2020
Giáo dục sinh thái toàn diện trong Laudato Si’
2020
“Hiếu” và “Tâm”: Điểm hội ngộ giữa người Công giáo và tín đồ các tôn giáo
Giáo hội xét thấy những phương thức hành động và lối sống, những huấn giới và giáo thuyết kia, dù có nhiều điểm khác với chủ trương và đề nghị của Giáo hội, nhưng vẫn thường mang lại một tia sáng của Chân Lý, Chân Lý chiếu soi tất cả mọi người (NA 2).
“Tia sáng của Chân Lý” mà Tuyên ngôn về Liên lạc của Giáo hội với các tôn giáo ngoài Kitô giáo nói đến có thể được xem như những tiền đề cho cuộc gặp gỡ giữa người Công giáo với tín đồ thuộc các tôn giáo khác cũng như với tâm hồn tôn giáo của người Việt. Đó là quan niệm về nguyên lý siêu việt “Ông Trời”, niềm tin vào cuộc sống sau cái chết, lòng thương người[1], tình sư đệ, việc thờ kính Ông Bà tổ tiên, v.v… Trong khuôn khổ giới hạn và nhằm khơi mở cho việc trao đổi cũng như nghiên cứu sâu xa hơn trong tương lai, chúng tôi chỉ mong phác thảo đôi nét suy tư về chữ “Hiếu” và chữ “Tâm”, như những nhịp cầu tương giao về đạo lý và điểm nhấn trong việc thực hành đạo.
- Chữ Hiếu(孝)
- Đạo hiếu trong văn hóa Việt
Nơi các dân tộc Á châu nói chung và nơi người Việt nói riêng, lòng Hiếu thảo đối với tổ tiên, ông bà và cha mẹ luôn được trân trọng và tuân giữ như đòi hỏi căn bản của luật tự nhiên, bất kể họ theo truyền thống tôn giáo Phật, Đạo (Lão), Nho (Khổng) hay Công giáo. Nhiều người còn tự nhận mình theo “đạo Ông Bà” hay Đạo Hiếu, khi họ không thuộc về một đạo nào khác. Đạo làm con có thể được xem như linh đạo của người Việt.
Tu đâu cho bằng tu nhà,
Thờ cha kính mẹ ấy là chân tu.
Chữ Hiếu đã thấm nhập vào văn hóa Việt và đọng lại trong ca dao tục ngữ cũng như những văn phẩm nổi tiếng. Nguyễn Du (1765-1820), qua hình tượng nàng đạo Kiều trong “Truyện Kiều”, đã làm nổi bật sự hy sinh hạnh phúc cá nhân để làm tròn Hiếu và đặt chữ Hiếu trên cả chữ Tình lẫn chữ Trinh.
Bên tình bên hiếu, bên nào nặng hơn ?
Để lời thệ hải minh sơn,
Làm con trước phải đền ơn sinh thành.
Quyết tình nàng mới hạ tình:
Dẽ cho để thiếp bán mình chuộc cha !
Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888), đã đề cao tinh thần hiếu hạnh vượt trên danh lợi, trong tác phẩm “Lục Vân Tiên”. Lục Vân Tiên trên đường đi thi trạng nguyên, nghe tin mẹ mất, đã quay về chịu tang cho mẹ và ông đã khóc lóc đến mù mắt. Con người đặt đạo Hiếu của người con trên sự nghiệp bản thân.
Lòng hiếu kính được thể hiện trong thái độ sống hàng ngày đối với ông bà cha mẹ, khi các ngài còn tại thế, cũng như vào dịp Tân niên, những ngày giỗ kỵ, mùa Vu Lan báo hiếu, nơi nhà Tổ, bàn thờ gia tiên, khi các ngài đã từ trần.
Người Việt tin vong hồn gia tiên luôn ở gần con cháu, thường ngự nơi bài vị trên bàn thờ, nên người sống có thể tiếp xúc với người khuất, với thế giới vô hình, qua việc cầu cúng lễ bái. Mỗi khi có các biến cố quan trọng trong gia đình, gia chủ đều khấn vái gia tiên để trình báo sự kiện, xin chứng giám và cầu mong sự phù hộ.
Ngoài tổ tiên theo huyết thống, người Việt còn bày tỏ lòng biết ơn đối với các tổ tiên chung như tổ nghiệp, Thành hoàng, người có công đối với đất nước. Điển hình như các tướng Lý Thường Kiệt, Phạm Ngũ Lão được vị “Thượng đẳng phúc thần”, Trần Quốc Tuấn tôn gọi Hưng Đạo Đại Vương, Mạc Đỉnh Chi lãnh tước Huệ Việt Linh Thánh Đại Vương phúc thần[2].
- Đạo hiếu trong truyền thống Nho giáo
Đối với truyền thống Nho gia, Hiếu đứng đầu sáu đức tính của người quân tử: Hiếu, Đễ, cẩn, tín, thương mọi người, mến bậc nhân.
Trong Hiếu kinh, Khổng Tử xem Hiếu là nguồn cội của nhân đức và giáo dục: “Hiếu là gốc của đức, là nguồn của giáo… thân thể tóc da, nhận từ cha mẹ, không dám tổn thương, đó là khởi đầu của hiếu. Lập thân hành đạo, dương danh với hậu thế, để làm rạng rỡ cha mẹ, đó là kết cục của hiếu”. Một cách cụ thể, đức hiếu thảo đòi hỏi:
“Người con hiếu phụng dưỡng cha mẹ, ăn ở phải hết sức cung kính, cung dưỡng cha mẹ phải hết mực vui vẻ, khi cha mẹ đau ốm phải lo lắng hết lòng, khi lo việc tang lễ phải cực kỳ thương xót, khi cúng tế cha mẹ phải vô cùng trang nghiêm”[3].
Chữ Hiếu này được biểu lộ lúc thân phụ còn sống lẫn khi người đã qua đời:
“Trong khi cha mình còn sanh tiền, mình nên xem xét chí hướng, ý tứ của cha mình: như tốt lành, chính đáng thì mình bắt chước theo. Khi cha mình khoản đi rồi, mình nên quan sát những việc làm cùng người ; như phải thì mình làm theo. Cha mình mất trong ba năm mà mình chẳng đổi đạo nghệ của cha, đó mới gọi là con có hiếu”[4].
Tăng Tử hay Tăng Sâm (505-435 TCN), đệ tử của đức Khổng, đã khai triển thêm nội dung của Hiếu: “Hiếu có ba điều: đại hiếu phải tôn thân, sau nữa không làm điếm nhục, sau nữa mới nuôi dưỡng”[5].
Theo Mạnh tử (372–289), Bất hiếu hữu tam, nghĩa là bất hiếu có ba điều: không con trai nối dòng; không can ngăn cha mẹ khi cần; không làm quan lấy lộc phụng dưỡng.
- Đạo hiếu trong truyền thống Phật giáo
Trong đạo Phật, Hiếu hạnh là con đường giải thoát của chánh pháp, thực hành hiếu thảo là con đường mà người Phật tử phải theo mới được gọi là tử chân chính. Đó là thiện pháp mà kinh “Nhẫn nhục” đã xác định: “Điều thiện tối cao là chí hiếu, điều ác cực ác là bất hiếu”.
Đức Phật từng đề cao đức hiếu thảo, đồng thời kể ra năm bổn phận, trong đó có việc gìn giữ truyền thống của gia đình:
“Người con có năm bổn phận đối với cha mẹ: nuôi dưỡng cha mẹ khi cha mẹ già yếu, làm đủ bổn phận người con đối với cha mẹ, giữ gìn truyền thống gia đình, bảo vệ tài sản thừa tự và làm tang lễ khi cha mẹ qua đời” (Giáo thọ Thi ca la việt, Trường bộ kinh IV)[6].
Ý nghĩa của mùa Hiếu hạnh và đại lễ Vu Lan của đạo Phật, được tìm thấy trong Kinh Vu-Lan-Bổn, đề cập đến một cách báo hiếu cho thân sinh đã qua đời. Nội dung kinh gồm 3 phần[7]:
Nói về một đệ tử của Đức Phật, Mục Kiền Liên, sau khi đắc đạo, thấy mẹ của mình sống trong cảnh giới quỷ đói, thân hình tiều tuỵ khổ sở. Ngài sử dụng năng lực thần thông của mình, đưa bát cơm đến dâng cho mẹ. Mẹ Ngài được cơm, lòng tham khởi lên, tay trái che bát, tay phải bốc ăn, nhưng cơm chưa tới miệng đã hóa ra lửa, nên không ăn được.
Mục Kiền Liên xin Phật chỉ dạy phương pháp cứu mẹ ra khỏi cảnh khổ Ngạ quỷ. Đức Phật dạy rằng, phải nhờ đến uy lực của tập thể chúng tăng mới cứu được mẹ ông. Vào ngày rằm tháng bảy là ngày chư tăng tập trung tự tứ sau 3 tháng an cư kiết hạ thanh tịnh, hãy sắm sửa vật dụng cúng dường chư tăng, nhờ chư tăng chú nguyện, mẹ ông mới thoát được khổ. Mục Kiền liền vâng lời Phật dạy, thực hành phương pháp báo hiếu ấy, nên đã cứu được mẹ.
Mục Kiền Liên xin Phật cho phép các phật tử sau này được thực hành phương pháp báo hiếu cha mẹ bằng cách cúng dường Vu-Lan-Bồn để báo đáp ân cha mẹ. Đức Phật khen ngợi và chấp thuận. Từ đó, ngày rằm tháng bảy là ngày báo hiếu truyền thống của Phật Giáo.
Trong Kinh Báo ân Cha Mẹ, Đức Phật nêu lý do của việc báo hiếu khi liệt kê 10 ân đức của cha mẹ :
ân giữ gìn mang thai trong 9 tháng.
ân sinh sản khổ sở
ân sinh rồi quên lo
ân nuốt đắng nhổ ngọt
ân nhường khô nằm ướt
ân bú mớm nuôi nấng
ân tắm rửa chăm sóc
ân xa cách thương nhớ
ân vì con làm ác
ân thương mến trọn đời.
Qua việc tìm hiểu Lục độ tập kinh của Khương Tăng Hội, Quảng Kiến nhận định điểm khác so với Nho giáo về quan niệm người con chí hiếu theo lý tưởng đạo Phật, là ở chỗ « quy y Tam bảo, giữ gìn cấm giới, biết hướng cha mẹ quay về nẻo chánh, bố thí làm lành, nương theo pháp Phật tu hành để có được trí tuệ chơn chánh ».
Do đó, đạo Phật không cho “vô hậu vi đại” (không con nối dõi) là bất hiếu. Trái lại, « những người xuất gia lại là những người chí hiếu, vì họ biết đem niềm tin chơn chánh đến cho cha mẹ ».
Chính Đức Phật đã dạy: “Dựa trên thiện nam tử có lòng tin, các người trong gia đình được lớn lên về năm phương diện. Thế nào là năm ? Lớn lên về lòng tin, lớn lên về giới, lớn lên về học hỏi, lớn lên về bố thí, lớn lên về trí tuệ. Dựa trên thiện nam tử có lòng tin, các người trong gia đình được lớn lên vì năm sự lớn lên này” (Tăng Chi II)[8].
- Đạo hiếu trong truyền thống Công giáo
Trong quá khứ, do trân trọng truyền thống đạo Hiếu nơi người Việt Nam và cố gắng hội nhập văn hóa trong việc trình bày sứ điệp Kitô giáo, linh mục Đắc Lộ đã cố gắng trình bày Kitô giáo qua học thuyết Tam Phụ, nghĩa là Hiếu kính đối với Thượng Phụ (Cha trên trời), với Trung Phụ (vua) và với Hạ Phụ (cha mẹ dưới đất).
“Có ba đấng bề trên, gọi là ba cha, ta phải thờ, ở đấng nào, cho nên đấng ấy. Đấng dưới là cha mẹ sinh thân xác cho ta : đấng giữa là vua Chúa trị nước : đấng trên là đức Chúa trời đất, làm Chúa thật trên hết mọi sự : có ba đấng này ta mới được sống, được ở. Vì chưng ta có cha mẹ thì mới được thân xác thịt này sinh ra mà chớ : song le linh hồn ta chẳng phải bởi cha mẹ mà ra đâu. Ta chịu ơn mẹ vì có chịu thai, mà ta ở trong lòng mẹ chín tháng mười ngày, chịu khốn khó mà đẻ ta, đoạn ba năm bú mớm : có khi thì mẹ cắt của mình ăn mà cho con ăn : cũng có khi mẹ ăn miếng đắng, mà miếng ngon để dành cho con ăn : lại có khi mẹ nằm chốn ướt, mà chốn ráo để cho con nằm. Cha đẻ con đoạn thì lo việc nuôi nấng, vì vậy có khi thì cha thức sớm chẳng ngủ, mà làm nghề nọ nghề kia, chạy xuôi chạy ngược, kiếm của mà nuôi con. Thật con thảo kính cha mẹ thì thậm phải, ví bằng có ai chẳng thảo kính, chẳng khứng vâng phép cha mẹ, thật thì có tội trọng.
Vua Chúa cùng gọi là cha cả và nước, cùng các dân : chẳng có vua Chúa, thì nước ở an lành chẳng được : vì chưng vua Chúa trị nước cho dân ở được an lành. Vì vậy vua Chúa thì giữ nước, và cho kẻo giặc bề ngoài phá nước làm khốn dân sau thì sửa trong nước, làm cho đại thần hòa thuận cùng nhau và tiểu dân yêu đang (đương) thông việc cùng nhau nữa (inferiores vero amicitiam invicem et communicationem sectentur). Ví bằng chẳng có vua Chúa sửa nước một ngày, thật là có ra những sư long đong, hỗn hào trong dân mà chớ. Đại thần trong nước quân tử thì giúp vua Chúa trị nhậm sứa nước. Tiểu nhân thì ra tiền năm tiền quí giúp việc vua Chúa nữa. Vì vậy hễ là kẻ ở trong nước thì phải kính dái vua Chúa ? Ví bằng có ai trong nước mà theo ngụy thì chịu phạt đã đáng.
Hãy còn cha cả là Chúa trên hết mọi sự : đã hóa nên và giữ gìn trời đất muôn vật cùng hết mọi sự. Nào có ai hồ nghi mà chẳng chịu thờ phượng đấy trên hết mọi sự, mà chẳng dại ru ? Thủa xưa khi chưa có trời, chưa có đất, chưa có đí gì, mà đã có một đức Chúa trời thanh nhàn vui vẻ vậy chẳng có thiếu gì sốt, mới sinh ra trời, sinh ra đất, lại hóa ra mọi sự ở trong trời này nữa. Trên trời thì hóa ra mặt trời mặt trăng, cùng ngôi sao cho ta được sáng. Ví bằng chẳng có sáng, ta ở làm sao được ? Dưới hạ giới này thì sinh ra muông chim cầm thú, hoa quả, cây cối, rau cỏ cho ta ăn. Cùng có làm nên gỗ, nước, lửa, gió cùng các kỳ sự cho ta dùng. Ví bằng thiên hạ chẳng có mưa chẳng có nắng ta sống làm chi được ? Thật trời đất cùng mọi sự ở trong thế giới này bởi một đức Chúa trời rộng rãi vô cùng mà có. Vì vậy ta cám ơn đức Chúa trời là cha cả chúng tôi, và thờ phượng đấy trên hết mọi sự thì thậm phải”[9].
Các Giám mục Việt Nam cũng đã nhận định về chữ Hiếu như điểm hội ngộ giữa Tin Mừng và nền tảng đạo đức xã hội: “Yêu thương và hiệp nhất là đặc điểm của Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô và cũng là điểm gặp gỡ sâu xa nhất giữa Tin Mừng và văn hóa Việt Nam, một nền văn hóa vốn lấy nghĩa đồng bào và đạo hiếu trung làm nền tảng cho đạo đức xã hội” (Thư chung năm 1998, số 5).
Thế nhưng, trong thực tế, người Kitô hữu Việt Nam thường đối diện với một sự ngộ nhận đã ăn sâu vào tâm thức nhiều người: « Theo Đạo (Công giáo), bỏ Ông Bà ». Khi người muốn theo đạo Công giáo là trưởng nam trong gia đình, thì họ hay gặp phải sự ngần ngại của cha mẹ bởi mối lo không có người lo thờ cúng ông bà tổ tiên, vốn là bổn phận của người con trai trưởng.
Để giải tỏa những ngộ nhận về đạo Công giáo liên quan đến lòng hiếu kính đối với tổ tiên, đồng thời làm sáng tỏ tinh thần hiếu thảo của con cái Thiên Chúa, thiết nghĩ cần làm nổi bật chữ Hiếu trong huấn giáo, lối diễn tả đức tin cũng như cách sống của người Công giáo. Thực vậy, Hiếu đạo vốn là thái độ và đòi hỏi nền tảng của tinh thần Kitô giáo.
Xét về phương diện thực hành luân lý, hiếu thảo đứng đầu 7 yêu cầu liên quan đến tương quan giữa người với người, trong 10 điều răn: “Thứ Bốn, thảo kính cha mẹ” (Kinh Mười điều răn).
Còn hướng về nguồn cội đức tin của mình, người Công giáo tin nhận Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, là Anh Cả của nhân loại, “Trưởng Tử giữa một đàn em đông đúc” (Rm 8, 29). Người yêu thương và liên đới trách nhiệm với cả loài người, nhất là với những người bé mọn, nghèo khổ. Gương sống của Đức Giêsu là nền tảng của chữ Hiếu theo niềm tin của người Công giáo.
Con chí hiếu của Thiên Chúa
Đạo hiếu được đề cao nơi truyền thống thờ kính tổ tiên của Việt Nam có thể tìm gặp nơi Đức Giêsu Kitô một chứng từ sinh động, cụ thể của một người con đầy lòng hiếu thảo. Hơn ai hết Đức Giêsu không những hằng tuân phục cha mẹ trần thế khi nhập thể làm người (xem Lc 2, 51), mà còn là Hiếu tử của Cha trên trời, người con chí hiếu, chí ái của Thiên Chúa Cha. Lương thực của Người là thánh ý Chúa Cha (Ga 4, 34).
Đức Giêsu đã sống trọn đạo làm con, để “Danh Cha cả sáng” và “Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời”. Chúa Giêsu có một tương quan cá vị với Chúa Cha, mà Người gọi là “Abba”. Quan hệ này mật thiết đến độ Chúa Giêsu khẳng định : “Ai thấy Tôi là thấy Cha” (Ga 14, 9), “Tôi với Cha là một” (Ga 10, 30), “Tôi ở trong Cha và Cha ở trong Tôi” (Ga 14, 11).
Cha của Đức Giêsu cũng là Cha của các môn đệ : “Cha các con” (Mt 5,16.45.48). Vì thế, nhờ, với và trong Chúa Giêsu, Kitô hữu thưa : “Lạy Cha chúng con…”. Lòng hiếu thảo của Đức Giêsu đã được chính Chúa Cha xác nhận một cách long trọng qua hai biến cố chịu Thanh tẩy bởi Gioan Tiền hô và khi Biến hình: “Con là Con yêu dấu của Cha, Cha hài lòng về con” (Mc 1, 11; Mt 3, 17; Lc 3, 22).
Huynh trưởng của nhân loại
Theo ý muốn của Chúa Cha, Đức Giêsu là Trưởng tử giữa mọi loài thọ sinh : Thiên Chúa “đã tiền định cho họ nên đồng hình đồng dạng với Con của Người, để Con của Người làm trưởng tử giữa một đàn em đông đúc” (Rm 8, 29).
“Thật vậy, Đấng thánh hóa là Đức Giêsu, và những ai được thánh hóa đều do chung một nguồn gốc. Vì thế, Ngài đã không hổ thẹn gọi họ là anh em…” (Dt 2, 11).
Tại Việt Nam, người trưởng nam đóng một vai trò quan trọng trong tương quan gia đình và xã hội (từ nghi lễ tang, cưới, kính nhớ tổ tiên, mừng tuổi, phụng dưỡng cha mẹ, v.v…). Người Anh Cả đại diện các em trước mặt cha mẹ và thay quyền mẹ cha chăm sóc đoàn em, theo nguyên tắc “quyền huynh thế phụ”. Chúa Giêsu là Anh của mọi người và thay mặt đoàn em phụng sự Cha, đồng thời nhân Danh Cha dưỡng dục nhân loại theo ý Cha.
Chúa Giêsu đã “nên giống anh em mình về mọi phương diện” (Dt 2, 17), ngoại trừ tội lỗi (Dt 4, 15). Trong cuộc đời trần thế, ngay từ tấm bé, Người đã kinh nghiệm di dân (Mt 2, 13-15), lớn lên Người đã lao động tay chân như một người thợ cùng cha nuôi Giuse. Trên hành trình thực thi sứ mạng, Đức Giêsu đã trải nghiệm cơn đói (Mc 2,23-36; Mt 21, 18), nổi khát (Ga 4,6-7; 19, 28), không nơi định cư nhất định (Lc 9, 58), chịu cám dỗ (Mt 4, 1-11; Mc 1, 12-13), v.v…
Như thế, nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần, Con Thiên Chúa sinh làm người bởi Trinh nữ Maria (mầu nhiệm nhập thể). Và Ngôi Hai Thiên Chúa đã thật sự trở nên một người giữa chúng ta, Người chia sẻ cuộc sống, niềm vui, hy vọng, đau khổ và cả cái chết của nhân loại chúng ta. Đức Giêsu vừa là Thiên Chúa thật, vừa là con người thật. Nhờ đó, Người đã biểu hiện dung nhan con người của Thiên Chúa và đồng thời mạc khải chân dung thần linh của con người .
Cửa vào Đại gia đình Thiên Chúa
Bằng ngôn ngữ biểu tượng, Chúa Giêsu đã tự giới thiệu mình như cửa ngõ của ơn cứu độ, để bất cứ ai qua ngài, sẽ được cứu thoát (x. Ga 10, 9). Người xác quyết vai trò trung gian và sứ mạng cứu độ của Người đối với nhân loại.
Nhờ Chúa Giêsu, mọi người có thể trở thành con Thiên Chúa, trở nên thành viên của đại gia đình con cái Thiên Chúa. Thực thế, “những ai tin vào danh Người, thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa Cha” (Ga 1, 12).
Theo Đạo là đi vào tương quan cá nhân với Thiên Chúa như với người Cha, trở nên con cái của Ngài và có thể thân thưa : “Lạy Cha chúng con”, đó là tính chất mới mẻ và độc đáo mà Đức Giêsu Kitô đã mang đến cho toàn thể nhân loại. Xác tín về tính chất đặc thù này của Kitô giáo, các Giáo phụ thường xuyên nhắc lại : “Con Thiên Chúa do bản chất đã làm người để con người có thể trở nên con Thiên Chúa nhờ ân sủng “[10].
Bước theo Chúa Giêsu, người Anh Cả mẫu mực, trong suy nghĩ, thái độ và hành động, người Kitô hữu biểu lộ lòng hiếu thảo đối với Thiên Chúa là Cha (Thượng Phụ). Truyền thống Nho giáo vốn quen thuộc với cách nhìn mọi người là anh em: “Tứ hải giai huynh đệ”, nhưng điều mới mẻ mà Kitô giáo mang lại cho tương quan giữa người với người, chính là sự qui chiếu về Chúa Kitô, Con Người-Thiên Chúa. Người đổi mới mọi quan hệ con người bằng một Tình Yêu toàn hiến, bất vụ lợi và đưa đoàn em nhân loại đi vào hiệp thông với Hạnh Phúc vĩnh hằng của Đại Gia Đình Thiên Chúa Ba Ngôi.
- Chữ Tâm(心)
Hoạt động của con người tuy đa dạng và đa diện, nhưng giá trị đích thực của chúng đều qui về chữ Tâm. Thực vậy, cả truyền thống văn hóa tôn giáo Á Đông lẫn Kinh thánh đều trọng cái Tâm.
Vua Trần Nhân Tông (1258-1308) sau khi nhường ngôi cho con là Trần Anh Tông, lên núi Yên Tử phát triển dòng thiền Trúc Lâm, đã từng trước tác bài kệ “Cư trần lạc đạo”, trong đó xác định đường tu chủ tâm chứ không tuy thuộc cảnh giới bên ngoài:
Ở đời vui đạo cứ tùy duyên
Hễ đói thí ăn mệt ngủ liền,
Báu sẵn trong nhà đâu kiếm nữa,
Vô tâm đối cảnh hỏi chi Thiền[11].
Tu tâm là phương thế hữu hiệu đạt thân và là một phương cách biến đổi con người và thế giới. Thấm nhuần ít nhiều âm hưởng của quan niệm “Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” (Đại Học, chương I), của thuyết thiện tâm theo Mạnh Tử, Nguyễn Du đã diễn tả cốt lõi của sự thiện ở nơi tâm, trong đoạn kết thúc Truyện Kiều :
Thiện căn ở tại lòng ta,
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài.
- Tâm trong Nho giáo
Chữ tâm trong Nho giáo được hiểu theo nghĩa rộng là cái thần minh làm chủ cả tư tưởng lẫn hành vi của người ta. Hễ ta giữ được cái tâm tĩnh, không để cho vật dục che khuất cái sáng suốt tự nhiên, thì khi có vật gì cảm đến là ứng ngay được, và biết rõ ngay cái lẽ. Tâm ta càng tĩnh, thì trực giác càng nhạy bén. Do đó, Vô tư giã, vô vi giã, tịch niên bất động, cảm nhi loại thông thiên hạ chi cố, nghĩa là không nghĩ, không làm, im lặng không động, đến lúc cảm thì suốt được mọi cớ trong thiên hạ[12].
Chuẩn mực đạo đức cơ bản nhất của con người là nhân nghĩa lễ trí. Mà “Nhân nghĩa lễ trí bắt nguồn từ tâm” (Tân tâm thượng). Con người sở dĩ là người, là do nội tâm của con người đang tồn tại cái tâm trắc ẩn, tu ố (xấu hổ và căm ghét), từ nhượng (khiêm tốn từ chối) và thị phi (phải trái).
“Tâm trắc ẩn là đầu mối của nhân; Tâm tu ố là đầu mối của nghĩa; Tâm từ nhượng là đầu mối của lễ, Tâm thị phi là đầu nối của trí vậy” (Công Tôn sửu thượng) Bốn loại tâm đạo đức này là sự mở đầu của quan niệm nhân nghĩa lễ trí. Đạo đức nhân nghĩa lễ trí của con người đều do sự phát triển của bốn loại đạo đức này[13].
Nếu Kinh dịch giải thích Tâm bằng tâm lý, Thượng thư dùng thiện ác giải thích Tâm, thì Kinh thi[14], một trong Ngũ Kinh, nền tảng của truyền thống Nho học, giải thích Tâm bằng nhân đức.
Chữ tâm được sử dụng 162 lần trong Kinh thi, diễn đạt các loại tình cảm tư tưởng nội tâm của con người. Khổng tử chỉ ra rằng : “Thi”, tam bách, nhất ngôn dĩ tế chi viết : “Tư vô tà”, nghĩa là trong Kinh thi có 300 bài thơ thì chỉ có một câu có thể bao trùm được là: “không nghĩ bậy”. (Luận ngữ, Vi chính). Như thế, Kinh thi nhấn mạnh đặc biệt đến khái niệm về “Tâm đức”.
Vua chúa cần lấy tâm đức để trị quốc, chứ không thể dùng biện pháp hà khắc bạo ngược. Tâm đức là nguyên tắc quan trọng để trị quốc, dù phải dùng mệnh lệnh hành chính và luật pháp cũng phải thể hiện được tinh thần nhân đức.
Kinh thi nêu gương Lỗ Hi Công xuất quân đi dẹp loạn, mà không làm cho trăm họ bị tai họa. Dẹp được loạn mà không làm tổn thương dân chúng, đó là người có “tâm đức”.
Vì thế, bậc quân vương phải luôn tu thân mới đủ tư cách dẫn đạo dân chúng. Nhờ tu thân mà tâm hồn trong sạch, tác phong hợp lễ, đạo đức tràn đầy. Cả người cai trị lẫn dân chúng đều phải lấy việc tu thân làm gốc. Kinh thi đã liên kết chặt chẽ tâm với đức, đề cao tinh thần đạo đức, nhấn mạnh nhân đức, sự tự giác của ý thức đạo đức trong tương quan vua-tôi[15].
Theo Nho giáo, bốn cái tâm rộng lớn không thể đo lường được là Tứ vô lượng tâm (四無量心), gồm có: Hảo tâm, Hiếu tâm, Thiện tâm, Đạo tâm.
Hoàng Thiên bất phụ Hảo tâm nhơn,
Hoàng Thiên bất phụ Hiếu tâm nhơn,
Hoàng Thiên bất phụ Thiện tâm nhơn,
Hoàng Thiên bất phụ Đạo tâm nhơn[16].
Việc tế lễ hệ tại chủ yếu ở cái Tâm: “Phù tế giả, phi vật tự ngoại chí giả giả, tự trung xuất, sinh ư tâm giã”, nghĩa là Tế không phải vật ở ngoài đến, mà tự trong ra, tự tâm hồn phát ra” (Lễ Ký, XXV : Tế Thống)[17].
Về tương quan giữa Tâm và tri thiên mệnh, Mạnh Tử chủ trương rằng khi rèn luyện hoàn hảo cái tâm của mình, thì sẽ biết bản tính của mình và khi biết bản tính của mình, thì cũng biết Trời:
Tận kỳ tâm giả, tri kỳ tánh giã; tri kỳ tánh tắc tri Thiên hỹ [18].
Cũng thế, khi ta bảo tồn lòng dạ, lương tâm, nuôi dưỡng bản tính là để thờ Trời. Dù chết yểu hay trường thọ, vẫn xem như nhau, cứ bền chí tu tập, bình tĩnh đối với giờ sau hết, đó là cách xác lập vững chắc Mạng do Trời ban cho:
Tồn kỳ tâm, dưỡng kỳ tánh, sở dĩ sự Thiên giã.
Yểu thọ bất nhị, tu hân dĩ sĩ chi, sở dĩ lập Mạng giã [19].
Làm thế nào để dưỡng tâm ? Để dưỡng tâm cần thực hiện ba điều: giảm trừ ham muốn, dùng nhân lễ nghĩa để giữ cái Tâm và bồi đắp tinh thần ngay thẳng.
Thứ nhất, Dưỡng tâm mạc thiện vu quả dục, kỉ vi nhân diệc quả dục ; tuy hữu bất tồn yên giả, qua hĩ ; kĩ vi nhân diệc đa dục, tuy hữu tồn yên giả, quả hĩ. (“Tận tâm hạ”). Nó vì mọi người mà cũng ít ham muốn, tuy rằng có những người có hay không có chí tâm như vậy, nhưng cũng là ít ham muốn rồi. Ít ham muốn mới có thể bảo tồn được cái tâm thiện, nhiều ham muốn thì tất nhiên sẽ mất cái tâm thiện. Do đó, cần tận tâm tri tính một cách tự giác, là xem xét lại mình.
Thứ hai, lấy cái nhân ái để giữ lấy cái tâm, lấy cái lễ để giữ lấy cái tâm: “Dĩ nhân tồn tâm, dĩ lễ tồn tâm” (Li lầu hạ). Lấy đạo đức nhân nghĩa lễ trí để hạn chế dục vọng cầu lợi của nội tâm, đó là điểm khác biệt giữa người quân tử với kẻ tiểu nhân.
Thứ ba là bồi dưỡng tinh thần ngay thẳng cương trực: “Hạo nhiên chi khí”, hình thành cái ý chí kiên định từ nhân đến nghĩa. Tinh thần thẳng thắn cương trực của lòng người do tập trung nghĩa mà thành, do sự phối hợp ý chí tinh thần với nghĩa và đạo[20].
- Tâm trong đạo Phật
Có nhiều giáo pháp và kinh tạng trong lịch sử phát triển của đạo Phật, nhưng có thể nói chữ Tâm là điểm quy kết con đường mà Đức Phật đề nghị với chúng sinh.
Tâm là đầu mối sinh tử
Tâm là căn bản giải thoát
Tâm dẫn đầu các pháp
Tâm là họa sỹ khéo
Tâm tạo ra ba cõi
Tâm chấp ngã là chúng sinh
Tâm vô ngã là Bồ tát
Tâm ích kỷ là phàm phu
Tâm vô lượng là pháp thân
Tâm ô nhiễm là khổ đau
Tâm thanh tịnh là Niết bàn
Tâm mê là chúng sinh
Tâm giác là Phật[21].
Có bốn cái Tâm vô lượng là Tứ vô lượng tâm, còn gọi là Tứ đẳng, Tứ Phạm hạnh hay Tứ Thiền trong Thập nhị Thiền, đó là:
Từ vô lượng tâm : Tâm có thể đem lại niềm vui cho chúng sinh.
Bi vô lượng tâm: Tâm có thể trừ khổ cho chúng sinh
Hỉ vô lượng tâm: Tâm vui mừng khi thấy người khác khỏi khổ được sướng.
Xả vô lượng tâm: như ba Tâm trước, xả bỏ mà Tâm chẳng còn chấp trước. Hơn nữa oán thân bình đẳng, xả oán xả thân.
Bốn tâm này phổ duyên vô lượng chúng sinh, dẫn đến vô lượng phúc, nên được gọi là vô lượng tâm[22].
Từ Bi Hỷ Xả là bốn đức tính cao thượng theo nhãn giới Phật giáo, càng có nhiều người thực hành các nhân đức này, thì xã hội sẽ được biến đổi, khởi đi từ thân tâm con người. Tứ vô lương tâm giúp cho con người trở nên chí thiện, có khả năng biến đổi con người tầm thường thành hiền nhân.
Thiện ác là tại tâm, tác động của tâm trong việc hướng tà hay hướng thiện còn mạnh hơn ảnh hưởng của kẻ thù hay của thân nhân. Hai bài kệ 42 và 43 trong thuộc kinh Pháp Cú, thuộc Phật giáo Nam tông diễn tả tầm quan trọng của Tâm:
- Kẻ thù hại kẻ thù
Oan gia hại oan gia
Không bằng tâm hướng tà
Gây ác cho tự thân. - Ðiều mẹ cha bà con
Không có thể làm được
Tâm hướng thiện làm được
Làm được tốt đẹp hơn[23].
Người theo Thiền tông không xa lạ với thiền ngữ của Tổ Bồ Đề Đạt Ma: “Trực chỉ nhân tâm kiến tánh thành Phật”[24], nghĩa là chỉ thẳng thân tâm người thấy tánh thành Phật.
Đạo Phật có rất nhiều pháp môn, nhưng dù tu tập theo pháp môn nào, thì cũng nhằm mục đích duy nhất là thanh tịnh tâm: “Tự thanh tịnh tâm ý/ Là lời chư Phật dạy”. Tu thiền là để thanh tịnh tâm, mà niệm Phật cũng để thanh tịnh tâm. Muốn cho tâm thanh tịnh thì phải diệt trừ tam độc tham, sân, si. Nếu ngồi thiền mà tâm không chuyển hóa, các phiền não không diệt trừ, tam độc không hóa giải, thì “mài đá chẳng thành gương, ngồi thiền đâu thành Phật”. Cũng vậy, miệng xưng niệm danh hiệu Phật mà tâm thì chẳng tương ứng với tâm niệm của Phật chút nào, vẫn dẫy đầy thị phi nhân ngã, thì cũng như “máy niệm Phật” mà thôi. Do đó, tu là phải tu tự cái tâm, chuyển đổi cái tâm niệm chúng sanh thành tâm niệm Phật, Thiền cũng vậy mà Tịnh cũng vậy[25].
- Kitô giáo: ĐạoTâm
Tâm giới[26]: nơi cư ngụ của Thiên Chúa
Nếu chỉ nhìn Kitô giáo từ bên ngoài hoặc qua thủ tục hành chánh, một số người thường có cảm tưởng rằng tôn giáo này là đạo của lề luật, vì ngoài 10 điều răn của Thiên Chúa và 6 điều răn Hội thánh, bộ giáo luật của Công giáo năm 1983 còn chứa đựng 1.752 khoản luật. Mỗi một dòng tu lại có hiến pháp riêng của dòng mình bao gồm nhiều khoản luật dành cho các tu sĩ nam nữ. Ví dụ như Hiến pháp của dòng Ngôi Lời có 735 điều qui định ; Hiến chương chung của 7 Hội dòng Mến Thánh giá ở Sàigòn cũng gồm 174 điều khoản v.v… Nhưng thật ra, Kitô giáo không phải là đạo của lề luật, mà là đạo của con tim, tâm đạo. Vì giới luật căn bản nhất của Kitô giáo là luật của trái tim : Luật yêu thương. « Mười điều răn ấy tóm về hai này mà nhớ : Trước kính mến một Đức Chúa Trời trên hết mọi sự, sau lại yêu người như mình ta vậy » (Kinh mười điều răn). Thật vậy, trong Tân Ước, nếu từ ‘lề luật’ được dùng 165 lần thì từ ngữ ‘tâm lòng’ hay ‘con tim’ được sử dụng đến 128 lần. Và cụ thể nhất, chính cách sống của Chúa Giêsu trong 3 năm công bố Tin Mừng yêu thương đã biểu hiện trái tim của Thiên Chúa cho nhân loại đang khao khát thương yêu.
Thật vậy, nhìn vào cuộc đời Thầy Giêsu, chúng ta nhận ra thái độ ứng xử của Người chứng tỏ Người không dừng lại ở diện mạo bên ngoài, mà luôn muốn đi sâu vào cõi lòng con người. Đối diện với một Giakêu thấp bé, một người thường bị dư luận xếp vào loại gian tham và thuộc hàng tội lỗi, Thầy Giêsu không chỉ dừng lại ở một cuộc gặp gỡ xã giao hay một cuộc tiếp xúc qua đường, mà muốn đến nhà anh ta, nghĩa là đi vào tâm lòng của người thu thuế này.
Nhìn thấy một góa phụ dâng vài đồng xu vào hòm tiền của đền thờ, Đức Giêsu không dựa vào số lượng của cải đóng góp để đánh giá người phụ nữ nghèo này, nhưng Người thấu suốt hoàn cảnh sống của thiếu phụ kia, nên đã nhìn ra lòng quảng đại của chị.
Lòng từ tâm của Đức Giêsu con biểu lộ cách đặc biệt đối với các tâm hồn yếu đuối lỡ lầm. Khi bao bậc vị vọng trong xã hội Do Thái thời bấy giờ đòi ném đá người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình, Chúa Giêsu đã phản ứng như thế nào ? Người giữ lặng thinh một lúc, rồi đưa ra lời chất vấn đầy thách thức, biến những nguyên cáo thành bị cáo: “Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi” (Ga 8, 7). Người đọc được tà tâm của những người tố cáo và ban niềm hy vọng đổi đời cho nữ tội nhân.
Thánh Tâm: lẽ sống của người môn đệ
Không giống với các tín đồ của mọi tôn giáo khác, người Kitô hữu chúng ta không chỉ là người mang danh của đấng sáng lập đạo mà còn “mặc lấy” chính Đức Kitô và mang con tim của Người. « Quả thế, bất cứ ai trong anh em được thanh tẩy để thuộc về Đức Kitô, đều mặc lấy Đức Kitô (Gl 3, 27). Lời thánh Phaolô khuyên các tín hữu thành Rôma vẫn có giá trị đối với chúng ta ngày nay : « anh em hãy mặc lấy Chúa Giêsu Kitô, và đừng chiều theo tính xác thịt mà thoả mãn các dục vọng » (Rm 13, 14).
Lòng tôn sùng Thánh Tâm và tôn kính Lòng thương xót Chúa là một thực hành đang phổ biến khắp nơi trong thế giới Công giáo, thực ra đã đâm rẽ sâu trong tâm lòng nhiều thế hệ Kitô hữu và qui chiếu về Tình yêu của Thiên Chúa, một tình yêu cho đến cùng, biểu lộ qua trái tim bị đâm thâu của chính Chúa Giêsu trên thập giá. Thật ý nghĩa khi thánh giá, biểu tượng của Kitô giáo, giống hình chữ “t”, mẫu tự khởi đầu của các chữ “tâm”, “tim”, “tình thương” trong tiếng Việt.
Môn đệ của Đức Giêsu là người mang con tim của Thầy, nghĩa là để cho Đức Kitô sống trong mình, để cho Thầy yêu thương anh chị em bằng trái tim của mình. Kitô hữu đích thực là người thực hành “tuyên ngôn” của vị tông đồ cho dân ngoại : “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi. Hiện nay tôi sống kiếp phàm nhân trong niềm tin vào Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu mến tôi và hiến mạng vì tôi” (Gl 2, 20).
Đi đạo, sống đạo là bước đi trên những nẻo đường của trái tim, sống theo tiếng gọi của con tim Thiên Chúa, hành xử theo cái Tâm của Đức Giêsu, chứ không chiều theo trái tim ngục tù, hạn hẹp của chúng ta. Vì tình yêu của chúng ta còn khiêm tốn, nghèo nàn và mang nặng cảm tính, nên sống theo tiếng gọi của trái tim Chúa Giêsu chúng ta sẽ mang lấy tâm huyết của người môn đệ được Chúa Giêsu yêu mến.
* * *
Giữa nhiều điểm gặp gỡ, thiết nghĩ người Công giáo và tín đồ các tôn giáo khác tại Việt Nam có thể dễ dàng hội ngộ với nhau nơi lòng Hiếu kính và cái Tâm. Khi đồng tâm hiệp lực giáo dục chữ Hiếu và Tâm cho nhân sinh, đồng thời nỗ lực thực hành Hiếu và Tâm, cộng đồng những người tin có thể góp phần đặc thù của mình trong việc biến đổi, xây dựng và canh tân nhân tâm của con người cũng như của cộng đồng dân tộc.
Trích Tập san Hiệp Thông / HĐGM VN, Số 67 (Tháng 9 & 10 năm 2011)
Tài liệu tham khảo
- Thái Lam HỒNG, “Đối thoại trong viễn tượng đa nguyên tôn giáo”, Thời sự thần học, số 21 (tháng 9/2000), tr. 7-16.
- Trần Trọng KIM,Nho Giáo, Quyển thượng, Bộ Giáo dục-TT. Học Liệu Xuất bản, Sàigòn, 1971.
- Hoành Sơn Hoàng Sỹ QUÝ,Vấn đề đối thoại liên tôn, Ra Khơi, Sàigòn, 1972.
- Xem Trương Lập VĂN (Chủ biên),TÂM, Triết học Đông phương, Nxb KHXH, Hà Nội, 1999.
- Nguyễn Đăng DUY,Các hình thái tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam, Hà Nội, 2001.
- GHPGVN-Phân viện Nghiên cứu Phật học,Từ điển Phật học Hán Việt,NXB KHXH, Hà Nội, 2004.
- HĐGMVN-Ủy Ban Giáo Dân,Sống đạo theo cung cách Việt Nam– Tài liệu hội thảo mùa Phục Sinh 2004, NXB Tôn Giáo, Hà Nội, 2004.
- Mai Đức VINH (Chủ biên),Văn hóa và Đức Tin, Giáo xứ Việt Nam, Paris, 2004.
- Đoàn Trung CÒN (Dịch giả),Tứ Thư,NXB Thuận Hóa, Huế, 2006
- Lm. Phêrô Đinh Ngọc LÂM,Đối thoại liên tôn, LHNB, Tp. HCM, 2009.
[1] “Tứ hải giai huynh đệ”, “Lá lành đùm lá rách”
[2] Tạ Thanh Minh-Khánh, “Niềm tin trong văn hóa Việt Nam”, trong Mai Đức Vinh (Chủ biên), Văn hóa và Đức Tin, Paris, Giáo xứ Việt Nam, 2004, tr. 24-26.
[3] Nguyệt san Giác Ngộ, số 161 (8.2009), tr. 46.
[4] Luận ngữ (Đoàn Trung Còn dịch), Học nhi đệ nhứt, tiết 11, NXB Thuận Hóa, 2006, tr. 9.
[5] Xem Nguyệt san Giác Ngộ, số 161 (8.2009), tr. 43.
[6] Ibid., tr. 44.
[7] Thích Viên Giác, Chữ Hiếu trong Đạo Phật qua Kinh Vu Lan và Kinh Báo Ân Cha Mẹ, in http://www.buddhismtoday.com/viet/vulan/047-chuhieu.htm, Truy cập ngày 26.10.2020.
[8] Xem Quảng KIẾN, “Quan niệm về hiếu theo Lục độ tập kinh”, trong Nguyệt san Giác Ngộ, số 161 (8.2009), tr. 48.
[9] Alexandre de Rhodes, CATHECHISMUS pro ijs, qui volunt suscipere BAPTISMUM in octo dies divisus (Phép giảng tám ngày cho kẻ muốn chịu phép rửa tội, mà vào đạo thánh đức Chúa trời), Roma, 1651, tr. 17-21 (bản dịch của Gs. Trần Văn Toàn).
[10] Placide DESEILLE, “Déification, péché et salut. Perspective orthodoxe”, in Communio , n° XXI, 2 (1996), tr. 77.
[11] Nguyễn Đăng DUY, Các hình thái tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam, Hànội, 2001, tr. 433.
[12] Xem Trần Trọng KIM, Nho Giáo, Quyển thượng, TT. Học Liệu Xuất bản, 1971, tr. 36.
[13] Xem Trương Lập VĂN (Chủ biên), TÂM, Triết học Đông phương, Nxb KHXH, Hà Nội 1999, tr. 74-75.
[14] “Kinh thi” là một bộ sách do Khổng Tử thu tập tổng hợp các bài thơ ca sớm nhất của Trung Quốc, được chia thành hai quyển : thượng và hạ.
[15] Xem Trương Lập VĂN, sđd., tr. 63-64.
[16] Soạn già Đức Nguyên, Cao Đài Từ điển, quyển 3, Tòa Thánh Tây Ninh, 2000, tr. 664.
[17] A.M. Bùi Hữu Ngạn, Thượng Đế trong Nho giáo, Tủ Sách Ra Khơi Xuất bản, 1958, tr. 7.
[18] Mạnh Tử, Tận tâm chương cú thượng, NXB Thuận Hóa, Huế, 2006, tr. 216.
[19] Ibidem.
[20] Xem Trương Lập Văn, sđd., tr. 78-79.
[21] Thích Trí SIÊU, Tâm và Ta , NXB Phương Đông, Tp. HCM, 2007, tr. 107.
[22] GHPGVN-Phân viện Nghiên cứu Phật học, Từ điển Phật học Hán Việt, NXB KHXH, Hà Nội, 2004, tr. 1465.
[23] Thích Minh CHÂU (dịch), Kinh Pháp cú, NXB Tôn Giáo, Tp. HCM, 2006, tr. 17.
[24] Tập san Phật học online, số 1 (tháng 7-8.2008), tr. 59
[25] Thích Nguyên Hùng, Bồ Đề Đạt Ma Khai Thi Pháp Môn Niệm Phật, trong https://nguoiphattu.com/tu-hoc/tinh-do/3182-to-bo-de-dat-ma-khai-thi-phap-mon-niem-phat.html , Truy cập ngày 26.10.2020.
[26] Ở đây chúng tôi dùng theo nghiã thế giới tâm linh, chứ không theo nghiã của thuật ngữ “tâm giới” nơi Phật giáo:” giới được ngăn chặn các tâm niệm sai trái, lệch lạc.Lm. PX. Bảo Lộc
2020
Những đặc điểm tiêu biểu của một người chồng mẫu mực
Tự bản thân người chồng phải luôn khẳng định rằng mình là ai trong gia đình và mình phải sống, cư xử và hành động như thế nào để xứng đáng là người gia trưởng, người thuyền trưởng, người lãnh đạo trong gia đình. Ông bà ta thường nói “Đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm”. Đàn ông xây nhà, điều đó giúp ta liên tưởng tới hình tượng người chồng, người cha, người chủ trong gia đình. Họ có bổn phận xây dựng nền móng sao cho ngôi nhà gia đình được vững chắc, sao cho mọi thành viên sống trong đó được an toàn, êm ấm, sao cho mái nhà bằng vật chất luôn giữ được tình thương của mái ấm gia đình.
Đại văn hào Pháp Victor Hugo đã nói: “Ngôi nhà được xây bằng gỗ đá, bằng ngói, bằng cột bằng kèo. Gia đình được xây bằng những việc làm yêu thương. Nó sẽ trụ vững một ngàn năm”. Người chồng là gia trưởng chắc chắn sẽ phải là một nhân tố quan trọng trong việc vun trồng và phát triển tình yêu và hạnh phúc trong gia đình. Để đạt được điều đó, họ phải chứng tỏ mình có những phẩm chất và năng lực cần thiết mà bất kỳ người chồng nào cũng cần có nhằm đáp ứng kỳ vọng của người bạn đời mình.
Sau đây, ta có thể kể ra bảy đặc điểm tiêu biểu của một người chồng mẫu mực.
1- MẪU MỰC VỀ SỰ TRƯỞNG THÀNH TRONG TÌNH YÊU
Phần đông phụ nữ rất sợ sống với một người chồng “trẻ người non dạ”, chưa đủ trưởng thành về tâm lý và trong tình yêu. Họ sống vô tâm, vô tư, vô lo và ham chơi. Những tuýp chồng này chưa đủ độ chín để có thể dành trọn tình yêu cho gia đình, cho vợ, cho con. Họ không hiểu tình yêu một cách đúng đắn và xem hôn nhân như một cuộc chơi, một canh bạc. Thích thì ở với nhau, chán thì bỏ nhau ngay. Chính vì vậy mà tình trạng ly hôn sớm nơi những đôi vợ chồng chưa trưởng thành, thiếu trải nghiệm luôn ở mức báo động. Người ta gọi những vụ ly hôn sớm của những đôi vợ chồng này là ly hôn xanh.
Chúng ta biết rằng, khi còn quá trẻ hay chưa đủ trưởng thành, người chồng thường không có được những suy nghĩ chín chắn về tình yêu lứa đôi một cách nghiêm túc. Họ chưa từng trải nhiều nên thường không có khả năng tiên liệu về những yếu tố ảnh hưởng đến đời sống hôn nhân gia đình. Hệ quả là họ nhanh chóng nhận ra hôn nhân là một gánh nặng không thể chịu đựng được và thường quyết định ly hôn ngay khi có thể.
Một tác giả đã nhắc đến sự cần thiết của sự trưởng thành về tình cảm như sau: Người đàn ông cần có một độ chín chắn nhất định, phải trưởng thành trong cảm xúc để sẵn sàng đối mặt với sóng gió và thất vọng trong cuộc sống. Khi xảy ra vấn đề, anh ta cần biết cách xử lý khôn ngoan và an toàn thay vì sốc nổi như một đứa trẻ. Cuộc sống nhiều biến động, điều quan trọng là anh ấy có thể đối mặt với các tình huống ấy một cách kiên cường, thậm chí phải nâng đỡ được bạn đời. Khả năng này sẽ quyết định chặng đường bình yên trong hôn nhân của hai người. [1]
Một người chồng mẫu mực luôn coi tình yêu là yếu tố quan trọng hàng đầu trong đời sống hôn nhân gia đình. Và người ấy sẽ thể hiện tình yêu theo lời nhắn nhủ của thánh Phao-lô, như sau: “Anh em là những người được Thiên Chúa tuyển lựa, hiến thánh và yêu thương. Vì thế, anh em hãy có lòng thông cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hòa và nhẫn nại. Hãy chịu đựng và tha thứ cho nhau, nếu trong anh em người này có điều gì phải trách móc người kia. Chúa đã tha thứ cho anh em, thì anh em cũng vậy, anh em phải tha thứ cho nhau. Trên hết mọi đức tính, anh em phải có lòng bác ái: đó là mối dây liên kết tuyệt hảo…” (x. Cl 3,12-14).
2- MẪU MỰC VỀ KHẢ NĂNG LÃNH ĐẠO
Người ta thường liên hệ vai trò của người chồng trong gia đình với 3 hình ảnh: gia trưởng, thuyền trưởng và huynh trưởng. Tất cả những danh hiệu đều nói lên vai trò lãnh đạo chủ yếu của người chồng, người cha trong gia đình.
Người chồng đích thực là người gia trưởng, là người chịu trách nhiệm chung về mọi sinh hoạt và những liên đới trong gia đình. Người ấy sẽ thực hiện những nhiệm vụ cá biệt thích hợp liên quan vai trò lãnh đạo gia đình của mình. Những việc mà người chồng thực hiện sẽ đóng góp rất lớn vào việc xây dựng gia đình thành mái ấm tràn ngập yêu thương và hạnh phúc.
Có thể liệt kê ba nhiệm vụ chính sau đây của người gia trưởng: nhiệm vụ quản gia, nhiệm vụ quản lý và nhiệm vụ quản giáo.
Quản gia: Người ta vẫn thường hiểu người quản gia là người được thuê mướn để trông coi nhà cửa và làm các việc vặt trong nhà theo lệnh của gia chủ. Tuy nhiên trên thực tế, người chồng người cha trong gia đình cũng là một quản gia. Họ có nhiệm vụ quán xuyến các việc lớn nhỏ trong gia đình. Họ thức khuya dậy sớm. Họ lao động cật lực với đủ mọi thứ công việc mà không đòi hỏi lương bổng. Trách nhiệm của họ là tạo dựng một gia đình thành một tổ ấm trong đó mọi sinh hoạt được thực hiện một cách trôi chảy, tốt đẹp.
Tuy nhiên, phải thừa nhận điều này là cũng có nhiều vị gia trưởng không chu toàn bổn phận người chồng người cha của mình. Họ không hề quan tâm đến gia đình và những gì xảy ra ở đó. Sự hiện diện của họ trong gia đình rất mờ nhạt, bởi họ sống trong gia đình như một khách trọ. Đây là mẫu người đàn ông thuộc tuýp người “vô tâm – vô tư – vô lo – vô cảm – vô tích sự”. Thậm chí họ còn làm cho “nửa kia” có cảm giác đó không phải là bạn đời của mình nữa!
Người gia trưởng cũng còn là người quản lý của gia đình nữa. Quản lý ở đây không phải là độc đoán nắm giữ, điều hành tất cả, mà là quán xuyến mọi việc gia đình. Họ biết nắm bắt các nhu cầu của cả gia đình và của mỗi thành viên trong gia đình. Từ việc lớn đến việc nhỏ. Việc lớn có thể là xây cất sửa sang nhà cửa, mua sắm trang bị cho gia đình, việc sinh hoạt học hành của con cái vv. Việc nhỏ có thể liên quan đến cái ăn cái mặc, kế hoạch chi tiêu trong gia đình. Dù gia đình ở trong hoàn cảnh nào bất kỳ, người gia trưởng tốt sẽ luôn quan tâm, lo lắng và điều hành các việc trong gia đình sao cho suôn sẻ, trôi chảy…
Cuối cùng, chúng ta biết rằng trong gia đình, con cái không thể thiếu bóng dáng và sự hiện diện của người cha được. Bởi như người ta thường nói: “Con không cha như nhà không nóc”. Cha mẹ không chỉ sinh con, nuôi con, mà còn phải dạy dỗ, giáo dục con cái nữa. Và đây là nhiệm vụ quan trọng nhất. Việc này thì kéo dài cả đời. Vì mười năm trồng cây, nhưng mất trăm năm trồng người. Hơn ai hết, người gia trưởng quan tâm và đầu tư công sức cho việc giáo dục con cái. Không thể khoán trắng việc này cho người vợ được. Có thể gọi đây là nhiệm vụ quản giáo của gia trưởng trong gia đình.
Trước hết họ kết hợp chặt chẽ với người bạn đời trong việc định hướng mục đích và các phương pháp giáo dục. Kế đến là kiên nhẫn thực hiện việc giáo dục con cái như thế nào cho thật hiệu quả và thích hợp. Sau đó, chính họ thường xuyên quan tâm theo dõi đời sống và các sinh hoạt của con cái để đáp ứng các nhu cầu của chúng, giúp đỡ chúng phát triển mọi mặt và đạt tới sự trưởng thành cần thiết. Một điều quan trọng mà chúng ta cần lưu ý là chính bản thân người gia trưởng luôn phải là tấm gương sáng cho con cái về mọi mặt. Làm gương sáng đó chính là một phương thế giáo dục hiệu quả nhất, vì “Lời nói như gió lung lay, gương bày như tay lôi kéo”.
Người chồng mẫu mực luôn là một nhà lãnh đạo tài giỏi, có kỹ năng tốt, có lương tâm, có đạo đức và nhất là luôn là một tấm gương sáng trong gia đình.
3- MẪU MỰC VỀ TƯ CÁCH ĐẠO ĐỨC
Người phụ nữ nào cũng ước mong mình có một người chồng đạo đức, chuẩn mực và có lòng bao dung. Và họ cũng rất sợ những ông chồng nào vô đạo đức, sống buông thả, sống ích kỷ, sống vô kỷ luật…
Một tác giả đã viết như sau: Chúng ta biết rằng, trong gia đình, người chồng không có đạo đức thì không biết lo tròn bổn phận của mình, người chồng không có đạo đức thì suốt ngày lè nhè chửi mắng vợ con, vì là bợm nhậu; cuối tháng lãnh lương thì cùng bạn bè đi nhậu bia ôm, hát karaokê… Mọi việc trong nhà thì hoàn toàn một tay vợ trông coi, nhưng ông chồng lại không biết điều ấy, cứ lấy quyền làm chồng mà xử tệ với vợ con vv. Trái lại, một ông chồng có đạo đức thì biết chu toàn bổn phận của một người cha, người chồng trong gia đình, biết yêu thương vợ, biết giáo dục con cái theo tinh thần Phúc Âm, nghĩa là biết thực hành Ðức Ái ngay trong cuộc sống gia đình, biết ý thức vai trò to tát mà Thiên Chúa đã “phân quyền” cho, để tiếp tục tạo ra con người mới, sự sống mới mà không oán trách, than van. [2]
Một người chồng đạo đức thì luôn biết cư xử cách bao dung, tế nhị. Thánh Phao-lô đã khuyên nhủ đôi bạn sống bí tích và mầu nhiệm hôn nhân dựa trên mẫu mực tình yêu và mối tương quan gắn bó giữa Chúa Ki-tô và Hội thánh. Đức Ki-tô đã yêu thương Hội thánh, đã hiến mình vì Hội thánh, đã chăm sóc, nuôi dưỡng Hội thánh, đã hy sinh cứu chuộc Hội thánh thế nào thì vợ chồng cũng phải sống và đối xử với nhau như vậy.
Một cách cụ thể, thiết thực hơn, tình yêu trong hôn nhân Ki-tô hữu cũng phải phỏng theo lòng mến Ki-tô giáo, là điều mà thánh Phao-lô đã nhắc nhở trong thư 1Cor: “Lòng mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật. Lòng mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, chịu đựng tất cả…” (x. 1Cor 13, 4-7).
Thiết nghĩ, để sống trọn vẹn lòng mến như thế, một người chồng mẫu mực phải hy sinh, phải từ bỏ chính mình, phải quảng đại bao dung, phải chấp nhận cái chết-vì-yêu như Đức Ki-tô. Nhờ xây dựng trên nền tảng tình yêu ấy, cuộc hôn nhân của đôi bạn sẽ bền vững và hạnh phúc lâu dài.
Người đàn ông mẫu mực về tư cách đạo đức sẽ không bao giờ khiến bạn đời mình bị tổn thương, thất vọng, trái lại người ấy sẽ luôn là nguồn động viên an ủi và là chỗ dựa vững chắc cho người vợ thân yêu của mình.
4- MẪU MỰC VỀ LÒNG CHUNG THỦY
Vừa qua, trên trang vnexpress.vn có bài viết tựa đề “Vì sao có những cuộc hôn nhân chết yểu?”, tác giả đã đề cập đến vấn đề “Hôn nhân không chung thủy”, như sau:
Hôn nhân là sự kết hợp của hai tâm hồn đồng điệu. Thế nên, điều cấm kỵ nhất của hôn nhân chính là một trong hai phía có hành vi không chung thủy, phá vỡ sự đồng điệu đó. Trong hôn nhân, tác động của sự thiếu chung thủy là vô cùng lớn, ví dụ gây cú sốc tinh thần to lớn cho nửa kia, làm mất sự tin tưởng và nảy sinh những cảm xúc tiêu cực: căm hận, ghen tuông, nghi ngờ…, kéo theo đó là những hành xử thiếu tử tế với đối phương. Ngay cả khi ngoại tình chấm dứt, thì những vết thương nó để lại vẫn tồn tại theo thời gian, trở thành vết sẹo khó lành trong lòng nửa kia.
Kết quả một điều tra, thăm dò xã hội được thực hiện bởi chuyên trang Best Life (Mỹ) gần đây trên 441 người đã có gia đình và ngoại tình cho thấy, hơn một nửa (54,5%) đã chia tay ngay sau khi sự thật lộ ra. 30% khác cố gắng ở bên nhau nhưng cuối cùng đã chia tay, và chỉ 15,6% có thể duy trì quan hệ sau sự đổ vỡ lòng tin này”. [3]
Có thể nói, tình yêu và lòng chung thủy giữa hai vợ chồng được ví như ánh sáng và sức nóng của một ngọn nến. Ánh sáng càng rực cháy thì sức nóng càng mãnh liệt. Do đó, tình yêu trong hôn nhân là nền tảng quan trọng nhất và tình yêu ấy phải chân thực, tự do và bền vững như một sợi giây kết nối bền chặt hai người lại. Ai cũng biết tâm lý chung của đàn ông là mau chán và hay thay đổi. Đàn ông có thể yêu sở thích, bạn bè, sự nghiệp hơn gia đình, vợ con. Đàn ông có thể chia năm sẻ bảy tình cảm của mình cho một đối tượng nữ khác, theo cảm tính và ý thích riêng của mình.
Chính vì lí do đó mà khi cử hành bí tích hôn phối, hai người nam nữ đã phải công khai tuyên hứa về tình yêu và sự chung thủy của mình đối với bạn đời, lúc thịnh vượng cũng như lúc gian nan, lúc mạnh khỏe cũng như lúc đau yếu…
Một người chồng mẫu mực sẽ luôn coi trọng vấn đề chung thủy trong đời sống vợ chồng. Bởi vì lòng chung thủy chính là thước đo tình yêu của người chồng dành cho bạn đời mình.
5- MẪU MỰC VỀ TINH THẦN TRÁCH NHIỆM
Những ai thường xuyên theo dõi một số chương trình trên truyền hình HTV 7 chuyên đề về hôn nhân gia đình, như “Vợ chồng son” hay “Tâm đầu ý hợp”, đều nhận thấy rằng các bạn nữ giới rất quan tâm đến tinh thần trách nhiệm của người chồng, người cha trong gia đình. Bởi vì trên thực tế hiện nay, nhiều đấng mày râu xem ra lơ là trách nhiệm trong gia đình. Có người khoán trắng tất cả mọi việc lớn nhỏ trong gia đình cho người vợ, khiến cho người nữ mệt mỏi, suy sụp vì công việc quá tải.
Quả thực, người phụ nữ nào cũng rất sợ người chồng sống vô trách nhiệm. Bởi trong gia đình, người đàn ông là cột trụ, là lãnh đạo, là chỗ nương tựa cho mọi người liên hệ. Nếu người chồng thiếu trách nhiệm gia trưởng của mình, thì điều đó sẽ ảnh hưởng rất xấu tới hạnh phúc, hòa khí và sự tiến bộ chung của gia đình. Bởi, trong bất kỳ gia đình nào và trong hoàn cảnh nào, người chồng luôn bị ràng buộc bởi trách nhiệm của người đứng đầu gia đình. Trách nhiệm yêu thương nâng đỡ vợ, con. Trách nhiệm xây dựng mái ấm gia đình hạnh phúc. Trách nhiệm lèo lái vận mệnh gia đình. Trách nhiệm kiến tạo một gia đình đạo hạnh và gương sáng. Như một danh nhân đã nói, “Trong hôn nhân, người ta chia đôi quyền lợi và nhân đôi trách nhiệm” (Arthur Schopenhauer).
Tục ngữ VN có câu: “Đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm”. Điều đó cho thấy sự phân chia trách nhiệm trong gia đình là quá rõ, vì thế người phụ nữ luôn kỳ vọng nơi chồng mình ý thức trách nhiệm cao, đồng thời ý thức đó phải được thể hiện qua những việc cụ thể hằng ngày. “Kẻ thì xay lúa, người thì bồng em”…là vậy.
Tiến sĩ Trần Mỹ Duyệt, trên trang web của UB Mục vụ Gia đình (HĐGMVN), trong bài viết “Phụ nữ muốn gì ở người chồng của mình?”, đã đưa ra 3 cái CÓ của người chồng trong đó ông nhấn mạnh chồng phải có trách nhiệm như thế nào. Tác giả viết như sau:
Trách nhiệm chính của chồng là yêu thương, bao bọc, che chở và lo lắng cho hạnh phúc của vợ. Nhiều người chồng vẫn hiểu một cách quá đơn sơ và cho rằng mình đi kiếm tiền về nuôi vợ, nuôi con là xong trách nhiệm. Ðó là hình ảnh mà tôi thường gặp trong lãnh vực nghề nghiệp. Nhiều người chồng còn tệ hơn, không những không lo được cơm áo cho vợ mà còn trở thành gánh nặng của vợ. Không chỉ vợ, mà cả con cái cũng nheo nhóc, khổ sở với thái độ và lối sống vô trách nhiệm ấy. Ðó là những người chồng bê tha rượu chè, nghiện hút, cờ bạc, và trai gái…
Một người chồng bỏ bê không lo tìm việc làm, nhưng sống bám vào đồng lương của vợ là người chồng vô trách nhiệm. Một người chồng không quan tâm đến sự an nguy của vợ con, không biết chia sẻ những trách nhiệm giáo dục con cái với vợ là người chồng, người cha vô trách nhiệm. Một người chồng không lo lắng cho vợ con, tối ngày chỉ lăng xăng chuyện ngoài đường với lý do bác ái, tông đồ, hoặc xã hội là một người chồng đặt sai trách nhiệm. [4]
Người chồng có thể nghèo, có thể thất học, có thể địa vị thua kém trong xã hội, nhưng không thể sống vô tâm, vô lo, không chu toàn trách nhiệm của mình trong gia đình. Để có một gia đình hạnh phúc, vợ chồng hòa hợp, con cái vui vẻ, điều không thể thiếu được đó là gia đình ấy có một người chồng và người cha mẫu mực về tinh thần trách nhiệm.
6- MẪU MỰC VỀ VIỆC ĂN NÓI GIAO TIẾP TRONG GIA ĐÌNH
Đa số chị em phụ nữ rất quan tâm tới vấn đề giao tiếp và ăn nói của người chồng trong gia đình cũng như ngoài xã hội. Phụ nữ rất dị ứng đối với những ông chồng nào ăn nói lỗ mãng, cộc lốc, thô thiển, đối với vợ con cũng như với người ngoài. Dù ở trong hoàn nào đi chăng nữa thì người đàn ông phải biết giữ mồm giữ miệng, ăn nói sao cho tế nhị, lịch thiệp và hòa nhã.
Tác giả D. Wahrheit trong cuốn “Cẩm nang Hạnh Phúc Gia Đình Kitô” có nói đến một đức tính quan trọng của một người chồng lý tưởng, đó là lịch sự. Tác giả viết như sau:
Nhiều người đàn bà than phiền như sau: Ước gì chồng tôi cũng nói năng và cư xử lịch sự với tôi như khi giao thiệp với người ngoài; hoặc: Khi ở một mình với tôi, chồng tôi quên hết cung cách của một người có giáo dục. Quả thực, có những người đàn ông nghĩ rằng, lịch sự đồng nghĩa với xã giao và như vậy phép lịch sự chỉ có giá trị đối với người ngoài mà thôi. Thực ra như người ta vẫn nói: lịch sự là hoa quả của bác ái, mà bác ái không có luật trừ, thiết tưởng những người thân cận nhất của chúng ta cũng phải là những con người cần được đối xử một cách lịch sự hơn ai hết. Điều này lại càng đúng với người vợ. [5]
Ăn nói, giao tiếp, đối thoại giữa hai vợ chồng trong gia đình là điều hết sức quan trọng. Nhiều khi chỉ vì người chồng ăn nói vô duyên, giao tiếp vụng về hay bế tắc trong đối thoại mà phát sinh ra nhiều mâu thuẫn, có khi dẫn đến tan vỡ hạnh phúc vợ chồng.
Vậy trước hết, hãy tạo nhiều cơ hội để có thể gặp gỡ và trò chuyện với nhau. Chúng ta biết rằng, hôn nhân không phải là một “dịch vụ” sắp đặt hai bạn nam nữ cạnh nhau như hai bức tượng. Trái lại họ là những cá thể khác biệt, nhưng vì yêu nhau nên tình nguyện sống chung với nhau suốt đời. Do đó, trong suốt cuộc hôn nhân, họ chung sống trong cùng một mái nhà, sinh hoạt trong cùng một gia đình, ăn cùng mâm, ngủ cùng giường. Tất nhiên là họ sẽ có rất nhiều thời gian để tương tác với nhau.
Tuy nhiên trên thực tế, chúng ta dễ dàng chứng kiến những cuộc ly hôn, tan vỡ của nhiều đôi vợ chồng, kể cả những đôi mới kết hôn. Lý do ly hôn đơn giản chỉ là họ không thể sống chung với nhau do bất đồng, mâu thuẫn chồng chất. Cứ cái kiểu, “Ông nói gà, bà nói vịt”, hay “Trống đánh xuôi, kèn thổi ngược” thì sớm muộn gì cũng tan đàn xẻ nghé! Ca dao VN ta cũng có câu, “Lời nói chẳng mất tiền mua/ Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”. Khi lời nói không còn làm vừa lòng nhau nữa thì chẳng khác gì như những nhát dao đâm vào trái tim bạn đời. Các nhà tâm lý học hôn nhân gia đình đều quả quyết rằng nghệ thuật giao tiếp ứng xử quyết định phần lớn cuộc hôn nhân hạnh phúc.
Ngoài ra, chúng ta cũng lưu ý tới phong cách nói năng, vì đó được xem là một lợi thế không tốn kém, nhưng thường có thể mang lại cho ta những kết quả tốt đẹp không ngờ. Vì khi ta chú ý lựa chọn cách nói năng hòa nhã, trước hết ta giữ được sự thanh thản, sáng suốt của chính mình. Thói quen nói năng hòa nhã là một trong những phương thức hữu hiệu để tu dưỡng tính tình. Như vậy, chúng ta vừa tránh làm thương tổn người khác mà đồng thời cũng có lợi cho chính bản thân mình. Khi vấn đề được trình bày theo cách ôn hòa, người nghe sẽ dễ chấp nhận hơn vì điều đó tỏ ra là họ đang được tôn trọng. Ngay cả khi có sự bất đồng, chắc chắn chúng ta cũng sẽ nhận được một phản ứng êm dịu hơn.
Nói năng hòa nhã cũng là cách rất tốt để ta luôn tỉnh thức trong giây phút hiện tại. Khi ta nói, ta biết mình đang muốn nói gì và nên nói ra như thế nào. Bằng cách đó, chúng ta ý thức đầy đủ về bối cảnh giao tiếp hiện tại mà không bị chi phối bởi bất cứ định kiến hay sự lơ đễnh nào. Nói năng theo cách nặng nề, thô lỗ thường là do thói quen tập nhiễm lâu ngày. Nói năng hòa nhã cũng là một thói quen ngược lại mà ta hoàn toàn có thể tạo ra được. Để có được hạnh phúc trong cuộc sống, chúng ta không thể không quan tâm đến việc “lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”.
Trong gia đình, chồng không nên có thái độ gắt gỏng, nạt nộ vì tính cách đó chẳng bao giờ làm đẹp lòng ai. Có điều gì lầm lỡ, những lúc vắng vẻ bảo nhau còn có lợi hơn nhiều, dễ cảm hóa hơn. Phụ nữ bao giờ cũng thích nghe những lời dịu dàng, êm tai và thích có những sự vỗ về nho nhỏ. Thân mật, nhưng đừng suồng sã, không nên có hành động lỗ mãng đối với vợ, cả trong những lúc kín đáo nhất.
Người chồng mẫu mực về ăn nói luôn tâm niệm rằng bạo lực, nạt nộ, lớn tiếng không phải là cách để cảm hóa, thuyết phục vợ mình, mà thường đó chỉ là hành vi thất nhân tâm, gia tăng sự hiểu lầm, mâu thuẫn, bất đồng và khinh ghét mà thôi.
7- MẪU MỰC VỀ CÁCH GIẢI QUYẾT MÂU THUẪN XUNG ĐỘT
Khi xảy ra mâu thuẫn, bất đồng, xung đột trong gia đình, thì người có trách nhiệm chính trong việc hòa giải chính là người chồng, người cha trong gia đình. Thay vì làm cho chuyện lớn ra hay đổ thêm dầu vào lửa, thì người cha hay chồng sẽ khôn khéo dàn xếp mọi chuyện được êm thắm. Đó là một tài khéo, một nghệ thuật của một người đàn ông có uy tín và bản lãnh. Như một danh nhân đã nói: “Bí quyết lớn nhất làm cho cuộc hôn nhân thành công là coi tất cả các tai họa là chuyện nhỏ và không bao giờ biến chuyện nhỏ thành tai họa” (Harold Nichlson).
Tác giả cuốn “Những quy tắc trong đời sống vợ chồng” đã nói về cách điều khiển và kiểm soát tình huống khi có xung đột, như sau:
Mâu thuẫn, xung đột, cãi vã là điều không thể tránh khỏi trong hôn nhân, dù ít hay nhiều. Nó không phải là vấn đề gì nghiêm trọng vì mọi cuộc hôn nhân đều phải có xung đột. Đời sống vợ chồng mà không có đôi lần cãi nhau thì cũng kém phần thú vị! Nếu cư xử khôn khéo và hợp lý, thì không những làm cho cuộc cãi vã mau kết thúc, mà còn làm cho tình cảm hai vợ chồng càng thắm thiết hơn.
Ngược lại, ta nóng nảy và không kềm chế cái tôi quá lớn trong mình, ta sẽ dễ dàng đẩy cuộc tranh cãi vào ngõ cụt và làm tổn hại đến hôn nhân. Ta nên nhớ rằng, khi xung đột thì ta đang cãi nhau cho mục đích của hôn nhân mình, chứ không phải cãi để thắng bạn đời, cãi để ăn thua nhau. Hai vợ chồng nên thỏa thuận với nhau dù mâu thuẫn có lớn đến mấy thì cũng phải giải quyết và làm lành trong thời gian sớm nhất. Nếu đã quyết định tha thứ, hãy cố gắng tha thứ hoàn toàn, vì sự căm hận chỉ làm tổn hại cả về tinh thần và thể chất cho chính ta và cho hôn nhân của ta. [6]
Đôi bạn cần nhớ một điều này là hãy tranh luận ôn hòa, tránh tối đa những xung đột trong giao tiếp. Thực ra, trong đời sống vợ chồng, không phải lúc nào mối tương quan giao tiếp cũng trơn tru, suôn sẻ cả đâu. Có những lúc vì một lý do bất đồng hay bất bình nào đó mà vợ hoặc chồng hay cả hai người đều nổi nóng. Sóng gió bắt đầu nổi lên.
Khi hai người bắt đầu đi vào cuộc tranh luận nảy lửa, tốt nhất cả hai đều nên bình tĩnh, nhường nhịn nhau. Ca dao VN có câu: “Chồng giận thì vợ bớt lời/ Cơm sôi nhỏ lửa một đời chẳng khê”. Nếu vợ hay chồng cứ khăng khăng bảo vệ ý riêng chủ quan của mình mà không chịu hòa giải, nhượng bộ thì “chiến tranh” sẽ nổ to! Khi một bên nóng nảy, bên kia cần nín nhịn, đợi cho nguôi giận, bình tĩnh trở lại rồi mới trao đổi quan điểm với nhau.
Người ta nói rằng, tranh cãi luôn là một phần của mọi cuộc hôn nhân. Tranh cãi, tranh luận là chuyện bình thường. Nhưng nếu các cặp đôi thất bại trong việc thỏa hiệp thì thường là do sự ích kỷ và hiếu thắng của bản thân. Bên nào cũng muốn phe kia thay đổi. Ai cũng cho mình là đúng, đối phương sai. Một khi ai cũng bảo vệ ý riêng mình mà không chấp nhận dung hòa thì từ tranh luận sẽ chuyển sang tranh cãi, và cuộc tranh cãi thường trở nên căng thẳng.
Trên thực tế, không cặp vợ chồng nào mà không có lúc cãi vã, xung khắc nhau. Đó là điều tất nhiên. Họ chấp nhận sống chung là vì họ yêu nhau và muốn đem lại hạnh phúc cho nhau. Lúc đó, họ phải thấu hiểu nhau và học cách nhượng bộ nhau. Nhượng bộ là hy sinh một phần cái gì đó của mình vì ích lợi chung và vì lợi ích của người khác. Trong một cuộc cãi vã bất phân thắng bại, sự nhượng bộ tốt nhất chính là im lặng. Một danh nhân đã nói, “Phân nửa những vấn đề trong hôn nhân được giải quyết bằng cách giữ im lặng”.
Vợ chồng khi cãi nhau đừng quên điều này là, dù yêu thương cách mấy cũng khó có đôi vợ chồng nào mãi mãi hòa thuận. Thế nhưng việc gì cũng nên có chừng mực, mỗi khi cãi vã xong, cả hai nên dành chút thời gian để hòa giải một cách ôn hòa. Nhiều cuộc hôn nhân sẽ tốt hơn nếu người chồng và người vợ hiểu rõ ràng rằng họ đang ở cùng một bên chứ không phải ở hai phe đối lập.
Xét cho cùng, người chồng vẫn luôn là mẫu mực đúng đắn trong bất kỳ một cuộc tranh cãi, tranh luận hay bất đồng nào. Phải giữ im lặng khi cần thiết. Phải có thái độ ôn hòa, bình tĩnh, không nóng nảy, quát tháo. Phải chừng mực và công bằng trong mọi quyết đoán. Phải nhớ một điều này là “Nền tảng của tình yêu vợ chồng, đó chính là yêu thương và kính trọng nhau”(Elijah Fenton)./.
Aug. Trần Cao Khải
________________
[1] dantri.com.vn
[2] dongcong.us
[3] vnexpress.net
[4] ubmvgiadinh.org
[5] D. WAHRHEIT – Cẩm nang Hạnh Phúc Gia Đình Kitô – Mục vụ Hôn nhân và Gia đình – Tổng hợp và biên tập : LM Minh Anh, GP. Huế
[6] Những quy tắc trong đời sống vợ chồng – Alpha Books biên soạn – NXB Lao động Xã hội năm 2018 trang 31-33
2020
Đời sống gia đình trẻ và những điều “không như là mơ”
Trai gái lấy nhau không chỉ là lấy một người, nhưng còn là mang vào trong mình cả đại gia đình hai bên nữa. Nhiều bạn trẻ mới lập gia đình sẽ không khỏi ngao ngán trước những phong tục xa lạ và có phần rườm rà của gia đình bên chồng hay vợ.

Người xưa có câu: “Trai khôn dựng vợ, gái lớn gả chồng”, và đó là điều mà hầu hết ai cũng trải qua. Đó không chỉ là biến cố lớn đối với những chàng trai, cô gái nhưng còn là sự kiện quan trọng của cả gia đình, dòng họ. Nhịp sống thời đại với những nỗi lo chật vật về cơm áo gạo tiền khiến nhiều bạn trẻ mặc dù đã đến tuổi “cập kê” nhưng “ngại, sợ” lập gia đình; cũng có nhiều đôi bạn trẻ gặp không ít khó khăn khi “về chung một nhà” mà theo các nhà tâm lý và xã hội học thì giai đoạn khó khăn nhất là 5 năm đầu sau khi cưới.
Lấy vợ gả chồng không phải là làm phép toán 1+1=2 nhưng là trở nên “một” như Chúa Giêsu dạy: “Người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt. Như vậy, họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt” (Mc 10,7-8; x.St 2,24). Cả hai sẽ trở nên một xương một thịt nghĩa là chỉ còn có một người, nhưng như ông Mencken nói: ”Khi một người đàn ông và một người đàn bà lấy nhau, họ chỉ còn là một người, cái khó đầu tiên là quyết định người nào.” Trong con người này vừa có vợ, vừa có chồng, mỗi người chỉ có một nửa. Vì thế chồng mới gọi vợ là “mình ơi,” và vợ cũng gọi chồng là “mình ơi.” Thi sĩ Hàn mặc Tử đã nhận ra thực tại này nên mới nói:
Người đi một nửa hồn tôi mất,
Một nửa hôn tôi bỗng dại khờ.
Lấy nhau, yêu nhau không phải là chỉ ngồi ngó nhau, nhưng là cùng nhìn về một hướng, là đồng chí hướng với nhau! Nhưng như vậy… là tình yêu hay là tình bạn “đồng chí hướng”? Nói cho cùng, tình yêu luôn đi với tình bạn, hay đúng hơn, tình yêu cũng bao hàm tình bạn, đời sống vợ chồng bao hàm cả tình yêu và tình bạn, có lẽ vì vậy người ta thường gọi người chồng hay người vợ là “bạn đời” của nhau. Khi ở trong một mái nhà, đừng ngồi cạnh nhau trên ghế sofa hay đối diện với nhau trên bàn cơm mà dán mắt vào chiếc điện thoại và để cho thứ ánh sáng trắng xanh của màn hình cảm ứng ru ngủ bạn với những mối quan hệ ảo và những lời bình luận “có cánh” trên mạng. Điều ấy chẳng khác gì vợ chồng đang xoay người lại phía nhau, và coi người “bạn đời” mình như “không tồn tại;” vợ chồng “đồng sàng dị mộng.” Trong cuốn tiểu thuyết Xứ sở tàn bạo và chốn tận cùng của thế giới, nhà văn người Nhật Haruki Murakami cũng từng viết: “Hai người có thể ngủ chung trên một chiếc giường, nhưng họ vẫn thấy cô đơn khi nhắm mắt lại.”
Lấy nhau là mang lấy những tâm tư của nhau. Lúc mới yêu, người ta thấy mọi sự thật đẹp, và dù có ngăn cách trắc trở vẫn dễ dàng vượt qua để đến với nhau. Nhưng khi đã về chung sống thì họ nhanh chóng nhận ra “cuộc đời không như là mơ,” nó như thời tiết vậy, có khi đang nắng chang chang thì mây đen đã ùa tới rồi mưa xối xả, cũng có khi không nắng cũng chẳng mưa, cứ mãi âm u và khó đoán. Vì thế, với thiện chí và khả năng của mình, mỗi người phải luôn luôn nỗ lực để xây dựng tổ ấm, nhưng một khi muốn làm gì, thì phải nghĩ đến người còn lại. Quan trọng nhất không phải là ngọt ngào lãng mạn nhưng là trung thành với lời hứa trong lễ Hôn phối: “hứa sẽ giữ lòng chung thủy với em (anh), khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi mạnh khỏe cũng như lúc đau yếu, để yêu thương và tôn trọng em (anh) mọi ngày suốt đời anh (em).” Lời cam kết được thổ lộ công khai trước mặt Hội Thánh và người bạn đời của mình không chỉ là một nghi thức để kết nối chính thức hai con người với nhau, nó còn là một dấu ấn thiêng thiêng và cũng là trách nhiệm của bản thân mỗi người đối với cuộc sống hôn nhân của cả hai.
Trai gái lấy nhau không chỉ là lấy một người, nhưng còn là mang vào trong mình cả đại gia đình hai bên nữa. Nhiều bạn trẻ mới lập gia đình sẽ không khỏi ngao ngán trước những phong tục xa lạ và có phần rườm rà của gia đình bên chồng hay vợ. Đó còn là chưa kể tới những khác biệt về vùng miền, trong tư duy giữa nhiều thế hệ (như trẻ thích hiện đại, người lớn lại thích truyền thống…). Những khác biệt ấy chỉ có thể vượt qua với một tình yêu lớn và một con tim rộng mở vì “yêu nhau yêu cả đường đi,” quan trọng hơn cả là hạnh phúc gia đình.
Có thể hai người vì yêu nhau mà đến, nhưng để sống chung với nhau, tình thôi chưa đủ, cần nhất vẫn là sự tôn trọng và tin cậy nhau. Yêu ai là đặt người đó ngang hành với mình, là quý chuộng tôn trọng người đó như chính mình. Cảm xúc của mỗi người đều khác nhau và chúng ta không thể áp đặt cảm giác của mình lên người khác. Mỗi người cần đặt mình trong vị trí của người kia để nhận ra và hiểu nhu cầu của nhau. Ngay cả khi bất ngờ khám phá những mặt tiêu cực hay “vấn đề” của nhau, cũng đừng vội kết án, vợ chồng nên bình tĩnh đối thoại và chia sẻ để hiểu nhau hơn và cùng nhau giải quyết vấn đề. Đừng vội vàng, nhưng hãy nhẫn nại và kiên trì với nhau, nếu không cãi vã và bất ổn sẽ là “bữa cơm” hàng ngày thay cho tiếng cười và hạnh phúc. Đời sống hôn nhân có thể hấp dẫn và ngọt ngào ở những ngày đầu, nhưng đời đâu chỉ là “tuần trăng mật,” sẽ có lắm lúc rất khác… nữa, sẽ có cả những nồng nàn và chênh vênh, đầy màu sắc và đủ mọi thăng trầm.
Thánh Inhã nói: “Tình yêu phải được đặt ở trong hành động hơn là trong lời nói” (Linh Thao số 230). Đời sống gia đình cần những lời nói để nuôi dưỡng tình yêu với nhau; nhưng những hành động quan tâm, nâng đỡ, sẻ chia dành cho nhau và cho gia đình nhỏ thì phải chiếm vị trí quan trọng hơn và cần thiết hơn. Thánh Inhã còn nói thêm: “tình yêu cốt ở sự trao đổi giữa hai bên” (Linh Thao số 231). Không có tình yêu nếu không có sự hỗ tương có tính thông giao.
Xin cho các bạn trẻ mới bước vào đời sống gia đình biết luôn đặt Chúa trong tình yêu của mình, xin cho tình yêu họ dành cho nhau luôn nồng thắm và bền chặt, để họ có đủ sức vượt qua những gian nan vất vả trên đoạn đầu của đời sống hôn nhân và để họ xây dựng gia đình trẻ đầy niềm vui và hạnh phúc.
Gió Biển
