Aenean nec eros. Vestibulum ante ipsum primis in faucibus orci luctus et ultrices posuere cubilia curae. Suspendisse sollicitudin velit sed leo.

Chuyên mục
  • Bài giảng
  • Các loại khác
  • Chia sẻ
  • Chưa phân loại
  • GH Hoàn Vũ
  • GH Việt Nam
  • Giáo dục
  • Hạnh các Thánh
  • HĐGM Việt Nam
  • Kinh Thánh
  • Phim giáo dục
  • Phụng vụ
  • Sách
  • Suy niệm Chúa nhật
  • Suy niệm hàng ngày
  • Tài liệu giáo dục
  • Tài liệu phụng vụ
  • Thần học
  • Thánh ca
  • Thánh lễ
  • Thánh lễ trực tuyến
  • Thư chung
  • Thư viện
  • Tin tức
  • Triết học
  • Tư liệu
  • UBGD Công giáo
  • uncategorized
  • Video
From Gallery
Stay Connected
UyBanGiaoDucHDGM.net
  • Trang chủ
  • Thư chung
    • HĐGM Việt Nam
    • UBGD Công giáo
  • Tin tức
    • GH Việt Nam
    • GH Hoàn Vũ
  • Phụng vụ
    • Thánh lễ
    • Thánh lễ trực tuyến
    • Suy niệm hàng ngày
    • Suy niệm Chúa nhật
    • Tài liệu phụng vụ
  • Giáo dục
    • Chia sẻ
    • Tài liệu giáo dục
  • Thư viện
    • Sách
      • Kinh Thánh
      • Triết học
      • Thần học
      • Các loại khác
    • Video
      • Bài giảng
      • Thánh ca
      • Phim giáo dục
      • Hạnh các Thánh
      • Tư liệu
  • Liên hệ
Give Online

Danh mục: Giáo dục

Home / Giáo dục
20Tháng Mười
2020

Ông Hoàng Nói dối

20/10/2020
Anmai
Chia sẻ, Giáo dục
0

Ông Hoàng Nói dối

Nói dối và sự thật

Nhìn vào thế giới của chúng ta ngày nay, điều làm cho tôi lo sợ và lo lắng hơn cả mối đe dọa Covid, hơn cả bất bình đẳng ngày càng tăng giữa người giàu và người nghèo, hơn cả nguy hiểm biến đổi khí hậu, và thậm chí hơn cả sự căm ghét cay đắng hiện đang chia rẽ chúng ta, đó là việc chúng ta mất đi không còn cảm giác nào về sự thật, sự từ chối thẳng thừng của chúng ta đối với bất kỳ sự thật nào mà chúng ta cho là không thuận lợi, cũng như câu cửa miệng của chúng ta về “tin tức giả”, “sự thật dối lừa” và các âm mưu ảo tưởng. Mạng xã hội, với tất cả những gì tốt đẹp nó mang lại, lại tạo ra cơ sở để cho ai cũng có thể nói lên sự thật của riêng mình và sau đó làm xói mòn các sự thật kết nối chúng ta và neo giữ sức khỏe tinh thần chúng ta. Hiện nay chúng ta sống trong một thế giới mà hai cộng hai thường không còn là bốn nữa. Điều này tác động trên sức khỏe tinh thần chúng ta và đã tạo ra một số chuyện điên rồ trong xã hội. Các sự thật neo giữ cuộc sống chung của chúng ta không còn được neo giữ.

Rõ ràng đây là điều xấu, và Chúa Giêsu đã cảnh báo chúng ta, Ngài nói với chúng ta Satan là Vua Dối trá tiêu biểu nhất. Nói dối là mối nguy hiểm tối hậu cuối cùng của thiêng liêng, đạo đức và tâm lý. Nó có gốc rễ trong điều Chúa Giêsu gọi là “tội chống Đức Chúa Thánh Thần là tội không thể tha thứ”. Tội này là tội gì và vì sao nó không thể tha thứ?

Đây là bối cảnh Chúa Giêsu cảnh báo chúng ta về tội này: Ngài vừa trừ quỷ. Các nhà lãnh đạo tôn giáo thời đó tin như tín điều rằng: chỉ ai đến từ Chúa mới có thể đuổi quỷ. Chúa Giêsu vừa trừ quỷ, nhưng lòng hận thù của họ đối với Ngài làm cho họ xem đây là sự thật khó nuốt trôi. Vì thế để phủ nhận thực tế, họ chọn cách phủ nhận những gì họ biết là đúng. Họ chọn nói dối, khẳng định (dù họ đã biết rõ) Chúa Giêsu đuổi quỷ nhờ quyền lực của Ben-dê-bút. Mới đầu Chúa Giêsu cố gắng vạch ra lập trường phi lô-gích của họ, nhưng họ vẫn ngoan cố. Sau đó Chúa đưa ra lời cảnh báo tội không thể tha thứ là tội chạm đến Chúa Thánh Thần. Lúc đó Ngài không buộc tội họ phạm tội này, nhưng cảnh báo nếu họ đi theo con đường này, nếu họ không sửa đổi thì sẽ dẫn họ đến tội đó. Về bản chất, Ngài đang nói điều này: nếu chúng ta nói dối đủ lâu, cuối cùng chúng ta sẽ tin vào điều đó và điều này làm lương tâm chúng ta bị xói mòn đến mức chúng ta bắt đầu coi sự thật là giả dối và giả dối là sự thật. Tội sau đó trở thành không thể tha thứ vì chúng ta không còn muốn được tha thứ và cũng sẽ không sẵn sàng để nhận tha thứ. Thiên Chúa sẵn sàng tha thứ nhưng chúng ta không sẵn sàng chấp nhận tha thứ vì chúng ta thấy tội là điều tốt và điều tốt lại thành tội. Thế thì chúng ta muốn được tha thứ để làm gì?

Có thể chúng ta sẽ rơi vào trạng thái này, một trạng thái trong đó chúng ta cho rằng các ơn của Chúa Thánh Thần (bác ái, vui vẻ, hòa bình, nhẫn nại, tốt lành, kiên trì, trung thành, dịu dàng, khiết tịnh) là giả dối, là chống lại sự sống, là sói đội lốt cừu. Và bước đầu để đi đến tình trạng này là nói dối, không chịu thừa nhận sự thật. Các bước tiếp theo cũng là nói dối, có nghĩa là tiếp tục từ chối chấp nhận sự thật để rồi tin lời nói dối của chính mình và chúng ta xem chúng là sự thật và sự thật là dối trá. Nói thẳng, đó là những gì tạo ra địa ngục.

Địa ngục không phải là nơi con người đau buồn, ăn năn và cầu xin Chúa cho thêm cơ hội để sửa đổi mọi thứ cho đúng đắn. Địa ngục cũng không bao giờ là điều bất ngờ tà ác chực chờ người lương thiện. Nếu có ai trong địa ngục, thì là họ ở đó với lòng kiêu ngạo, than phiền những người ở trên thiên đàng, xem thiên đàng là địa ngục, bóng tối là ánh sáng, giả dối là chân lý, xấu xa là tốt, hận thù là tình yêu, thiện cảm là yếu đuối, kiêu ngạo là sức mạnh, sáng suốt là điên rồ, và Chúa là ma quỷ.

Một trong các bài học trọng tâm trong Tin Mừng là: nói dối là nguy hiểm, là tội nguy hiểm nhất trong các tội. Và điều này không chỉ diễn ra trong mối quan hệ của chúng ta với Thiên Chúa và Chúa Thánh Thần. Khi nói dối, chúng ta không những chỉ có tác động nhanh và  lỏng lẻo với Chúa, chúng ta còn tác động nhanh và lỏng lẻo với chính sức khỏe tinh thần của chúng ta. Sức khỏe tinh thần của chúng ta tùy  thuộc vào điều mà thần học cổ điển gọi là “hiệp nhất” của Chúa. Điều này có nghĩa Chúa là nhất quán. Không có mâu thuẫn nào bên trong Thiên Chúa và do đó, thực tế cũng có thể được cho là nhất quán. Sức khỏe tinh thần của chúng ta tùy thuộc vào niềm tin này. Chẳng hạn nếu một ngày mà hai cộng hai không còn là bốn, thì các nền tảng sức khỏe tinh thần của chúng ta sẽ không còn trụ được nữa; chúng ta thực sự sẽ không có gì để neo giữ bản thân nữa. Sức khỏe tinh thần của chúng ta và sức khỏe tinh thần của xã hội tùy thuộc vào sự thật, khi chúng ta thừa nhận sự thật, khi chúng ta nói sự thật, và dựa trên hai cộng hai mãi mãi vẫn là bốn.

Martin Luther đã nói: hãy phạm tội thật táo bạo! Ông muốn nói rất nhiều về điều này, nhưng chắc chắn điều ông muốn nói là mối nguy hiểm tối hậu đối với tinh thần và đạo đức của chúng ta là che đậy yếu điểm của mình bằng cách nói dối, vì Satan là Vua của Dối trá!

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Read More
20Tháng Mười
2020

Đi tu để làm gì?

20/10/2020
Anmai
Giáo dục, Tài liệu giáo dục
0

 Từ trước tới nay, trên một số trang mạng Công giáo, độc giả thấy xuất hiện những bài viết có liên quan tới người tu hành và đời sống tu trì. Chẳng hạn như: Bài “Đời sống tu trì: sướng hay khổ?” (conggiao.info), bài “Đi tu để hiến thân hay tiến thân?” (tgpsaigon.net), bài “Đừng đi tu để hưởng thụ” (dongten.net), bài “Đi tu có khó không?” (dongten.net), bài “Đi tu là gì?” (dongten.net), bài “Đi tu hay sống đời thánh hiến” (simonhoadalat.com) vv…

Lần này, cũng liên quan tới đề tài “Tu trì”, chúng tôi xin mạn phép nêu câu hỏi: “Đi tu để làm gì?” và rất mong được quý vị độc giả đón nhận phần chia sẻ của chúng tôi dưới dây.

Xin nhắc lại, ngày 25-8-2020, trong bài giảng thánh lễ phong chức sáu tân linh mục tại giáo phận Phát Diệm, Đức TGM Giu-se Nguyễn Năng đã nhắc nhở các tân linh mục phải làm sao để trở thành hiện thân của Chúa Giê-su là Đầu và là Mục Tử của Giáo Hội. Ngài đã nhắn nhủ như sau:

Ngày hôm nay, chúng ta vui mừng tạ ơn Chúa bởi vì có 6 người anh em chúng ta được tuyển chọn tham dự vào chức Tư Tế Thừa Tác. Không phải bỗng dưng mà các thầy này tiến lên, nhưng mà được Chúa kêu gọi và tuyển chọn. Chỉ một mình Chúa là Mục Tử, nhưng mà Chúa Giêsu ngày hôm nay đã lên Trời rồi, Ngài không còn hiện diện hữu hình giữa chúng ta nữa. Nhưng mà, Ngài muốn có những người tiếp nối sứ mạng của Chúa. Cho nên, trong bài Tin Mừng chúng ta thấy Chúa đã nói với các Tông Đồ “như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em”. Như Chúa Cha đã sai Chúa Giêsu, ngày nay Chúa Giêsu cũng sai các con đi, sai các con đi để tiếp nối sứ mạng của Chúa, mà không phải chỉ là tiếp nối, mà còn trở thành hiện thân của Chúa. Là dấu chỉ của Chúa ở giữa dòng đời này. Để làm việc đấy, thì Chúa Giêsu đã ban Chúa Thánh Thần cho các Tông Đồ.

Và hôm nay, Chúa Giêsu cũng ban Chúa Thánh Thần cho các con, để các con được thánh hiến, được đổi mới từ bên trong. Bởi vì linh mục không phải là một người công nhân, không phải là một nhân viên làm công tác xã hội, mà là hiện thân của Chúa. Cho nên Chúa Thánh Thần biến đổi các con từ bên trong, để làm cho các con trở nên giống hình ảnh của Chúa Giêsu. Chính vì thế, tất cả các con đây, ngày hôm nay, nhờ việc đặt tay và nhờ lời nguyện Thánh Hiến các con trở thành hiện thân của Chúa, là dấu chỉ của Chúa.

Cho nên cả cuộc đời của chúng ta, bản thân của chúng ta, lối sống của chúng ta, lời ăn tiếng nói của chúng ta, cách cư xử của chúng ta, cách phản ứng của chúng ta, cách giải quyết vấn đề của chúng ta, cách phục vụ của chúng ta, tất cả phải làm sao để cho thấy Chúa Giêsu trong con người của các con. Người ta nhìn vào đời sống của các con người ta thấy Chúa Giêsu và người ta có thể thốt lên rằng: quả thật đây là người Mục Tử của Chúa, quả thật đây là hình ảnh của Chúa Giêsu, là linh mục thật chứ không phải là linh mục giả. Cho nên các con phải cố gắng từng ngày nên hoàn thiện hơn.[1]

Ngày trước, với não trạng “Một người làm quan, cả họ được nhờ”, người ta rất coi trọng việc đi tu, coi đó như là một bước đường để “thăng quan tiến chức”. Ngày chịu chức hay ngày khấn dòng thường được coi là dịp để “Vinh quy bái tổ”! Đó là chuyện của ngày trước, nhưng ngày nay thiết nghĩ điều đó vẫn còn để lại dư âm không ít. Và đây cũng có thể là động cơ chính đối với một số ứng viên đứng trước sự chọn lựa theo hay không theo ơn gọi tu trì.

LM Tôma Vũ Quang Trung S.J, trong bài thuyết trình tại Đại hội tu sĩ toàn quốc lần II năm 2008 với đề tài “Nhận định ơn gọi tu trì” đã liệt kê ra 10 động lực vô thức thường hay tiềm ẩn dưới những giá trị tốt đẹp của bình diện ý thức, trong đó xin liệt kê mấy động lực điển hình sau:

Ước muốn phát triển bản thân: Một bạn trẻ có thể được thôi thúc bước vào đời tu như một con đường tiến thân mở ra một bảo đảm tương lai cho bản thân. Lúc ấy, đời tu như một môi trường thuận lợi để phát triển các tài năng cá nhân. Việc phục vụ trở nên một cơ hội phô trương cái tôi trước mặt mọi người. Đặc biệt, trong bối cảnh hôm nay của Giáo hội Việt Nam, nhiều bạn trẻ gõ cửa các nhà dòng, tu hội là để có cơ hội học hành tốt hơn, thậm chí chỉ là để được đi ra nước ngoài. Khi mục tiêu này trở thành đích nhắm của ơn gọi, người ta sẵn sàng chấp nhận uốn mình vào kỷ luật đời tu trong thời gian huấn luyện để ráng “nín thở qua sông”. Qua tới bờ bên kia, họ trồi lên khỏi mặt nước và tiếp tục con đường của riêng mình!

Thoát khỏi cảnh nghèo: Ơn gọi tại Việt Nam hôm nay đa số phát xuất từ những gia đình nghèo ở miền quê. Điều này cũng có thể ảnh hưởng đến việc theo đuổi ơn gọi của ứng sinh. Kinh nghiệm thiếu thốn về đời sống vật chất khi còn ở gia đình có thể biến việc theo đuổi ơn gọi như một bù trừ nhằm thoát khỏi cảnh nghèo đói. Đời tu được xem như bảo đảm chắc chắn về đời sống vật chất và sự an toàn cho tương lai. Khi có được những điều mình tìm kiếm, đời tu cũng sẽ chẳng còn ý nghĩa!

Tìm kiếm sự kính trọng, danh dự: Đời tu có thể bị biến tướng thành một cuộc tìm kiếm ngấm ngầm hư danh của thế gian nơi những thành công của các công việc tông đồ. Lời khen, tiếng chê của người khác dễ gây ảnh hưởng trên quyết định chọn lựa của ứng sinh trong sứ mạng phục vụ. Đặc biệt, yếu tố danh dự gia đình dễ gây ảnh hưởng lớn đến quyết định theo đuổi ơn gọi của ứng sinh, làm cho ứng sinh mất đi thái độ tự do nội tâm cần thiết trong việc nhận định, tìm kiếm và thi hành thánh ý Chúa trong cuộc đời mình.

Xét như vậy thì không phải tất cả những ai mang danh tu sĩ linh mục đều dấn thân theo ơn gọi đúng như ý Chúa. Họ có thể đi tu theo ý riêng của mình hay theo sự thúc đẩy của người khác.

Ngược lại, có những người chấp nhận đời tu như một dấn thân thực sự, họ không coi việc tu hành như một nghề nghiệp để kiếm tiền hay an thân hưởng lợi. Họ chấp nhận sống nghèo vì Tin Mừng và sẵn sàng hiến thân hi sinh vì Chúa, vì Hội thánh, vì nhân loại.[2]

Xét như vậy, ngoài việc đáp lại tiếng Chúa mời gọi, người theo Chúa cần luôn luôn định hướng cho mình mục tiêu rõ ràng, chân thực, đó là đi tu để làm gì, đi tu cho ai và vì ai. Bởi vì trên thực tế ta có thể thấy không ít người bề ngoài mang danh nghĩa “dâng mình cho Chúa” nhưng thực chất là muốn bước vào đời tu để thỏa mãn danh vọng. Cũng có người lúc đầu thì có ý ngay lành, nhưng sau vì sự cuốn hút và hấp dẫn của những ưu đãi trong đời tu hành, đã đánh mất lý tưởng ban đầu, sa đà vào cuộc sống dễ dãi, hưởng thụ.

Trở lại đề tài nêu trên, “Đi tu để làm gì?”, xin mạn phép đưa ra 3 câu trả lời, như sau: 1- Đi tu để đáp lại lời mời gọi theo Chúa; 2- Đi tu để phục vụ chương trình cứu rỗi của Chúa; 3- Đi tu để trở nên chứng nhân của Tin Mừng.

I.- ĐI TU ĐỂ ĐÁP LẠI LỜI MỜI GỌI THEO CHÚA

Chúng ta xác tín một điều này là, đi tu là đáp lại lời mời gọi của Chúa, là từ bỏ tất cả để theo Chúa. “Các anh hãy theo tôi…” (x. Mt 4, 18-22; Mc 1, 16-20; Lc 5, 1-11; Ga 1, 35-42). Nhưng tự hỏi, theo Chúa để làm gì? Chúa nói rõ hơn, đó là: “Các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá. Lập tức hai ông bỏ chài lưới mà đi theo Người.” (Mt 4, 19-20).

Như vậy lời mời gọi của Chúa nhắm đến ba điều cơ bản: một là theo Chúa, hai là từ bỏ tất cả và ba là đánh lưới người.

1.1- Theo Chúa: Người đi tu trước hết là người theo Chúa, trở nên môn đệ của Chúa. Khi tự nguyện theo Chúa, họ không thể theo một ai khác, không thể theo một chủ thuyết hay một ý thức hệ nào đó. Người theo Chúa sẽ chọn Chúa là thần tượng, là thầy dạy, là mẫu gương sống động cho mình trong suốt cuộc đời tu trì. Người theo Chúa lúc đầu chỉ là nghe tiếng Chúa và đáp trả bằng việc lên đường theo Chúa. Sau đó, chính Chúa sẽ huấn luyện, đào tạo họ rồi dần dần biến đổi họ để họ trở thành môn đệ đích thực của Chúa. Người môn đệ đồng hóa với Thầy mình. Chính thánh Phao-lô đã có kinh nghiệm này: “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Ki-tô sống trong tôi.” (Gl 2, 20)

Thực vậy, “Đi tu không phải là theo một người nào đó trong nhà dòng. Đó cũng chẳng phải là hành trình đi một mình. Trên hết đó là tiến trình lắng nghe tiếng Chúa Giêsu mời gọi, sau đó, đáp lời để bước theo Ngài (sequela Christi). Khao khát của người tu sĩ là được ở với Ngài. Trong mối tương quan này, người tu sĩ hiểu hơn về Thiên Chúa. Với họ, việc bước theo Đức Giêsu là quan trọng nhất, vì khi đó, họ sẽ đi đúng đường. Ngược lại, những ai đi tu mà vắng bóng Đức Giêsu, người ấy chẳng thể hạnh phúc an bình trong nhà Dòng.”[3]

Một khi đã theo Chúa, người tu trì không được phép nhìn lại phía sau, luyến tiếc quá khứ, lo lắng cho hiện tại và sợ hãi tương lai. Tin Mừng thánh Luca thuật lại như sau:

“Ðức Giêsu nói với một người khác: “Anh hãy theo tôi!” Người ấy thưa: “Thưa Thầy, xin cho phép tôi về chôn cất cha tôi trước đã.” Ðức Giêsu bảo: “Cứ để kẻ chết chôn kẻ chết của họ. Còn anh, anh hãy đi loan báo Triều Ðại Thiên Chúa.” Một người khác nữa lại nói: “Thưa Thầy, tôi xin theo Thầy, nhưng xin cho phép tôi từ biệt gia đình trước đã.” Ðức Giêsu bảo: “Ai đã tra tay cầm cày mà còn ngoái lại đàng sau, thì không thích hợp với Nước Thiên Chúa.”(Lc 9, 59-62)

Trong buổi tiếp kiến sáng 1-6-2017, dành cho 100 tham dự viên khóa họp toàn thể của Bộ giáo sĩ, tiến hành dưới quyền chủ tọa của ĐHY Tổng trưởng Benjamino Stella, ĐTC Phan-xi-cô đã có dịp nhắn nhủ các linh mục trẻ như sau: “Chúng ta chỉ có thể là những người “đánh cá người”, nếu trước tiên chúng ta nhìn nhận mình đã được sự dịu dàng của Chúa thu hút. Ơn gọi của chúng ta bắt đầu khi, rời bỏ lãnh vực cá nhân chủ nghĩa và những dự phóng bản thân của chúng ta, chúng ta tiến bước trong cuộc “du hành thánh”, phó thác cho Đấng là Tình Yêu đã tìm kiếm chúng ta và Tiếng Nói đã làm rung động tâm hồn chúng ta.”[4]

1.2- Từ bỏ tất cả: Có thể nói, “từ bỏ” vừa là mệnh lệnh vừa là điều kiện của người theo ơn gọi tu trì. Đây, Lời Chúa quá rõ ràng: “Ai đến với tôi mà không dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em, và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đệ tôi được. Ai không vác thập giá mình mà đi theo tôi, thì không thể làm môn đệ tôi được.” (Lc 14, 26-27); “Ai trong anh em không từ bỏ hết những gì mình có, thì không thể làm môn đệ tôi được.” (Lc 14, 33)

Ngày nay, người ta nói nhiều đến thái độ “buông bỏ” trong đời sống thường ngày, coi đó như một điều kiện để được sống an nhiên, hạnh phúc. Càng buông bỏ nhiều bao nhiêu, ta càng cảm thấy nhẹ nhõm, thảnh thơi bấy nhiêu.

Nhưng cái triết lý buông bỏ ấy không là gì so với yêu cầu từ bỏ mà Chúa đòi hỏi nơi môn đệ. Sự từ bỏ của người theo Chúa không chỉ là từ chối một đời sống theo ý riêng hay một số quyền lợi nào đó, mà là một sự buông bỏ toàn diện, khiến mình trở nên bé nhỏ, nghèo hèn và trống rỗng. Sự từ bỏ đích thực sẽ khiến cho người theo Chúa được thảnh thơi bước vào môi trường đào tạo của Chúa, ở đó mọi dự phóng cá nhân sẽ được thay thế bằng thánh ý nhiệm mầu của Chúa. “Lạy Chúa, này con xin đến, để thực thi ý Chúa” (Tv 39).

Quả thực, người môn đệ, nhờ từ bỏ theo giáo huấn của Chúa mà có thể tập trung vào Đức Ki-tô, chính nhờ Ngài, với Ngài và trong Ngài, và vì Ngài mà họ sống và hoạt động. Bên cạnh đó, từ bỏ đích thực cũng là để sống phục vụ vị tha, không tìm vui sướng nào ngoài vui sướng được liên kết mật thiết với Đức Ki-tô, như lời Ngài phán: “Thầy là cây nho, anh em là cành”. (Ga 15, 5)

1.3- Công việc “đánh lưới người”: Khi Chúa chọn và gọi các môn đệ đi theo Ngài, Ngài nói rõ công việc mà họ sẽ đảm nhận, “Đánh lưới người”. Nghe thì có vẻ kỳ lạ, nhưng Chúa đã dùng cách nói rất thực tế và một cách loại suy, để họ dễ hiểu. Họ phải đi tìm chỗ nào có con người, nhất là những người nghèo khổ, tội lỗi, bị bỏ rơi, để quăng lưới, để đánh bắt. Chúa không đưa họ vào đền thờ để tu luyện và giảng dạy. Chúa cũng không đem họ lên núi, xuống đồng bằng hay vào các dinh thự…Ngài dẫn họ đến với dân chúng.

Địa chỉ mà môn đệ cần tìm đến, đó là những con người cần nghe Tin Mừng, cần được cứu rỗi. ĐTC Phan-xi-cô đã từng nói: “Hãy ra khỏi bản thân mình để loan báo Tin Mừng, nhưng để làm điều này, các con phải ra khỏi chính mình để gặp gỡ Đức Giêsu. Có hai con đường để ra đi: một là hướng về gặp gỡ Đức Giêsu, hướng về tính siêu việt; đường kia là hướng về tha nhân để loan báo Đức Giêsu. Hai con đường này đi đôi với nhau. Nếu bạn chỉ thực hiện một trong hai thì chẳng ích lợi gì.”; “Cha muốn một Hội Thánh ra đi truyền giáo nhiều hơn, một Hội Thánh không quá tĩnh lặng. Một Hội Thánh xinh đẹp khi biết ra đi.”

Công việc “Đánh lưới người” buộc các môn đệ phải ra đi, dù có mưa bão, dù có sóng to gió lớn, vì họ biết rõ rằng một khi chấp nhận theo Chúa để phục vụ Tin Mừng thì phải hy sinh, phải vất vả, phải cực nhọc. Theo Chúa có nghĩa là vác thánh giá của chính mình và của những ai Chúa trao phó mình. Chúa đã nói: “Mục tử nhân lành, hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên” (Ga 10, 11). Khi nói về tính cách tự nguyện hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên, Chúa Giê-su nói: “Mạng sống của tôi, không ai lấy đi được. Nhưng chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình” (Ga 10, 18).

ĐGM GB. Bùi Tuần, Giáo phận Long Xuyên, trong bài viết “Hy sinh mạng sống mình”, đã chia sẻ như sau:

Chúa Giêsu kêu gọi các mục tử hãy biết hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên, không phải chỉ những lúc cần bảo vệ chiên khi có sói tấn công chiên, mà còn cả những lúc tự nguyện, khi sự hy sinh mạng sống của mình có lợi cho chiên, để họ được cứu độ. Đã hẳn, bổn phận của người mục tử là biết chăn nuôi, biết bênh vực, biết dẫn dắt, biết quy tụ. Nhưng không phải chỉ có thế. Chúa Giêsu còn nhấn mạnh đến việc hy sinh mạng sống. Như thế, việc hy sinh mạng sống là đức tính cao quý nhất của người mục tử theo mẫu gương Chúa Giêsu. Hy sinh mạng sống mình, đó là dấu chỉ chắc chắn nhất, để nhận ra ai là mục tử đích thực, mà Chúa Giêsu mong muốn.[5]

II.- ĐI TU ĐỂ PHỤC VỤ CHƯƠNG TRÌNH CỨU RỖI CỦA CHÚA

Chúng ta đều biết rằng, đi tu không phải để LÀM một nghề gì đó. Ơn gọi linh mục, tu sĩ không phải là một nghề nghiệp. Đi tu không phải là tham gia một nghề nghiệp, có biên chế, có lương bổng, có thăng quan tiến chức. Đi tu không làm quan mà là đầy tớ phục vụ Chúa và cộng đoàn cứu rỗi của Ngài.

ĐGM Phê-rô Nguyễn Soạn, giáo phận Qui Nhơn, trong bài giảng đề tài “Khủng hoảng trong đời sống linh mục”, đã chia sẻ như sau:

Trong khi thi hành mục vụ, các linh mục thích đi vào chính trị, thích làm các công tác chuyên môn ở đời, muốn làm bác sĩ, kỹ sư, phi hành gia, nhà xã hội, nhà văn v.v… Trong lúc đó người ta cần nơi chúng ta không phải là điều họ có, mà là điều họ không có. Jean Guitton có lần viết trong báo Le Christ au Monde: “Chúng tôi không cần các linh mục làm những việc như chúng tôi, mà các linh mục làm sao làm các điều ấy có hiệu năng như chúng tôi được. Chúng tôi là những nhà chuyên môn. Còn các linh mục phải lo những chuyện của mình như bận đọc kinh, bận dâng lễ và các công tác mục vụ khác nữa. Điều chúng tôi cần, là đời sống chứng tá và các lời rao giảng của các linh mục…” [6]

Những người được Chúa Giê-su gọi và chọn vào hàng ngũ những người tu trì là để phục vụ cho chương trình cứu độ mà Chúa Cha đã trao cho Ngài. “Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em” (Ga 20, 21). Mối bận tâm của người môn đệ là thi hành ý Chúa và làm những gì Chúa mong đợi. Người môn đệ cần hiểu Chúa muốn gì nơi mình và mình phải làm gì đúng với ý Chúa.

Người môn đệ là người được chọn và sai đi để loan báo và làm chứng  cho Tin Mừng, cho tình yêu cứu độ của Thiên Chúa. Đức Giê-su đã long trọng trao phó sứ vụ tông đồ cho các môn đệ Chúa chọn: “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần…” (x. Mt 28, 18-20; Mc 16, 15). Và “Anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần khi Người ngự xuống trong anh em. Bấy giờ anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giê-ru-sa-lem, trong khắp các miền Giu-đê, Sa-ma-ri và cho đến tận cùng trái đất” (x. Cv 1, 8).

Một tác giả đã chia sẻ như sau: Là linh mục, chính là trở nên như Giêsu, vị linh mục đầu tiên và hoàn hảo nhất. Đó là con người gắn với Cha không ngơi, và nhờ đó mà luôn có lòng thương cảm dành cho con người, luôn thao thức trước đồng lúa mênh mông không người gặt và đàn chiên bơ vơ không người chăn dắt. Họ thổi vào nhân gian luồng gió mới, họ đánh thức con người khỏi giấc mộng mê muội của những cái mau qua. Họ chiếu sáng thế giới bằng ánh sáng nhân đức và sưởi ấm lòng người bằng ngọn lửa yêu thương.

Có thể nói, linh mục là người mang Thiên Đàng xuống trái đất này và đưa con người lên cao đụng chạm với Thiên Chúa. Như Chúa Giêsu, họ ý thức rằng họ đến “để phục vụ chứ không phải để được phục vụ”; họ gắn kết cuộc đời mình với mọi con người dù người đó có giàu sang hay nghèo khổ, thánh thiện hay tội lỗi, cao sang hay hèn kém. Họ đảm bảo cho người ta hạnh phúc Nước Trời “anh sẽ được ở trên Thiên Đàng với tôi”; họ trao ban bình an, sự tha thứ và đưa người ta đến cuộc sống mới tươi đẹp hơn “cứ về đi và từ nay đừng phạm tội nữa”.[7]

Ai cũng biết rằng, việc phục vụ chương trình cứu rỗi của Chúa phải là mối bận tâm hàng đầu của người Chúa chọn. Tuy nhiên, đây đó tín hữu chúng ta có thể thấy những sự việc không phù hợp. Nhiều vị đam mê vào những việc không phải là nhiệm vụ chính của mình, như xây cất, kinh doanh, mở mang phong trào, xây dựng đoàn thể, tổ chức du lịch kết hợp hành hương vv… Các vị coi đó như là những nhiệm vụ trọng tâm của mình.

Khi Đạo chỉ quy chiếu vào những việc hình thức, bề ngoài thì điều đó sẽ khiến cho Đạo của Chúa mất đi sức sống nội tại, sức sống biến đổi thế giới bằng tình thương cứu độ, bằng tinh thần nghèo khó của Tin Mừng và qua những gương sáng của nếp sống từ bỏ. Đức cố HY Phan-xi-cô Xa-vi-ê Nguyễn Văn Thuận đã nói: “Làm chứng về Đức Tin trước mặt mọi người, thì quan trọng hơn tìm cách thoả mãn thị hiếu của họ” (Trích trong Mười điều răn của LM).

LM Giuse Nguyễn Trọng Viễn OP., trong bài viết có tựa đề “Đạo sinh hoạt” khi bàn về việc giáo sĩ và tu sĩ khẳng định mình trong sinh hoạt, đã nhận định như sau:[8]

Giới giáo sĩ và tu sĩ VN đang có rất nhiều nỗ lực để canh tân sinh hoạt tôn giáo. Giáo hội VN, nói chung, vẫn còn khá nhiều ơn gọi và vẫn còn một nguồn giáo sĩ, tu sĩ tương đối trẻ, năng động, để có thể xoay xở trong những sinh hoạt tôn giáo nhằm thu hút sự tham gia của người Ki-tô hữu. Quả thật, hiện nay, chính những nỗ lực sáng tạo, đổi mới hình thái sinh hoạt tôn giáo cho hấp dẫn hơn, sinh động hơn, đang là sức mạnh chính yếu để giữ gìn nếp sống đạo trong Giáo hội VN.

Tuy nhiên, trong bầu không khí chung của một thứ “đạo sinh hoạt”, phần lớn giáo sĩ và tu sĩ có lẽ cũng không thoát được tâm thức chung. Khả năng khẳng định mình trong sinh hoạt Giáo hội đã trở thành “giá trị” lớn trong lòng Giáo hội VN và chính “giá trị” ấy đang tác động sâu xa trong mọi lãnh vực, cả trong ý nghĩa ơn gọi.

Do đó, tầng lớp giáo sĩ và tu sĩ nhận thấy trách nhiệm chính yếu của mình là đảm nhận những tổ chức và sinh hoạt trong Giáo hội, và ngầm hiểu rằng điều làm nên “sức sống” của Giáo hội VN cũng chính là những sinh hoạt và tổ chức sầm uất… Nhiều giáo sĩ và tu sĩ bận tâm chuẩn bị những “kỹ năng” cần thiết trong sinh hoạt của Giáo hội nhiều hơn là bận tâm sống giá trị Tin Mừng. Nhiều giáo sĩ và tu sĩ nỗ lực làm cho tổ chức phụng vụ được hấp dẫn và lôi cuốn chứ không mấy ưu tư cần làm gì để nuôi dưỡng đức tin chân chính và thật sự loan báo Tin Mừng cứu độ.

III.- ĐI TU ĐỂ TRỞ NÊN CHỨNG NHÂN CỦA TIN MỪNG

ĐTC Phao-lô VI đã nói: “Người thời nay tin vào các chứng nhân hơn là thầy dạy, và nếu họ có tin vào thầy dạy là vì các thầy dạy ấy đã là những chứng nhân”.

Nhà tu hành có thể là chứng nhân bằng nhiều cách, trong mọi hoàn cảnh và mọi thời đại. Trong khi các linh mục, tu sĩ kêu gọi mọi tín hữu phải trở nên ánh sáng, phải là muối men cho đời, thì trước đó các ngài phải là gương sáng để lời giảng dạy của các ngài được thuyết phục hơn. Người ta thường nói: “Lời nói lung lay, gương bày lôi kéo.”

Ở đây, xin bàn đến khía cạnh chứng nhân về sự phục vụ hết mình và về đời sống khó nghèo theo Tin Mừng của người theo Chúa.

3.1- Chứng nhân về sự dấn thân hết mình phục vụ

Như trên đã nói, Đức Giê-su tuyển chọn môn đệ không phải làm quan cai trị thiên hạ, nhưng là làm đầy tớ phục vụ dân Thiên Chúa. Đức Giê-su đã nhấn mạnh: “Anh em biết: những người được coi là thủ lãnh các dân thì áp đặt trên họ quyền bá chủ, những người làm lớn thì áp đặt trên họ quyền hành của mình. Nhưng giữa anh em thì không phải như vậy: ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em; ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ mọi người. Vì Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến mạng sống làm giá cứu chuộc muôn người” (Mc 10, 42-45).

Tông thư “Pastores Dabo Vobis” của Đức thánh GH Gio-an Phao-lô II về việc đào tạo linh mục (số 22-23) đã diễn tả sứ mệnh của linh mục với giáo dân như sau: “Là mục tử của cộng đoàn, linh mục sống và hiện hữu vì nó; vì nó mà cầu nguyện, học hỏi, làm việc và hy sinh. Và chính vì cộng đoàn mà ngài sẵn sàng thí mạng, yêu mến nó như Đức Kitô, trao cho nó tất cả tình yêu và sự quí mến, hao tốn sức lực và thời giờ vì nó nên hình ảnh của Giáo hội hiền thê Đức Kitô càng ngày càng xinh đẹp hơn, xứng đáng được Chúa Cha quí chuộng và Chúa Thánh Thần yêu thương. Chiều kích hôn ước này của đời sống linh-mục-Mục-Tử buộc linh mục hướng dẫn cộng đoàn bằng sự phục vụ hết mình
toàn thể cộng đoàn và từng thành viên”.

Phục vụ là cung cách làm việc và hành xử của một đầy tớ chứ không phải của ông chủ. Hình ảnh Chúa quỳ xuống rửa chân cho các môn đệ đã minh họa rõ ràng về điều đó. Và còn hơn thế nữa, đối với Chúa, tột cùng của phục vụ là hy sinh mạng sống và chịu chết vì đàn chiên. Cái chết của Chúa trên thập giá đã chứng minh hùng hồn cho điều đó. “Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” (Pl 2, 8); “Không ai có tình thương lớn hơn tình thương của người hy sinh mạng sống mình cho bạn hữu” (Ga 15, 13).

Cha Antoine Chevrier đã nói: “Linh mục là người bị ăn”. Khi dấn thân vào đời sống phục vụ, linh mục chấp nhận sự sống mình phải chịu tiêu hao đi vì người khác. Cộng đoàn tín hữu là một gia đình trong đó linh mục được sai đến để chăm sóc, lo lắng và làm gương. Ngài luôn tự nhủ rằng việc ngài đến là “để phục vụ”. Người phục vụ luôn luôn là người chịu thiệt thòi, lo trước cái lo của dân Chúa và vui sau cái vui của họ. Nếu ngày đưa đón cha về nhận giáo xứ mới, lòng đầy nỗi hân hoan, vui sướng bao nhiêu thì những ngày sau đó, là một núi công việc đang chờ đợi bàn tay và khối óc của linh mục. Nỗi lo lắng của ngài không phải là an hưởng bản thân mà là gánh vác công việc cộng đoàn, ở đó bao con người đang mong đợi và cần sự hiện diện của ngài.

Linh mục sẽ luôn luôn phải thao thức về các nhu cầu của cộng đoàn, qua đó ngài biết nên làm gì và làm như thế nào để họ “được sống và sống dồi dào”. Sự hy sinh của linh mục không chỉ là chịu đựng một vài khó khăn trong vấn đề ăn uống, nhà ở, phương tiện này nọ mà là “chỉ có một sự cần”, đó là làm sao mình phải bé nhỏ, tiêu hao đi để cho Đức Ki-tô lớn lên trong cộng đoàn. Làm sao để Tin Mừng thực sự lan tỏa trong mỗi người, mỗi gia đình, mỗi hội-đoàn-nhóm tín hữu. Làm sao hạn chế được những chia rẽ, bất hòa, hành xử cục bộ, bè phái…để mọi người sống hiệp nhất yêu thương như Chúa đã dạy. Nguyên chỉ với những thao thức đó thôi, linh mục cũng đã phải “tự tiêu hao” biết bao dự phóng, bao sáng kiến, bao lo toan, bao kế hoạch riêng tư…Nói cách khác, khi lo cho người khác được lớn lên, linh mục sẽ hy sinh chính bản thân ngài.

ĐTGM Giu-se Nguyễn Chí Linh đã có lần chia sẻ như sau: “ ‘Yêu mến giáo dân như Đức Kitô, trao cho họ tất cả tình yêu và sự quí mến, hao tốn sức lực và thời giờ vì họ nên hình ảnh của Giáo hội hiền thê Đức Kitô’ (Pastores dabo vobis). Tôi nghĩ rằng đây là bí quyết để linh mục huấn luyện con tim mục tử của mình có được sự nhạy cảm của Chúa Giêsu khi Ngài nhìn đám đông không người chăn dắt mà chạnh lòng thương. Phải đạt cho tới trình độ hễ nhìn thấy dân là thương. Theo suy nghĩ của Chúa Giêsu, đám đông luôn là một đàn chiên bơ vơ. Họ cần đến mục tử chăn dắt họ, họ cần đến linh mục. Nếu không tạo được một con tim mục tử, tự khắc chúng ta sẽ biến mình thành một tên Pharisiêu đã bị Chúa Giêsu lên án là chất lên vai người khác những gánh nặng mà chính mình không vác được”.[9]

3.2- Chứng nhân đời sống khó nghèo vì Tin Mừng

Sự khó nghèo của môn đệ trong đời sống tận hiến là khó nghèo tự nguyện vì Tin Mừng. Họ đi theo Chúa, bỏ lại tất cả, thì không có lí do gì mà lại luyến tiếc của cải trần gian cả. Chấp nhận sống nghèo theo giáo huấn của Chúa, người môn đệ sẽ đạt được ba điều lợi ích sau:

– Sống nghèo để được hoàn toàn tự do chuyên lo việc của Chúa và của Hội thánh.

– Sống nghèo để làm chứng nhân cho Tin Mừng Chúa Ki-tô.

– Sống nghèo để thông cảm và chia sẻ sự túng thiếu của những người nghèo.

ĐGM GB. Bùi Tuần, giáo phận Long Xuyên, trong tập “Truyền giáo”, tài liệu tĩnh tâm các linh mục Tổng giáo phận Saigon năm 1990 đã viết: “Khi Chúa Giê-su sai các tông đồ đi làm nhiệm vụ Lời Chúa, Người bảo các ông đừng mang theo nhiều hành lý, dù đó là quần áo, tiền bạc. Chúa muốn các môn đệ ra đi với thái độ nghèo, không những nghèo về thái độ khiêm tốn bên trong, mà cũng nghèo cả về vật chất nữa. Bởi vì thái độ nghèo về vật chất chính là một hành trang tinh thần có giá trị lớn tăng bản lãnh cho người làm nhiệm vụ Lời Chúa. Nó giúp cho môn đệ Chúa làm chứng được phần nào mầu nhiệm thánh giá cứu độ và tám mối phúc thật là những điều quan trọng của Lời Chúa”.

Vậy thì khi dấn thân theo ơn gọi tận hiến, người môn đệ của Chúa tự nguyện chấp nhận sống nghèo, xem như đó là một đòi hỏi thiết yếu của ơn gọi tận hiến, như ý Chúa muốn và như Hội thánh mong đợi. Chính ĐTC Phan-xi-cô đã khẳng định: “Tôi ước muốn một Giáo hội nghèo và cho người nghèo.” Ngoài các Ki-tô hữu nói chung, thì thành phần nòng cốt các linh mục, tu sĩ nói riêng, là những nhân tố cần thiết giúp xây dựng và củng cố một Hội thánh nghèo và chính họ cũng trở thành nơi nương tựa bám víu của những người nghèo hèn khốn khổ trong xã hội.

Thực vậy, “Đức nghèo khó theo Tin Mừng không hề khinh chê của cải trần gian vì những thứ này được ban cho con người là để sống và hợp tác với chương trình sáng tạo của Thiên Chúa. Theo Công Đồng Va-ti-ca-nô II, linh mục cũng như mọi Ki-tô hữu, vì có nhiệm vụ ca tụng và tạ ơn, nên phải nhìn nhận và tán dương lòng quảng đại của Cha trên Trời được biểu lộ trong các của cải trần gian (PO 17). Nhưng Công Đồng còn nói thêm là các linh mục đang khi sống ở giữa thế gian phải luôn luôn nhớ rằng mình không thuộc về thế gian này (Ga 17,14-16) và phải gỡ mình ra cho khỏi mọi ràng buộc quá đáng, hầu đạt được một tư thế thiêng liêng thích hợp và quân bình với thế gian và những sự đời (Pastores Dabo Vobis 30)”.[10]

Quả vậy, nhờ đời sống nghèo đích thực theo tinh thần của Tin Mừng Ki-tô giáo, môn đệ sẽ an tâm sống cuộc đời hiến tế của mình theo gương thầy chí thánh Giê-su. Cái lo của họ chắc chắn sẽ không hướng hoàn toàn về việc phải ăn gì, uống gì, mặc gì, nhà cửa ra sao…(x. Mt 6,25-34), trái lại, mối bận tâm chính của các ngài chính là cố gắng trở nên người môn đệ đích thực của Chúa Ki-tô, cố gắng để trở thành con người sinh ích lợi cho mình và cho người khác. Và sự đòi hỏi chính yếu đặt ra cho người theo Chúa, đó là tinh thần dứt khoát từ bỏ như lời Ngài đã chỉ dạy: “Nếu ai muốn là môn đệ Thầy, thì hãy từ bỏ mình, vác thánh giá mình mà theo Thầy” (Mt 16,24); và “Ai không từ bỏ tất cả những gì mình có, sẽ không thể là môn đệ Thầy.” (Lc 14,33) ./.

[1] youtube.com

[2] vocationscava.org

[3] dongten.net

[4] donggioanthienchua.net

[5] ghhv.quetroi.net

[6] simonhoadalat.com

[7] gplongxuyen.org

[8] LM Nguyễn Trọng Viễn OP – Đạo sinh hoạt – NS. CGvDT số 308 trang 12-13

[9] Đức TGM Giuse Nguyễn Chí Linh, Tĩnh tâm thường niên linh mục Giáo phận Đà Lạt từ ngày 16 đến 22-02-2009, simonhoadalat.com

[10] LM An-rê Đỗ Xuân Quế OP – LM và của cải trần gian –

 

Aug. Trần Cao Khải

Read More
20Tháng Mười
2020

Giáo xứ là gia đình của Chúa

20/10/2020
Anmai
Giáo dục, Tài liệu giáo dục
0
GIÁO XỨ LÀ GIA ĐÌNH CỦA CHÚA
MỘT CÁI NHÌN VỀ MỐI TƯƠNG QUAN CỦA CÁC THÀNH VIÊN TRONG GIA ĐÌNH
 
Gọi Giáo hội như là gia đình của Chúa thì đó là chuyện nghe quen tai; gọi giáo xứ như là gia đình của Chúa thì có vẻ ít nghe hơn nhưng cũng có lý. Còn gọi Giáo xứ là gia đình của Chúa… thì có vẻ “khẳng quyết hơn”, nhưng vẫn có lý và rất có tình. Vì “giáo xứ chủ yếu không phải là một cơ cấu, một địa giới hay một toà nhà, nhưng đúng hơn đó là “gia đình của Chúa…”[1], bài viết Giáo xứ là gia đình của Chúa… muốn được trình bày ít nhiều về mối tương quan giữa giáo dân và giáo sĩ, với một số hướng dẫn của Giáo hội, trong khung cảnh của một xứ đạo thấm đượm sự sống nhiệm mầu của Thiên Chúa Ba Ngôi.
 
Một vài ý tưởng dẫn vào…
 
Các tín hữu chuyên cần nghe các tông đồ giảng dạy, luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh, và cầu nguyện không ngừng.[2]
 
Các tín hữu thời bấy giờ đông đảo, mà chỉ có một lòng một ý… càng ngày càng có thêm nhiều người tin theo Chúa: cả đàn ông đàn bà rất đông.[3]
 
Khi ta nâng chén chúc tụng mà cảm tạ Thiên Chúa, há là chẳng phải dự phần vào Máu Đức Kitô sao? Và khi ta cùng bẻ Bánh Thánh, đó chẳng phải là dự phần vào Thân Thể Người sao?[4]
 
Một châm ngôn cổ cho rằng: “Giáo hội cử hành bí tích Thánh Thể và bí tích Thánh Thể làm nên Giáo hội”. Trên nền tảng đó, bài viết Giáo xứ là gia đình của Chúa… sẽ luôn ý thức giáo xứ không tiên vàn là một cơ cấu, nhưng đúng hơn đó là:
 
… “gia đình của Thiên Chúa, một nhóm bừng cháy tinh thần hợp nhất”, “một mái nhà thân thương và niềm nở”, “một cộng đoàn tín hữu”. Giáo xứ được thiết lập một cách rõ ràng và đơn giản trên một thực tại thần học bởi vì nó là một cộng đồng Thánh Thể. Điều ấy có nghĩa giáo xứ là một cộng đồng thích hợp để cử hành Thánh Thể, nguồn mạch sống động để xây dựng giáo xứ và là mối liên kết bí tích của sự hiệp thông trọn vẹn giữa giáo xứ với toàn thể Giáo hội.[5]
 
 
Giáo xứ là một cộng đoàn tín hữu được thiết lập cách bền vững ở trong giáo hội địa phương, và việc săn sóc mục vụ được ủy thác cho linh mục chính xứ làm chủ chăn riêng, dưới quyền của giám mục giáo phận. Chỉ duy có giám mục giáo phận có quyền thành lập, giải tán hoặc thay đổi các giáo xứ; tuy nhiên ngài không nên thành lập, giải tán hoặc thay đổi một cách đáng kể các giáo xứ mà không tham khảo ý kiến hội đồng linh mục.[6]
 
và xin được cùng với Giáo hội để dâng lên Chúa lời nguyện:
 
Lạy Chúa,
này chúng con thuộc đại gia đình của Chúa,
xin dủ thương đoái nhìn
và giúp chúng con hằng chế ngự thân xác,
để tinh thần được phấn khởi
và thiết tha tìm kiếm Chúa không ngừng.
Chúng con cầu xin
nhờ Đức Giêsu Kitô Con Chúa,
là Thiên Chúa và là Chúa chúng con,
Người hằng sống và hiển trị muôn đời.
Amen.[7]
 
Từ Giáo hội học đến thần học về giáo xứ
 
Làm thần học về giáo xứ (to do theology on parishes) không thể không nghiên cứu về Giáo hội (to study the Church). Suy tư và tìm hiểu bản chất của giáo xứ không thể không nghiên cứu mối tương quan của giáo xứ với giáo phận, Giáo hội phổ quát, trong đó các thừa tác vụ và các đoàn sủng giúp Giáo hội tăng trưởng:
 
… rõ ràng phải được hiểu dưới ánh sáng của khoa “Giáo hội học hiệp thông”: các thừa tác vụ và các đoàn sủng, vì khác biệt và bổ túc cho nhau, nên theo thể thức của mình, đều cần thiết cho sự tăng trưởng của Giáo hội.[8]
 
Thích thú với trình tự sáu giai đoạn theo phương pháp nghiên cứu Giáo hội học trong tác phẩm La Chiesa primizia del regno của Battista Mondin:[9] (1) Giai đoạn kinh nghiệm,[10] (2) Giai đoạn chú giải,[11] (3) Giai đoạn hiện tượng,[12] (4) Giai đoạn triết lý,[13] (5) Giai đoạn thần học,[14] (6) Giai đoạn đối thoại,[15] bài viết Giáo xứ là gia đình của Chúa… trong tinh thần của Giáo hội học cũng như thần học về giáo xứ có phương pháp nghiên cứu của mình (và không nhất thiết phải theo đúng trình tự sáu giai đoạn kể trên).[16]
 
Điều thú vị còn là sự ý thức được rằng, nếu bị tục hóa, Giáo xứ là gia đình của Chúa… sẽ mất đi tính chất “tiên tri” để có thể nhân danh Chúa Kitô mà rao giảng Tin mừng cứu độ.[17] Nếu quá thiêng liêng xa vời, Giáo xứ là gia đình của Chúa… sẽ xuất thế mà không nhập thế được và mất đi khả năng hội nhập để có thể tiếp xúc với những con người cụ thể của Giáo hội, giáo hội địa phương,[18] giáo xứ.
 
Trong dòng lịch sử, suy tư thần học về chính Giáo hội xuất hiện tương đối muộn màng. Mãi đến năm 1.300, luận thuyết thần học đầu tiên về Giáo hội, De Ecclesia của James Viterbo, mới được phổ biến. Công trình đó, và hầu như tất cả Giáo hội học hay thần học về Giáo hội sau này, đều chú tâm đến Giáo hội phổ quát, giáo hoàng, các giám mục, quyền lực Giáo hội đã đón nhận được từ nơi Đức Kitô.[19]
 
Thần học là đức tin tìm kiếm sự hiểu biết, tìm kiếm phương cách thích hợp nhất đối với việc chuyển thông giáo lý đức tin cho con người.[20] Thật vậy, khởi đầu với ngày lễ Ngũ Tuần, trong ý thức Giáo hội học có nghĩa là học hỏi về Giáo hội, các thành phần trong Giáo hội nghiên cứu Thánh kinh và Thánh truyền của Kitô giáo trong sự hiểu biết sâu xa hơn này.[21]
 
Mỗi Phúc âm phản ánh một cách quan niệm về Giáo hội. Giáo hội học đã hình thành, phát triển và đạt dần tới mức hoàn chỉnh theo nhịp Giáo hội tăng trưởng và suy tư về chính mình, tìm kiếm những cách thức nhận định, cách hiểu, cách giải thích, phân tích kỹ càng và những tổng hợp rộng rãi hơn, để có thể hiểu đúng giá trị và trân trọng đủ trong việc ghi lại những suy tư về Giáo hội, giúp hình thành một nền thần học về Giáo hội, về giáo hội địa phương, cách riêng về giáo xứ (để giáo xứ thực sự là gia đình của Chúa được hiểu rõ ràng hơn và sống đúng đắn hơn).[22]
 
Giáo hội nói chung, và cách nào đó là giáo hội địa phương, giáo xứ… được so sánh với “địa đàng”;[23] với “dòng dõi Abraham”, “đàn chiên duy nhất của đức tin”, “người vợ ngoại tình” của Hôsê;[24] với Evà phát sinh từ cạnh sườn Ađam;[25] với “tàu của Noê”,[26] với Rêbécca,[27] với Giêrusalem hay thậm chí với “cô gái điếm Rahab” và căn nhà của cô,[28] với “cung thánh” của Môsê,[29] với tấm “áo không có đường khâu” của Ðức Giêsu,[30] với con “tàu đức tin”,[31] với “hội các tín hữu”,[32] với “nhà Thiên Chúa”.[33]
 
Vào giữa thế kỷ 19, thần học gia Johann Adam Moehler (1796-1838) còn định nghĩa Giáo hội là:[34]
 
… chính Con Thiên Chúa hằng tỏ mình cho nhân loại dưới lốt phàm nhân, tự đổi mới không ngừng mà vẫn giữ nguyên như cũ, tức Giáo hội là cuộc nhập thể của Con Thiên Chúa, một cuộc nhập thể kéo dài cho đến mãi mãi.[35]
 
Nhà Giáo hội học danh tiếng Joseph Komonchak (Hoa Kỳ) nhấn mạnh đến yếu tố không thể thay thế của con người trong Giáo hội:
 
Các nguyên lý cấu thành Giáo hội (ở bất kỳ cấp độ nào) bao gồm: lời mời gọi của Chúa Cha, lời của Chúa Kitô, sự hiện diện của Thánh Thần, việc cử hành bí tích Thánh Thể, tình huynh đệ yêu thương và thừa tác vụ tông truyền (nghĩa là quyền lãnh đạo kế thừa từ các tông đồ). Nơi nào những nguyên lý này làm phát sinh ra một cộng đoàn thì đó là giáo hội, không chỉ là một phần của Giáo hội, nhưng là một thực tại đầy đủ của Dân Chúa và là nơi cư ngụ của Thánh Thần.[36]
 
Khi cảm thức về Giáo hội đã lớn rộng và sâu sắc trong lòng cộng đồng các tín hữu, Công đồng Vaticanô II chọn Giáo hội làm chủ đề chính, giúp cho các tín hữu ý thức rõ hơn mình là thành viên chủ động của Giáo hội. Theo đó, Giáo hội, giáo hội địa phương, giáo xứ… được nhắc đến trong định hướng sống tình hiệp thông nhờ có Thánh Thần hiện diện và hành động.[37] H. Muehlen còn đề nghị cách định nghĩa Giáo hội theo Thần Khí học: Giáo hội như “mầu nhiệm đồng nhất hóa” Thánh Thần với các Kitô hữu nơi Ðức Kitô; Giáo hội như “một ngôi vị huyền bí” (una mystica persona).[38] Hiến chế tín lý về Giáo hội nhận định:
 
Thánh Linh không chỉ thánh hóa và huớng dẫn Dân Thiên Chúa bằng các bí tích và các thừa tác vụ, cùng trang bị họ bằng các nhân đức, nhưng Ngài còn ban phát các ân sủng đặc biệt cho mọi cấp bậc các tín hữu “phân chia ân huệ cho mỗi người theo ý Ngài” (1 Cr 12,11), khiến người lãnh nhận các ân sủng ấy có đủ khả năng và sẵn lòng đảm nhận các công việc và nhiệm vụ khác nhau mưu ích cho việc canh tân, xây dựng và phát triển Giáo hội….[39]
 
Lãnh nhận các ân sủng và sẵn lòng đảm nhận các nhiệm vụ khác nhau để phát triển Giáo hội nói chung, giáo hội địa phương, giáo xứ là những cộng đoàn nền tảng của đời sống Kitô hữu trong Giáo hội của Đức Giêsu Kitô, là những trung tâm đầu tiên, những đơn vị gia đình đầu tiên và chủ yếu của đời sống Giáo hội trong công cuộc truyền giáo và phát triển Giáo hội.
 
Giáo hội địa phương
 
Theo James A. Coriden, sự phát triển một thần học về giáo hội địa phương, giáo xứ nảy sinh từ năm phong trào khơi dậy những nghiên cứu và suy tư đầy nhiệt huyết, giúp nối kết thành một tổng thể rất hữu ích, giúp hậu thuẫn cho sự hiểu biết phong phú hơn, đầy đủ hơn về giáo hội địa phương, về giáo xứ và về các mối tương quan của các thành phần trong những thực tại này.[40]
 
… (1) phong trào Thánh kinh muốn nghiên cứu lại những cộng đoàn trong Tân ước, (2) phong trào giáo phụ với nghiên cứu mới về những văn sĩ Kitô giáo thời ban đầu và những tín hữu đoàn của họ, (3) phong trào phụng vụ với cuộc canh tân phụng tự và sinh hoạt bí tích của Giáo hội, (4) phong trào truyền giáo, tái khám phá việc công bố lời Chúa cho những người chưa thuộc về Giáo hội, và (5) phong trào đại kết, cân nhắc và đối thoại với những Giáo hội Kitô giáo khác.[41]
 
Đã có thời, trước Công đồng Vaticanô II, một thành ngữ thần học đã từng được sử dụng để gọi giáo hội địa phương, giáo xứ là Giáo hội thu nhỏ, một tiểu giáo hội trong Giáo hội (ecclesiola in ecclesia), là tế bào của Giáo hội phổ quát, một dạng thức rất nhỏ của Giáo hội phổ quát, như một tế bào trong những tế bào của một cơ phận trong một thân thể duy nhất, Nhiệm Thể Chúa Giêsu Kitô. Giáo hội phổ quát hiện thể trong giáo hội địa phương.[42] Tuy nhiên, giáo hội địa phương không phải là Giáo hội toàn thể. Giáo hội phổ quát mới đích thực là Nhiệm Thể Chúa Kitô và mới bất khả khuyết. Chỉ Giáo hội phổ quát mới gồm toàn thể “các thánh thông công” (communion of Saints: ở trần gian, ở trên trời và trong luyện ngục).[43] Chỉ Giáo hội phổ quát mới bao gồm toàn bộ tiến trình thời gian từ lúc Chúa Ngôi Hai giáng sinh làm người cho tới ngày Người quang lâm.
 
Vì thế, việc hình thành một giáo xứ luôn phải đặt dấu nhấn trên tính hiệp nhất với tính chất cá biệt của một giáo hội địa phương, một cộng đồng tôn giáo trong bản chất là truyền giáo, chứ không phải là một hội đoàn chính trị với các quyền bính thế tục. Đó là cộng đoàn, là gia đình… tụ họp trong sự hiệp thông với Chúa, là phương tiện cho một mục đích lớn hơn, cao cả hơn… và là thể hiện của Giáo hội.
 
Với cái nhìn thần học về Giáo hội phổ quát được áp dụng xuống cho cộng đoàn tín hữu địa phương, cho giáo xứ… như một mẫu thu nhỏ của Nhiệm Thể Đức Kitô, giáo hội địa phương, giáo xứ cũng được xem như một dạng thức của một pháp nhân tập đoàn trong niềm tin siêu nhiên cũng như thực hành tự nhiên, với những quyền lợi và đặc ân trong chân lý và ân sủng của Thiên Chúa ban cho.
 
Công đồng Vaticanô II đặc biệt lưu tâm và nhấn mạnh nhiều đến việc Nhiệm Thể Giáo hội phải lớn lên;[44] mọi chi thể sống động đều phải tích cực hợp tác đến độ có thể nói là sự sống của Giáo hội tùy thuộc vào hoạt động của những pháp nhân tập đoàn là các giáo hội địa phương, giáo xứ trong niềm tin siêu nhiên cũng như thực hành tự nhiên.[45]
 
Giáo xứ là đơn vị căn bản của Giáo hội, là tế bào căn bản của Giáo hội (the basic cell of the Churxh),[46] một hình ảnh rất đẹp, rất nên được sử dụng cho thấy mối tương quan hữu cơ giữa giáo xứ với giáo phận, và với Giáo hội toàn cầu. Giáo xứ đối với Giáo hội toàn cầu là chi thể trong Nhiệm Thể, là thành phần của đại gia đình Giáo hội. Nhưng chính giáo xứ cũng là gia đình, gia đình của Chúa, với các thành viên là mọi người dân xứ: giáo sĩ, tu sĩ, giáo dân. Giáo xứ là hiện thân (embodiment), là sự thể hiện (realization) của giáo hội rộng lớn hơn, là chính Giáo hội hiện hữu tại một vị trí địa lý cụ thể và là môi trường sống đạo của một cộng đoàn cụ thể.
 
Giáo hội là một cơ cấu hữu hình, “chỗ ở” của gia đình con cái Thiên Chúa, mà gia trưởng là chính Thiên Chúa. Hay cũng có thể nói, chủ hộ đích thực và không thể thay thế của gia đình Giáo hội, giáo phận, giáo xứ là chính Chúa Kitô. Thật vậy, Thánh Phaolô trong 1 Timôthê 3,14-16 đã viết:
 
Tôi viết cho anh thư này, dù vẫn hy vọng sớm đến với anh, nhưng nếu tôi chậm trễ, thì thư này sẽ cho anh biết phải ăn ở thế nào trong nhà của Thiên Chúa, tức là Giáo hội của Thiên Chúa hằng sống, cột trụ và điểm tựa của chân lý. Phải công nhận rằng: mầu nhiệm của đạo thánh thật là cao cả, đó là: Đức Kitô xuất hiện trong thân phận người phàm, được Chúa Thánh Thần chứng thực là công chính; Người được các thiên thần chiêm ngưỡng, và được loan truyền giữa muôn dân; Người được cả hoàn cầu tin kính,
được siêu thăng cõi trời vinh hiển.[47]
 
Vì thế, linh mục chính xứ, mục tử riêng (proper pastor) của giáo xứ, trong sự hiệp thông với giám mục giáo phận của mình, là người được huấn luyện, được kỳ vọng mỗi ngày một trở nên một Kitô khác (Alter Christus), tuy không thay thế Người theo nghĩa triệt để, cũng không sánh được với giám mục giáo phận trong cương vị tông đồ, nhưng luôn luôn trong sự hiệp thông với giám mục giáo phận của mình, được đặc biệt mời gọi làm công việc của chính Đức Kitô.
 
Giáo hội địa phương là hiện thân của giáo hội rộng lớn hơn, là chính Giáo hội hiện hữu tại một vị trí địa lý cụ thể và là môi trường sống của con người. Cũng như con người được sinh vào những gia đình riêng biệt trong những nơi chốn và điều kiện cụ thể, người Kitô hữu được lãnh nhận bí tích rửa tội, nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô trong những giáo hội địa phương riêng biệt.[48]
 
Thật vậy, giáo hội địa phương, giáo xứ có thể được nhận dạng qua sự thực hành và sống linh ân của “Thần Khí” (pneumatologica), đặc sủng “thần linh” (charismatica), mầu nhiệm “Thánh Thể” (Eucharistica), định thức “hiệp thông”, dạng thức “bí tích”, mẫu thức “sứ điệp Tin mừng” (kerygma), kiểu thức “cánh chung” (eschatologicaI), mô hình “thập giá” (staurologica) trong định hướng Nước Trời của Đức Kitô.
 
Những hiện thân hay những thể hiện địa phương này xây dựng nên Giáo hội. Mỗi quan điểm hay phương pháp thể hiện đều có công đóng góp phần mình để giúp hiểu thêm về những khía cạnh đa dạng của mầu nhiệm Giáo hội, giáo hội địa phương, giáo xứ.[49] Thật vậy, giáo hội địa phương, giáo xứ được nhận biết và được liên kết với Giáo hội rộng lớn hơn qua sự hiện diện phẩm trật và các hoạt động mục vụ của các mục tử: làm thể hiện (re-present), làm hiện hữu (make present), làm hiện thực hoá (realize, make it real) Giáo hội toàn cầu.
 
Các giáo xứ thể hiện, làm hiện hữu Giáo hội toàn cầu. Các giáo xứ hiện thực hoá Giáo hội, đặc biệt khi tín hữu đoàn cùng với vị mục tử của mình cử hành bí tích Thánh Thể vào ngày Chúa nhật.[50]
 
Giáo hội, giáo hội địa phương, giáo xứ… là thực tại vừa mầu nhiệm vừa sống động nên không ai có thể hiểu biết hết được, nhưng hoàn toàn có thể nhận biết được một số khía cạnh của thực tại sống động và mầu nhiệm này. Với những mức độ giá trị khác nhau: có khi là tín điều, có khi là giáo lý chung, và cũng có khi chỉ là những nhận định riêng, những phạm vi khác nhau của thực tại này (Giáo hội phổ quát, giáo hội các vùng miền, giáo phận, giáo xứ) không thuộc cùng một mức độ hoàn toàn như nhau về tính chất thần học.[51]
 
Tin rằng Thánh Thần Chúa cũng hiện diện nơi giáo hội địa phương, giáo xứ, ban sự sống cho giáo hội địa phương, giáo xứ…, nhà thần học Yves Congar nhấn mạnh rằng giáo xứ phải là một cộng đoàn cầu nguyện, cộng đoàn phụng vụ, sinh hoạt thiêng liêng, phục vụ lẫn nhau, hoạt động bác ái và truyền giáo, thể hiện tình liên đới Kitô hữu là đức ái mà Thánh Thần Chúa đặt trong lòng các tín hữu.
 
Còn thần học gia Karl Rahner thì chủ trương, điểm khởi sự cho một thần học về giáo xứ là đặc tính hiện thực hoá (actualization) của Giáo hội tại địa phương, cụ thể hoá của Giáo hội tại địa phương của thực tại này. Giáo xứ là một dạng thức hữu hình, thông thường và độc đáo của cộng đoàn Kitô hữu địa phương theo nguyên tắc về nơi chốn, đạt đến một mức độ hiện thực hóa rất cao khi trở thành một sự kiện, một biến cố có thể nhận biết được.[52]
 
Karl Rahner, nhà thần học xuất sắc thuộc Dòng Tên, người Đức, mô tả giáo xứ như sự hiện thực hoá của Giáo hội tại địa phương. Giáo hội là một xã hội hữu hình đạt đến một mức độ hiện thực hóa rất cao (hơn là chỉ tiếp tục hiện hữu), khi trở thành một sự kiện lịch sử có thể nhận biết được trong không gian và trong thời gian, một biến cố như sự kiện các thánh thông công. Khi cử hành Thánh Thể, giáo hội địa phương đạt đến mức độ hiện thực hoá cao điểm nhất, vì sự hiệp nhất các tín hữu với Đức Kitô và với nhau được thể hiện cách hữu hình và mật thiết.[53]
 
Giáo xứ là cộng đoàn địa phương, là hiện thân tiên khởi của Giáo hội trong lịch sử, là…
 
… “gia đình của Thiên Chúa, một nhóm bừng cháy tinh thần hợp nhất”, “một mái nhà thân thương và niềm nở”, “một cộng đoàn tín hữu”. Giáo xứ được thiết lập một cách rõ ràng và đơn giản trên một thực tại thần học bởi vì giáo xứ là một cộng đồng Thánh Thể. Điều ấy có nghĩa giáo xứ là một cộng đồng thích hợp để cử hành Thánh Thể, nguồn mạch sống động để xây dựng giáo xứ và là mối liên kết bí tích của sự hiệp thông trọn vẹn giữa giáo xứ với toàn thể Giáo hội.[54]
 
Không ít các quan điểm thần học đã nhận thức và xác quyết giáo xứ là cộng đoàn Giáo hội đầu tiên, là dân Chúa, là cộng đoàn cứu độ của Đấng Mêsia, là gia đình của những người đã lãnh nhận bí tích rửa tội đang sống trong cùng một khu vực riêng biệt, cụ thể… đặc biệt là trong hy tế Thánh Thể, trong kinh nguyện. Tuy không thể thay thế cho và cũng không thể là tất cả của Giáo hội phổ quát, giáo xứ vẫn thực sự là hình ảnh, là đại diện, là hiện thể sinh động của Giáo hội phổ quát.[55]
 
Thật vậy, khi xem toàn thể Giáo hội như bí tích cứu độ toàn thế giới (sacrament of the world’s salvation), Rahner cũng cho rằng, mỗi giáo xứ theo một cách nào đó thực sự là sự biểu hiện sống động của Giáo hội, làm cho Giáo hội trở nên hữu hình, làm cho Giáo hội có thể thực hiện “tính lĩnh hội được về thời gian-nơi chốn lịch sử” của mình.[56] Vả lại, Giáo hội, giáo hội địa phương, giáo xứ… vừa là mầu nhiệm vừa là biến cố, vừa hữu hình vừa vô hình, vừa do thần khởi vừa do con người các tín hữu hợp lại mà thành, vừa được tạo thành “từ trên xuống”[57] vừa được hình thành “từ dưới lên”.[58] Tuy nhiên, Rahner cũng đã cẩn thận lưu ý rằng:
 
… những giáo hội địa phương không được hưởng cùng một tính “không tỳ vết” trong sự thánh thiện và chân lý mà Đức Giêsu đã bảo đảm cho Giáo hội phổ quát. Nghĩa là, những giáo hội địa phương không phải là không thể sai lầm và không thể phạm tội.[59]
 
Khẳng định rõ ràng về thực tại giáo hội địa phương, giáo xứ, Công đồng Vaticanô II, cách riêng qua Hiến chế về phụng vụ thánh, Hiến chế tín lý về Giáo hội, Sắc lệnh về truyền giáo, đã kêu gọi việc thăng tiến phụng vụ trong các giáo hội địa phương, trong mỗi giáo xứ, về sự hiện diện của Đức Kitô và Giáo hội trong mỗi cộng đoàn địa phương, đồng thời mô tả sự hình thành các giáo hội địa phương ấy là công việc của Chúa Thánh Thần, Đấng qua bí tích thánh tẩy đã quy tụ những ai tin vào Đức Kitô để trở thành một dân mới của Thiên Chúa (sống động trong từng giáo xứ).[60] Thật vậy, được Thiên Chúa kêu gọi trong sự viên mãn tràn đầy ơn Thánh Thần, dân tộc mới của Thiên Chúa tại mỗi giáo xứ, trong phần đất của mình (territorial and/or personal parish), gồm tất cả những ai tin vào Đức Kitô và lãnh nhận bí tích thánh tẩy.[61] Cho nên,
 
… phải cổ võ đời sống phụng vụ của giáo xứ và mối liên hệ của đời sống ấy với giám mục, trong tâm trí cũng như trong hành vi của các tín hữu và của hàng giáo sĩ; còn phải ra sức làm triển nở ý thức cộng đoàn giáo xứ, nhất là trong việc cử hành thánh lễ cộng đồng ngày Chúa nhật.[62]
 
Giáo hội Chúa Kitô thực sự hiện diện (vere adest) trong mọi cộng đoàn tín hữu địa phương hợp pháp. Những cộng đoàn này, vì hiệp nhất với các chủ chăn, nên trong Tân ước cũng được gọi là Giáo hội. Thật vậy, trong phần đất mình, mỗi cộng đoàn là dân tộc mới Thiên Chúa kêu gọi trong Thánh Thần và trong sự viên mãn tràn đầy (1 Tx 1,5). Nơi các cộng đoàn đó, tín hữu được tụ họp lại nhờ việc rao giảng Phúc âm Chúa Kitô, và mầu nhiệm Tiệc ly được cử hành “để nhờ Thịt và Máu Chúa, tất cả kết thành huynh đệ và thành một Thân Thể” (Mozarabic prayer).
 
Chúa Kitô vẫn hiện diện trong các cộng đoàn ấy, dù nhỏ bé, nghèo nàn hay tản mát khắp nơi. Và nhờ thần lực Nguời, Giáo hội duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền được tụ họp lại.[63]
 
… gây dựng những cộng đoàn tín hữu sao cho họ biết sống xứng đáng ơn gọi của mình (Ep 4,1), để họ có thể thi hành những chức vụ Thiên Chúa trao cho: tư tế, tiên tri và vương giả. Nhờ cách đó, cộng đoàn Kitô hữu trở thành dấu chỉ nói lên sự hiện diện của Thiên Chúa nơi trần gian: vì nhờ hiến tế Thánh Thể, họ luôn luôn được cùng Chúa Kitô vuơn đến Chúa Cha; và khi đã được nuôi dưỡng cẩn thận bằng Lời Chúa, họ trở nên chứng nhân của Chúa Kitô; sau hết họ tiến tới trong đức ái và được hun đúc trong tinh thần tông đồ.[64]
 
Sau này, Tông huấn Kitô hữu giáo dân (Christifideles laici, 1988) cũng trình bày lại và nhấn mạnh đến thần học về giáo hội địa phương, giáo xứ của Công đồng Vaticanô II:
 
Giáo đoàn (ecclesial community) luôn có chiều kích phổ quát, nhưng giáo xứ lại là biểu hiện hữu hình và trực tiếp nhất của Giáo hội. Tại mỗi địa phương Giáo hội được nhận ra qua giáo xứ. Mọi người cần tái khám phá, trong ánh sáng của đức tin, ý nghĩa đích thực của giáo xứ, nơi chính “mầu nhiệm” Giáo hội hiện diện và hoạt động…. Giáo xứ chủ yếu không phải là một cơ cấu, một địa giới hay một toà nhà, nhưng đúng hơn đó là “gia đình của Chúa, là tình bằng hữu bừng cháy bằng một tinh thần hiệp nhất”, “một mái ấm thân thuộc và rộng mở”, “một cộng đoàn tín hữu”. Nói một cách đơn giản và rõ ràng, giáo xứ được đặt nền móng trên một thực tại thần học, bởi đó là một cộng đoàn Thánh Thể. Điều này có nghĩa: giáo xứ là một cộng đoàn hoàn toàn thích hợp cho việc cử hành bí tích Thánh Thể, nguồn sức sống cho việc xây dựng giáo xứ, mối dây liên kết bí tích của sự hiệp thông trọn vẹn giữa giáo xứ với toàn Giáo hội.[65]
 
Biết rằng mối tương quan của các giáo xứ với giáo phận và Giáo hội phổ quát (the relationship of the local churches to the diocesan and universal churches) hơn hẳn mối tương quan có trong xã hội, Linh mục Giáo sư Tiến sĩ James A. Coriden (Hoa Kỳ) có cách so sánh rất hay như sau:
 
Tương quan của các giáo xứ với giáo hội giáo phận và Giáo hội phổ quát khác với tương quan của các tiểu bang với liên bang Hoa Kỳ hay các phần với toàn thể trong trò chơi lắp hình. Giáo hội hiện hữu và bao gồm tất cả các thành phần hỗ tương này. Những giáo xứ cùng giáo hội giáo phận và Giáo hội phổ quát hiện hữu trong nhau. Họ sống trong hiệp thông với nhau. Mỗi giáo xứ là một thể hiện của giáo phận và của Giáo hội duy nhất của Đức Kitô; đồng thời giáo phận cùng với Giáo hội Công giáo hiện hữu trong và ngoài những giáo xứ.[66]
 
Kiểu nói triết lý “những giáo xứ cùng giáo hội giáo phận và Giáo hội phổ quát hiện hữu trong nhau” là kiểu nói đậm tính thần học, bởi điều đó không chỉ diễn tả mối tương quan gia đình thông thường, mà hơn thế bội phần: mối tương quan của các thành viên trong gia đình của Chúa, mối tương quan với chính Chúa.
 
Với hình ảnh gia đình giáo xứ…
 
Công cha như núi Thái Sơn,[67]
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
 
Con cu, con quốc, con cò,
Ba con chụm lại mà lo việc nhà.
 
Anh em ai như khoai mài chấm mật
Cùng chung lưng đấu cật xây nền;
Gia đường phồn thịnh ấm êm,
Đã thêm phúc đức lại thêm lộc tài.
 
Bàn về gia đình (family) là dịp để nói đến công cha nghĩa mẹ và trách nhiệm của các ngài; nói đến những người con và bổn phận của con cái; tất cũng nói đến các mối tương giao thiết yếu trong nhà.[68] Tương giao giữa cha, mẹ, con cái, những thành viên của một gia đình, cho ta hình ảnh và sự hiểu biết thiết thực về gia đình đó.[69]
 
Cách sánh ví của dân gian về “Công cha như núi Thái Sơn…” có thể được xem là một trong những cách thức khởi đầu để nhận định về các mối tương giao, để có thể có chút hiểu biết thuận lợi về khái niệm gia đình của Á đông nói chung, của Việt Nam ta nói riêng. Thật vậy, tuy không phải là ngọn núi cao, nhưng Thái Sơn là thánh địa, là ngọn núi uy linh bậc nhất trong Ngũ Nhạc, được xưng tụng là Ngũ Nhạc độc tôn:[70]
 
Ngũ nhạc quy lai bất khán sơn,
Thái Sơn quy lai bất khán nhạc.[71]
 
 
Theo đó mà người xưa ca ngợi: “Công cha như núi Thái Sơn…”,[72] một hình ảnh linh thiêng, cao cả dành cho một thành viên chính yếu trong gia đình: người cha.
 
Biểu tượng Núi Thái Sơn nói về sự cao cả của tình cha, biểu tượng Nước Trong Nguồn nói về sự bao la của lòng mẹ; và cứ thế mà luận tiếp, biểu tượng cho những người con…. Rồi theo đó mà tất cũng nghiệm ra phần nào ý nghĩa của hai từ gia đình nói chung, và nói riêng trong lời khẳng quyết Giáo xứ là gia đình của Chúa…. Khái niệm dân gian về cụm từ gia đình tìm thấy ý nghĩa sâu xa của mình trong chính các biểu tượng Núi Thái Sơn và Nước Trong Nguồn. Khái niệm thiêng liêng của lời khẳng quyết Giáo xứ là gia đình của Chúa… tìm thấy một trong những ý nghĩa khởi đầu của mình trong chính khái niệm dân gian về cụm từ gia đình. Bởi lẽ:
 
Cha nào con nấy.
 
Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà.
 
Sóng trước đổ đâu sóng sau đổ đấy.
 
Con nhà tông, chẳng giống lông cũng giống cánh.
 
Ba vuông sánh với bảy tròn,
Đời cha vinh hiển, đời con sang giàu.
 
Thật vậy, gia đình là tế bào căn bản của xã hội (the basic cell of society), là một phần tử, một cơ cấu thiêng liêng của xã hội Việt Nam, nguồn sức mạnh của xã hội này, nguồn gốc của nhiều truyền thống, nhiều quy định, các thực hành tín ngưỡng, các giá trị văn hóa sâu xa với các mối dây ràng buộc chặt chẽ. Trong các mối dây ràng buộc này, gia đình còn là lòng hiếu thảo với “Núi Thái Sơn” với “Nước Trong Nguồn”.
 
Ào ào gió giục mây Tần,
Một xe trong cõi hồng trần bước ra.
Rủ nhau lên viếng mả cha,
Tảo lăng mồ mẹ lụy đà tuôn rơi.
Công cha trượng lắm cha ôi,
Ngãi mẹ bằng trời chín tháng cưu mang.
 
Thế mới hay, đối với người Việt Nam, thật dễ hiểu lời khẳng quyết Giáo xứ là gia đình của Chúa…. Gia đình không chỉ là Giáo hội tại gia mà còn là một hình ảnh rất thích hợp, cách riêng đối với người Việt Nam, để diễn tả bản chất của các giáo hội địa phương, các giáo xứ tại Việt Nam. Gia đình biểu hiệu cho một kinh nghiệm rất cụ thể của người dân Việt Nam, một thực tại hiện hữu của văn hóa Việt Nam.
 
Tóm lại, làm người Á đông nói chung, người Việt Nam nói riêng, khái niệm Giáo xứ là gia đình của Chúa… được xem là rất thuận lợi để diễn tả đời sống đạo của các tín hữu. Bởi lẽ: (1) hình ảnh này diễn tả được bản chất và sứ mệnh của Giáo hội Công giáo nói chung, các giáo hội địa phương, giáo xứ của giới Công giáo Á châu nói riêng; và đặc biệt đối với Việt Nam, vì có phần tương tự như các mối tương giao của các thành viên trong một gia đình Việt Nam; và (2) Giáo hội là một sự kiện sống động, được sống và cụ thể hoá qua những hoạt động của giáo phận, đặc biệt là giáo xứ;[73] và (3) rất đặc biệt còn là: gia đình của Chúa được hy lễ Thánh Thể nuôi dưỡng, là giao ước tình yêu của Đức Kitô và gia đình Giáo hội:
 
Bí tích Thánh Thể chính là nguồn mạch của hôn nhân Kitô giáo. Quả thế, hy lễ Thánh Thể diễn lại giao ước tình yêu giữa Đức Kitô và Hội thánh, vì giao ước ấy đã được ký kết bằng máu của Người trên thập giá. Chính trong hy lễ của Giao ước mới và vĩnh cửu ấy mà các đôi bạn Kitô hữu tìm được nguồn mạch tuôn trào làm cho giao ước hôn nhân của họ được khuôn đúc từ bên trong và được sinh động bền bỉ. Vì là sự diễn lại hy lễ tình yêu của Đức Kitô đối với Hội thánh, phép Thánh Thể là nguồn mạch đức ái. Nơi ân huệ Thánh Thể là bí tích của Đức Ái, gia đình Kitô hữu gặp được nền tảng và linh hồn cho sự hiệp thông và cho sứ mạng của mình: Bánh Thánh Thể làm cho những phần tử khác nhau của cộng đồng gia đình trở nên một thân thể duy nhất, một hình ảnh diễn tả và một sự tham dự vào Thân mình “bị phó nộp” và vào Máu “đã đổ ra” của Đức Kitô sẽ trở nên một nguồn mạch bất tận cho gia đình Kitô hữu đến múc lấy năng lực cho hoạt động thừa sai và tông đồ.[74]
 
Trình bày rõ nét về hình ảnh Giáo xứ là gia đình của Chúa… tất sẽ góp phần làm sâu sắc hơn các mối tương giao cần có của các tín hữu là con cái thảo hiếu đối với Thiên Chúa là Cha nhân từ trong các gia đình giáo xứ của Giáo hội Công giáo tại Việt Nam.
 
Và với một số hướng dẫn của Giáo hội
 
Thể theo sự an bài của Thiên Chúa là Cha nhân từ, nhờ công nghiệp Đức Giêsu Kitô, và trong sự hoạt động của Chúa Thánh thần, Giáo xứ là gia đình của Chúa… được thành lập, trở nên hiện thực hữu hình cách tuần tự, với công việc bổn phận của từng thành phần trong gia đình, qua các giai đoạn tiếp nối của lịch sử loài người. Đặt mình trên “Tảng Đá Giêsu Kitô”, gia đình của Chúa chắc chắn cũng cậy nhờ đến “viên đá Phêrô”, mà chính Chúa Giêsu Kitô đã đặt làm nền móng hữu hình của gia đình Giáo hội Người, để củng cố đức tin và sự hiệp nhất vững chắc của các thành viên trong gia đình đang sống giữa dòng lịch sử.
 
… từ nguyên thủy Giáo hội được tiên báo bằng hình bóng, được chuẩn bị kỳ diệu trong lịch sử dân Ítraen và trong Giao ước cũ được thành lập trong thời cuối cùng; và được biểu hiện lúc Chúa Thánh Thần ngự xuống, rồi đến ngày tận thế sẽ được hoàn tất trong vinh quang.[75]
 
Chính trong giáo xứ mà phần đông các tín hữu Công giáo biết rằng họ được thiết lập thành Giáo hội (hoặc một phần của Giáo hội) và đồng thời, họ kinh nghiệm được cách thế để tạo thành Giáo hội. Sự hợp tác giữa hàng giáo sĩ và giáo dân rất cần thiết để đạt được điều này. Sự hợp tác ấy đòi phải có sự tham khảo với các giáo dân để xác định những nhu cầu mục vụ và các ước nguyện của cộng đoàn. Phương cách rất thích hợp để đạt được mục tiêu này là thiết lập hội đồng mục vụ, trong đó mọi người đều có thể tham gia.[76]
 
Tất cả những ai được giao phó việc chăm sóc các linh hồn tất phải vâng phục lệnh Chúa là biết các chiên của mình (Ga 10,1-16), dâng lễ tế cho họ, nuôi dưỡng họ bằng việc rao giảng Lời Chúa, cử hành các bí tích và nêu gương sáng trong mọi việc, chăm sóc những người nghèo và tất cả những người bất hạnh bằng tình thương của một người cha, và phải tận tâm với các trách nhiệm khác của một vị mục tử.[77]
 
Thật ra, với tinh thần của Công đồng Vaticanô II, nhiều hình ảnh về Giáo hội đã được đặc biệt quan tâm, được đề cao rõ rệt: là bí tích…,[78] là hiền thê…,[79] là vườn nho…,[80] là “một cộng đồng Thánh Thể”,[81] là Nhiệm Thể Chúa Kitô,[82] là “‘gia đình của Thiên Chúa, một nhóm bừng cháy tinh thần hợp nhất’, ‘một mái nhà thân thương và niềm nở’, ‘một cộng đoàn tín hữu’.”[83]
 
Cách tổng quát, ý niệm giáo hội các cấp đều là gia đình của Chúa kể là minh nhiên trong những hướng dẫn của Giáo hội.[84] Cụ thể hơn, kiểu nói Giáo xứ là gia đình của Chúa… có nền tảng trong Thánh kinh và nằm trong giáo huấn thường xuyên của Giáo hội:
 
Vậy anh em không còn phải là người xa lạ hay người tạm trú, nhưng là người đồng hương với các người thuộc dân thánh, và là người nhà của Thiên Chúa, bởi đã được xây dựng trên nền móng là các Tông Đồ và ngôn sứ, còn đá tảng góc tường là chính Đức Kitô Giêsu. Trong Người, toàn thể công trình xây dựng ăn khớp với nhau và vươn lên thành ngôi đền thánh trong Chúa. Trong Người, cả anh em nữa, cũng được xây dựng cùng với những người khác thành ngôi nhà Thiên Chúa ngự, nhờ Thần Khí.[85]
 
Môsê đã trung thành khi thi hành chức vụ đối với toàn thể nhà Thiên Chúa, với tư cách là tôi tớ để làm chứng về các điều Thiên Chúa sẽ phán truyền. Còn Đức Kitô thì trung thành với tư cách là người Con đứng đầu nhà Thiên Chúa. Mà nhà Thiên Chúa là chính chúng ta, miễn là chúng ta giữ vững đến cùng lòng tin tưởng và thái độ hiên ngang về niềm hy vọng của chúng ta.[86]
 
Vì tất cả chúng ta đều là con cái Thiên Chúa và hợp thành một gia đình trong Chúa Kitô (x. Dt 3,6), nên khi hiệp thông với nhau trong tình yêu qua lời đồng thanh ca tụng Chúa Ba Ngôi chí thánh, chúng ta cùng đáp lại lời mời gọi thân tình của Giáo hội, và được tham dự, cảm mến trước phụng vụ vinh hiển toàn hảo.[87] Vì khi Chúa Kitô hiện đến và khi kẻ chết sống lại trong vinh quang, ánh sáng Thiên Chúa sẽ chiếu soi Thành Thánh trên trời và Con Chiên sẽ là đuốc sáng (x. Kh 21,23).[88]
 
Hợp thành một gia đình trong Chúa Kitô, “Con Chiên đã bị giết”[89] nhờ Thần Khí của Người, các thành viên trong gia đình của Chúa sẽ thờ lạy Thiên Chúa vì tất cả đều là con cái Thiên Chúa:
 
Toàn thể các thụ tạo sẽ thờ lạy Thiên Chúa và “Con Chiên đã bị giết” (Kh 5,12) trong hạnh phúc sung mãn của đức ái, và đồng thanh ca tụng rằng: “Ngợi khen, danh dự, vinh hiển, quyền năng muôn đời cho Ðấng ngự trên ngai và Con Chiên” (Kh 5,13-14).[90]
 
Xác tín rằng Giáo xứ là gia đình của Chúa… còn bởi lẽ chính Ðức Kitô:
 
… đã truyền lệnh cho các tông đồ đi rao giảng sứ điệp Phúc âm cho muôn dân để làm cho nhân loại trở thành gia đình của Thiên Chúa, trong đó, lề luật sung mãn sẽ là tình thương.[91]
 
Nhận lãnh lời Chúa mạc khải, các bí tích, tình huynh đệ của Chúa Con nhờ Thần Khí hoạt động trong gia đình Thiên Chúa là Cha, Giáo xứ là gia đình của Chúa… thấy rõ bản chất truyền giáo của mình và muốn chia sẻ kho báu ấy với muôn dân.
 
… mối thông hiệp cùng toàn thể Giáo hội kể như là hoàn tất, khi chính các giáo hội địa phương cũng tích cực tham gia vào hoạt động truyền giáo nơi các dân tộc khác.[92]
 
Để toàn thể các thụ tạo thờ lạy Thiên Chúa, đồng thanh ca tụng trong hạnh phúc sung mãn của đức ái, Tông huấn Kitô hữu giáo dân cũng đã viết về con cái Thiên Chúa tại các gia đình giáo xứ, là “gia đình của Thiên Chúa, một nhóm bừng cháy tinh thần hợp nhất”… như sau:
 
Cộng đồng Giáo hội, trong khi luôn có một chiều kích phổ quát, tìm được cách diễn tả rất gần gũi và tỏ hiện nơi giáo xứ. Đó là nơi người ta gặp được Giáo hội tại địa phương. Theo một ý nghĩa nào đó, thì đó chính là Giáo hội đang sống tại các gia đình của những người con nam và nữ của mình. Điều cần thiết là mọi người, dưới ánh sáng đức tin, hãy tái khám phá ý nghĩa đích thực của giáo xứ, nơi chính “mầu nhiệm” của Giáo hội hiện diện và hoạt động mặc dù có những lúc nhân sự và phương tiện thiếu thốn, và có những lúc bị tản mác tại các lãnh thổ rộng lớn hoặc hầu như không thấy tại những khu vực đông đúc và náo nhiệt của các thành phố hiện đại.[93]
 
Trên nguyên tắc giáo luật, giáo xứ là một cộng đoàn tín hữu được thiết lập cách bền vững trong giáo hội địa phương mà không thuần túy chỉ là một cơ cấu, một lãnh thổ hoặc một tòa nhà.[94] Gia đình giáo xứ là:
 
… “gia đình của Thiên Chúa, một nhóm bừng cháy tinh thần hợp nhất”, “một mái nhà thân thương và niềm nở”, “một cộng đoàn tín hữu”. Giáo xứ được thiết lập một cách rõ ràng và đơn giản trên một thực tại thần học bởi vì giáo xứ là một cộng đồng Thánh Thể. Điều ấy có nghĩa giáo xứ là một cộng đồng thích hợp để cử hành Thánh Thể, nguồn mạch sống động để xây dựng giáo xứ và là mối liên kết bí tích của sự hiệp thông trọn vẹn giữa giáo xứ với toàn thể Giáo hội.[95]
 
Khi suy luận về nguồn gốc, nền tảng và sứ mệnh của gia đình giáo hội địa phương, các thành phần dân Chúa trong gia đình giáo xứ cần ý thức rõ ràng rằng, những ai tin vào Chúa Kitô và sống theo lời Người thì được tham dự vào đời sống thần linh, đời sống của Thiên Chúa Ba Ngôi. Bởi ý định khôn ngoan của Thiên Chúa là Cha nhân lành, các thành phần trong gia đình giáo xứ được góp phần họp thành gia đình của chính Chúa, như “Con có cha như nhà có nóc, con không cha như nòng nọc đứt đuôi”.
 
Bởi ý định khôn ngoan nhân lành, hoàn toàn tự do và mầu nhiệm, Chúa Cha hằng hữu đã tạo dựng vũ trụ, Người quyết định nâng loài người lên tham dự đời sống thần linh” trong Chúa Con: “Chúa Cha muốn qui tụ những ai tin Chúa Kitô họp thành Hội thánh”.[96]
 
Thật vậy, dẫu biết rằng:
 
Một từ ngữ giáo hội đã được dùng để chỉ về cả bốn cấp trong thực tế: những cộng đoàn địa phương nhỏ nhất, những nhóm liên kết trong một thành phố, những nhóm liên kết trong các vùng rộng lớn và phong trào Kitô giáo lớn hơn nữa,[97]
 
thì giáo hội địa phương hay còn gọi cách quen thuộc hơn là giáo xứ, họ đạo… trong Giáo xứ là gia đình của Chúa… chính là một trong những đề tài quan trọng mà Giáo hội qua nhiều văn kiện của mình đã hết sức quan tâm, đề cao cách trực tiếp hoặc gián tiếp, cùng với những hướng dẫn giúp đem vào thực hành.
 
Vì thế, các thành phần dân Chúa, giáo sĩ, tu sĩ cũng như giáo dân, nhất là những người sống trong “nền văn hóa nể trọng” của người Việt Nam, nên suy gẫm đoạn Thánh kinh sau đây để biết cùng nhau làm việc trong mái ấm gia đình giáo hội địa phương, gia đình giáo xứ, để thực sự biết khiêm nhường phục vụ:
 
Với hàng niên trưởng nơi anh em, tôi, một kẻ đồng hàng niên trưởng, một nhân chứng về những sự thống khổ của Đức Kitô, và là kẻ đã được chung phần vinh quang hòng được mạc khải, tôi có lời khuyên này: Hãy chăn dắt đàn chiên của Thiên Chúa nơi anh em, hãy coi sóc không phải như thể miễn cưỡng, nhưng là sẵn lòng, thể theo ý Thiên Chúa, không hám trục lợi, nhưng nhiệt thành. Đừng như thể làm chúa trên phần cơ nghiệp đã lĩnh, nhưng là làm gương mẫu cho đàn chiên. Và khi Đấng chăn chiên tối cao tỏ hiện, anh em sẽ lĩnh triều thiên vinh quang bất diệt. Cũng vậy, những kẻ hậu sinh hãy biết suy phục hàng niên trưởng. Còn đối xử với nhau, hết thảy hãy mặc lấy sự khiêm nhượng, vì Thiên Chúa chống lại phường kiêu ngạo và ban ơn cho những kẻ khiêm nhượng.[98]
 
Hơn hẳn những người quản lý các công ty, xí nghiệp với việc hoạch định, tổ chức, kiểm tra của doanh nghiệp, các giáo sĩ phải thực hiện thật tốt vai trò hết sức quan trọng của cương vị mình là: giúp hiệp nhất các thành viên trong gia đình bằng việc chăm sóc các linh hồn (cura aminarum). Thật vậy, các thành viên trong gia đình Giáo hội nói chung, các giáo hội địa phương, các giáo xứ cần liên kết với nhau theo mô hình liên kết của các chi thể trong Thân Mình mầu nhiệm của Chúa Kitô.[99] Ðức Piô XII viết:
 
Ðể định nghĩa, để mô tả khuôn mặt thật của Giáo hội Chúa Kitô, ta không thể tìm thấy thành ngữ nào hay hơn, hoàn hảo hơn, và hoà hợp với khía cạnh thần linh hơn là thành ngữ “Nhiệm Thể của Ðức Kitô”.[100]
 
Bởi lẽ,
 
Khi ta nâng chén chúc tụng mà cảm tạ Thiên Chúa, há là chẳng phải dự phần vào Máu Đức Kitô sao? Và khi ta cùng bẻ Bánh Thánh, đó chẳng phải là dự phần vào Thân Thể Người sao?[101]
 
Và vì thế, cùng với sức mạnh của Thánh Thần, sự dấn thân trong cương vị lãnh đạo, năng lực cũng như kỹ năng điều hành của các Kitô hữu lãnh đạo, giáo sĩ cũng như giáo dân, được coi là bổn phận hơn là quyền lợi, là sự phục vụ hơn là quản lý, quản trị (more as their ministry than as administration).
 
Cũng như Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người.[102]
 
… giữa anh em thì không được như vậy: ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em.[103]
 
Ai phục vụ Thầy, thì hãy theo Thầy; và Thầy ở đâu, kẻ phục vụ Thầy cũng sẽ ở đó. Ai phục vụ Thầy, Cha của Thầy sẽ quý trọng người ấy.[104]
 
Anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần khi Người ngự xuống trên anh em. Bấy giờ anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giêrusalem, trong khắp các miền Giuđêa, và cho đến tận cùng trái đất.[105]
 
Theo đó, các thành viên khác trong gia đình của Chúa được quyền lãnh nhận từ các Kitô hữu lãnh đạo những thiện ích tinh thần của Giáo hội, sự hướng dẫn của lời Chúa với ân sủng của bí tích. Như thế, mọi Kitô hữu đều có thể và cần được chuẩn bị cách thích ứng, đều được mời gọi cách tha thiết để sống dồi dào tinh thần đời sống Giáo xứ là gia đình của Chúa…, để cùng nhau tham gia tích cực vào công việc bổn phận hằng ngày là phụng sự Thiên Chúa và phục vụ anh chị em đồng loại.[106]
 
Thiên Chúa là Đấng trung thành, Người đã kêu gọi anh em đến hiệp thông với Con của Người là Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.[107]
 
Từ những hướng dẫn nêu trên của Giáo hội, Giáo xứ là gia đình của Chúa… muốn góp lời nhận định rằng một cơ cấu lãnh đạo nào trong Giáo hội, nếu muốn thích đáng, thì đều vừa phải có tính cách quy mục tử (pastor-centered),[108] vừa phải mang tính hợp tác tham gia (participative).[109] Mô hình tham gia quy mục tử (the participative pastor-centered model) là mô hình sống trong gia đình của Chúa.
 
Mô hình tham gia quy mục tử mang tính quy mục tử vì vị mục tử hoạt động như vị đại diện Chúa Kitô khi thực hiện các trách vụ chính yếu như dạy dỗ, rao giảng, thánh hóa và điều hành. Vị mục tử hoàn toàn không phải là một quản trị viên hoặc nhà lãnh đạo một cơ quan trần thế. Mô hình tham gia quy mục tử mang tính hợp tác vì tất cả các tín hữu đều có những vị trí phù hợp trong các hoạt động thuộc gia đình của Chúa, cùng chung một mục đích để đạt đến và có phẩm giá đặc biệt hoàn toàn xứng đáng được đối xử bình đẳng trước mặt Thiên Chúa. Tất cả giáo sĩ, tu sĩ cũng như giáo dân, đều là “đồng nghiệp trong vườn nho” (co-workers in the vineyard) nước Thiên Chúa, trong gia đình của Chúa.[110]
 
Trong mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi
 
Với những nỗ lực xây dựng mô hình tham gia quy mục tử của các thành phần dân Chúa, giáo sĩ, tu sĩ cũng như giáo dân, Giáo xứ là gia đình của Chúa… kín múc sức mạnh và làm sáng tỏ hình ảnh của mình từ chính mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi. Là một “bí tích cứu độ phổ quát”,[111] sứ vụ của Giáo hội nói chung, giáo xứ nói riêng phải tùy thuộc vào, phải là thành phần trong công trình của Chúa Kitô và Chúa Thánh Thần bởi hoạt động của Giáo hội hay giáo xứ nhất thiết phải nằm trong chương trình quan phòng của Thiên Chúa Cha.[112] Bằng từ ngữ khác, đó chính là công trình tạo dựng liên tục (creatio continua) của Thiên Chúa Ba Ngôi.[113]
 
Là nguồn cội của mọi sự, Thiên Chúa Ba Ngôi hẳn cũng là căn rễ của Giáo xứ là gia đình của Chúa…. Mạc khải còn cho thấy rõ chỗ đứng độc đáo của Giáo hội trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa Ba Ngôi. Thật vậy, Giáo hội phát sinh từ mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, tức là từ sáng kiến của Chúa Cha, từ sự khôn ngoan của Chúa Con, và từ tình yêu của Chúa Thánh Thần. Thần học về mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi có tầm quan trọng rõ rệt trong việc giảng dạy về sự hiệp thông, và về những thực hành mục vụ trong Giáo hội các cấp, để góp phần phản ánh sự hiện hữu của Ba Ngôi Thiên Chúa trên thế gian.
 
… thể chế nhân loại được mời gọi trong Chúa Kitô và Chúa Thánh Thần để suy tư hay gợi nhớ lại trên thế gian việc Thiên Chúa là mối hiệp thông đời đời. Vì vậy, Giáo hội được mời gọi để trở nên hình ảnh của mối liên hệ các ngôi vị, qua mối tương quan đối với Thiên Chúa, và do đó Giáo hội có khả năng phản ánh một chút gì về sự hiện hữu của Thiên Chúa trên thế gian.[114]
 
Dẫu chỉ là một đơn vị nhỏ bé của Giáo hội, giáo xứ vẫn luôn có thể là nơi kế hoạch của Thiên Chúa diễn tiến, nơi hội tụ sứ mạng của Chúa Con và của Chúa Thánh Thần. Giáo xứ là gia đình của Chúa… học bài học hiệp nhất từ Thiên Chúa Ba Ngôi với mối tương quan vĩnh cửu của chính Ba Ngôi Thiên Chúa. Tương quan này phải là nền tảng sự hiệp thông của nhân loại, của Giáo hội, các giáo phận, các giáo xứ.
 
Như các Ngôi hiệp nhất với nhau trong tình yêu, Giáo hội hiệp thông trong sự thông hiệp của gia đình Thiên Chúa phải là một Giáo hội của sự hiệp nhất và hiệp thông với nhau trong tình yêu Thiên Chúa Ba Ngôi, trong sự bình đẳng của con cái Thiên Chúa, trong tình bằng hữu nhân loại, trong sự quảng đại về thời gian và không gian dành cho nhau, và cho sự diễn đạt của mỗi cá nhân hay từng nhóm đối với nhau. Những nỗ lực hiệp nhất và hiệp thông ấy trong mô hình tham gia quy mục tử, nhờ được nhận biết bởi các mối tương quan, đến phiên mình, sẽ góp phần xây dựng Giáo xứ là gia đình của Chúa….[115]
 
… trở nên “Ba Ngôi” là trở nên một thế giới trong đó con người được nhận biết bởi các mối tương quan xã hội thay vì bởi quyền hành hay các sở hữu của họ, một thế giới trong đó con người xem mọi sự như là của chung và chia sẻ mọi sự, ngoại trừ đặc tính cá nhân của họ.[116]
 
Như gia đình là cơ yếu, là tế bào căn bản của xã hội, Giáo xứ là gia đình của Chúa… cũng là tế bào căn bản của Thân Thể mầu nhiệm của Đức Kitô, là nơi cư ngụ của Thiên Chúa Ba Ngôi, là “nhà của Chúa”. Giáo hội (giáo xứ)… phải là nơi chứa đựng tinh thần hiệp nhất với truyền thống xem mọi sự là của chung, sẵn sàng vì Chúa mà chia sẻ mọi sự. Là kết quả phát xuất từ sự hiệp nhất của chính Thiên Chúa, sự hiệp nhất của Giáo hội đòi mọi thành viên gia đình Giáo hội phải biết suy gẫm về chính mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, và dâng lên Ba Ngôi lễ vật cao quý là sự hiệp nhất trong an hòa và huynh đệ.
 
Lễ vật cao quý nhất (mà chúng ta có thể dâng lên) Thiên Chúa, là niềm an hòa và tình đoàn kết huynh đệ của chúng ta, tức là của một dân tộc kết hiệp trong và bởi mối hiệp nhất của Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.[117]
 
Chúng tôi tin vào Giáo hội của Thiên Chúa, một Giáo hội duy nhất, thánh thiện, Công giáo và tông truyền, trong đó chúng tôi được dạy dỗ. Chính ở đây chúng tôi được biết Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, và chúng tôi được rửa tội nhân danh Cha và Con và Thánh Thần.[118]
 
Ðời sống siêu nhiên trong Giáo xứ là gia đình của Chúa… đương nhiên cũng hệ tại sự tham dự của các thành phần gia đình của Chúa vào chính bản tính của Chúa Ba Ngôi,[119] nhờ Ngôi Cha, và Ngôi Con,[120] và Ngôi Thánh Thần:[121]
 
Lạy Cha, Con muốn rằng Con ở đâu, thì những người Cha đã ban cho Con cũng ở đó với Con, để họ chiêm ngưỡng vinh quang của Con, vinh quang mà Cha đã ban cho Con, vì Cha đã yêu thương Con trước khi thế gian được tạo thành. Lạy Cha là Đấng công chính, thế gian đã không biết Cha, nhưng Con, Con đã biết Cha, và những người này đã biết là chính Cha đã sai Con. Con đã cho họ biết danh Cha, và sẽ còn cho họ biết nữa, để tình Cha đã yêu thương Con, ở trong họ, và Con cũng ở trong họ nữa.[122]
 
Thánh Phaolô còn nói đến phải ăn ở thế nào trong nhà của Thiên Chúa. Giáo xứ là gia đình của Chúa… là hình ảnh rất thích hợp để diễn tả các mối tương giao và sinh hoạt tại các giáo hội địa phương, các giáo xứ theo mẫu gương hiệp nhất của Ba Ngôi Thiên Chúa.
 
Tôi viết cho anh thư này, dù vẫn hy vọng sớm đến với anh. Nhưng nếu tôi chậm trễ, thì thư này sẽ cho anh biết phải ăn ở thế nào trong nhà của Thiên Chúa, tức là Hội thánh của Thiên Chúa hằng sống, cột trụ và điểm tựa của chân lý. Phải công nhận rằng: mầu nhiệm của đạo thánh thật là cao cả, đó là: Đức Kitô xuất hiện trong thân phận người phàm, được Chúa Thánh Thần chứng thực là công chính; Người được các thiên thần chiêm ngưỡng, và được loan truyền giữa muôn dân; Người được cả hoàn cầu tin kính, được siêu thăng cõi trời vinh hiển.[123]
 
Hiến chế tín lý về Giáo hội trình bày Giáo xứ là gia đình của Chúa… tuyên bố rằng bản chất nội tại của Giáo hội, các giáo hội địa phương, giáo xứ biểu hiệu bằng nhiều hình ảnh “… nhờ Chúa Kitô, trong Thánh Thần, dẫn đưa cộng đoàn ấy về với Thiên Chúa Cha”. Theo đó, Giáo hội còn là nơi các linh mục thi hành:
 
… nhiệm vụ của Chúa Kitô, chủ chăn và thủ lãnh, tụ họp gia đình Thiên Chúa là cộng đoàn huynh đệ có cùng một tâm hồn, và nhờ Chúa Kitô, trong Thánh Thần, dẫn đưa cộng đoàn ấy về với Thiên Chúa Cha.[124]
 
Cũng theo đó, Giáo xứ là gia đình của Chúa… là nơi vẫn thường diễn ra mối liên lạc giữa các tín hữu “lữ hành” và các thánh trên trời, hiểu theo ánh sáng trọn vẹn của đức tin, đồng thời làm cho phong phú hơn sự tôn thờ mà Giáo xứ là gia đình của Chúa… dành riêng cho Thiên Chúa Cha nhờ Chúa Kitô trong Chúa Thánh Thần.
 
Vi tất cả chúng ta đều là con cái Thiên Chúa và họp thành một gia đình trong Chúa Kitô (x. Dt 3,6), nên khi hiệp thông với nhau trong tình yêu qua lời đồng thanh ca tụng Chúa Ba Ngôi chí thánh, chúng ta cùng đáp lại lời mời gọi thân tình của Giáo hội và được tham dự, cảm mến trước phụng vụ vinh hiển toàn hảo.[125]
 
Hiến chế mục vụ về Giáo hội trong thế giới ngày nay cũng đề cập đến Giáo xứ là gia đình của Chúa… ở nhiều nơi. Chúa Giêsu Kitô được mô tả là Ðấng đã muốn chia sẻ và thánh hóa những mối liên hệ của con người, nhất là những liên hệ thuộc về gia đình là nguồn gốc phát sinh những liên hệ xã hội. Thật vậy, Đức Giêsu Kitô đã truyền dạy rõ ràng rằng phải cư xử với nhau như anh em trong sự sung mãn của đức ái Kitô giáo để nhân loại trở nên gia đình của Thiên Chúa. Ðó cũng chính là đặc tính gia đình, đặc tính cộng đoàn của thiên chức con người được tiền định nơi Đức Kitô (filii in Filio) trong mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi.
 
Lấy tình Cha săn sóc mọi người, Thiên Chúa đã muốn rằng tất cả mọi người phải làm thành một gia đình và đối xử với nhau bằng tình huynh đệ. Bởi vì mọi người được tạo dựng giống hình ảnh của Thiên Chúa là Ðấng đã “cho tất cả nhân loại do một nguyên tổ cư ngụ trên khắp mặt đất” (Cv 17,26), nên họ đều được gọi tới cùng một cứu cánh duy nhất là chính Thiên Chúa.[126]
 
Chính trong mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi mà Giáo hội—với các giáo hội địa phương của mình—học hỏi và thực hành mối tương quan giữa Giáo hội và thế giới.
 
Phát sinh từ tình yêu Chúa Cha muôn đời,[127] do Chúa Kitô là Ðấng Cứu Ðộ thiết lập trong thời gian, được qui tụ trong Chúa Thánh Thần,[128] Giáo hội có mục đích cứu rỗi và cánh chung. Mục đích này chỉ có thể thành tựu trọn vẹn trong thời kỳ sẽ đến. Nhưng giờ đây Giáo hội đã hiện diện trên trái đất này rồi, được qui tụ gồm những con người là phần tử của xã hội trần gian; họ được kêu gọi để hợp thành gia đình các con cái Thiên Chúa ngay trong lịch sử nhân loại, ngõ hầu tăng trưởng luôn mãi cho tới khi Chúa đến.[129]
 
Những canh tân cải tổ cần được thực hiện để tiếp tục kêu gọi các con cái Thiên Chúa quy tụ thành gia đình của Chúa ngay trong lịch sử nhân loại để Giáo hội (giáo xứ) thực sự… là gia đình của Chúa. Thật vậy, trong mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, Giáo hội phải là trung tâm hiệp thông nhân loại, là bí tích tạo nên sự hiệp thông, hiệp nhất trong một gia đình duy nhất, gia đình hiệp thông của Chúa trên trần gian.
 
Hiệp nhất để nhằm đạt những của cải thiêng liêng, trở nên giàu có vì những của cải ấy, gia đình này “như một xã hội được thiết lập qui củ trên trần gian”,[130] được trang bị “các phương thế thích hợp để kết hiệp thành một xã hội hữu hình”.[131] Như thế, là “một đoàn thể hữu hình và là cộng đoàn thiêng liêng”,[132] Giáo hội đồng tiến với toàn thể nhân loại và cùng chia sẻ một số phận trần thế với thế giới; Giáo hội như men và hồn của xã hội loài người,[133] sẽ được đổi mới trong Chúa Kitô và biến thành gia đình của Thiên Chúa.[134]
 
Đồng tiến với nhân loại và không còn tự coi mình như một thể chế, một xã hội hoàn hảo giữa lòng thế giới, nhưng chia sẻ số phận trần thế với thế giới, Giáo xứ là gia đình của Chúa… ngày nay ý thức rất rõ ràng là mình có bổn phận phải kiến tạo sự hiệp thông trong xã hội, phản ánh mầu nhiệm đời sống Thiên Chúa Ba Ngôi, nguồn mạch và nguyên ủy mọi sự thánh thiện.
 
Trong Chúa Kitô, Giáo hội là men là muối cho đời để đổi mới cuộc đời và được đổi mới nhờ Người, để thực sự trở thành gia đình của Thiên Chúa Ba Ngôi.[135] Như thế, các thành phần thuộc gia đình của Ba Ngôi Thiên Chúa sẽ đem sứ điệp Phúc âm soi chiếu cho trần gian, quy tụ anh chị em khắp nơi trong Chúa Thánh Thần, xây dựng tình huynh đệ Kitô giáo, cổ võ cuộc đối thoại thẳng thắn và chân thành. Quả vậy,
 
Với sứ mệnh đem sứ điệp Phúc âm soi chiếu cả thế giới và quy tụ trong một Chúa Thánh Thần tất cả mọi người của mọi quốc gia, chủng tộc hay văn hóa, Giáo hội trở thành dấu chứng của tình huynh đệ, một mối tình tạo điều kiện và cổ võ một cuộc đối thoại chân thành. Vậy trước hết, chúng ta cần cổ võ ngay trong lòng Giáo hội sự quí mến, tôn trọng và hòa thuận với nhau bằng sự chấp nhận mọi dị biệt chính đáng để luôn luôn có thể đối thoại hữu hiệu giữa những phần tử của một dân Chúa duy nhất, dù là chủ chăn hay các Kitô hữu khác. Thật vậy, những gì liên kết giữa các tín hữu còn mạnh hơn những gì chia rẽ: hiệp nhất trong những gì chính yếu, tự do trong những gì nghi ngờ, bác ái trong hết mọi sự.[136]
 
Thế nên, mô phỏng theo cách tương quan của gia đình Ba Ngôi Thiên Chúa cũng có nghĩa là gia đình giáo xứ phải sống theo chính mô hình hiệp thông của gia đình Chúa Ba Ngôi, rất nên tham khảo mô hình tham gia quy mục tử,[137] cần tạo bầu khí đối thoại hữu hiệu, trợ lực nhiệt tâm, hiệp thông tích cực và hợp tác lành mạnh: “thống nhất trong điều chính, tương nhượng trong điều phụ, bác ái trong mọi sự”.[138]
 
Giáo xứ là gia đình của Chúa… sẽ sống sao cho ra gia đình của Chúa, sống sao cho hài hòa, sống sao cho bao dung, sống sao cho ân cần phục vụ theo tinh thần Tin mừng: “Một nhà vui sống chữ hòa, một đời vui sống chẳng qua chữ cần”. Sắc lệnh về hiệp nhất bàn đến tình huynh đệ của gia đình Thiên Chúa như sau:
 
Nhờ các tông đồ và những người kế vị các ngài, là các giám mục cùng đấng thủ lãnh kế vị Thánh Phêrô, trung thành rao giảng Phúc âm và ban phát các bí tích, lại nhờ sự điều khiển yêu thương dưới tác động của Thánh Thần, Chúa Kitô muốn dân Người lớn lên và hoàn thành sự thông hiệp trong hiệp nhất, nghĩa là: cùng tuyên xưng một đức tin, cùng cử hành một nghi lễ phụng tự, cùng hòa hợp trong tình huynh đệ của gia đình Thiên Chúa.[139]
 
Giáo xứ là gia đình của Chúa… không chỉ có bổn phận cử hành ban phát các bí tích và nhờ tác động của Chúa Thánh Thần mà trung thành rao giảng Phúc âm; Sắc lệnh về hoạt động truyền giáo của Giáo hội còn khẳng định rõ ràng việc Giáo hội được coi như “bí tích cứu độ phổ quát” nêu ra bổn phận vì sứ vụ, vì những đòi hỏi căn bản của Công giáo tính và vì mệnh lệnh của Đấng Sáng Lập, phải loan báo Phúc âm cho hết mọi người. Thế cũng có nghĩa là, trong mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, các hoạt động của gia đình giáo hội địa phương, giáo xứ, họ đạo… phải nên như mái nhà, nơi an cư, mái ấm thuộc gia đình của Chúa để sẵn sàng chuyển tiếp ơn cứu độ của Chúa cho tất cả các thành viên gia đình nhân loại, để Tin mừng được công bố cho muôn dân.
 
Được Thiên Chúa sai đến muôn dân để nên “bí tích cứu độ phổ quát,[140] Giáo hội, vì những đòi hỏi căn bản của Công giáo tính và vì mệnh lệnh của Đấng Sáng Lập,[141] nhất quyết loan báo Phúc âm cho hết mọi người. Thực vậy, chính các tông đồ, nền tảng Giáo hội, đã theo chân Chúa Kitô, “rao giảng lời chân lý và khai sinh các giáo đoàn”.[142] Do đó, những người kế vị các Tông đồ có nhiệm vụ tiếp tục công việc này, để “lời Chúa được lan tràn và sáng tỏ” (2 Th 3,1), nước Chúa được công bố và thiết lập khắp trần gian”.[143]
 
Và dường như, trong sự quan phòng của Thiên Chúa Ba Ngôi, để nước của Người được thiết lập khắp trần gian, các văn kiện Công đồng Vaticanô II, nhất là Hiến chế tín lý về Giáo hội, đã góp phần làm sáng tỏ di sản của Thánh kinh và Thánh truyền trong nhận định Giáo xứ là gia đình của Chúa… với sự tham gia tích cực của mọi thành phần trong gia đình, cả giáo sĩ, tu sĩ lẫn giáo dân.
 
Giáo xứ là gia đình của Chúa… có sứ mệnh làm thuốc chữa lành những gì tội ác làm cho hư hỏng đi. Thần Khí Chúa dùng gia đình của Chúa làm công cụ khiến cho xã hội thấm nhuần sự sống Thiên Chúa Ba Ngôi, hầu nhờ đó mọi sự sẽ được thật sự đổi mới. Vì thế, những suy tư về mầu nhiệm gia đình của Chúa không được là một mớ những lý luận trừu tượng mông lung, nhưng phải dẫn đến những việc làm cụ thể.
 
Vì là chi thể của Nhiệm Thể Ðức Kitô, Giáo xứ là gia đình của Chúa… ý thức rằng Giáo hội là nơi mình tin, mình sống, mình hy vọng; là nơi mình đón nhận Thần Khí, lãnh nhận ơn gọi và sứ mạng trong nỗ lực đào sâu về mầu nhiệm sống động, thần bí, siêu nhiên của Nhiệm Thể Chúa Kitô để sống tích cực, để các thành phần trong gia đình Giáo hội, giáo phận, giáo xứ… thực sự là gia đình của Chúa.
 
Để các thành phần trong gia đình giáo xứ…
 
Chỉ duy có giám mục giáo phận có quyền thành lập, giải tán hoặc thay đổi các giáo xứ; tuy nhiên ngài không nên thành lập, giải tán hoặc thay đổi một cách đáng kể các giáo xứ mà không tham khảo ý kiến hội đồng linh mục.[144]
 
Chức giám mục là một chức thánh trọn vẹn.[145] Theo đó, giám mục giáo phận mới chính là người sinh ra gia đình giáo xứ trong gia đình giáo phận cách chính thức, thành lập gia đình giáo xứ cách chính thức (dẫu rằng có thể, và thường là thế, “giáo xứ” đã được hình thành trước đó như một cộng đoàn).
 
Tuy là người tác sinh ra gia đình giáo xứ trong gia đình giáo phận của mình, giám mục giáo phận không thể chăm sóc từng giáo xứ một trong giáo phận, nên ngài ủy thác cho những cộng sự viên của mình là các linh mục, cách đặc biệt các linh mục chính xứ trong cương vị chủ chăn riêng (proper pastors) để các gia đình giáo xứ chu toàn sứ mạng Chúa Giêsu giao phó, để Giáo hội (giáo xứ) đích thực là gia đình của Chúa.[146] Cần hiểu rằng linh mục cũng là thành viên của gia đình ấy. Thật vậy,
 
Giáo xứ là một cộng đoàn tín hữu được thiết lập cách bền vững ở trong giáo hội địa phương, và việc săn sóc mục vụ được ủy thác cho linh mục chính xứ làm chủ chăn riêng, dưới quyền của giám mục giáo phận.[147]
 
Dưới quyền của giám mục giáo phận, linh mục là những cộng sự viên của hàng giám mục, đặc biệt là giám mục giáo phận của mình. Nhờ sự liên kết với giám mục của mình, các linh mục được tham dự vào quyền bính mà chính Chúa Kitô đã trao cho các tông đồ, các giám mục để kiến tạo, thánh hóa và cai quản Thân Thể Người là các giáo xứ, gia đình của Chúa.
 
Vì vậy, chức linh mục của các ngài tuy dựa trên những bí tích khai sinh đời sống Kitô giáo, nhưng lại được một bí tích riêng in dấu đặc biệt khi các ngài được Chúa Thánh Thần xức dầu: như thế các ngài nên giống Chúa Kitô linh mục, đến nỗi có quyền thay mặt Chúa Kitô là Ðầu mà hành động.[148]
 
Với sự ủy thác của giám mục giáo phận, tương quan giữa linh mục và các thành viên khác thuộc gia đình giáo xứ bắt đầu từ, và có nền tảng thần học trong con người Chúa Giêsu Kitô. Các mục tử có bổn phận chăm sóc đàn chiên, lo lắng, xây dựng cho gia đình cộng đoàn, chữa lành và giúp các thành viên tích cực sinh hoạt với cộng đoàn, chăm lo cho cộng đoàn… để xây dựng Giáo xứ là gia đình của Chúa…, là Thân Thể của Chúa Kitô là Đầu.[149]
 
Thêm vào đó, vì giáo hội địa phương phải được hiểu là một thành phần căn bản của toàn thể dân Chúa, khái niệm Giáo hội, giáo hội địa phương, giáo xứ là gia đình của Chúa cũng đã xuất hiện nhiều trong các văn kiện của các thượng hội đồng giám mục.
 
Chính vì Giáo hội là gia đình Thiên Chúa mà Chúa Cha đã có sáng kiến tạo dựng nên Ađam. Chính vì Giáo hội như gia đình của Thiên Chúa mà Chúa Kitô, Ađam mới và người thừa kế cho mọi dân tộc, đã xây dựng Giáo hội bằng quà tặng của chính mình và máu Người. Chính Giáo hội như gia đình của Thiên Chúa đã bày tỏ ra cho thế giới biết Thánh Thần mà Chúa Con gửi đến từ Chúa Cha là để cho có mối hiệp thông giữa tất cả mọi người.[150]
 
Chính sự nâng đỡ, đùm bọc nhau cách chân thành mới diễn tả được mối tương quan đích thực giữa những người là anh chị em trong một gia đình, anh chị em chí cốt với nhau: “Anh em như chân với tay, rách lành đùm bọc, dở hay đỡ đần”. Chính vì Giáo xứ là gia đình của Chúa… mà sự chia sẻ di sản cứu độ vô tận của Chúa Giêsu Kitô với những thành viên trong nhà và “ngoài” nhà, là chuyện tất yếu phải thực hiện để gia đình của Chúa được ngày càng phát triển. Theo đó, các thành viên gia đình của Chúa luôn đồng hành với tất cả mọi người.
 
Trong sự trung thành với Thiên Chúa, Giáo hội Á châu tìm cách đồng hành với tất cả mọi người anh chị em Á châu, hiệp nhất qua việc chia sẻ cuộc sống và nền văn hóa chung, qua định mệnh được nối kết vào nhau, qua những tài nguyên phong phú về tôn giáo và thiêng liêng mà Giáo hội muốn thu nhập, và Giáo hội cũng muốn chia sẻ di sản cứu độ vô tận của Chúa Giêsu Kitô với tất cả mọi người.[151]
 
Chia sẻ, đồng hành, hiệp thông, hiệp nhất… là những từ ngữ thường được nhắc đến và cần được nhắc đến cách riêng, để việc chia sẻ ơn cứu độ Chúa Giêsu Kitô thiết lập trở nên di sản cho muôn dân, của muôn dân, với muôn dân… và thực sự làm cho gia đình của Chúa ngày càng phát triển. Việc đồng hành của các giáo hội địa phương, các giáo xứ… với tất cả mọi người cũng giúp định hướng những suy tư thần học về Giáo hội, những hoạt động mục vụ trong sứ mạng truyền giáo.[152] Bởi khi nói đến Giáo xứ là gia đình của Chúa…, cần khẳng định rằng giáo xứ thật sự là một thực thể sống động, một cộng đồng cầu nguyện, cộng đồng phụng tự, cộng đồng phục vụ… với các hoạt động tông đồ, là một phần thực tại của Giáo hội phổ quát. Giáo xứ là gia đình của Chúa… cũng được nhận ra qua chính những sinh hoạt cụ thể hằng ngày đó trong đời sống đức tin, đức cậy, đức mến của gia đình giáo xứ.[153]
 
Thật vậy, giáo xứ, một giáo hội địa phương, phải là một cộng đồng cầu nguyện, chia sẻ di sản cứu độ vô tận của Chúa Giêsu Kitô với muôn dân qua đời sống phục vụ, tương trợ và hoạt động tông đồ. Giáo xứ là một cộng đồng phụng vụ, chăm sóc và truyền giáo. Nhờ các hoạt động phụng vụ, giáo xứ có thể góp phần quang tỏa “sự hợp nhất của dân Thiên Chúa như một sự hiệp thông có tổ chức”[154] trong gia đình của Chúa và là gia đình của Chúa.
 
… là gia đình của Chúa
 
Hội Thánh tại Việt Nam còn phải canh tân chính mình qua nỗ lực xây dựng Hội Thánh như một gia đình, trong đó mọi người hiệp thông với nhau như anh chị em một nhà, bình đẳng với nhau trên nền tảng ơn gọi làm người và làm con Chúa, chia sẻ cùng một sứ mạng và trách nhiệm dù được thể hiện trong những bậc sống và nhiệm vụ khác nhau.[155]
 
Đức Giám mục Simon Hòa Nguyễn Văn Hiền cũng đã từng phát biểu trong một phiên họp của Công đồng Vaticanô II như sau:
 
Quan niệm Giáo hội là gia đình của Thiên Chúa rất gần gũi với con người. Cách trình bày mầu nhiệm Giáo hội bằng những từ ngữ về gia đình rất quen thuộc và dễ hiểu đối với mọi người…. Trình bày Giáo hội như gia đình của Thiên Chúa giúp các Kitô hữu trở về với Tin mừng, trở về với cách giảng dạy đơn sơ của Ðức Giêsu (Ðức Giêsu dùng rất nhiều hình ảnh về gia đình); nhờ đó dễ hiểu và thấm nhuần Tin mừng hơn.[156]
 
Yves Congar, nhà thần học danh tiếng của Công đồng Vaticanô II, cũng đưa hình ảnh gia đình vào thần học giáo hội địa phương và làm thăng hoa ý nghĩa về hình ảnh gia đình đã có trước đó.[157] Các đại biểu Đại hội Dân Chúa Việt Nam 2010 cảm thấy thật ấn tượng khi nghe những từ ngữ thân thương đó được nhắc đến cách trang trọng trong chính Sứ điệp của Đại Hội Dân Chúa Việt Nam 2010: “Hội thánh như một gia đình”.
 
Dẫu biết rằng hai từ gia đình ngày nay có nhiều biến tướng hơn xưa, hình ảnh gia đình có bị xói mòn hơn xưa: nhiều gia đình bị lung lay, đổ vỡ hơn xưa, nhiều gia đình lâm vào cảnh cha mẹ ly thân, ly dị làm con cái đau khổ hơn xưa, nhiều người coi gia đình chỉ là trò chơi “không hơn không kém” hơn xưa… thì việc sánh ví “Hội thánh như một gia đình” vẫn còn đó những giá trị: những hình ảnh rất tốt đẹp của một gia đình hạnh phúc và những ý nghĩa rất tuyệt vời của cụm từ gia đình trong chính thời đại tân tiến hiện nay. Bởi lẽ, để xây dựng “Hội thánh như một gia đình”, các thành viên gia đình của Chúa cần ý thức rõ ràng về các mối tương giao thế nào là nền tảng, các mối hiệp thông thế nào là căn bản đối với nhau trong gia đình Hội thánh Chúa. Theo đó cách đương nhiên, cần tôn trọng đúng mức sự bình đẳng:
 
… với nhau trên nền tảng ơn gọi làm người và làm con Chúa, chia sẻ cùng một sứ mạng và trách nhiệm dù được thể hiện trong những bậc sống và nhiệm vụ khác nhau.[158]
 
Thật vậy, khi so sánh giáo xứ như một gia đình của Chúa, trong đó “mọi người hiệp thông với nhau như anh chị em một nhà” có Chúa là Cha, thì gia đình giáo xứ đích thực là nền tảng của giáo phận, mọi thành viên trong giáo xứ được sinh ra và lớn lên thành người, thành con Chúa ngay trong gia đình giáo xứ này.[159]
 
Thật vậy, khi so sánh giáo phận như một gia đình của Chúa, trong đó “mọi người hiệp thông với nhau như anh chị em một nhà” có Chúa là Cha, thì gia đình giáo phận đích thực là nền tảng của gia đình giáo tỉnh, mọi thành viên trong giáo phận được nuôi dưỡng bổ sung để hòa nhập vào một môi trường rộng lớn hơn, đầy đủ hơn cho đời sống của con người được phát triển trọn vẹn, và cuộc sống rộng lớn hơn đó đối với người Kitô hữu là chính giáo phận của mình, và còn sẵn sàng mở ra cho những khả năng xây dựng và phục vụ đa dạng hơn của gia đình giáo tỉnh.[160]
 
Và thật vậy, khi so sánh giáo tỉnh như một gia đình của Chúa, trong đó “mọi người hiệp thông với nhau như anh chị em một nhà” có Chúa là Cha, thì gia đình giáo tỉnh cũng đích thực là nền tảng gia đình của giáo hội một vùng miền hay gia đình giáo hội của một quốc gia, hay gia đình Giáo hội phổ quát. Nghĩa là, dựa theo kiểu nói của Karl Rahner, gia đình Giáo hội các cấp (tỉnh, miền, quốc gia, phổ quát) thật sự trở nên bí tích cứu độ toàn thế giới (sacrament of the world’s salvation), nhờ sự thông hiệp với nhau như anh chị em một nhà, với sự đồng hành của các giáo sĩ, tu sĩ trong cuộc sống và qua tác vụ truyền giáo.[161]
 
… nhân loại ngày càng hiệp nhất trong đời sống dân sự, kinh tế và xã hội, nên, cùng quan tâm và hiệp lực dưới sự hướng dẫn của các giám mục và giáo hoàng, các linh mục càng phải ra sức loại trừ mọi mầm mống chia rẽ, để toàn thể nhân loại được đưa dẫn về với hiệp nhất trong gia đình Thiên Chúa.[162]
 
Hơn nữa, lối trình bày “Hội thánh như một gia đình” còn lấy mẫu gương hoàn hảo nơi thánh gia thất. Chúa Giêsu, Mẹ Maria và Thánh cả Giuse trong thánh gia là một gia đình hạnh phúc “trên cả tuyệt vời”. Sự hiệp thông của ba đấng thánh làm sáng tỏ chân lý: Nơi đâu có Chúa hiện diện, nơi đó có tình thương và là Thiên Đàng. Sự hiệp thông của ba đấng thánh làm hiển hiện sự hiệp thông của Ba Ngôi Thiên Chúa, nền tảng của sự hiệp thông trong Giáo hội của Chúa… như/là gia đình của Chúa.
 
Sự hiệp thông này vừa là đòi hỏi vừa là lời chứng cần thiết mà Hội Thánh phải bày tỏ trước mặt mọi người như Chúa Giêsu đã thiết tha cầu nguyện: “Xin cho họ nên một như Cha ở trong Con và Con ở trong Cha để họ cũng ở trong Chúng ta. Như vậy, thế gian sẽ tin rằng Cha đã sai Con” (Ga 17,21).[163]
 
Cùng hiệp thông trong đời sống mục vụ giáo xứ
 
Nếu Giáo xứ là gia đình của Chúa… thì giáo xứ cũng là vườn nho của Thiên Chúa, mỗi giáo xứ là một vườn nho nhỏ trong vườn nho duy nhất của Thiên Chúa. Theo đó, mọi người trong giáo xứ đều được mời và có bổn phận làm thợ vườn nho trong vườn nho duy nhất ấy mà công cán được tính đến hợp theo lẽ công bằng và “trên cả công bằng”.
 
Nước Trời giống như chuyện gia chủ kia, vừa tảng sáng đã ra mướn thợ vào làm việc trong vườn nho của mình. Sau khi đã thoả thuận với thợ là mỗi ngày một quan tiền, ông sai họ vào vườn nho làm việc. Khoảng giờ thứ ba, ông lại trở ra, thấy có những người khác ở không, đang đứng ngoài chợ. Ông cũng bảo họ: “Cả các anh nữa, hãy đi vào vườn nho, tôi sẽ trả cho các anh hợp lẽ công bằng”. Họ liền đi. Khoảng giờ thứ sáu, rồi giờ thứ chín, ông lại trở ra và cũng làm y như vậy. Khoảng giờ mười một, ông trở ra và thấy còn có những người khác đứng đó, ông nói với họ: “Sao các anh đứng đây suốt ngày không làm gì hết?” Họ đáp: “Vì không ai mướn chúng tôi.” Ông bảo họ: “Cả các anh nữa, hãy đi vào vườn nho!”.[164]
 
Cũng theo đó, với tinh thần cùng hiệp thông trong đời sống mục vụ giáo xứ, mọi người cần nhận biết rằng Chúa là Đấng ban tặng nhiều hơn, đúng ra là tất cả, so với những gì Người đòi hỏi và người ta làm được, ngay cả khi làm việc vườn nho ngay từ đầu, hay giờ thứ ba, giờ thứ sáu, giờ thứ chín. Câu chuyện Đức Giêsu tại Samaria là một thí dụ.[165] Điều tế nhị còn là cách Người ban tặng thật khéo léo và tiệm tiến, làm cho người thiếu phụ Samaria chuyển từ tâm tình lạnh nhạt sang nhiệt tình thực hiện sứ vụ tông đồ: đón nhận chính Chúa và giới thiệu Chúa cho người khác.
 
Người thiếu phụ Samaria khởi đầu cuộc gặp gỡ Chúa Giêsu qua cách xưng hô có thể có pha chút khinh thị của dân tộc nàng đối với dân Do Thái: “Ông (tu) là người Do Thái mà ông lại xin tôi nước…” (Comment tu es juif, et tu me demandes à boire à moi…);[166] rồi chuyển sang trang trọng: “Thưa ông (seigneur), ông không có gầu, mà giếng lại sâu…” (Seigneur, tu n’as rien pour puiser et le puis est profond…);[167] rồi mới kính trọng như “tiên tri”: “… tôi thấy ông thật là một tiên tri” (Seigneur, je vois que tu es un prophète…);[168] để rồi cuối cùng là thượng đỉnh, là nhận ra Người là Đấng Cứu Thế và hân hoan giới thiệu cho những người xung quanh: “Ông ấy không phải là Đấng Cứu Thế sao? (Ne serait-ce pas le Christ…).[169] Thế cũng có nghĩa là:
 
… không còn phải vì lời chị kể mà chúng tôi tin. Quả thật, chính chúng tôi đã nghe và biết rằng Người thật là Đấng cứu độ trần gian (…nous savons que c’est vraiment Lui, le Sauveur du monde).[170]
 
Vì thế, trong tâm tình noi gương sự khiêm nhường phục vụ của Chúa Giêsu Kitô và tạ ơn Người, Đấng ban cho nhân loại nước hằng sống, đang hạ mình xin nước uống nơi người trần thế,[171] các thành viên của Giáo xứ là gia đình của Chúa…, trong đời sống mục vụ giáo xứ, cần khiêm nhường quảng đại và kiên nhẫn phục vụ anh chị em, để “… ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên Trời” (Thy will be done on earth as it is in heaven).[172] Vả lại, Thiên Chúa đích thị là Cha của tất cả chúng ta; chúng ta được là “những người con trong Người Con” (filii in Filio) của Thiên Chúa là Cha.
 
Mà cũng vì thế và hơn thế nữa, Giáo hội, giáo xứ… là gia đình của Chúa, vườn nho của Chúa, ruộng lúa của Chúa… là những cụm từ các nhà thần học Việt Nam có thể/rất nên sử dụng trong những tác phẩm của mình để diễn tả đời sống đạo của các tín hữu Việt Nam, sứ mệnh của Giáo hội phổ quát, các giáo hội địa phương; cách riêng là các giáo xứ và các mối tương giao mục vụ của các thành viên Giáo xứ là gia đình của Chúa… tại Việt Nam.[173] Nhìn xa hơn nữa, tưởng cũng rất nên phác họa, thiết kế, xây dựng một nền thần học về Giáo hội dựa trên hình ảnh gia đình của Thiên Chúa, để các thành viên trong gia đình của Chúa cùng hiệp thông, cùng lao động cách dễ dàng hơn trong vườn nho là đời sống mục vụ của mỗi giáo xứ cũng như của toàn thể Giáo hội. Thật vậy,
 
Cũng như người ta được sinh trong một gia đình cụ thể với vị trí địa lý và những điều kiện cụ thể thế nào, thì các Kitô hữu được rửa tội và được huấn luyện trong Chúa Kitô tại các giáo hội địa phương cụ thể cũng như vậy. Những cuộc tụ họp trong sự hiệp thông với Chúa tự thân đã có giá trị. Nghĩa là các cuộc tụ họp ấy không phải là phương thế nhằm đạt đến một mục đích lớn hơn, nhưng tự thân đã là sự hiện thực của Giáo hội. Sự hiện thân hoặc hiện thực này xây dựng Giáo hội từ bên dưới, được liên kết với giáo hội lớn hơn ấy nhờ sự hiện diện phẩm trật và sự chỉ định chủ chăn của họ, còn họ, họ là dân thánh của Thiên Chúa (Plebs sancta), một cộng đồng gồm cả linh mục và dân chúng.[174]
 
Thế nên, mô hình tham gia quy mục tử (the participative pastor-centered model) trong tác phẩm Quản trị giáo xứ: Lãnh đạo hợp tác[175] mà chúng ta đã có dịp nhắc đến đôi lần phía trên, là một trong những nỗ lực nhằm trình bày mối liên hệ hữu cơ giữa các phần tử của một gia đình giáo xứ Công giáo với vị mục tử (đức cha, cha xứ, cha sở…) là trái tim của gia đình. Dĩ nhiên, vị Mục Tử đích thực của gia đình ấy là chính Đức Giêsu Kitô.[176]
 
Theo đó, vị mục tử (đức cha, cha xứ, cha sở…) cần ứng xử và được đối xử như một người cha-anh tinh thần trong gia đình giáo phận, giáo xứ… trong niềm tin. Ngài là một phụ huynh hơn là một giám thị, một mục tử hơn là một nhà quản lý. Nhưng chính Chúa Giêsu mới là Mục Tử trên hết của gia đình giáo phận, giáo xứ, Mục Tử tốt lành của đoàn chiên, Mục Tử đích thực của tất cả các thành viên: giáo sĩ, tu sĩ, giáo dân. Là một Đức Kitô khác (Alter Christus), vị mục tử cũng phải hy sinh mạng sống vì đoàn chiên, phải thực tâm ước muốn, hay ít ra phải sẵn lòng sống chết với đoàn chiên.
 
Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên. Người làm thuê, vì không phải là mục tử, và vì chiên không thuộc về anh, nên khi thấy sói đến, anh bỏ chiên mà chạy. Sói vồ lấy chiên và làm cho chiên tán loạn, vì anh ta là kẻ làm thuê, và không thiết gì đến chiên. Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Tôi biết chiên của Tôi, và chiên của Tôi biết Tôi, như Chúa Cha biết Tôi, và Tôi biết Chúa Cha, và Tôi hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên.[177]
 
Theo đó thì không chỉ “Có con gây dựng cho con, có chồng phải gánh giang sơn nhà chồng”, một trong những đạo lý rất tự nhiên của gia đình là kiến tạo mối tương giao thiện hảo giữa các thành viên trong gia đình, mà còn hơn vậy, mối tương giao chân thành và thiện hảo là không thể thiếu nơi mọi thành viên trong một gia đình giáo xứ dành cho vị mục tử của họ. Nhưng trước hết và trên hết vẫn là mối tương giao của các thành viên thuộc gia đình giáo xứ trong Đức Giêsu phải phản ánh chuẩn mực thần học của “những người con trong Người Con” (filii in Filio) với Thiên Chúa là Cha.[178]
 
Nói tóm lại, mang chân lý Tin mừng đến cho mọi người, giới thiệu Ðức Kitô như mầu nhiệm cứu độ duy nhất trong lịch sử nhân loại, các thành viên thuộc một gia đình giáo xứ phải kiến tạo, duy trì, làm đậm nét và sinh động mỗi ngày một hơn hình ảnh Giáo xứ là gia đình của Chúa… trong bối cảnh của nền văn hóa hiện đang đầy ắp những sai trái làm băng hoại gia đình và xã hội, để làm sâu sắc hơn các mối tương giao cần có của các tín hữu là con cái thảo hiếu đối với Thiên Chúa là Cha nhân từ trong các gia đình giáo xứ của Giáo hội Công giáo tại Việt Nam.
 
Ðức Kitô đã từng tha thiết cầu nguyện cho “Gia đình của Chúa” như sau:
 
Con không chỉ cầu nguyện cho những người này, nhưng còn cho những ai nhờ lời họ mà tin vào Con, để tất cả nên một, như Cha ở trong Con và Con ở trong Cha để họ cũng ở trong chúng ta.[179]
 
Vậy chúng ta cũng cầu nguyện:
 
Lạy Thiên Chúa Ba Ngôi
là Cha, và Con, và Thánh Thần,
chúng con thờ lạy, ngợi khen, và cảm tạ Chúa.
Chúa là Đấng Tạo Dựng… vì yêu thương.
Chúa là Đấng Cứu Độ… vì yêu thương.
Chúa là Đấng Thánh Hóa… vì yêu thương.
Xin dẫn chúng con vào sống trong gia đình của Chúa.
Xin dạy chúng con,
những thành viên trong gia đình Giáo hội,
đồng thời cũng là những thành viên hiện diện
trong gia đình giáo xứ của mỗi người chúng con,
biết cảm nếm hương vị tình yêu của đời sống ấy
qua việc mau mắn vâng nghe theo tiếng Chúa
với những hướng dẫn cụ thể của Giáo hội Chúa.
 
Xin dạy chúng con
biết sống tinh thần hiệp thông:
“…để tất cả nên một
như Cha ở trong Con và Con ở trong Cha”.[180]
 
 
Xin dạy chúng con
biết trân quý ơn trọng đại Chúa đã ban cho
là được trở nên các thành viên
trong gia đình của Chúa. Amen.
 
 
Trích Tập san Hiệp Thông / HĐGM VN, Số 68 (Tháng 11 & 12 năm 2011)
 
[1] CL, số 26.
 
[2] Cv 2,42.
 
[3] Cv 4,32; 5,14.
 
[4] 1 Cr 10,16.
 
[5] CL, số 26.
 
[6] BGL, đ. 515 §1, §2.
 
[7] Ủy ban Phụng tự (trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam), “Lời nguyện nhập lễ thứ ba sau Chúa nhật I Mùa Chay” trong Sách lễ Rôma (Việt Nam: UBPT, 1992), 193 (nguyên tác: Missale Romanum [Rôma: Vaticanô, 1975]).
 
[8] CL, số 27.
 
[9] X. Battista Mondin, La Chiesa primizia del regno (Giáo hội sơ khai…) (Bologna: EDB, 1989), 16-27.
 
[10] Nhà thần học thường dựa vào kinh nghiệm đức tin của mình để tìm hiểu về Giáo hội.
 
[11] Ý thức bổn phận phải giải thích các bằng chứng của quá khứ, nhà thần học dựa vào kiến thức về bối cảnh của các sự kiện ngày trước mà tìm hiểu và giải thích về Giáo hội.
 
[12] Dưới ánh sáng đức tin và lý trí mà thu thập các dữ kiện, các hiện tượng và mọi tài liệu liên quan đến Giáo hội, nhà thần học thực hiện công tác thần học về Giáo hội.
 
[13] Triết lý là công cụ đặc thù và rất có hiệu năng trong nỗ lực suy tư về thực tại; triết lý về xã hội đóng vai trò đặc biệt trong Giáo hội học. Nhà thần học nếu không đào sâu triết lý nói chung, triết lý về xã hội nói riêng, thì khó mà hiểu được nhiều về mầu nhiệm Giáo hội.
 
[14] Với sự soi sáng của Thánh kinh, Thánh truyền và Huấn quyền của Giáo hội, nhà thần học đào sâu ý nghĩa của mầu nhiệm Giáo hội.
 
[15] Nhà thần học suy nghĩ về con người theo ý niệm nhân vị, một bản ngã trong thế đối thoại với tha nhân, dùng hình ảnh “lời nói, sứ điệp và cuộc tọa đàm” (x. Ecclesiam suam) để tìm hiểu và giới thiệu Giáo hội trong thế đối thoại với thế giới.
 
[16] Phương pháp chủ yếu là cầu nguyện để biết thánh ý Thiên Chúa: Ðức Giêsu muốn dạy chúng ta điều gì về Giáo hội phổ quát, giáo phận, giáo xứ, được hiện thực hóa trong những cơ cấu các tông đồ để lại.
 
[17] Rao giảng Tin mừng là nhiệm vụ cốt cán của các tông đồ trong việc thiết lập cộng đoàn: huấn giáo, cử hành Thánh Thể, coi sóc việc bác ái từ thiện, thực hiện thừa tác vụ hòa giải… (x. 2 Cr 5,18).
 
[18] Trong phạm vi bài viết này, cụm từ “giáo hội địa phương” có khi được hiểu là giáo phận (particular church, diocese), có khi là giáo xứ (local church, parish), có khi cả hai: giáo phận và giáo xứ.
 
[19] James A. Coriden, The Parish in Catholic Tradition: History, Theology and Canon Law (Giáo xứ trong Truyền thống Công giáo: Lịch sử, Thần học và Giáo luật) (New York: Paulist Press, 1997), 41.
 
[20] X. GS, số 62b. Năm 1976, Uỷ ban Thần học Quốc tế đề xuất 12 luận đề về tương quan giữa huấn quyền và các nhà thần học; rồi đến năm 1990, Bộ Giáo lý Ðức tin cũng đã công bố một văn kiện về ơn gọi trong Giáo hội của các nhà thần học (x. Congrégation pour la Doctrine de la Foi, “La vocation ecclésiale du théologien”, DC 72 [1990] 653-70).
 
[21] Một số nhà thần học tên tuổi trong lãnh vực này là: Matthia Scheeben (1835-1888), H. Newman (1801-1890), F. Pilgram (1819-1890), C. Passaglia (1827-1859), J. B. Franzelin (1816-1886)….
 
[22] Những tài liệu rất cổ xưa có nhiều liên quan về đề tài Giáo hội, giáo hội địa phương, giáo xứ: Mục tử của Herma, các tác phẩm của Thánh Clêmêntê Rômanô, Thánh Inhaxiô Antiôkia.
 
[23] Ðấng Thiên Sai là “Hoàng Tử Bình An” (Is 9,6) sẽ giải hòa con người với con người và với Thiên Chúa như trong một địa đàng mới (x. Is 35,1-10; Hs 2,20t).
 
[24] Theo kiểu nói của Irênê.
 
[25] Theo kiểu nói của Hilariô. Ðó cũng chính là xác tín của Truyền thống Kitô giáo, so sánh Giáo hội với Evà sinh ra từ cạnh sườn của Ađam (x. DS 901; SC, số 5), và Ðức Kitô là Ađam mới (x. 1 Cr 15,45): Từ trái tim rạn vỡ của Ðức Kitô, Giáo hội được sinh ra và được làm Hiền Thê Ðức Kitô (Ex corde scisso Ecclesia Christo jugata nascitur).
 
[26] Theo kiểu nói của Xíprianô. Năm 1302, trong Trọng sắc Unam sanctam, Ðức Giáo hoàng Bôniphaxiô VIII đã so sánh Giáo hội với con tàu của Noê.
 
[27] Theo kiểu nói của Hilariô.
 
[28] Theo kiểu nói của Ôrigênê. Truyền thống còn nêu danh những phụ nữ tội lỗi trong Thánh kinh làm hình bóng tiên trưng cho Giáo hội: Thamar, Mađalêna…. Có lẽ vì thế mà tước hiệu nghe có vẻ nghịch lý casta meretrix (“gái điếm trinh bạch”) cũng đã được áp dụng cho Giáo hội (x. von Balthasar, H.U. “Casta Meretrix,” trong Sponsa Verbi: Skizzen zuer Theologie, II, [Einsiedeln, 1961], 203-305).
 
[29] Theo kiểu nói của Ôrigênê, Xirilô Alêxanđria.
 
[30] Theo kiểu nói của Âutinh.
 
[31] Theo kiểu nói của Grêgôriô Nazianô. “Duy một Chúa, duy một đức tin” (Ep 4,5). Thật vậy, ngay trong bữa Tiệc Ly, Ðức Giêsu cầu nguyện cho những kẻ sẽ tin nhờ lời rao giảng Tin mừng của các môn đệ được thật sự trở nên một như Người với Cha Người là một (x. Ga 17,20).
 
[32] Theo kiểu nói của Thêôđôrô M.
 
[33] Theo kiểu nói của Xirilô Giêrusalem. Thêm vào đó, bên cạnh đức ái, đoàn sủng hay nhiệm vụ của những người khuyên bảo cộng đoàn (x. Cv 15,32) và giải nghĩa những điều Thiên Chúa mạc khải được Thánh Phaolô ca tụng rất nhiều vì vai trò tích cực trong việc xây dựng Giáo hội (x. 1 Cr 14,1-5) và được Thiên Chúa đặt cùng vai với các tông đồ, làm nền móng của “nhà Thiên Chúa” (x. Ep 2,20; 3,5).
 
[34] Một số biến cố và trào lưu trí thức của vài thế kỷ trước đã trở thành những yếu tố xúc tác, những đóng góp lớn cho việc canh tân Giáo hội học.
 
[35] Moehler, J. A., Symbolik § 36, I (Harmstadt: J. R. Geiselmann, 1958), 389; x. Michael J. Himes, Ongoing Incarnation: Johann Adam Muhler and the Beginning of Modern Ecclesiology (Nxb. Crossroad, 1997), 97.
 
[36] Coriden, The Parish in Catholic Tradition…, 49.
 
[37] Theo đó, vai trò của giám mục cũng như tính chính thống của giáo lý được nhấn mạnh.
 
[38] Muehlen H., Una Mystica Persona (Muenchen 1964); x. Dejaifve G., “Un tournant dans l’Ecclésiologie” trong Nouv. Rev. Théo. 87 (1965) 961tt.
 
[39] LG, số 12b.
 
[40] Giáo hội học chuyên khoa chào đời từ thế kỷ 14 với các tác phẩm rất đáng lưu ý về Giáo hội: De Regimine Christiano (1301-1032) của Joannes thành Viterbo, De Ecclesiastica Potestate của Gil thành Rôma, De Potestate Regis et Papae (1300) của Gioan thành Paris….
 
[41] Coriden, The Parish in Catholic Tradition…, 42.
 
[42] Ngoài giáo hội địa phương thì không có Giáo hội. Thánh Hilariô còn viết: “Dù ở thế giới chỉ có một Giáo hội, song mỗi thành phố có một giáo hội; một trong tất cả, vì dẫu nhiều, một Giáo hội duy nhất nơi nhiều giáo hội.” (In Ps 14.3).
 
[43] X. “The ‘communion of Saints’ as three states of the Church: pilgrimage, purification, and glory”, trong Communio số chuyên đề Summer 1988 (Schoenborn, Ch.), 169-81.
 
[44] X. LG, số 7, 8, 18, 30, 43; AG, số 5, 7, 8, 36; UR, số 24; GE, số 2; AA, số 2.
 
[45] X. LG, số 32c, 49, 50; AG, số 36a, PO, số 8, 9; CD, số 16c. Giáo hội sáp nhập những con người mới lãnh nhận bí tích thánh tẩy vào Ðức Kitô, giúp hoàn tất mối hiệp thông của các thụ nhân này trong Thánh Thể. Khi ấy, Giáo hội Nhiệm Thể được “lớn lên nhờ sức Thiên Chúa ban” (x. Cl 2,19; UR, số 24a).
 
[46] Như gia đình là tế bào căn bản của xã hội (the basic cell of society).
 
[47] 1 Tm 3,14-16.
 
[48] Coriden, The Parish in Catholic Tradition…, 43.
 
[49] Nếu chỉ tính một phương diện, một quan điểm hay một phương pháp thể hiện mà thôi, nguy cơ bỏ sót những khía cạnh khác là tất yếu và rất đáng tiếc.
 
[50] Coriden, The Parish in Catholic Tradition…, 45.
 
[51] Các cộng đoàn Kitô hữu ly khai, trong một mức độ nào đó, cũng là “giáo hội” hoặc “cộng đồng giáo hội”. Dù chúng tôi tin là họ còn khiếm khuyết, tuy nhiên, không phải vì vậy mà các giáo hội và các cộng đồng giáo hội ly khai ấy không mang một ý nghĩa và một giá trị nào hết ở trong mầu nhiệm cứu độ,” bởi vì họ là “những phương thế cứu rỗi” nằm trong tay của Thiên Chúa. (UR, số 3d)
 
[52] Như mầu nhiệm các thánh thông công (communion of saints).
 
[53] Coriden, The Parish in Catholic Tradition…, 43-4.
 
[54] CL, số 26.
 
[55] Giáo hội địa phương, giáo xứ chính là Giáo hội đang hiện diện và hoạt động trong một nơi chốn nhất định.
 
[56] Giáo hội là bí tích tiên khởi của sự hiện diện đầy yêu thương và cứu độ của Thiên Chúa trên thế giới (x. Karl Rahner, “Church, Churches and Religions,” trong Theological Investigations 18, trg. 188-95; K. Kunnumpuram, Ways of Salvation: The Salvific Meaning of Non-Chistian Religions According to the Teaching of Vatican II, Poona 1971).
 
[57] Gọi là “từ trên xuống” vì cách nhìn này đơn thuần dựa vào Thánh kinh, Thánh truyền và huấn quyền mà trình bày, giải thích về quá trình hình thành và bản chất của Giáo hội (x. Battista Mondin, La Chiesa primizia del regno (Bologna: EDB, 1989), 16).
 
[58] Gọi là “từ dưới lên” vì cách nhìn này dựa vào các khoa học nhân văn, nhất là vào kỹ thuật phân tích xã hội học và chính trị học mà tìm hiểu quá trình hình thành và bản chất của Giáo hội (x. Battista Mondin, La Chiesa primizia del regno (Bologna: EDB, 1989), 16).
 
[59] Coriden, The Parish in Catholic Tradition…, 47.
 
[60] X. LG, số 28; CD, số 30-32; SC, số 10-11, 14, 26-30; AA, số 10, 18, 25, 30.
 
[61] X. 1 Tx 1,5.
 
[62] SC, số 42.
 
[63] LG, số 26.
 
[64] AG, số 15.
 
[65] CL, số 26.
 
[66] Coriden, The Parish in Catholic Tradition…, 50.
 
[67] Thái Sơn (1.545m) là ngọn núi nằm về phía Bắc thành phố Thái An, là một trong năm ngọn núi lớn của Trung Quốc, là ngọn núi thiêng ở xứ Hoa Hạ (Hoa Hạ Thần Sơn).
 
[68] Family: Father And Mother, I Love You (Cha mẹ ơi, con yêu mến cha mẹ).
 
[69] Cha mẹ là người gieo mầm, rồi cưu mang, rồi sinh ra con, rồi cho bú mớm… dạy con sống cho phải đạo, được sánh ví như Núi Thái Sơn, như Nước Trong Nguồn. Công cha nghĩa mẹ được nhắc đến cách đặc biệt qua thành công của những người con.
 
[70] Theo thần thoại của dân tộc Trung Hoa, Bàn Cổ là vị thần đầu tiên sáng tạo ra thế giới, vạn sự vạn vật trong trời đất. Khi Bàn Cổ chết, đầu mình và tứ chi biến thành năm ngọn núi, gọi là Ngũ Nhạc: (1) Bắc Nhạc, Hằng Sơn thuộc tỉnh Sơn Tây cao 2.017m; (2) Nam Nhạc, Hành Sơn thuộc tỉnh Hồ Nam, cao 1.290m; (3) Đông Nhạc, Thái Sơn thuộc tỉnh Sơn Đông, cao 1.545m; (4) Tây Nhạc, Hoa Sơn thuộc tỉnh Thiểm Tây, cao 1.997m; và (5) Trung Nhạc, Tung Sơn thuộc tỉnh Hà Nam, cao 1,494m. Thái Sơn nằm ở hướng Đông, nơi mặt trời mọc, tương truyền là đầu của Bàn Cổ hóa thành, do đó Thái Sơn là biểu tượng cho sự ra đời và trí tuệ của toàn thân. Thái Sơn là nơi cát tường phát sinh của muôn vật. Vì thế, Thái Sơn là ngọn núi linh thiêng nhất, đứng đầu trong Ngũ Nhạc. Sách Thuật dị ký còn viết: Ngày xưa khi Bàn Cổ chết, đầu của Bàn Cổ là Đông Nhạc, bụng là Trung Nhạc, tay trái là Nam Nhạc, tay phải là Bắc Nhạc, và hai chân là Tây Nhạc. Các văn nhân cũng kể rằng nước mắt của Bàn Cổ là sông, hơi thở là gió, giọng nói là sấm, đồng tử trong mắt là ánh sáng… (Nhiệm Phưởng, thế kỷ VI).
 
 
[71] Ý nói: những ai đã từng du ngoạn qua Ngũ Nhạc thì không cần phải đến bất cứ ngọn núi nào trong thiên hạ làm gì nữa. Và nếu ai đã từng du ngoạn Thái Sơn rồi thì không cần phải đến những ngọn núi kia trong Ngũ Nhạc.
 
[72] Năm 1987, UNESCO công nhận Thái Sơn là di sản thế giới: “… là đối tượng triều bái của các đế vương trong hơn hai ngàn năm qua, các kiệt tác nhân văn trong núi hội nhập cách hoàn mỹ và hài hòa với cảnh quan thiên nhiên. Biểu tượng Thái Sơn không chỉ là núi ngàn cao cả mà còn là dòng suối nguồn về tinh thần của các nhà nghệ thuật và học giả Trung Quốc, là biểu tượng của nền văn minh và tín ngưỡng của Trung Quốc cổ đại”.
 
[73] Karl Rahner, “The Theology of the Parish” trong The Parish from Theology to Practice, ed., Hugo Rahner (Westminster, MD., Newman Press, 1958), 26.
 
[74] FC, số 57.
 
[75] LG, số 2.
 
[76] Synod Proposition 9, Origins 17, 29 (1987), 502.
 
[77] Công đồng Trentô, phiên 23, điều 1.
 
[78] “Giáo hội là một bí tích. Giáo hội chuyên chở lời Chúa Giêsu và là nguồn mạch của sự cứu chuộc. Toàn thể Giáo hội với tất cả các thành phần… được sai đi để tuyên xưng, làm chứng tá, làm thể hiện và loan truyền mầu nhiệm hiệp thông của Chúa Ba Ngôi.” (Thượng Hội đồng Giám mục Á châu 1998 (19/4-14/5) (Hội nghị đặc biệt), Lineamenta, số 26; x. Le Guillou, Marie Joseph, “Church” in Sacramentum mundi, I, 313-17).
 
[79] “Đức Chúa không muốn thấy Giáo hội của Ngài đứng trước mặt Ngài như là một sự thất bại tỏ tường, có một không hai, mà như là một hiền thê tráng lệ xứng với Ngài… là câu trả lời thích đáng, đúng như Thiên Chúa đợi chờ từ thế giới thụ tạo, và đúng như ơn và lời Ngài đã gợi dậy trong đó”. (Von Balthasar H. U., Qui est l’Église? [Coll. Cahiers de l’École Cathédrale: Parole et Silence, 2000], 59)
 
[80] X. Hoang H. Ta, Quản trị giáo xứ: Lãnh đạo hợp tác (nguyên tác: A Training Program to Promote Collaborative Leadership in a Parish Pastoral Council of Vietnamese People (Washington, DC: The Catholic University of America, 2005), 130-1.
 
[81] CL, số 26.
 
[82] “Sứ mệnh của Chúa Kitô và Chúa Thánh Thần được hoàn tất trong Giáo hội, là Thân Thể của Ðức Kitô và là Ðền Thờ của Chúa Thánh Thần”. (Thượng Hội đồng Giám mục Á châu 1998 (19/4-14/5) (Hội nghị đặc biệt), Lineamenta, số 26)
 
[83] CL, số 26.
 
[84] Giáo hội các cấp gồm: Giáo hội toàn cầu, giáo hội vùng/miền/quốc gia, giáo phận, giáo xứ….
 
[85] Ep 2,19-22.
 
[86] Dt 3,5-6.
 
[87] X. SC, số 8.
 
[88] LG, số 51.
 
[89] Kh 5,12.
 
[90] LG, số 51.
 
[91] GS, số 32.
 
[92] AG, số 20.
 
[93] CL, số 26.
 
[94] X. BGL, đ. 515.
 
[95] CL, số 26.
 
[96] GLGHCG, số 759.
 
[97] Coriden, The Parish in Catholic Tradition…, 16.
 
[98] 1 Pr 5,1-5.
 
[99] Khi thêm tính từ “huyền nhiệm” vào cụm từ “Thân Thể Ðức Kitô” để chỉ Giáo hội, cụm từ “Nhiệm Thể Ðức Kitô” đã xuất sắc diễn tả ý nghĩa sâu xa của giáo hội các cấp và mau chóng được đón nhận vì làm rõ nghĩa vị trí các thành viên trong gia đình Giáo hội nói chung, các giáo hội địa phương, các giáo xứ… đối với Ðức Kitô là Đầu của Nhiệm Thể.
 
[100] AAS 35 (1943) 199.
 
[101] 1 Cr 10,16.
 
[102] Mt 20,28.
 
[103] Mc 10,43.
 
[104] Ga 12,26.
 
[105] Cv 1,8.
 
[106] Cách riêng, điều này có thể được áp dụng như những phương thế chính yếu cho các thành viên hội đồng, hội đoàn trong giáo xứ, đại diện tiếng nói của các phần tử trong giáo xứ. Thực vậy, các hội đồng và các hội đoàn trong giáo xứ, tuy không theo nghĩa pháp lý, là những đại diện của giáo xứ, những đại diện của gia đình giáo xứ về nhiều phương diện.
 
[107] 1 Cr 1,9.
 
[108] Khởi đi từ và luôn quy hướng về vị Mục Tử (viết hoa) là chính Đức Giêsu Kitô.
 
[109] Bởi lẽ, sự hợp tác, hiệp thông, tham gia phục vụ là một trong những dấu chỉ đích thực của lãnh đạo học trong Giáo hội.
 
[110] Tạ, Giáo hội (giáo xứ) như/là gia đình của Chúa (BTH. UBGLĐT: Lưu hành nội bộ, 2010), 36; x. Hoang H. Ta, A Training Program to Promote Collaborative Leadership in a Parish Pastoral Council of Vietnamese People (Washington, DC: The Catholic University of America, 2005), 88-133.
 
[111] LG, số 48.
 
[112] X. GLGHCG, số 738.
 
[113] Tạo dựng từ hư không (creatio ex nihilo) và tạo dựng không ngừng (creatio continua) làm thành những phương cách tương hỗ trong việc giải thích quan điểm thần học cho rằng Thiên Chúa Đấng Tạo Hoá thì vừa siêu việt vừa nội tại trong toàn bộ tạo dựng. (x. Hoang H. Ta, Tạo dựng: Ảnh hưởng và chịu ảnh hưởng…[nguyên tác: Creation: Influencing and Influenced…] [TP. HCM: Đại Chủng viện Thánh Giuse, 2006], 336).
 
[114] Colin Gunton, The Promise of Trinitarian Theology (Edinburgh: T&T Clark, 1997), 12.
 
[115] X. Ta, A Training Program… , 88-133.
 
[116] Jurgen Moltmann, “Inviting Unity” trong Concilium 177 (1985), 50-8.
 
[117] Xýprianô, De Oratione dominica 23; PL 24.553.
 
[118] Gioan Damas, Adversus Iconoclastas, 12; PG 96.1358D.
 
[119] X. 2 Pr 1,4.
 
[120] X. Mt 11,27.
 
[121] X. 1 Cr 2,10; Rm 8,16.
 
[122] Ga 17,24-26.
 
[123] 1 Tm 3,14-16.
 
[124] LG, số 28.
 
[125] LG, số 51.
 
[126] GS, số 24.
 
[127] X. Tt 3,4.
 
[128] X. Ep 1,3; 13-14; 23.
 
[129] GS, số 40.
 
[130] X. LG, số 8.
 
[131] LG, số 9.
 
[132] LG, số 8.
 
[133] X. LG, số 38.
 
[134] GS, số 40.
 
[135] X. LG, số 38.
 
[136] GS, số 92; x. Gioan XXIII, Thông điệp Ad Petri Cathedram, 29-6-1959: AAS 55 (1959), tr. 513.
 
[137] X. Ta, A Training Program… , 88-133.
 
[138] Câu La Tinh nổi tiếng này “In necessariis unitas, in dubiis libertas, in omnibus caritas” được gán cho Thánh Âutinh là tác giả. Đức Giáo hoàng Gioan XXIII đã sử dụng câu này trong Thông điệp Ad Petri cathedram (về chân lý, hiệp nhất, bình an trong tinh thần bác ái), ban hành ngày 29 tháng 6 năm 1959.
 
[139] UR, số 2.
 
[140] LG, số 48.
 
[141] X. Mt 16,15. Sắc lệnh đưa ra hai lý do minh chứng sự truyền giáo là cần thiết: (1) Giáo hội là Công giáo, rộng mở cho mọi người, để tất cả trở nên phần tử của Giáo hội; (2) Chúa Giêsu Kitô đã truyền lệnh rao giảng Phúc âm cho mọi người. Nguyên hai lý do này đủ để ngăn chận mọi mưu toan nhằm giảm bớt giá trị của công việc truyền giáo, viện cớ rằng người ngoài Kitô giáo tìm được con đường cứu rỗi trong tôn giáo của họ, vì thế không nên đem Tin mừng Chúa Kitô đến quấy rầy họ.
 
[142] Âutinh, Enar. trong Ps 23,23: Pl 36,508: CChr 38,510.
 
[143] AG, số 1.
 
[144] BGL, đ. 515 §2.
 
[145] X. LG, số 21. Giáo huấn của Giáo hội đương đại, cách riêng Công đồng Vaticanô II, khẳng định điều đó. Trong lịch sử Giáo hội, có những lúc người ta không có cùng cái nhìn về chức vụ giám mục và linh mục như ngày nay. Thánh Giêrônimô (342-420) viết: “Linh mục làm được những gì giám mục làm chỉ trừ phong chức” (Epistolae, 146,1); Thánh Gioan Kim Khẩu (347-407) viết: “Giám mục hơn linh mục chỉ là năng quyền phong chức, và chỉ trong phương diện này giám mục hơn linh mục…” (Bài giảng II, 1 về 1 Tm 3,8); Peter Lombard (1100-1160), Thánh Albert Cả (1206-1280), Thánh Tôma Aquinô (1225-1274), Thánh Bonaventura (1221-1274) cũng chấp nhận những tư tưởng vừa nêu (x. Sentenciarum IV 24,14; IV a. 39).
 
[146] X. GLGHCG, số 1557; 1562; LG, số 21. Trong những thể kỷ đầu, giám mục là người lãnh đạo cộng đoàn (giáo phận/giáo xứ). Cộng đoàn thường không quá lớn, và chỉ có giám mục là người chủ tế thánh lễ cho cộng đoàn. Sau thế kỷ thứ tư, số tín hữu tăng nhanh. Giáo hội cần thêm nhiều vị lãnh đạo chăm lo tinh thần cho giáo dân cách chu đáo và giáo dân dễ dàng tiếp cận hơn. Thế là nhiều linh mục được thụ phong, và các ngài cộng tác với các giám mục trong việc chăm sóc đời sống tinh thần của giáo dân.
 
[147] BGL, đ. 515 §1.
 
[148] PO, số 2; x. LG, số 10.
 
[149] X. Mt 14,13-21; Lc 9,10 -17; 17,11-19; Mc 6,30-44; Ga 6,1-13; Yves Congar, L’ecclésiologie du haut Moyen-Age (Paris: Cerf 1968) 87-8.
 
[150] Maura Browne, ed., “Message of the Synod số 24” trong The African Synod: Documents, Reflections, Perspectives, (Maryknoll, NY: Orbis Books, 1996), 72.
 
[151] Thượng Hội đồng Giám mục Á châu 1998 (19/4-14/5) (Hội nghị đặc biệt), Lineamenta, số 1.
 
[152] X. Hilar Odili Okeke, “From Domestic Church to Family of God: the African Christian Family in the African Synod,” trong Neue Zeitschrift fur Missionswissenchaft 52 (1996), 193-207.
 
[153] Karl Rahner, “The Theology of the Parish” trong The Parish from Theology to Practice, ed., Hugo Rahner (Westminster, MD., Newman Press, 1958), 23-35.
 
[154] X. Thánh bộ Giáo sĩ, “Huấn thị về một số vấn đề liên quan đến… tác vụ của các linh mục” (6§1) trong The Sacrament of Orders and the Clerical State: A Commentary on the Code of Canon Law (Bí tích truyền chức và địa vị giáo sĩ: bình luận về bộ giáo luật), ed. William H. Woestman (Ottawa: Saint Paul University, 2001), 301.
 
[155] Ban Tổ chức Đại hội Dân Chúa Việt Nam 2010, Sứ điệp của Đại hội Dân Chúa Việt Nam 2010, số 5, lấy ngày 26 tháng 11 năm 2010 từ: http://daihoidanchua.net.
 
[156] Vietnam UCAN Document, Vietnam Bishops’ Conference: Responses to Questionnaire, 5.
 
[157] X. Tạ et al, Những mô hình, Tập III, 198.
 
[158] Ban Tổ chức, Sứ điệp…, số 5.
 
[159] X. Coriden, The Parish in Catholic Tradition…, 59.
 
[160] X. sđd., 59.
 
[161] X. sđd., 65.
 
[162] LG, số 28; x. GS, số 43.
 
[163] Ban Tổ chức, Sứ điệp…, số 6.
 
[164] Mt 20,1-4.
 
[165] X. Ga 4,7-42.
 
[166] Ga 4,9 (x. La Sainte Bible, L’École biblique de Jérusalem [Paris: Cerf, 1961], 1402).
 
[167] Ga 4,11 (x. sđd.).
 
[168] Ga 4,19 (x. sđd.).
 
[169] Ga 4,11 (x. sđd.).
 
[170] Ga 4,42 (x. sđd.).
 
[171] X. Ga 4,10.
 
[172] Kinh Lạy Cha có ba câu: (1) 28 từ; (2) 43 từ; (3) 1 từ. “be done”: thì hiện tại bàng thái cách, dạng bị động (present tense of subjunctive mood in passive voice); “is”: thì hiện tại đơn trực thuyết cách, dạng chủ động (simple present tense of indicative mood in active voice).
 
[173] Nếu được, nên giảm bớt việc sử dụng triết lý Tây phương, người Việt Nam có thể và rất nên dùng lối suy luận Việt Nam, triết lý Việt Nam, thần học Việt Nam để giới thiệu Tin mừng của Ðức Giêsu Kitô cho người dân Việt Nam, nhất là những người chưa thực sự biết Thiên Chúa, như một Ðấng Kitô của Á châu, của Việt Nam. Đó sẽ là một đường lối mới khả dĩ để trở nên Giáo hội, để trở nên: “tự túc, tự chủ, tự phát triển, và tự thần học hóa, trong khi vẫn duy trì sự hiệp nhất, hiệp thông trong đức tin của tất cả các giáo hội địa phương” (Mission and Cathechesis, 201-2).
 
[174] Coriden, The Parish in Catholic Tradition…, 43.
 
[175] Hoang H. Ta, Quản trị giáo xứ: Lãnh đạo hợp tác (Tập II) (nguyên tác: A Training Program to Promote Collaborative Leadership in a Parish Pastoral Council of Vietnamese People (Washington, DC: The Catholic University of America, 2005), 97-145.
 
[176] X. Walter Kasper, Leadership in the Church, 73. Henri de Lubac cắt nghiã chức giám mục trong thần học liên quan trực tiếp đến thánh lễ và đến vai trò coi sóc giáo dân. Hervé-Marie Legrand cũng nhận định rằng chức năng chủ tế các bí tích và xây dựng sự hợp nhất cộng đoàn được liên kết trong con người giám mục, linh mục. Walter Kasper còn khẳng định chức năng lãnh đạo cộng đoàn không thể tách rời khỏi chức năng chủ tế thánh lễ vì cả hai đều nhắm cùng một đích là xây dựng Thân Thể Chúa Kitô (x. Henri de Lubac, Corpus Mysticum [Paris: Aubier 1949] 104; John Paul II, Ecclesia de Eucharistia [Rome: Vatican Press 2003] số 21).
 
[177] X. Ga 10,11-15.
 
[178] X. Coriden, The Parish in Catholic Tradition…, 25.
 
[179] Ga 17,20-21.
 
[180] Ga 17,21.
 
Read More
19Tháng Mười
2020

Giáo xứ đồng hành với giới trẻ đến gặp gỡ Đức Kitô

19/10/2020
Anmai
Giáo dục, Tài liệu giáo dục
0

 

 

 

Trong một lần đến nhà thờ tham dự thánh lễ chiều Chúa nhật, một khách du lịch hỏi cha xứ, nhà thờ rộng và chứa được nhiều người quá, có đông tín hữu đến dâng lễ, nhưng tại sao chỉ toàn người lớn tuổi, còn người trẻ ít quá vậy? Câu hỏi làm cha xứ giật mình, và quả thật tuy rất đông người đến dâng lễ ngày Chúa nhật, nhưng trong số đông đó các bạn trẻ chiếm một số quá ít ỏi, khoảng chừng 10%! Phải chăng đây là hiện tượng chung mà các giáo xứ tại Việt Nam đang đối diện: Hiện tượng các bạn trẻ ngày càng thờ ơ với đời sống đức tin của mình và chỉ cố gắng hết sức để giữ luật đi dâng lễ ngày Chúa nhật cho yên lương tâm? Đứng trước hiện tượng này, các vị mục tử đang tự hỏi: Phải làm gì đây? Đức Phanxicô trong Tông huấn “Chúa Kitô Đang Sống” đã đưa ra gợi ý: “Đối với rất nhiều người trẻ, những từ‘Thiên Chúa’, ‘tôn giáo’ và ‘Giáo hội’ dường như không có ý nghĩa gì, nhưng họ lại bị đánh động bởi nhân vật Giêsu, khi họ được nghe giới thiệu cách hấp dẫn và thiết thực về Người. Vì thế, điều cần thiết là Hội Thánh đừng quá bận tâm về mình, nhưng trước hết phải phản ánh Đức Giêsu Kitô. Điều này đòi hỏi Hội Thánh khiêm tốn nhìn nhận rằng có một số điểm cụ thể phải được thay đổi, và để làm điều đó thì Hội Thánh phải trân trọng quan điểm và cả những phê bình của người trẻ… vai trò thụ động dành cho giới trẻ trong cộng đồng Kitô hữu; các khó khăn mà Hội Thánh thường gặp khi phải giải thích cách hợp lý cho xã hội đương thời về các lập trường tín lý và đạo đức của mình”[1].

1- Các bạn trẻ đang khao khát gặp gỡ Chúa Kitô?

Hội Đồng Giám mục Việt Nam đã đưa ra một nhận định tương đối bi quan về thái độ ứng xử của đại đa số bạn trẻ về lối sống trong thời đại hiện nay: “Hiện tượng di dân vừa đem lại những hiệu quả tích cực vừa gây nhiều hệ lụy tiêu cực trong đời sống gia đình và xã hội. Thế giới kỹ thuật số vừa là một phương thế rất hữu hiệu cho việc truyền thông và thiết lập các mối tương quan, nhưng cũng là nguyên nhân gây nên nhiều tác hại cho bản thân người trẻ. Ảnh hưởng của chủ nghĩa cá nhân và trào lưu hưởng thụ đã làm cho nhiều người trẻ lạc hướng và rơi vào lối sống buông thả, sống ảo, sống vội, sống dửng dưng vô cảm và vô trách nhiệm. Một số khác lại lún sâu vào những cám dỗ của thời đại như nghiện ngập, buôn bán ma túy, hôn nhân thử, đồng tính, phá thai. Bạo lực ngày càng gia tăng với mức độ nguy hiểm nghiêm trọng”[2]. Tại sao được hưởng một nền văn minh với những tiện nghi do sự phát triển tột bậc của khoa học kỹ thuật mang lại, các bạn trẻ lại rơi vào một lối sống xem ra như đang đánh mất chính mình, đi ngược lại với kỳ vọng mà nền văn minh đem lại?

Có thể nói được rằng, các bạn trẻ ban đầu xem ra háo hức với những tiện nghi hiện đại mang lại, cuộc sống xem ra thoải mái hơn, thế nhưng tận cùng của những tiện nghi đó cũng chỉ mang lại niềm vui nhất thời không đáp ứng được sự khao khát tận đáy lòng của các bạn trẻ, “bởi lẽ trong một xã hội, người trẻ luôn là sức mạnh nội lực, là sự sống còn của cả dân tộc, họ phải lèo lái, dẫn dắt con thuyền dân tộc tiến vào tương lai trong sự thành đạt và tiến bộ của nhân loại. Mặt khác, người trẻ luôn là cầu nối giữa quá khứ của dân tộc với tương lai của thế giới; là nơi lưu dấu và cất giữ những nét đẹp văn hóa truyền thống dân tộc để chuyển trao cho lớp thế hệ trẻ mai sau”[3]

Quả thật, cho dẫu sống giữa một xã hội đang đề cao chủ nghĩa hưởng thụ, phần đông các bạn trẻ vẫn canh cánh bên lòng về niềm khát vọng được thể hiện “cái tôi” vượt ra ngoài những định kiến, lề thói và truyền thống của gia đình, của xã hội. Nhà báo Ánh Dương đã đưa ra nhận định: “Khác với thế hệ trước, những người trẻ ngày nay không làm theo những gì xã hội muốn, họ theo đuổi điều bản thân cho là đúng chứ không bó buộc bản thân trong bất kỳ định kiến nào. Dám làm, dám dấn thân, dám phá bỏ giới hạn, và cứ như vậy một thế hệ làm-điều-không-thể ra đời. Những người trẻ có cái tôi khác biệt, thấu hiểu bản thân và biết tận dụng sức mạnh của chính mình trên con đường tìm tới thành công. Chính sự quyết liệt đó, thế hệ làm-điều-không-thể tạo ra nhiều thay đổi lớn, biến những điều không thể thành có thể”[4].

Thiết nghĩ đó cũng chính là nỗi khao khát của các bạn trẻ Công giáo, muốn thể hiện “cái tôi của con người đương đại” trong các sinh hoạt liên quan đến đức tin. Vâng, các bạn trẻ Công giáo đương đại đang mong muốn điều mà Đức Thánh Cha Phanxicô gọi là muốn “xuất thần”, có nghĩa là muốn “ra khỏi chính mình để nhận ra vẻ đẹp tiềm ẩn trong mỗi con người, phẩm giá của họ, sự vĩ đại của họ trong tư cách như là hình ảnh của Thiên Chúa và người con của Cha trên trời”[5]. Thế nhưng đâu là nền tảng cho ước mong “xuất thần” này? Nhiều bạn trẻ đã nỗ lực đi tìm một con đường để thoả mãn cho khát vọng này, con đường đi tìm cái đẹp, bởi nói như nhà văn Nga Dostoevsky: “Thế giới sẽ được vẻ đẹp cứu rỗi”[6]. Thế nhưng đâu là cái đẹp để mang lại sự cứu rỗi? Hầu như các bạn trẻ mới chỉ dừng lại ở con đường đi tìm cái đẹp nơi thân xác, mặc dầu vẫn biết rằng nét đẹp nơi thân xác cũng là vẻ đẹp phát xuất từ Thiên Chúa. Tuy nhiên Nhà thần học Evdokimov viết: “Không chỉ mình Thiên Chúa mặc lấy vẻ đẹp, ác thần cũng bắt chước Ngài, làm cho vẻ đẹp trở thành hàm hồ”[7], và vì vậy khi đi tìm cái đẹp để mong đem lại ý nghĩa đích thật cho cuộc sống, các bạn trẻ thường rơi vào cạm bẫy vẻ đẹp do ác thần mang lại, để rồi thay vì để cái đẹp giải thoát, các bạn trẻ lại bị sa đọa vì cái đẹp.

Thật ra, tự thẳm sâu các bạn trẻ vẫn khao khát một con đường tìm gặp cái đẹp đích thật, vì chỉ có cái đẹp đó mới có thể làm no lòng thoả dạ của tuổi trẻ. Đâu là con đường dẫn tới cái đẹp đó? Thưa đó chính là con đường Giêsu. Quả thật chỉ có Đức Kitô mới có thể làm cho các bạn trẻ tìm thấy được cái đẹp mang lại sự cứu rỗi, bởi nói như thánh Augustinô: “Khi làm người, một cách nào đó Ngài mặc lấy sự dơ bẩn, nghĩa là mang lấy bản tính phải chết, để đứng vào hàng ngũ con người, trở nên giống con người, để giúp bạn yêu vẻ đẹp bên trong. Người không còn dáng vẻ oai phong, để ban cho chúng ta dáng vẻ oai phong”[8]. Vì thế, có thể nói, mặc dầu đối diện với muôn vàn nẻo đường mà thế trần đang tạo ra với bao nhiêu sự hấp dẫn, các bạn trẻ vẫn khao khát một con đường dẫn tới niềm vui đích thật, hay nói cách khác các bạn đang nỗ lực để làm sao gặp được con người Giêsu, con người dẫn tới “sự xuất thần” để gặp một vẻ đẹp đích thật.

2- Giáo xứ giúp bạn trẻ gặp được con người Giêsu

Ở nơi đâu có thể giúp các bạn trẻ tìm thấy được con đường Giêsu để tìm thấy cái đẹp mang lại ơn cứu rỗi? Giáo Hội, vâng Giáo Hội là không gian trình bày con đường Giêsu một cách sống động và hiện thực, bởi Giáo Hội là một cộng đoàn được Chúa quy tụ để loan báo Tin Mừng về Nước Thiên Chúa, được biểu tỏ nơi con người của Chúa Giêsu, Đấng vừa là Thiên Chúa vừa là con người. Nơi con người của Chúa Giêsu chứa đựng vừa ân sủng Tạo Hóa (chính Thiên Chúa), vừa ân sủng thụ tạo cao cả (thực tại Ngôi Hiệp)[9], vì thế Giáo Hội có trách nhiệm chỉ cho các bạn trẻ biết thực tại vẻ đẹp đích thật nằm ngay chính trong lòng Giáo Hội. Giáo Hội đó được cụ thể hoá trong hoàn cảnh địa phương được gọi là giáo xứ.

Giáo xứ được Đức Phanxicô gọi là “nhà”, nơi đó các bạn trẻ tìm thấy trước hết con đường dẫn tới gặp Đức Kitô chính là “tình của các thành viên sống trong một mái nhà”, được gọi là “tình gia đình”. Thật vậy, vẻ đẹp của Thiên Chúa được mạc khải cho con người được tỏ bày qua “tình gia đình”, Con Thiên Chúa đến làm con trong một gia đình nhân loại, gia đình Nazareth. Chính từ nơi gia đình này, Người đã mạc khải cho con người về vẻ đẹp của lòng hiếu thảo, một vẻ đẹp mà cha ông Việt Nam đã cảm nhận và đã biểu tỏ trong những lời khuyên dạy con cái:

Công cha như núi Thái sơn

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

Một lòng thờ mẹ kính cha

cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.

Nét đẹp đó chỉ tròn đầy khi Đức Kitô xuất hiện và chỉ cho biết thế nào là hiếu thảo. Thánh Phaolô trong Thư gởi tín hữu Philipphê đã diễn tả:

“Đức Giêsu Kitô

vốn dĩ là Thiên Chúa

mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì

địa vị ngang hàng với Thiên Chúa,

nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang

mặc lấy thân nô lệ,

trở nên giống phàm nhân

sống như người trần thế.

Người lại còn hạ mình,

vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết,

chết trên cây thập tự.” (Pl 2, 6-8)

Đó là vẻ đẹp rạng ngời của lòng thảo hiếu, Chúa Cha cũng đã minh định điều đó: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người” (Mt 3, 17). Vẻ đẹp của lòng hiếu thảo không chỉ dành cho Cha trên trời, nhưng còn được Đức Kitô làm cho rạng rỡ thêm khi Người cũng thể hiện tâm tình hiếu thảo với cha mẹ dưới đất: “Người đi xuống cùng với cha mẹ, trở về Nazareth và hằng vâng phục các ngài” (Lc 2, 51). Đây chính là vẻ đẹp mà hơn bao giờ hết cần phải làm cho giới trẻ khát khao. Bởi vẻ đẹp của lòng thảo hiếu chỉ ra rằng, con người không tự bởi mình mà hiện hữu, nhưng có cội nguồn, để thấy được rằng cuộc sống chỉ có thể có được trong mối dây liên kết và từ mối dây này mỗi người ý thức về trách nhiệm cộng đồng, loại trừ tính ích kỷ cao ngạo, sự dửng dưng vô cảm.

Vẻ đẹp này được tìm thấy trọn vẹn nơi đời sống giáo xứ, bởi giáo xứ là một cộng đoàn được Chúa quy tụ nối kết với nhau để trở nên một cộng đoàn yêu thương. Có nghĩa là sự hiệp thông trong cùng một đức tin dẫn đưa người tín hữu tới sự hiệp thông với Thiên Chúa tình yêu, qua đó, mọi người tín hữu trong giáo xứ được liên kết với nhau bằng mối dây đức ái Kitô giáo. Và từ sự hiệp thông này, các bạn trẻ sẽ được gặp Đức Kitô, Đấng sẽ thiết lập một sự kết nối với những kẻ đến với Người bằng tình bằng hữu, chính Người đã khẳng định: “Thầy không còn gọi các con là tôi tớ…. Thầy gọi các con là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy đã nghe biết nơi Cha Thầy, thì Thầy đã cho các con biết” (Ga 15, 15), và qua tình bạn này, các bạn trẻ “sẽ học được biết cởi mở, hiểu biết, quan tâm đến người khác, đi ra khỏi cuộc sống thoải mái tiện nghi và cô lập của chính mình, chia sẻ đời sống mình với người khác”[10]. Thật vậy, sống trong một xã hội đầy nghi nan, các bạn trẻ luôn đối diện với nỗi băn khoăn: Ở nơi đâu có thể tìm được sự tin cậy để có thể thổ lộ, sẻ chia, và đồng cảm? Nỗi trăn trở đó chỉ có thể tìm được sự thoả mãn nơi tình bạn với Đức Kitô, vì chỉ có Người mới kết nối được tình bạn “bất khả phân ly”, một tình bạn trung tín và không bao giờ bỏ rơi người bạn của Người[11]. Quả thật nơi Đức Kitô các bạn trẻ sẽ học hỏi được nơi Người cách thế kiến tạo mối tương giao tốt đẹp với mọi người, và biết cách làm cho sức sống của tươi trẻ lan toả ra đến môi trường mình sống, chỉ dẫn các bạn trẻ “đốt lên một ngọn nến tin yêu trong cuộc sống hơn là ngồi nguyền rủa bóng tối của nghi nan”, Người đã khích lệ: “Anh em hãy cho, thì sẽ được Thiên Chúa cho lại. Người sẽ đong cho anh em đấu đủ lượng đã dằn, đã lắc và đầy tràn, mà đổ vào vạt áo anh em. Vì anh em đong bằng đấu nào, thì Thiên Chúa sẽ đong lại cho anh em bằng đấu ấy.” (Lc 6,38).

Nơi cộng đoàn giáo xứ các bạn trẻ sẽ còn tìm thấy những vẻ đẹp được ẩn mình trong các mối tương giao giữa người với người. Thật vậy, giáo xứ là một cộng đoàn hiệp thông bắt nguồn từ sự hiệp thông của Ba Ngôi Thiên Chúa. Sự hiệp thông nơi giáo xứ khởi sự được thực hiện nhờ Bí tích Thánh tẩy, qua đó mọi Kitô hữu được tái sinh làm con Thiên Chúa, vì thế tất cả được liên kết với nhau trong cùng một đức tin, cùng dự phần vào sản nghiệp mà Đức Kitô đã sắm sẵn qua cái Chết và sự Phục sinh của Người. Kế đến, nhờ bí tích Thánh Thể, người Kitô hữu thực sự được dự phần vào Thân Thể Chúa Kitô khi bẻ bánh Thánh Thể, “vì bánh chỉ là một, nên tuy nhiều, tất cả chúng ta, những người cùng chia sẻ một bánh, chỉ là một thân thể” (1Cr 10,17). Bằng cách đó, tất cả chúng ta trở nên chi thể trong Thân Thể Người, “còn ai tùy phận nấy mà thành chi thể cho nhau” (Rm 12,5) (LG 7).

Trong ngôi nhà giáo xứ, Chúa Thánh Thần hoạt động không ngừng nhằm hợp nhất và quy tụ mọi tín hữu lại với nhau để trở nên một cộng đoàn yêu thương. Ở ngôi nhà này tất cả tín hữu hợp nhất với nhau thành một gia đình của Chúa, nơi đó các bạn trẻ khám phá một vẻ đẹp của sự hiệp thông, mọi người không ai là xa lạ, tất cả là anh chị em với nhau, có cùng một sứ vụ đó là loan báo Tin Mừng Chúa Kitô đến cho mọi người. Và chính trong sự hiệp thông này, các bạn trẻ được mời gọi tham gia vào các sinh hoạt mục vụ của giáo xứ để làm cho vẻ đẹp của Giáo Hội càng trở nên rạng ngời có sức thu phục nhiều bạn trẻ quan tâm tới Giáo Hội.

Quả thật chính trong ngôi nhà giáo xứ các bạn trẻ kín múc được nguồn cảm hứng từ cuộc đời của Chúa Giêsu, qua việc các bạn trẻ được hướng dẫn để lớn lên trong mối tương quan với Chúa Cha, “với ý thức thuộc về một gia đình và một cộng đồng, trong việc mở lòng ra để được tràn đầy Thánh Thần và được hướng dẫn thi hành sứ mạng mà Thiên Chúa ủy thác, là ơn gọi riêng của mình”[12].

3- Thực trạng hôm nay: Giáo xứ vắng bóng giới trẻ

Cộng đoàn giáo xứ đang đối diện với một thực tại đáng buồn, hầu như các bạn trẻ đang xa dần với mái nhà giáo xứ, và đang định hướng sai lầm về khát vọng của chính mình. Cho dẫu vẫn nuôi trong mình khát vọng bay xa, ra khỏi những định chế, truyền thống “bảo thủ” để tìm cái mới lạ, nhưng khát vọng đó đang bị chao đảo bởi kẻ thù của thiện mỹ gây ra. Và nói như Đức Giáo hoàng Phanxicô, não trạng của giới trẻ hiện nay đã hoàn toàn thay đổi, và sự thay đổi đó đã được “khởi động bởi những tiến bộ khổng lồ, mau chóng, được tích luỹ về phẩm và lượng trong các ngành khoa học kỹ thuật, được đem áp dụng ngay vào các lãnh vực khác nhau của tự nhiên và đời sống. Chúng ta đang ở một thời đại giàu trí thức và thông tin, dẫn tới các hình thức quyền lực mới, thường không được gọi tên”[13], từ đó đưa tới những hậu quả:

  1. a) Nghi ngờ những thực tại đức tin:

Giới trẻ ngày nay hầu như không còn coi những thực tại đức tin là cứu cánh của cuộc sống, chỉ còn coi những thực tại trần gian là cùng đích. Thiên Chúa là một khái niệm ngày càng trở nên xa lạ, và khoa học thực nghiệm mới là cái đáng kể để cho giới trẻ quan tâm. “Công nghệ chính là lý do thay đổi lớn trong tư duy của thế hệ trẻ hiện nay. Công nghệ trở thành công cụ giúp những người trẻ vượt qua mọi giới hạn, sống đúng với chất riêng theo cách mình muốn, sở hữu cái ‘tôi’ không hòa lẫn và mang những mảng màu riêng biệt. Giới trẻ biết cách để cả thế giới phải chú ý đến mình, phải quan tâm đến những gì họ làm, những gì họ thể hiện và cả những thông điệp họ muốn truyền đạt tới thế giới bên ngoài”[14]. Vì thế, những thực tại đức tin được coi như là cái gì mơ hồ, không đáp ứng được những khát vọng hiện tại, một khát vọng mong muốn được bay xa với những tư duy sáng tạo làm biến đổi cuộc sống, biến đổi thế giới. Do đó họ không còn lấy đức tin làm nền tảng cho sự sáng tạo, đối với họ chỉ có công nghệ hiện tại mới là công cụ đáng tin cậy để thể hiện bản thân, thực hiện được niềm ước mơ. Và vì vậy cộng đoàn giáo xứ được coi là không gian chật hẹp, bị giới hạn vào trong những sinh hoạt thuần tuý tôn giáo, gò bó trong những giáo điều và nhiều khi đánh mất đi khả năng sáng tạo, chỉ còn là một sự lệ thuộc vào một hệ thống tín điều không còn chỗ cho những hoạt động đem lại những trải nghiệm cho cuộc sống như: Du lịch, những môn thể thao mang tính mạo hiểm, đi “phượt”, v.v… Giáo xứ không là không gian để cho họ thoả mãn ước mơ. Quả thật, các bạn trẻ đang rơi vào cạm bẫy của “nền văn hoá đang thịnh hành, thế thượng phong được dành cho cái bề ngoài, cái trực tiếp, cái có thể thấy được, cái nhanh, cái phù phiếm và cái tạm bợ. Cái thật nhường chỗ cho cái ảo”[15].

  1. b) Hiểu sai về Giáo Hội:

Các bạn trẻ nhìn Giáo Hội như là một tổ chức mang tính xã hội hơn là một cấu trúc được Chúa thiết lập. Công đồng Vaticanô II đã định nghĩa về Giáo hội: “Đức Kitô, Đấng Trung Gian duy nhất, đã thiết lập và không ngừng nâng đỡ Giáo Hội thánh thiện của Người nơi trần gian, một cộng đoàn đầy niềm tin, cậy, mến, như một cơ cấu hữu hình, nhờ đó Người thông truyền chân lý và ân sủng cho mọi người. Nhưng Giáo Hội vừa là cộng đồng được tổ chức theo cơ chế phẩm trật, vừa là Nhiệm Thể Đức Kitô, là đoàn thể hữu hình và cũng là cộng đoàn thiêng liêng, là Giáo Hội tại thế đồng thời cũng là Giáo Hội dư tràn của cải trên trời, dù vậy, không được nhìn Giáo Hội như hai thực thể, nhưng đúng hơn, tất cả chỉ làm nên một thực tại đa phức, được kết thành từ yếu tố nhân loại và thần linh” (LG số 8). Như vậy, Giáo Hội không đơn thuần là một tổ chức trần thế, vì Giáo Hội không do người thế thiết lập. Giáo Hội được hình thành từ sự hiệp thông của Ba Ngôi Thiên Chúa, nên Giáo Hội còn mang đặc tính thần linh. Và Giáo Hội hiện hữu để thực thi chương trình cứu độ con người của Thiên Chúa, chứ không phải để làm theo ý của con người.

Vì ảnh hưởng trào lưu tục hoá, và đề cao tự do cá nhân nên các bạn trẻ nhìn Giáo Hội như một công cụ phục vụ cho tham vọng của mình, bởi đó tư duy của bạn trẻ luôn mang tính thực dụng: Giáo Hội sẽ mang lại cho tôi những lợi lộc nào? Giáo Hội sẽ cho tôi được những gì trong cuộc sống này? Vâng, cuộc sống thế trần vẫn là ưu tiên hàng đầu, để rồi bạn trẻ cũng thường đặt cho Giáo Hội câu hỏi mà Phêrô đã hỏi Chúa hôm xưa: “Thầy coi, phần chúng con, chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy. Vậy chúng con sẽ được gì? (Mt 17, 27)

4- Giáo xứ nỗ lực đồng hành với nỗi khao khát của giới trẻ

Giáo xứ vẫn luôn ý thức về sự hiện diện của mình, là một cộng đoàn được Chúa quy tụ hầu đem phần rỗi đến cho muôn người. Giới trẻ đóng một vai trò quan trọng trong việc làm cho sứ vụ của Giáo Hội được thực thi cách hoàn hảo, nói như Đức thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II: “Công cuộc loan báo Tin Mừng cho thế giới vào những thập kỷ tương lai tuỳ thuộc vào các bạn. Các bạn hãy làm cho Giáo Hội tươi trẻ nhờ sự hiện diện thân thiện của các bạn”[16]. Vì thế, hơn bao giờ hết, giáo xứ phải ra sức canh tân sao để giáo xứ thực sự là “nhà ”, nơi tràn ngập tình yêu của một mái ấm gia đình, ở đó các bạn trẻ tìm thấy một sự đồng hành trên con đường tìm kiếm chân thiện mỹ, và phải hướng dẫn cho các bạn trẻ nhận ra giáo xứ là “tổ ấm” giúp các bạn khám phá ra vẻ đẹp đích thực, chứ không là nơi dừng chân tạm bợ để các bạn trẻ vận động tìm đồng minh cho tham vọng của mình. Hãy cho các bạn trẻ hiểu giáo xứ là cộng đoàn được Chúa quy tụ để sống yêu thương và tỏ bày tình yêu thương đến cho mọi người, đặc biệt những người nghèo khổ, bất hạnh, chứ không là nơi chuyên tổ chức quyên góp và làm việc từ thiện.

  1. a) Chỉ dẫn đến với Đức Kitô để học cách yêu thương:

“Đối với rất nhiều người trẻ, những từ ‘Thiên Chúa’, ‘tôn giáo’ và ‘Giáo hội’ dường như không có ý nghĩa gì, nhưng họ lại bị đánh động bởi nhân vật Giêsu, khi họ được nghe giới thiệu cách hấp dẫn và thiết thực về Người. Vì thế, điều cần thiết là Hội Thánh đừng quá bận tâm về mình, nhưng trước hết phải phản ánh Đức Giêsu Kitô. Điều này đòi hỏi Hội Thánh khiêm tốn nhìn nhận rằng có một số điểm cụ thể phải được thay đổi, và để làm điều đó thì Hội Thánh phải trân trọng quan điểm và cả những phê bình của người trẻ”[17].

Giáo hội hiểu thấu nỗi khao khát của các bạn trẻ, vì vậy Giáo xứ như “tổ ấm yêu thương”, sẽ giới thiệu đến các bạn trẻ vẻ đẹp toàn thiện nơi con người Giêsu. Người là một chàng trai trẻ tràn đầy sức sống và yêu thương. Nét đẹp nơi con người Giêsu chính là sức sống bắt nguồn từ một tình yêu mãnh liệt. Người mang đến cho nhân loại “tình yêu hứa ban sự vô hạn, vĩnh cửu – sự cao cả và hoàn toàn khác với thực trạng hằng ngày của chúng ta. Đồng thời cũng cho thấy, con đường để đạt đến đó không phải chỉ đơn thuần là tùng phục bản năng”[18]. Quả thật, Đức Kitô, tình yêu hạ cố của Thiên Chúa, sẽ chỉ cho biết sự lệch lạc của giới trẻ hiện nay khi nói về tình yêu được hiểu đơn thuần là tình dục, “Eros (tình ái) bị hạ giá xuống thành sex (tình dục), trở thành hàng hóa, thành ‘vật phẩm’; người ta có thể mua hay bán nó, thật vậy, chính con người cũng trở thành hàng hoá”[19]. Nếu tình yêu chỉ là tình dục, tình yêu đó không thể vẽ nên vẻ đẹp của con người bao gồm hai đặc tính: thần linh – chất thể, hồn – xác. Chúa Kitô sẽ hướng dẫn các bạn trẻ nhận ra rằng: Việc tôn vinh giả tạo thân xác có thể mau chóng trở thành thù ghét chính thân xác. Tình yêu phải là hành vi biểu lộ trọn vẹn “một hữu thể gồm cả hồn lẫn xác, nơi họ, tinh thần và vật chất nối kết chặt chẽ với nhau… Tình yêu bấy giờ trở thành sự chăm sóc người khác và cho người khác. Tình yêu không còn tìm cho chính bản thân mình – sự chìm đắm trong say mê hạnh phúc – nhưng chỉ muốn điều tốt lành cho người mình yêu: Tình yêu trở thành sự từ bỏ, sẵn sàng trở thành lễ vật, vâng, tình yêu muốn như thế”[20].

Đức Kitô không đưa ra những chỉ dẫn mang tính lý thuyết, nhưng chính Ngài đã hành động cách cụ thể hành vi tận hiến trong tình yêu khi Người lập Bí tích Thánh Thể. Chính nơi đây Người đã trao ban chính mình, và đã kết hiệp một cách mật thiết với những ai đón nhận Người qua Bí tích Thánh Thể. Trong một thế giới thực dụng hưởng thụ ích kỷ, đang giết dần cái đẹp đích thực, thì có thể tìm thấy nơi đâu nguồn sinh lực để phục hồi cái đẹp. Không đâu ngoài Đức Kitô. “Trước tình trạng khẩn cấp của đại dịch virus corona, nước Ý đang thiếu các nhân viên y tế, linh mục bác sĩ Alberto Debbi – cha sở của giáo xứ Correggio, thuộc tỉnh Modena – Ý đã tạm thời mặc lại chiếc áo trắng thầy thuốc, trở lại bệnh viện ở Sassuolo để giúp đỡ những người đang đau khổ trong phòng bệnh.

Chia sẻ trên Facebook, linh mục Debbi đã giải thích về chọn lựa của mình: “Tôi xin anh chị em cầu nguyện cho tôi. Từ thứ Tư (18/03) tôi sẽ lại bắt đầu (tạm thời) nghề bác sĩ tại bệnh viện Sassuolo, ở khoa phổi, trung tâm covid-19. Tôi nghĩ rằng trong giai đoạn khó khăn và đau khổ này, đây cũng là một cách để ‘bẻ chính mình ra’ và sẵn sàng phục vụ với mọi thứ chúng ta có… Bàn thờ của tôi lúc này chính là giường của người bệnh. Tôi chào tất cả mọi người! Can đảm lên!”[21].

Đây là cách thế mà giáo xứ phải tỏ ra cho các bạn trẻ, làm sao cho các bạn gặp được một Đức Kitô chói ngời yêu thương, nếu các thành phần trong giáo xứ: Cha sở, cha phó, và giáo dân luôn thể hiện được tình yêu như Đức Kitô qua sự hiệp thông, nâng đỡ, sẻ chia và giúp đỡ lẫn nhau. Giáo xứ phải là “nhà” nuôi dưỡng di sản văn hoá và truyền thống của cha ông Việt: “Chị ngã em nâng”, “bầu ơi thương lấy bí cùng”, nơi đào tạo nhân cách của con người để các bạn trẻ nhận ra “cái nết đánh chết cái đẹp”. Cái “nết” mà cộng đoàn Giáo xứ cần phải chuyển tới cho giới trẻ chính là gương sáng về đời sống thánh thiện. Tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên đề mời các bạn trẻ tham gia thảo luận, chẳng hạn chuyên đề về thái độ giới trẻ trước sự tiến bộ công nghệ hiện tại đối với đời sống đức tin… Hãy tạo cho các bạn trẻ ý thức được rằng, họ là chủ thể của đời sống giáo xứ, hãy cho họ cơ hội thể hiện điều họ khao khát đó là thích chia sẻ, thích lên tiếng và mong muốn được lắng nghe. Giáo xứ hãy khích lệ các bạn trẻ mạnh dạn thể hiện khát vọng của mình trong các sinh hoạt giáo xứ, nhưng phải giúp các bạn ý thức được rằng: “Là thành viên của Hội Thánh, chắc chắn chúng ta không được sống tách biệt với người khác. Họ phải cảm nhận được chúng ta là anh em, là người thân cận của họ, như các Tông đồ “được toàn dân mến phục” (Cv 2,47; x. 4,21; 5,13). Nhưng đồng thời chúng ta cũng phải dám khác biệt, có những ước mơ khác mà thế gian không có, dám làm chứng cho vẻ đẹp của sự quảng đại, tinh thần phục vụ, sự trong sạch, dũng cảm, tha thứ, trung thành với ơn gọi riêng của mình, của cầu nguyện, tranh đấu cho công lý và công ích, yêu thương người nghèo và tình thân hữu với mọi người”[22].

  1. b) Kiến tạo mối tương quan mang tính cá vị với Đức Kitô:

Một vấn nạn mà xã hội hôm nay đang đối diện, đó là giới trẻ ngày nay đang hình thành một nền văn hoá thần tượng “lệch lạc” làm cho chúng ta phải giật mình. Tác giả Hoàng Lân, trong bài viết: “Thần tượng lệch lạc – Hồi chuông báo động trong giới trẻ” đã đặt vấn đề: “Tại sao trong xã hội văn minh, đủ đầy nhưng bạo lực học đường ngày một tăng với tính chất nghiêm trọng? Tại sao nhiều học sinh tỏ ra thờ ơ, vô cảm trước sự mất mát của người thân, bạn bè nhưng lại có thể khóc ngất khi xem thần tượng biểu diễn? Tại sao thanh niên dễ nổi cáu, nóng giận, dẫn đến hành động phạm pháp?”[23] Và tác giả đưa ra một nhận định: “Thế giới chuẩn tắc thường ràng buộc con người, định hướng cho mỗi người đi theo chuẩn mực xã hội với giá trị đã được định sẵn. Nhưng với những người trẻ, đang đi tìm sự khác biệt, tìm ‘cái tôi’ thì ‘thế giới chuẩn tắc’ có thể khiến họ nhàm chán, và họ dễ bị hấp dẫn bởi những thứ vô nguyên tắc, những hành động điên rồ. Đó là lý do vì sao, những đối tượng giang hồ với hành động ngang ngược, bất cần dễ được đám đông giới trẻ tò mò, kích thích”[24].

Hiện tượng này là một thách đố cho đời sống giáo xứ được hiểu là “nhà”. Các bạn trẻ trong giáo xứ cần có được một định hướng đúng đắn để có thể xây dựng cho mình một nền văn hoá thần tượng đúng nghĩa. Bởi xã hội nào, thời nào cũng xuất hiện “thần tượng” chi phối mọi tư duy và lối sống của các bạn trẻ, cho nên Giáo Hội phải là ngọn hải đăng dẫn đường chỉ lối cho các bạn trẻ biết nhận định mục đích của việc tìm thần tượng.

Nhận thức được tầm quan trọng của việc định hướng cho các bạn trẻ xây dựng một nền văn hóa thần tượng đúng đắn, Đức thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II đã thành lập Đại hội Giới trẻ Thế giới cứ 2 năm một lần, với mục đích đem các bạn trẻ đến gần với Đức Kitô và trở thành bạn hữu thân tình với Đức Kitô. Thánh giáo hoàng đã thành công trong việc làm cho các bạn trẻ gặp được Đức Kitô qua con người của ngài. Một bạn trẻ Hồng Kông khi đến Đại hội Giới trẻ Thế giới tại Paris vào năm 1997, đã trả lời với một phóng viên: “Tôi đang chờ Đức thánh cha, bởi đây là điều quan trọng, vì chúng tôi có thể gặp được Đức Kitô ở nơi con người của ngài”. Quả thật, thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II thực sự đã truyền cảm hứng cho các bạn trẻ một lối sống lành mạnh, lòng dũng lực và sự can đảm. Ngài đã hướng dẫn các bạn trẻ biết khai phá con đường tương lai để hướng tới cứu cánh đích thực của cuộc sống, giúp các bạn trẻ tránh xa chủ nghĩa tục hoá, một chủ nghĩa đang ra sức loại bỏ đức tin Kitô giáo ra khỏi trí não của các bạn trẻ.

Đức Thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II đã ra đi về với cõi vĩnh hằng, nhưng đường lối mục vụ giới trẻ của ngài vẫn là nguồn cảm hứng giúp các giáo xứ kín múc được những kinh nghiệm dồi dào, hầu có thể đồng hành với các bạn trẻ trong đời sống đức tin. Một trong những kinh nghiệm đó chính là dẫn các bạn trẻ đến gặp Chúa Giêsu bằng nỗi khao khát của các bạn: Không phải là một Đức Giêsu khô cứng được đóng khung trong các công thức tuyên xưng đức tin, nhưng là một Đức Kitô sống động, đầy nghị lực “dám nghĩ, dám làm” để hoán cải kẻ tội lỗi, như Người đã từng hoán cải một Lêvi, một Giakêu và v.v.. Điều đó cũng có nghĩa là giáo xứ phải thực sự xây dựng cho mình thành một cộng đoàn dám đi ra khỏi những định kiến cố hữu, nói như Đức Phanxicô: Các bạn trẻ “không muốn thấy một Hội Thánh im lặng và e ngại lên tiếng, cũng không muốn thấy một Hội Thánh chỉ biết loay hoay tranh đấu cho vài ba vấn đề ám ảnh mình. Để được người trẻ tín nhiệm, đôi khi Hội Thánh cần tìm lại sự khiêm tốn và đơn sơ lắng nghe, biết nhận ra một ánh sáng nơi những gì người khác nói giúp Hội Thánh hiểu Tin Mừng tốt hơn. Một Hội Thánh luôn phòng thủ, thiếu khiêm tốn, không biết lắng nghe, không chấp nhận bị chất vấn, sẽ đánh mất đi sự tươi trẻ và biến mình thành một viện bảo tàng. Khi đó, làm sao Hội Thánh có thể đáp lại những ước mơ của người trẻ?”. [25]

Thế nhưng, để có thể có được tiếng nói chung giữa đời sống giáo xứ và khát vọng của các bạn trẻ, giáo xứ cần giúp các bạn trẻ khẳng định lại đức tin của mình: Tôi tin vào ai? Và tại sao tôi tin? Chắc chắn đối tượng của đức tin Kitô giáo không gì khác hơn là “tôi tin vào Chúa”, nhưng Chúa không là một khái niệm mơ hồ vu vơ, “tin là có một cuộc gặp gỡ với con người Giêsu, và qua cuộc gặp gỡ đó mà nhận ra rằng, ý nghĩa của thế giới là một con người, một ngôi vị sống động… Qua Đức Giêsu, chúng ta có thể sờ chạm tới Thiên Chúa, Đấng vô phương đạt thấu”[26].

Giáo xứ phải hướng dẫn cho các bạn trẻ hiểu đúng đắn về đức tin của mình, tuyên xưng đức tin là một quyết định dứt khoát về việc chọn lựa một tối hậu cho cuộc sống. Đây là việc quan trọng, bởi lời tuyên xưng tuy phát ra từ môi miệng con người, nhưng nền tảng của việc tuyên xưng vẫn là ơn thánh, chính Đức Kitô đã minh định điều đó: “Này anh Si-môn con ông Giô-na, anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời”. (Mt 16, 17). Vì thế, việc cần thiết là giáo xứ phải làm cho giới trẻ nhận ra tầm quan trọng của Thánh lễ và việc chầu Thánh Thể, bởi đây là cách thế để các bạn trẻ gặp Chúa Giêsu một cách cá vị nhất, và là cơ hội để đưa ra một quyết định dứt khoát về đức tin của mình. “Thực ra, đức tin cần có một môi trường mà trong đó nó có thể được làm chứng và truyền đạt, một phương tiện phù hợp và tương xứng với những gì được truyền đạt… Để truyền thông sự sung mãn này, có một công cụ đặc biệt bao gồm toàn thể con người, thân xác và tinh thần, đời sống nội tâm và những liên hệ. Công cụ ấy là các Bí Tích, được cử hành trong phụng vụ của Hội Thánh. Trong đó thông truyền ký ức nhập thể, được liên kết với không gian và thời gian của cuộc sống, và liên hệ mật thiết với tất cả các giác quan; trong đó toàn thể con người được tham gia như một phần tử của một chủ thể sống động, và một phần của một mạng lưới các mối liên hệ cộng đoàn”[27], cho nên tách rời cuộc sống ra khỏi mối tương giao với các bí tích, đặc biệt đối với bí tích Thánh Thể là điều không thể làm cho các bạn trẻ gặp gỡ được Đức Kitô.

c- Giúp các bạn trẻ nhận ra vẻ đẹp của việc cầu nguyện:

Có thể nói phần nhiều các bạn trẻ cảm thấy hụt hẫng trong cuộc sống vì những gãy đổ trong các mối tương giao bạn bè, đồng nghiệp, nơi sở làm, học đường. Thật vậy, khi đương đầu với những va vấp trong cuộc sống, lại thường gặp phải những chỉ trích hay ý kiến đối nghịch, cộng thêm áp lực từ cuộc sống, từ tiền bạc, mối quan hệ, công việc,…làm cho các bạn trẻ cảm thấy chán chường, rồi tự mình rút vào một góc xó không muốn tiếp xúc với ai. Nhiều bạn trẻ tự hỏi tại sao giữa một thành phố lúc nào cũng nhộn nhịp đông đúc như thế mà sao tôi lại cảm thấy cô đơn đến nỗi nhiều lúc cứ tưởng mình bị tự kỷ vì không biết chia sẻ với ai? Nhiều nhà văn đã trình bày một số đông bạn trẻ khi đối diện với nỗi cô đơn đã lấy hút sách, nhậu nhẹt, sex, bạo lực làm niềm vui để sống. “Mặc cảm bị bỏ rơi, bị gạt ra bên lề, bị chìm trong xã hội vô cảm, đã dễ chuyển hoá thành hành vi tìm kiếm sự nổi tiếng bằng sa đoạ hoặc tội ác”[28].

Đối diện với sự cô đơn của các bạn trẻ, hãy nói cho họ biết có một người sẵn sàng làm bạn với họ, sẵn sàng chia sẻ tâm tư vui buồn với họ, đó chính là Giêsu. Quả thật khi kết bạn với Chúa Giêsu, các bạn trẻ sẽ không bao giờ thất vọng, vì nơi Người các bạn tìm thấy được một tình bạn đích thật, nói như Đức Phanxicô: “Tình bạn với Đức Giêsu thì bất khả phân ly. Người không bao giờ bỏ rơi chúng ta, mặc dù đôi khi có vẻ như Người giữ thinh lặng. Khi chúng ta cần đến Người, Người tỏ mình ra cho chúng ta, và Người ở bên chúng ta trong bất cứ nơi nào”[29]. Chính Người sẽ cho biết “tình bạn không phải là một mối quan hệ nhất thời, tạm bợ, nhưng ổn định, bền vững, trung thành, chín muồi theo thời gian. Đó là một mối tương quan cảm mến nối kết chúng ta lại với nhau, và đồng thời đó cũng là một tình yêu quảng đại dẫn chúng ta đến việc tìm kiếm điều tốt đẹp cho bạn bè. Mặc dù bạn hữu có thể rất khác nhau, nhưng luôn có một số điểm chung khiến chúng ta cảm thấy gần gũi, thân tình để chia sẻ với lòng chân thành và tin tưởng”[30].

Con đường đến để gặp Chúa Kitô và kết nối tình bạn với Người chính là cầu nguyện. Quả thật cầu nguyện là phương thế có hiệu quả nhất để có thể làm bạn với Chúa Kitô, vì “Cầu nguyện cho phép chúng ta chia sẻ với Người mọi điều xảy đến với mình và tín thác trong vòng tay của Người, đồng thời cầu nguyện cũng cho chúng ta những giây phút thân tình quý giá, trong đó Đức Giêsu trao ban sự sống của Người cho chúng ta. Khi cầu nguyện chúng ta cởi mở tất cả với Người, chúng ta dành chỗ cho Người để Người có thể hành động và có thể bước vào và có thể chiến thắng” [31]. Khi kết  bạn với Đức Kitô các bạn trẻ sẽ không còn bị hụt hẫng giữa một thế giới sôi động này, sẽ không còn cảm thấy lạc lõng giữa cuộc sống đầy bon chen, và sẽ nhận ra cuộc sống của mình quả là một quà tặng vô giá mà Thiên Chúa đã trao ban, và sẵn sàng làm cho mình trở thành niềm vui cho người khác.

Kết

Một sinh viên thuộc đại học Cornell, Hoa Kỳ đã đưa ra một nhận định: “Ngày nay, khi hỏi thế hệ trẻ Việt Nam tin vào điều gì, có lẽ sẽ khó có thể tìm được một câu trả lời đồng thanh thỏa đáng như của những thế hệ trước, họ như đang khủng hoảng niềm tin. Sự khủng hoảng về niềm tin dẫn đến sự hụt hẫng về lý tưởng. Sự hụt hẫng về lý tưởng dẫn đến thiếu sót trong mục đích sống. Càng ngày người ta càng thấy nhiều người trẻ sa lầy vào những cuộc vui quên ngày tháng… Người Việt trẻ dường như đang sống để hưởng thụ nhiều hơn”[32]. Sự khủng hoảng niềm tin không chỉ xảy ra nơi các bạn trẻ ngoài Kitô giáo, nhưng ngay cả các bạn trẻ Công giáo cũng đang đối diện với khủng hoảng về đức tin. Có nhiều nguyên nhân dẫn tới khủng hoảng này, nhưng tựu trung vẫn là cảm giác hụt hẫng nơi các bạn trẻ giữa một thế giới quá thực dụng, và hầu như vô nghĩa.

Hiểu được điều đó, Giáo Hội nỗ lực tìm cách củng cố đức tin cho các bạn trẻ bằng cách đồng hành với các bạn trẻ như là người mẹ hiền để mong đồng cảm với những thách đố mà các bạn đang đối diện hầu có thể giúp các bạn kiên vững trong đức tin của mình. Điều mà Giáo Hội có thể mang lại niềm vui cho các bạn trẻ hôm nay không gì khác, chính Đức Giêsu Kitô. Quả thật “đối với nhiều người trẻ, Thiên Chúa, tôn giáo và Hội Thánh dường như là những từ trống rỗng, các bạn trẻ lại nhạy cảm với hình ảnh của Chúa Giêsu, khi hình ảnh này được trình bày một cách hấp dẫn và hiệu quả. Bằng nhiều cách, những người trẻ ngày nay nói với chúng ta: ‘Chúng con muốn thấy Chúa Giêsu’ (Ga 12,21), do đó biểu lộ mối quan tâm thánh thiêng này, là điều đặc trưng cho tâm hồn của mỗi con người: ‘Ao ước tìm kiếm tâm linh, khao khát gặp gỡ Thiên Chúa, khắc khoải về tình yêu’[33].

Để có thể mang lại cho các bạn trẻ dung mạo Đức Kitô tươi trẻ, trước tiên Giáo Hội phải thay đổi chính mình, Giáo Hội phải “bắt nguồn và gắn liền với sự thật của lời Chúa và trong tình yêu của Chúa Kitô, đó là một Giáo Hội không yêu bằng lời, nhưng bằng những hành động cụ thể, bằng tình yêu có thể chia sẻ được, cảm nhận được, thấy được, đụng chạm được… Giáo Hội phải là nơi mà mọi con tim được gặp nhau và hợp nhất trong một con tim duy nhất, nơi người ta tôn trọng lẫn nhau, được hy vọng và vui mừng với nhau và với người khác, nơi không có phê bình chỉ trích, nơi mà tình huynh đệ được đề cao, nơi mà người sa ngã được trỗi dậy lần nữa, nơi người ta tin tưởng nhau, nơi mà các mối tương quan đều chân thành và tin tưởng, nơi không có hoài nghi và sợ hãi, nơi tôi cảm nhận được sự ấm áp trọn vẹn của tình yêu Thiên Chúa sau khi bị lạc mất vòng tay”[34].

[1] Đức Phanxicô, Tông huấn “Chúa Kitô Đang Sống” (Christus Vivit), ban hành tại Loreto, Roma ngày 25-3-2019, số 39&40. Nguồn: https://www.hdgmvietnam.com/chi-tiet/tong-huan-christus-vivit-chua-kito-dang-song-38964

[2] Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, Thư chung 2019, ban hành ngày 4-10-2019, tại Hải Phòng, số 3.

[3] Lê Nhân Tâm, Giới trẻ Việt Nam trong Thời kỳ Đổi mới, (Thành Phố Hồ Chí Minh, 2004), tr. 278.

[4] Ánh Dương, Thế hệ làm điều không thể – Những người trẻ luôn khao khát bước ra thế giới bên ngoài và thể hiện cái tôi mãnh liệt. Nguồn: https://cafebiz.vn/the-he-lam-dieu-khong-the-nhung-nguoi-tre-luon-khao-khat-buoc-ra-the-gioi-ben-ngoai-va-the-hien-cai-toi-manh-liet-20191113154821734.chn

[5] Đức Phanxicô, Tông huấn “Chúa Kitô Đang Sống”, số 164.

[6] X. Fyodor Dostoevsky, Gã khờ, dịch giả: Phạm Xuân Thảo, NXB Văn Học, 2002.

[7] X. Paul Evdokimov, Dostoïevski et le problème du mal, NXB Desclée de Brouwer, 1992.

[8] Trích lại trong bài “Về Vẻ Đẹp” của Lm Micae Trần Đình Quảng, nguồn: http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/THANHOC/42VeVeDep.htm

[9] X. Felipe Gomez, Giáo Hội Học, NXB Antôn & Đuốc Sáng, Saigon 2002, Quyển I, tr. 208.

[10] Đức Phanxicô, Tông huấn “Chúa Kitô Đang Sống”, số 151.

[11] X. Nt., số 154

[12] Đức Phanxicô, Tông huấn “Chúa Kitô Đang Sống”, số 30.

[13] Đức Phanxicô, Tông huấn “Niềm Vui Tin Mừng” (Evangelii Gaudium), ban hành ngày 24-11-2013, tại Roma, số 52.

[14] Ánh Dương, Thế hệ làm điều không thể – Những người trẻ luôn khao khát bước ra thế giới bên ngoài và thể hiện cái tôi mãnh liệt. Nguồn: https://cafebiz.vn/the-he-lam-dieu-khong-the-nhung-nguoi-tre-luon-khao-khat-buoc-ra-the-gioi-ben-ngoai-va-the-hien-cai-toi-manh-liet-20191113154821734.chn

[15] Đức Phanxicô, Tông huấn “Niềm Vui Tin Mừng” số 62.

[16] Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, ngỏ lời với các bạn trẻ trong Đại hội Giới trẻ Thế giới lần I tại Roma, ngày 23-3-1986.

[17] Đức Phanxicô, Tông huấn “Chúa Kitô Đang Sống”, số 39.

[18] Đức Bênêđictô XVI, Thông điệp “Thiên Chúa là Tình Yêu” (Deus Caritas Est), ban hành ngày 25-12-2005, tại Roma, số 5.

[19] Nt.

[20] Nt., số 6

[21] https://www.tgpsaigon.net/bai-viet/nhung-tam-guong-sang-trong-dai-dich-covid-19-59936

[22] Đức Phanxicô, Tông huấn “Chúa Kitô Đang Sống”, số 36.

[23] Nguồn: http://www.hanoimoi.com.vn/tin-tuc/Xa-hoi/931295/than-tuong-lech-lac—hoi-chuong-bao-dong-trong-gioi-tre

[24] Nt.

[25] Đức Phanxicô, Tông huấn “Chúa Kitô Đang Sống”, số 41.

[26] Joseph Ratzinger, Einfuehrung in das Christentum, Bản tiếng Việt: Đức tin Kitô giáo – Hôm Qua và Hôm Nay, do Nguyễn Quốc Lâm và Phạm Hồng Lam chuyển ngữ, NXB Tôn giáo, 2009, tr. 79.

[27] Đức Phanxicô, Thông điệp “Ánh Sáng Đức Tin” (Lumen Fidei), ban hành ngày 29-6-2013, số 28.

[28] Thái Thảo, Đâu là nơi nương tựa khi trẻ hụt hẫng? Nguồn: https://thegioihoinhap.vn/van-hoa-giao-duc/giao-duc/dau-la-noi-nuong-tua-khi-tre-hut-hang/

[29] Đức Phanxicô, Tông huấn “Chúa Kitô Đang Sống”, số 154. Nguồn https://www.hdgmvietnam.com/chi-tiet/tong-huan-christus-vivit-chua-kito-dang-song-38964

[30]Nt., số 152.

[31] Nt., số 155.

[32] Tô Nam, Phải chăng Giới trẻ đang khủng hoảng niềm tin? https://www.bbc.com/vietnamese/mobile/forum/2012/12/121204_daoduc_niem_tin.shtml

[33] Tài liệu Kết thúc Thượng Hội Đồng Giám Mục giới trẻ lần XV, ngày 27-10- 2018, tại Roma, số 17.

[34] Đức Phanxicô, Tông huấn “Chúa Kitô Đang Sống”, số 41. Nguồn: https://www.hdgmvietnam.com/chi-tiet/tong-huan-christus-vivit-chua-kito-dang-song-38964

Read More

Điều hướng bài viết

  • Previous page
  • Page 1
  • …
  • Page 99
  • Page 100
  • Page 101
  • …
  • Page 152
  • Next page
Bài viết mới nhất
THƯ GỬI SINH VIÊN, HỌC SINH CÔNG GIÁO NHÂN DỊP MỪNG XUÂN BÍNH NGỌ
11/02/2026
THƯ GỬI SINH VIÊN, HỌC SINH CÔNG GIÁO NHÂN DỊP MỪNG LỄ CHÚA GIÁNG SINH 2025
20/12/2025
THƯ GỬI ANH CHỊ EM GIÁO CHỨC CÔNG GIÁO NHÂN NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM 20.11.2025  
17/11/2025
Video nổi bật
https://www.youtube.com/watch?v=Td144YDsaGo
Sự kiện sắp tới

There are no upcoming events at this time.

Ủy ban Giáo dục Công giáo – Trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.

Liên hệ

72/12 Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, TP.HCM Get Directions

Phone: +84 931 436 131

Email: [email protected]

Ban chuyên môn
  • Ban Tài liệu và Truyền thông
  • Ban Giáo chức
  • Ban Kỹ năng và Giá trị sống
  • Ban Khuyến học
  • Ban Học viện Thần học
  • Ban Hội Học sinh – Sinh viên
Chuyên mục
  • Tin tức
  • Thư chung
  • Giáo dục
  • Phụng vụ
  • Thư viện
Bản quyền © 2020 thuộc về Ủy Ban Giáo Dục HĐGM VN. Design by JT.