh thiện thì không phải chịu đau khổ (là hậu quả tội lỗi), tuy nhiên, Đức Giê-su, Đấng Thánh của Thiên Chúa đã mang lấy tội lỗi của chúng ta, của toàn thể gia đình nhân loại để chúng ta được nên thánh. Nhờ Người, vực thẳm ngăn cách giữa Thiên Chúa thánh thiện và nhân loại tội lỗi được bắc cầu và tất cả mọi người trong gia đình nhân loại được mời gọi đi trên Chiếc Cầu này. Trong hành trình dương thế, Người đã thiết lập Giáo Hội để Giáo Hội tiếp tục chương trình của Người.
Là Ki-tô hữu nghĩa là môn đệ và tông đồ của Đức Giê-su. Cuộc đời Ki-tô hữu chính là cuộc đời học hỏi và theo Đường Đức Giê-su, Đường Thánh Thiện. Tuy nhiên, trong khi theo Đường Thánh Thiện của Đức Giê-su, chúng ta không tránh khỏi những chông gai, cạm bẫy của thế giới bóng đêm và bao hình thức bấp bênh, bất cập khác vì sự yếu đuối của chính mình. Tự bản thân, chúng ta không thể nào vững vàng, kiên định trên Đường Thánh Thiện, nhưng nhờ Chúa Thánh Thần dẫn dắt, chúng ta sẽ vượt qua tất cả những thách đố và chướng ngại. Bao lâu con mắt đức tin của chúng ta còn dõi theo Đường Thánh Thiện của Đức Giê-su, bấy lâu chúng ta còn có cơ hội đạt tới sự thánh thiện như lòng Người mong muốn.
Hoa trái của sự thánh thiện gia tăng niềm tin, tình yêu và niềm hy vọng của chúng ta vào Thiên Chúa. Hoa trái của sự thánh thiện giúp chúng ta sống liên đới với anh chị em chúng ta. Hoa trái của sự thánh thiện tăng thêm sức mạnh để chúng ta có thể đương đầu với muôn thách đố trong cuộc sống. Đặc biệt, hoa trái của sự thánh thiện cho chúng ta sức mạnh để chống lại muôn hình thức cám dỗ của các thế lực sự dữ đang hoành hành trong thế giới thụ tạo. Tắt một lời, hoa trái của sự thánh thiện giúp chúng ta thực thi thánh ý Thiên Chúa trong tư tưởng, lời nói và hành động.
Chúng ta thường xem sự thánh thiện như là một ‘thực tại tĩnh’ hay ‘thực tại thường hằng bất biến’ nơi người nào đó. Thực ra, sự thánh thiện không thể hoàn thành tại một thời điểm nào đó trong đời sống chúng ta, trong lịch sử nhân loại hay trong lịch sử thế giới thụ tạo. Sự thánh thiện luôn là một hướng đi, một lộ trình, một dự án dang dở. Do đó, bao lâu con người còn hiện diện trên dương gian, bấy lâu con người còn phải không ngừng cố gắng sống đời thánh thiện. Mặc khải Ki-tô Giáo cho chúng ta nhận thức rằng không ai thánh thiện đến mức không cần phải biến đổi, bởi vì, tất cả mọi người đều sống trong môi trường ô nhiễm vì Tội Nguyên Tổ và hậu quả của Tội này vẫn tiếp diễn cho đến tận thế.
Người thánh thiện có thể trở thành người tội lỗi và ngược lại. Biên giới giữa người thánh thiện và người tội lỗi mỏng manh như làn sương khói vậy. Tên trộm hoán cải trong biến cố Đức Giê-su chịu đóng đinh trên thập giá là ví dụ điển hình (Lc 23,39-43). Chúng ta có thể noi gương tên trộm về tinh thần hoán cải, chứ không phải là quá khứ trộm cắp. Đời sống của tên trộm không thể được xem là ‘mô hình chuẩn’ cho đời sống chúng ta, bởi vì, tương quan giữa chúng ta và Thiên Chúa là tương quan tình yêu và tình yêu luôn ở thì hiện tại. Không có tình yêu đích thật nào lại vắng bóng sự thánh thiện. Do đó, chúng ta không thể sống trong tình trạng tội lỗi và ăn năn hối cải vào phút chót như tên trộm để được tham dự sự sống, hạnh phúc và bình an vĩnh cửu của Nước Thiên Chúa mà không phải đau khổ, hy sinh, quên mình trong hành trình trần thế. Thông thường, cây nghiêng bên nào thì ngả bên đó. Đích đến của người sống đời thánh thiện và người sống đời tội lỗi khác nhau (Mt 25,31-46). Hơn nữa, trong Nhà Thiên Chúa có nhiều chỗ ở (Ga 14,2).
Kinh nghiệm lịch sử cho chúng ta nhận thức rằng ‘khoảng cách’ từ người thánh thiện đến người tội lỗi là ‘khoảng cách gần’, còn từ người tội lỗi đến người thánh thiện là ‘khoảng cách xa’. Bởi vì, sự thánh thiện của con người trong hành trình trần thế dễ bị tổn thương. Để có được sự thánh thiện, con người phải hy sinh, quên mình và cố gắng không ngừng, cho đến khi ‘nhắm mắt xuôi tay’. Chúng ta có thể dùng hình ảnh chiếc cầu để minh họa cho người đang sống thánh thiện có thể trở thành người tội lỗi. Để có chiếc cầu, người ta phải dày công vất vả hàng năm mới có thể hoàn thành được. Tuy nhiên, để phá chiếc cầu, người ta chỉ cần ít thuốc nổ là nó sẽ bị sập tan tành trong giây lát.
Chúng ta là những người tội lỗi, yếu đuối và giới hạn trăm chiều. Tuy nhiên, chúng ta được mời gọi cộng tác với Thiên Chúa trong việc thánh hóa bản thân và thánh hóa những người khác nữa. Nếu chúng ta không cộng tác với Thiên Chúa để thánh hóa bản thân hay không ý thức và cố gắng để ngày càng được biến đổi hơn, làm sao chúng ta có thể cộng tác với Thiên Chúa để thánh hóa người khác được? Sẽ ngượng ngùng và giả hình biết bao khi chúng ta nói về Thiên Chúa, về Đức Giê-su, về Đường Thánh Thiện của Người mà chúng ta lại đắm chìm trong những tư tưởng, lời nói và hành động không chút âm hưởng hay hơi hướng nào của sự thánh thiện.
Sự thánh thiện không chỉ là chủ đề để chúng ta suy tư, học hỏi mà còn là ‘đường đi’ của chúng ta, là ‘lối sống’ của chúng ta và là ‘hành động’ của chúng ta trong hành trình trần thế này. Đời sống của người thánh thiện không phải là đời sống tách biệt khỏi những gì mà chúng ta gán nhãn ‘trần tục’, ‘sự đời’ hay ‘ngoại lai’ nhưng là đời sống phản chiếu sự thánh thiện của Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh của thế giới thụ tạo. Đường thánh thiện luôn là ‘đường hai chiều’. Đời sống của người thánh thiện là đời sống kết hiệp mật thiết với Đức Giê-su là Đường Thánh Thiện. Đồng thời, đời sống của người thánh thiện là đời sống liên đới với anh chị em mình để không ngừng biến đổi bản thân và môi trường sống sao cho môi trường đó ngày càng được thánh hóa, hầu tất cả mọi người sống xứng hợp hơn với phẩm giá của mình.
Chúng ta trở lại với khái niệm chung ‘thông thường, thánh thiện được hiểu như là tình trạng của thực thể được dành riêng cho mục đích tôn giáo hoặc tiến dâng cho Thiên Chúa’ để so sánh với sự thánh thiện theo mặc khải Ki-tô Giáo. Biến Cố Đức Giê-su trong hành trình trần thế cho chúng ta nhận thức rằng thánh thiện cần thiết cho ‘môi trường phàm tục’. Bởi vì, Đức Giê-su đã đi Đường Thánh Thiện để đến với nhân loại, đến với ‘môi trường phàm tục’. Chúng ta ý thức rằng nơi sự sống sung mãn cũng chính là nơi của sự thánh thiện tuyệt đối và nơi sự chết được hiểu là nơi vắng bóng sự thánh thiện. Thế mà, Đức Giê-su đã tới vực thẳm sự chết. Người đến chia sẻ sự thánh thiện của Người để con người được chung hưởng sự sống vĩnh cửu của Thiên Chúa.
Sống đời Ki-tô hữu không gì khác hơn là sống đời thánh thiện theo khuôn mẫu Đức Giê-su. Chúng ta có thể nhận định rằng ‘người ngoại thánh thiện’ thì hơn ‘Ki-tô hữu tội lỗi’. Đối với các tôn giáo ngoài Ki-tô Giáo, chẳng hạn như Ấn Giáo, Phật Giáo, Công Đồng Vatican II nhấn mạnh: “Giáo Hội Công Giáo không hề phủ nhận những gì là chân thật và thánh thiện nơi các tôn giáo đó” (NA 2). Điều này không có nghĩa rằng các tôn giáo đều như nhau, cũng không có nghĩa rằng các tôn giáo là khác nhau. Sự nhìn nhận những điều tốt lành, thánh thiện nơi các tôn giáo không giảm thiểu sự cần thiết để loan báo Đức Giê-su là Đấng cứu độ duy nhất và Tin Mừng của Người dành cho tất cả mọi người trong gia đình nhân loại. Đức Giê-su đã đi Đường Thánh Thiện đến với gia đình nhân loại và người thiết lập Giáo Hội để Giáo Hội tiếp tục là dấu chỉ hay khí cụ của Người trong việc thánh hóa muôn dân (LG 1).
Như đã được đề cập ở trên, sự thánh thiện Ki-tô Giáo không chỉ được diễn tả trong các tương quan nội tại của đời sống cá nhân, tương quan với tha nhân, tương quan với Thiên Chúa mà còn được diễn tả trong tương quan với môi trường thế giới thụ tạo. Điều này có nghĩa rằng các tín hữu được mời gọi sống đời thánh thiện trong việc chăm sóc, quản lý và bảo vệ muôn vật muôn loài. Ai yêu mến Thiên Chúa, người đó cũng yêu mến những gì được Thiên Chúa dựng nên. Trong thư gửi tín hữu Ê-phê-xô, thánh Phao-lô viết: “Người [Thiên Chúa] cho ta được biết thiên ý nhiệm mầu: Thiên ý này là kế hoạch yêu thương Người đã định từ trước trong Đức Ki-tô. Đó là đưa thời gian tới hồi viên mãn là quy tụ muôn loài trong trời đất dưới quyền một thủ lãnh là Đức Ki-tô” (Ep 1,9-10). Sự thánh thiện Ki-tô Giáo mời gọi các tín hữu ‘mắt hướng về trời, chân tiến bước trên đất’. Điều này có nghĩa là sự thánh thiện không chỉ giới hạn trong việc tôn giáo hay văn hóa, xã hội mà còn lan tỏa đến muôn vật muôn loài. Chúng ta được mời gọi quan tâm và góp phần biến đổi môi trường thế giới thụ tạo bằng chính đời sống của mình.
Đức Giê-su nói: “Anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5,48). Đức Giê-su là Thiên Chúa, là Đấng Thánh, tuy nhiên, Người không nói rằng ‘anh em hãy nên hoàn thiện như tôi đây là Đấng hoàn thiện’. Trong hành trình dương thế, Người không bao giờ qui hướng về mình, nhưng luôn qui hướng về Thiên Chúa Cha. Đức Giê-su cho chúng ta biết sự thánh thiện của con người trong hành trình trần thế luôn là sự thánh thiện có hướng, sự thánh thiện tiếp tục trên đường về với Quê Hương Vĩnh Cửu. Là Thiên Chúa trong thân phận con người, Đức Giê-su trở nên Đường Thánh Thiện cho tất cả mọi người trong gia đình nhân loại.
Từ những điểm trình bày trên đây, chúng ta có thể khái quát rằng sự thánh thiện thuộc về Thiên Chúa, Người là Đấng Thánh, là Nguồn Gốc và Đích Đến của các hình thức thánh thiện. Đức Giê-su đã đi Đường Thánh Thiện để đến với thế giới thụ tạo. Người vừa diễn tả sự thánh thiện của Thiên Chúa, vừa diễn tả sự thánh thiện của con người. Đặc biệt, sự thánh thiện của Người được diễn tả trong ba năm loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa. Người đã chịu nhiều đau khổ, chịu chết, sống lại và lên trời, tuy nhiên, trong Chúa Thánh Thần, Người vẫn luôn hiện diện trong gia đình nhân loại. Người đã thiết lập Giáo Hội để Giáo Hội tiếp tục Đường Thánh Thiện của Người bằng việc chia sẻ Lời Chúa, cử hành các bí tích, nhất là Bí Tích Thánh Thể và thực thi bác ái. Tất cả mọi người được mời gọi suy niệm, học hỏi và thực hành Đường Thánh Thiện của Đức Giê-su trong hành trình trần thế của mình.
2020
Giáo lý viên, bạn là ai
Giáo lý viên, bạn là ai
Sáng ngày 26-7-2020 vừa qua, 650 giáo lý viên (GLV) giáo phận Long Xuyên đã hành hương về nhà thờ chính tòa Long Xuyên, trung tâm của giáo phận nhân dịp kỷ niệm 60 năm thành lập giáo phận và mừng kính thánh bổn mạng Á thánh An rê Phú Yên tử đạo.
Giáo Lý Viên Gp Long Xuyên hành hương mừng 60 năm thành lập giáo phận 26-7-2020
Dịp này, ĐGM giáo phận đã nhắn nhủ các GLV cần quan tâm một số hoạt động thiết yếu như tích cực tham gia các khóa huấn luyện và thường huấn dành cho GLV; nhiệt tình tham gia, hiệp thông, đồng trách nhiệm với hàng giáo sĩ và tu sĩ để thi hành tác vụ rao giảng của Hội thánh tại địa phương; can đảm dấn thân trong vai trò tông đồ giáo dân, để trở thành muối, men và ánh sáng.
Được biết giáo phận Long Xuyên hiện có 1541 GLV tham gia dạy giáo lý tại 147 giáo xứ, giáo họ. Đây quả thực là một lực lượng đông đảo và hùng hậu. Qua buổi gặp gỡ này ta thấy ưu tư của các đấng bề trên là chất lượng của việc dạy giáo lý. Trong số các anh chị em tham gia dạy giáo lý, bên cạnh nhiều người là giáo viên, sẵn vốn hiểu biết về sư phạm và khả năng truyền đạt tốt, thì vẫn có rất nhiều anh chị em chỉ giảng dạy bằng nhiệt tình. Do đó, trong giai đoạn hiện nay, GLV cần hoàn thiện chính mình, cần học hỏi Kinh Thánh và giáo lý. Chúng ta chỉ có thể cho người khác cái chúng ta có. Cần có hiểu biết về sư phạm giáo lý, tiến tới có kỹ năng truyền đạt, thành thạo vv… [1]
Thiết nghĩ, đây là dịp thuận tiện để chúng ta thoáng suy nghĩ về bản chất, ơn gọi, nhiệm vụ và vai trò của người GLV đang phục vụ trong Hội thánh hiện nay.
1- Giáo lý viên và khái niệm về giáo lý
Trước hết, ta tìm hiểu khái niệm cơ bản về giáo lý là gì.
Theo LM Nguyễn Văn Tuyên, trong cuốn “Sư phạm giáo lý” thì Giáo lý (hay Huấn giáo) là trình bày Lời Thiên Chúa một cách đơn giản, cụ thể, sống động, để giúp tín hữu hiểu và sống đức tin.
Xét về nội dung thì thần học và giáo lý là một. Nhưng xét về phương pháp, thần học và giáo lý khác nhau.
– Thần học trình bày chân lý đức tin theo hệ thống dùng từ ngữ trừu tượng, thiên về ý niệm, và áp dụng phương pháp diễn dịch.
– Giáo lý trình bày Tin Mừng theo nhu cầu và khả năng tâm lý của người nghe, dùng hình ảnh và ngôn ngữ cụ thể, hướng về đời sống, và theo phương pháp qui nạp.
Do đó, giáo lý phải theo đường lối riêng, không thể trở thành một thứ thần học giản lược, thâu gọn, cô động. [2]
Xuất phát từ định nghĩa trên, ta tìm hiểu về nguồn mạch của giáo lý là gì.
Giáo lý trình bày lời Thiên Chúa, nhưng phải tìm Lời Thiên Chúa ở đâu? Lời Thiên Chúa được chứa đựng trong 4 nguồn mạch đức tin:
– Thánh Kinh: Cựu ước (46 cuốn) và Tân ước (27 cuốn).
– Thánh Truyền: một phần mạc khải được lưu lại dưới hình thức truyền khẩu và trong các giáo huấn của các giáo phụ.
– Phụng vụ: những gì Giáo hội sống trong phụng vụ thì cũng thuộc lãnh vực đức tin.
– Đời sống của Giáo hội: Giáo huấn của Đức Giáo Hoàng, của các Công đồng, của các Giám mục đoàn, lòng tin của toàn thể dân Chúa cũng là một phần trong kho tàng đức tin của Giáo hội.
Đó là những kho tàng chứa đựng Lời Thiên Chúa và là nguồn mạch của đức tin, giáo lý tổng hợp, tóm lược và trình bày nội dung đó. [3]
2- Giáo lý viên nhận thức về chính mình
Từ điển Công giáo đã định nghĩa GLV như sau:
Giáo lý là học thuyết của tôn giáo; Viên là người. Giáo lý viên là người dạy giáo lý. Giáo lý viên là người cộng tác với mục tử trong việc truyền giáo và huấn giáo: phổ thông, dự tòng, hôn nhân vv.
Theo Giáo Luật, giáo lý viên phải được đào tạo và huấn luyện theo từng cấp. Giáo lý viên không những am tường về giáo lý mà còn là nhà giáo dục, gương mẫu trong đời sống nhân bản và đạo đức, để lời nói, việc làm luôn củng cố và phát triển đức tin của mình và của tha nhân (x. GL. 780; 785).
Các thành phần Dân Chúa trong giáo xứ (giáo sĩ, tu sĩ, giáo dân – nhất là giáo lý viên) nếu không ngăn trở chính đáng, thì nên sẵn sàng giúp cha xứ trong việc dạy giáo lý (x. GL 776). [4]
Trong khi đó, tài liệu huấn luyện GLV đã trình bầy như sau: [5]
Giáo lý viên là người thi hành một sứ mệnh chính thức, quan trọng và siêu nhiên, được Chúa Kitô ủy thác qua Giáo Hội. Vì vậy các Giám mục, linh mục, tu sĩ và giáo dân đều là những giáo lý viên có trách nhiệm thi hành sứ vụ này.
Giáo lý viên không phải chỉ là người dạy, nhưng trước hết phải là một chứng nhân (DGL 9.66), một chứng nhân tình yêu. GLV không phải chỉ là người truyền đạt những kiến thức về Thiên Chúa, nhưng phải là người truyền thông một kinh nghiệm gặp gỡ với Thiên Chúa. Nói cách khác giáo lý viên là người luôn tìm cách khám phá ra tình yêu Chúa trong cuộc đời mình cũng như khám phá ra điều gì Chúa đang chờ đợi nơi mình, để nhờ đó dễ dàng giúp người khác tìm gặp và yêu mến Chúa.
Trong một xã hội đa tôn giáo và văn hóa, giáo lý viên thường gặp khó khăn là phải đối diện với những tư tưởng, những niềm tin khác biệt, và có cả những chống đối bên trong và ngoài Giáo Hội. Nhưng với cái nhìn đức tin, việc dạy giáo lý mang đến một niềm vui lớn lao : đó là niềm vui được cộng tác với Giáo Hội trong việc đem Chúa đến với các tâm hồn ; niềm vui được góp phần nhỏ bé của mình trong việc đổi mới lòng con người và niềm vui được đổi mới chính bản thân mình trong đức tin.
3- Giáo lý viên và sứ mệnh trong Hội thánh
Trong cuốn “Sư phạm giáo lý”, LM Nguyễn Văn Tuyên cũng đã đề cập đến hai sứ mệnh chính yếu của người GLV. Tác giả viết như sau:
3.1: GLV thi hành một sứ mệnh chính thức trong Giáo hội. Công việc ủy thác cho GLV bên ngoài có vẻ tối tăm, tầm thường, nhưng thực ra là một công cuộc cơ bản, thiết yếu để xây dựng và mở rộng Nước Thiên Chúa. Những việc quan trọng thường được chuẩn bị một cách âm thầm GLV phải tin vào sứ mệnh của mình.
3.2: Đây là một sứ mệnh có tính chất siêu nhiên:
– Siêu nhiên từ nguồn gốc: Là chính sứ mệnh mà Chúa Cha đã trao cho Chúa Giê-su, Chúa Giê-su trao lại cho Giáo hội, và Giáo hội đã ủy thác lại cho GLV qua Giám mục và Cha sở, “Cũng như Chúa Cha sai Ta thế nào, Ta cũng sai các con như vậy” (Ga 20, 21).
– Siêu nhiên trong chủ đích: Sứ mệnh này này nhằm sinh Chúa Giê-su Ki-tô và làm cho Ngài lớn lên trong các tâm hồn. Đó chính là sứ mệnh làm mẹ trong đời sống siêu nhiên của Giáo hội mà GLV được tham dự. [6]
4- Giáo lý viên và những vai trò, phẩm chất cần có
Chúng ta đều biết rằng, căn cứ vai trò, nhiệm vụ quy định trong Hội thánh thì GLV chẳng những là thầy dạy giáo lý, mà còn là nhà giáo dục đức tin, là chứng nhân tình yêu và Tin Mừng Đức Ki-tô, là nhà truyền giáo nữa. Để thực thi những vai trò này một cách hiệu quả thì GLV cần hội đủ những đức tính và phẩm chất căn bản như có đức tin vững mạnh, có lòng mến dồi dào, có lòng đạo đức nhiệt tình, có lòng quảng đại, biết hy sinh, khiêm tốn, hiền hòa, nhạy bén cộng với sự thành thạo những kỹ năng cần thiết như kỹ năng sư phạm, kỹ năng truyền thông, kỹ năng lãnh đạo, kỹ năng sinh hoạt nhóm vv.
Ở đây, ta chỉ bàn qua một số phẩm chất chính yếu liên quan đến vai trò của GLV, đó là thầy dạy, người giáo dục đức tin, chứng nhân Tin Mừng và nhà truyền giáo.
4.1: GLV là thầy dạy.
Có thể nói, GLV trước hết là người thầy đứng lớp dạy giáo lý cho học viên. Người thầy có thể là linh mục, tu sĩ nam nữ hay tín hữu giáo dân. Người thầy thì phải là nhà mô phạm, là mẫu gương cho học viên.
Vì là người thầy tức là người truyền đạt kiến thức cho học viên, chúng ta không thể không thông hiểu những gì mình dạy. Người ta chỉ có thể cho những gì mình có. Do đó, GLV cần nắm vững được nội dung giáo lý, tức là toàn bộ Tin Mừng, mà trung tâm là mầu nhiệm và công cuộc cứu rỗi của Chúa Ki-tô. Do vậy, GLV cần được đào tạo và bồi dưỡng liên tục về chính nội dung giáo lý. Đây là một cuộc đầu tư và là món nợ mà các linh mục phải trả sóng phẳng với cộng sự viên của mình. [7]
Mặt khác, vì là nhà giáo, chúng ta cũng phải hội đủ những kiến thức về tâm lý và sư phạm nữa. Thực vậy, muốn Lời Thiên Chúa đạt hiệu năng tối đa, ta còn cần chú trọng đến nhu cầu tâm lý, khả năng tiếp nhận, lối cảm nghĩ của người nghe Lời Thiên Chúa. GLV phải hiểu tâm lý người nghe để tìm đường lối cụ thể và thích hợp nhất làm cho Lời Thiên Chúa trở nên linh động, thấm sâu vào lòng người. [8]
Bên cạnh đó, nên lưu ý điều này là dù chúng ta có tài giỏi đến mấy đi nữa nhưng con người và đời sống của chúng ta chưa là gương sáng thì lời dạy của chúng ta không mang lại hiệu quả gì. Người ta thường nói, “Lời nói như gió lung lay, gương bày như tay lôi kéo” (hay “Lời nói lung lay, gương lành lôi kéo”).
Chẳng hạn khi chúng ta yêu cầu học viên đúng giờ thì chúng ta cũng phải nghiêm túc trong giờ giấc. Khi chúng ta khuyên học viên ngay thẳng thật thà thì chúng ta không được sống và cư xử giả dối, lươn lẹo. Khi chúng ta muốn các học viên phải đối xử tử tế với nhau thì chúng ta cũng phải tỏ ra có thiện cảm và yêu mến các học viên, không phân biệt đối xử, không thù ghét và gây bất hòa chia rẽ. Khi chúng ta khuyến khích học viên siêng năng học tập, rèn luyện kiến thức, nâng cao kỹ năng học tập, thì chúng ta phải tích cực trau dồi những điều ấy làm sao để hướng dẫn và giúp học viên càng ngày càng tiến bộ hơn.
Thực vậy, GLV là người thầy của các em không chỉ trong việc giáo dục đức tin mà cũng là thầy trong phương diện nhân bản nữa. Khi tập cho các em các đức tính nhân bản như trung thực, dũng cảm, trách nhiệm, cao thượng, nhân hậu, dấn thân… thiết nghĩ, bản thân người GLV nêu gương sống và thực hành các đức tính này ngay trong những buổi lên lớp của mình qua việc chuyên cần, đúng giờ, soạn bài nghiêm túc, chuẩn bị lên lớp cách cẩn thận, có trách nhiệm trong giờ học (giờ dạy). Và quan trọng hơn hết là người GLV bày tỏ cho các em thấy được tâm tình tin kính (với Thiên Chúa) của mình qua cử chỉ, cung cách, sự trang nghiêm khi cầu nguyện, khi đọc Lời Chúa, khi đi đứng trong nhà thờ vv. [9]
4.2: GLV là người giáo dục đức tin.
Chúng biết rằng, GLV không chỉ đóng khung trong vai trò thầy dạy kiến thức mà thôi, nhưng hơn nữa còn là nhà giáo dục đức tin nữa. Đây là một nhiệm vụ hết sức quan trọng. Muốn truyền đạt đức tin cho học viên thì chính bản thân chúng ta phải là người có đức tin sống động và thiết thực.
Quả vậy, GLV phải có một đức tin sống động. Bởi vì chỉ ai có kinh nghiệm bản thân về Thiên Chúa, mới có thể đưa anh em mình đến với Thiên Chúa. Một kiến thức chuyên môn của viên kỹ sư không nhất thiết phải ăn khớp với hạnh kiểm của ông. Nhưng trái lại, một GLV không thể truyền đạt giáo lý, nếu không sống chính điều mình truyền dạy, bởi vì giáo lý không phải là một kiến thức suông, mà là một SỨC SỐNG. Lời Chúa mà chúng ta truyền dạy không phải là văn tự chết trong sách, nhưng được thấm nhập vào cuộc đời của người giảng, và nhờ ơn thánh, trở nên sống động để đến với người nghe. Trước khi là thầy dạy, GLV phải là chứng nhân đã. Vì thế, chúng ta phải luôn cầu xin Chúa gia tăng đức tin cho mình qua việc cầu nguyện, đọc và suy niệm Lời Chúa, năng lãnh nhận các Bí tích, nhất là Bí tích Thánh Thể và nỗ lực sống điều mình tuyên xưng. [10]
4.3: GLV là chứng nhân Tin Mừng.
Như trên đã nói [5], GLV không phải chỉ là người dạy, nhưng trước hết phải là một chứng nhân (DGL 9.66), một chứng nhân tình yêu cứu độ. GLV không phải chỉ là người truyền đạt những kiến thức về Thiên Chúa, nhưng phải là người truyền thông một kinh nghiệm gặp gỡ với Thiên Chúa. Nói cách khác GLV là người luôn tìm cách khám phá ra tình yêu Chúa trong cuộc đời mình cũng như khám phá ra điều gì Chúa đang chờ đợi nơi mình, để nhờ đó dễ dàng giúp người khác tìm gặp và yêu mến Chúa.
Muốn làm chứng nhân cho Tin Mừng Chúa Ki-tô thì chúng ta phải sống Tin Mừng trước đã.
Sống Tin Mừng là đón nhận Chúa Giê-su Ki-tô phục sinh vào trong đời mình. Như thánh Phao-lô đã xác tín, “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Ki-tô sống trong tôi” (Gl 2, 20). Khi có Chúa trong đời mình, chúng ta an tâm, vui mừng vì đã được ơn tha thứ, được ơn bình an, được hưởng những hoa quả của Thần Khí, được hạnh phúc làm con cái Thiên Chúa. Lúc đó Chúa chính là sự sống của ta, và nhờ đó ta có thể chia sẻ sự sống ấy cho tha nhân.
Sống Tin Mừng là chúng ta hoàn toàn tin tưởng và phó thác vào tình thương và sự quan phòng kỳ diệu của Thiên Chúa, đó là sự chọn lựa ưu tiên hàng đầu trong đời sống đức tin của mình.
Sống Tin Mừng là chúng ta biết chú tâm lắng nghe và thực hành Lời Chúa. Đối với người Ki-tô hữu chân chính, thì việc lắng nghe Lời Chúa luôn kèm theo việc thi hành Lời Chúa. Không thực hành Lời Chúa thì tất cả chỉ là ảo tưởng, là xây nhà trên cát. Thậm chí không thể nói là đã hiểu Lời Chúa, vì như thánh Grê-gô-ri-ô Cả đã viết, “Người ta chỉ thực sự hiểu Lời khi bắt đầu đem ra thực hành”. GLV luôn là người quan tâm giúp học viên tích cực đọc, suy niệm và thực thi Lời Chúa.
Sống Tin Mừng là khi chúng ta luôn giữ được niềm vui và sự bình an trong tâm hồn. Đồng thời cũng lan tỏa niềm vui và bình an ấy đến với mọi người. Chúng ta thực sự trở thành tin vui, tin mừng cho tha nhân. Bởi vì sức hút nơi người tông đồ là niềm vui có Chúa. ĐTC Phan-xi-cô nhân ngày Thế giới Truyền giáo, đã thổ lộ tâm tình của mình với các nhà truyền giáo như sau: “Chúng ta đừng để mình bị tước mất niềm vui của việc loan báo Tin Mừng! Tôi mời gọi anh chị em đắm mình vào niềm vui của Tin Mừng và nuôi dưỡng một tình yêu có thể thắp sáng ơn gọi và sứ mạng của anh chị em” (Sứ điệp truyền giáo năm 2014).
Sống Tin Mừng đòi hỏi chúng ta tích cực thi hành lòng mến Ki-tô giáo. Đó là cách chúng ta làm chứng tá Tin Mừng Đức Ki-tô và là cách thức truyền giáo hiệu quả nhất. Muốn trở nên người tông đồ thực thụ vì chan chứa niềm vui, người được sai đi loan báo Tin Mừng phải gặp gỡ thân tình với Đức Kitô, cảm nghiệm được ơn gọi và sứ vụ cao quý của mình, và phải yêu mến những người mà mình có cơ hội tiếp xúc, dạy dỗ.
4.4: GLV là nhà truyền giáo.
Do sứ vụ đặc thù của mình, GLV cũng còn được gọi là nhà truyền giáo nữa. Khi dạy giáo lý, đó là chúng ta đang truyền giáo.
Trong Lời Chủ Chăn với chủ đề “GLV anh chị em là ai?”, thuộc bản tin Liên Lạc GP Phan Thiết, số 7-2011, Đức cố GM Giuse Vũ Duy Thống đã chia sẻ như sau:
Trong Giáo Hội xét như sứ vụ, GLV là nhà truyền giáo.
Theo lịch sử truyền giáo tại Việt Nam, ngày xưa các thừa sai đến đâu thì việc đầu tiên các ngài làm là giảng dạy giáo lý và kêu gọi sám hối rồi cử hành nghi thức rửa tội, khiến từ đó việc truyền giáo cũng đồng nghĩa với việc giảng dạy giáo lý, để hôm nay ta có quyền nói: giảng dạy giáo lý một cách nào đó cũng là hoạt động truyền giáo.
Hoạt động truyền giáo và hoạt động huấn giáo có thể được hình dung như hai bước chân trước sau của cùng một nhịp đi. Có người phân biệt cách chí lý rằng: truyền giáo là nhằm rửa tội những người biết sám hối; còn huấn giáo là nhằm sám hối những người đã rửa tội rồi. Có người khác lại chia sẻ cách đơn giản hơn: truyền giáo ban đầu là dùng giáo lý đem Chúa đến cho người ta; còn tái truyền giáo là dùng giáo lý đem người ta trở về với Chúa. Cả hai cách phát biểu đều hay và đẹp, nhưng điều muốn ghi nhận ở đây là mối tương quan không thể tách rời giữa truyền giáo và huấn giáo.
Truyền giáo thuộc về bản chất của Giáo Hội. Không phải vì có Giáo Hội nên mới có sứ vụ truyền giáo, mà ngược lại, vì đã có sứ vụ truyền giáo nên mới có Giáo Hội để tổ chức thi hành. Vì Giáo Hội là truyền giáo, mà truyền giáo và huấn giáo bước song hành, nên tham gia công tác huấn giáo, giảng dạy giáo lý cũng là cộng tác vào công cuộc truyền giáo tại giáo xứ, cho có thêm người biết Chúa, biết tin nhận Chúa và biết sống đẹp lòng Chúa hơn.
Vâng, trong Giáo Hội sứ vụ, anh chị em GLV là những nhà truyền giáo đấy. Vậy anh chị em hãy luôn ghi nhớ khía cạnh sứ vụ này của Giáo Hội, để công tác huấn giáo của anh chị em được chu đáo và nâng cao, không chỉ bằng giáo án khúc chiết mà còn bằng chứng tá đức tin hằng ngày nữa. Giáo lý không chỉ được giảng dạy bằng lời nhưng còn bằng chính đời sống gương mẫu của GLV. [11]
5- Giáo lý viên và nhu cầu về đào tạo
Việc đào tạo, huấn luyện GLV luôn là mối bận tâm lớn của các đấng bậc trong Hội thánh. Nhiều người nhận định rằng tình trạng GLV hiện nay vừa mỏng về số lượng lại vừa đuối về chất lượng. Đó là một thực tế đáng ta suy nghĩ.
Chúng ta thử nêu vài ý kiến tham khảo sau:
– Thư chung của các Giám Mục năm 2011 viết như sau: “Cùng với việc học hỏi Lời Chúa, việc dạy và học giáo lý là đòi hỏi tối cần thiết trong đời sống Giáo Hội, nhất là trong thời đại ngày nay đầy rẫy những luồng tư tưởng nghịch với Tin Mừng. Đại Hội Dân Chúa mong mỏi sớm có được những nguyên tắc, đường hướng và chương trình chung, cũng như một thủ bản chung về giáo lý, vừa trung thành với Tin Mừng vừa gần gũi với văn hóa Việt Nam. Đồng thời, Lời Chúa phải là nền tảng cho mọi chương trình thường huấn cũng như đào tạo chủng sinh, tu sĩ, giáo lý viên”. [12]
– Tại Đại Hội Dân Chúa VN năm 2010, GLV Tổng Giáo phận Saigon cũng đã có bài tham luận trong đó bày tỏ ước vọng liên hệ tới việc huấn luyện GLV như sau: “Trong thời gian vừa qua, số lượng GLV trẻ gia tăng đáng kể nhưng còn thiếu kinh nghiệm gặp gỡ Thiên Chúa, thiếu kiến thức và trải nghiệm cuộc sống. Chúng con đề nghị Giáo Hội tích cực quan tâm đến việc đào tạo lực lượng GLV chuyên sâu ở mọi lứa tuổi: người trẻ, người trung niên và cả người lớn tuổi”. Bài Tham luận còn đi xa hơn nữa về vấn đề cơ cấu huấn luyện GLV khi phát biểu: “Cuối cùng, chúng con đề nghị mau chóng có một sự thống nhất về cấu trúc, chương trình và những chuẩn mực của các lớp Giáo Lý nói riêng và các hoạt động mục vụ giáo lý nói chung, để tránh sự khác biệt khi áp dụng giữa các giáo xứ như hiện nay”. [12]
– Trong bài viết có tựa đề “Chân dung giáo lý viên hôm nay” [13], các tác giả đã tổng hợp và đưa ra một số nhận định rất cụ thể và chi tiết, xin được trích dẫn vài đoạn, như sau:
Về tình hình GLV hiện nay: Thiếu giáo lý viên được huấn luyện đúng mức. Trong khi lực lượng tu sĩ tham gia giảng dạy giáo lý – mà đa số là nữ tu – thường được huấn luyện về giáo lý cũng như sư phạm, thì không phải mọi GLV khác đều được huấn luyện đầy đủ để thi hành công tác này.
Điều đáng suy nghĩ là hình như chưa có giáo phận nào ở Việt Nam có được một trường hay trung tâm huấn luyện GLV chính danh. Bù đắp lại có chăng là đây đó có được những khóa huấn luyện mà nội dung chương trình, thời hạn đào tạo cũng rất đa dạng tùy nơi, tùy thời và tùy hoàn cảnh.
Riêng ở Tổng Giáo phận Saigon, từ khoảng năm năm trở lại đây, Tòa TGM đã liên tiếp tổ chức các khóa huấn luyện GLV dành cho các giáo xứ trong TGp, mà ứng viên được chọn trong những người trẻ tình nguyện từ các giáo xứ, với chương trình huấn luyện gồm có ba cấp cơ bản và những khóa chuyên sâu nhằm thỏa mãn nhu cầu dạy giáo lý cho nhiều lọai đối tượng khác nhau. Mỗi khóa có cả ngàn người được huấn luyện. Các Giáo phận khác cũng càng ngày càng có những nỗ lực tương tự. Khi chưa tổ chức được một cách quy mô cho cả Giáo phận, thì cũng có những khóa do từng hạt hay từng liên xứ tổ chức, nhưng không phải nơi nào cũng có điều kiện tổ chức.
Tại một số giáo xứ, đặc biệt tại các giáo xứ lớn có đông giáo dân, cha xứ có thể tự huấn luyện GLV cho nhu cầu mục vụ của giáo xứ mình. Nhưng cũng có nhiều giáo xứ không làm được điều này. Có nhiều khi cha xứ chỉ việc chọn lựa dăm ba giáo dân có uy tín trong giáo xứ, không có một sự chuẩn bị đặc biệt nào khác, để phụ giúp ngài trong việc này khi có nhu cầu. Giáo xứ nào may mắn có được những giáo lý viên vốn là cựu chủng sinh hay cựu tu sĩ có đầy đủ khả năng cho công việc và vẫn còn nhiệt tình tham gia giảng dạy thì trách vụ của mục tử nơi đó được nhẹ bớt rất nhiều. Ngoài ra, cũng có những giáo dân tuy không qua những khóa đào tạo chính quy nào, nhưng đã theo học những lớp Thần học cơ bản, những lớp Kinh Thánh vv… hoặc tự trau dồi bằng những sách giáo lý và tài liệu của Giáo hội, sẵn sàng chia sẻ công việc này với cha xứ khi có yêu cầu.
Bởi lý do nhiều nơi, nhiều lúc, thiếu sự huấn luyện đúng mức, nên không ít GLV chưa làm đúng chức năng của mình, mới chỉ làm công việc truyền thụ kiến thức về đạo Chúa, chuẩn bị một cách máy móc cho thụ nhân chịu các bí tích, hơn là giáo dục đức tin. Việc dạy giáo lý nhiều khi chỉ quen với lối truyền thụ cổ điển, không có chỗ cho phản hồi, trao đổi, đối thọai, không dành thời gian cho học viên nêu câu hỏi hay đưa ra những thắc mắc, vì thế lớp học thiếu sinh động, học viên thiếu tích cực, nếu không muốn nói là hoàn toàn thụ động, không chịu động não, không có sự thấu hiểu, đón nhận cần thiết.
Việc dạy giáo lý thường chỉ thu vào thời gian trong lớp học, không chú ý đến việc thực hành, tức là tập thể hiện trong đời sống những điều đã được truyền đạt. Có khi GLV lại dạy rất tùy hứng, thiếu chuẩn bị, nhiều khi lại còn thiếu quan tâm đến sự khác biệt về tuổi tác, trình độ, não trạng, hoàn cảnh của các đối tượng, việc giảng dạy thiếu chiều sâu, nên không đạt được kết quả mong muốn, không giữ được kết quả lâu dài. Bởi tuy Tin Mừng đã được loan báo, nhưng chưa thực sự cảm nhận, người học chưa có xác tín, nên chưa thực sự biến đổi.
Xét cho cùng, điều quan trọng là cần có sự huấn luyện thích đáng: đó là điều Huấn Quyền luôn đòi buộc, vì “nếu không được đảm nhận bởi những người có đào tạo, mọi họat động tông đồ chắc chắn sẽ thất bại”. Để được như vậy, sự huấn luyện phải có tính “toàn diện”, nghĩa là bao gồm mọi chiều kích của nhân cách GLV, và “chuyên biệt”, nghĩa là phù hợp với các đặc tính của công việc mà mỗi giáo lý viên tùy trường hợp được giao phó. Đức thánh GH Gio-an Phao-lô II đã khẳng định : “Ưu tiên cho chất lượng, nghĩa là ưu tiên cho việc huấn luyện căn bản thích hợp và việc cập nhật hóa luôn luôn. Để bảo đảm cho sứ vụ của Giáo Hội có nhân sự xứng hợp, cốt thiết phải có chương trình đầy đủ và cơ chế thích hợp để đảm nhận việc huấn luyện giáo lý viên về các mặt: từ huấn luyện nhân bản đến huấn luyện thiêng liêng, tín lý, tông đồ và chuyên môn” ./.
Aug. Trần Cao Khải
_____________
[1] http://giaophanlongxuyen.org/NewsDetail.aspx?ID=20200728151300
[2] LM Nguyễn Văn Tuyên – Sư phạm giáo lý – UB ĐKCG Tp.HCM bản in ronéo năm 1994 trang 9
[3] LM Nguyễn Văn Tuyên sđd trang 10
[4] Mục từ Giáo lý viên – Từ điển Công Giáo – UB GLĐT/ HĐGM VN – NXB TG 2019 trang 347
[5] http://giaophanvinhlong.net/Tai-Lieu-Huan-Luyen-Giao-Ly-Vien.html
[6] LM Nguyễn Văn Tuyên sđd trang 39
[7] LM Nguyễn Văn Tuyên sđd trang 40
[8] LM Nguyễn Văn Tuyên sđd trang 40
[9] http://www.gplongxuyen.org/NewsDetail.aspx?ID=20180731074106
[10] http://www.giaoly.org/vn/nhung-duc-tinh-can-thiet-cua-giao-ly-vien/
[11] http://bangiaolyphatdiem.com/giao-ly-vien-anh-chi-em-la-ai/
[13] http://www.giaoly.org/vn/chan-dung-giao-ly-vien-hom-nay/
