2022
Vì sao nhiều bạn trẻ ngày nay sợ kết hôn?
Vì sao nhiều bạn trẻ ngày nay sợ kết hôn?
Một danh nhân đã nói: “Hôn nhân là con đường đưa ta xuống địa ngục hay dẫn ta vào thiên đàng” (Balzac). Những ai đã bước vào đời sống hôn nhân gia đình đều có chung một nhận định này là hôn nhân đối với người này có thể là hỏa ngục nhưng với người khác lại là thiên đàng.
Riêng một số người đã trải nghiệm những đắng cay trong đời sống hôn nhân thì đã thốt lên cách bi quan là, “Hôn nhân giống như cái lồng chim, con ở trong thì muốn bay ra, còn con ở ngoài thì muốn bay vào” (Montaigne). Hay đã than thở rằng: “Cãi lộn chiếm phần lớn đời sống hôn nhân, phần còn lại không có gì đặc sắc” (Thornoton Wilder). Thực tế là ngày nay một số bạn trẻ quyết định không kết hôn, bởi đối với họ hôn nhân chỉ là một bi kịch, một thảm họa, một điều gì đó đáng sợ…với suy nghĩ rằng “Hôn nhân là mồ chôn tình yêu!” (Chamfort).
Trong phạm vi bài này, chúng ta thử tìm hiểu về thực trạng và nguyên nhân liên quan câu chuyện nhiều bạn trẻ ngày nay sợ kết hôn, đồng thời cũng muốn bàn đến một số những giải pháp khả thi nhằm giúp các bạn trẻ có cái nhìn tích cực hơn về hôn nhân, nhất là đối với các bạn trẻ Ki-tô giáo.
1.- Thực trạng
Trong bài báo có tựa đề “Giới trẻ Hàn Quốc lười kết hôn, ngại sinh con” trên trang vnexpress.net ngày 31-5-2021, tác giả đã cho biết như sau: Trước áp lực của cuộc sống hiện đại, thế hệ trẻ Hàn Quốc đang chọn cách sống độc thân, không con cái, dẫn đến nhiều hệ quả đối với nền kinh tế hàng đầu châu Á. ‘I Live Alone’ (Tôi sống một mình) là chương trình truyền hình thực tế nổi tiếng, kể về cuộc sống của các diễn viên, ca sĩ K-pop với những hoạt động đời thường như cho thú cưng ăn hoặc nấu mì ramen vào lúc nửa đêm – tất cả đều một mình.
Tác giả bài báo cho biết tiếp, ngày càng nhiều người Hàn Quốc ở độ tuổi 20-30 chọn từ bỏ ba điều được coi là quan trọng trong cuộc đời mỗi con người: hẹn hò, kết hôn và sinh con. Họ được gọi là “thế hệ Sampo” và thường bị chỉ trích là ích kỷ. Theo một báo cáo của chính phủ Hàn Quốc, những người sống một mình đã chiếm gần 40% dân số ở đất nước này. Năm 2020, khi quốc gia này lần đầu tiên báo cáo tỷ lệ tăng trưởng dân số âm, thứ trưởng Bộ Tài chính khi đó là Kim Yong-beom tuyên bố cột mốc quan trọng này là “nút thắt tử thần”. [1]
Quả thực, hiện nay, xu hướng chọn lựa sống độc thân, ngại kết hôn, sợ làm đám cưới, không muốn có con đang lan tràn mạnh mẽ tại nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là tại Á Châu như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc. Xu hướng này ngày càng trở nên đáng lo ngại hơn bởi đó không còn đơn thuần là một hiện tượng cá nhân nhỏ nhoi nữa, mà đang trở nên một hội chứng tâm lý đặc biệt mà các chuyên gia gọi đó là Hội chứng sợ kết hôn (Gamophobia).
Vậy “Hội chứng sợ kết hôn” (Gamophobia) là gì? Theo tác giả Nguyễn Thảo trên trang tamly.com.vn ngày 8-2-2022 đã cho biết như sau:
Hội chứng sợ kết hôn (Tiếng Anh: Gamophobia/ Fear of Commitment, Fear of Marriage) là một dạng rối loạn tâm lý ít gặp. Hội chứng này đặc trưng bởi nỗi sợ thái quá, vô lý về việc cam kết lâu dài cho một mối quan hệ (thường là hôn nhân). Gamophobia được xếp vào nhóm rối loạn lo âu ám ảnh sợ hãi (ám ảnh sợ đặc hiệu) như chứng sợ độ cao, sợ côn trùng, sợ máu v.v…
Hội chứng sợ kết hôn (Gamophobia) đặc trưng bởi nỗi sợ thái quá về hôn nhân và sự gắn kết lâu dài trong một mối quan hệ. Hội chứng này thường gặp ở những người có trải nghiệm tiêu cực về hôn nhân gia đình trong quá khứ. Những ý nghĩ về việc kết hôn hoặc sự ràng buộc lâu dài trong một mối quan hệ khiến bệnh nhân trở nên lo lắng, bất an, sợ hãi và căng thẳng. Thậm chí một số người trở nên hoảng loạn và mất kiểm soát. Có rất nhiều dạng ám ảnh sợ đặc hiệu nhưng Gamophobia ít được nghiên cứu hơn. Chính vì vậy, không ít người cảm thấy hoang mang, lo lắng khi bản thân có nỗi sợ vô lý về việc gắn kết lâu dài hay cụ thể hơn là kết hôn.
Hiện tại, chưa có thống kê chính xác về tỷ lệ người mắc hội chứng sợ kết hôn. Theo ước tính có khoảng 12.5% người Mỹ mắc phải chứng ám ảnh sợ, trong đó phổ biến nhất là sợ kim tiêm, sợ máu, sợ nhện vv…Trong khi đó tỷ lệ người mắc hội chứng Gamophobia ước tính khoảng dưới 1% dân số. Tương tự như các dạng ám ảnh đặc hiệu khác, Gamophobia có thể đi kèm với những nỗi sợ vô lý khác như nỗi sợ bị bỏ rơi, sợ thân mật và sợ phải tin tưởng người khác. Dù chưa có thống kê chính xác nhưng các chuyên gia nhận thấy, tỷ lệ người mắc hội chứng này tăng lên đáng kể trong 15 năm qua và nguy cơ cao hơn ở nữ giới trẻ tuổi.[2]
Theo một khảo sát được thực hiện trên website fearof.net với sự tham gia của 69.108 người vào giữa năm 2019, phụ nữ hiện nay có xu hướng từ chối kết hôn nhiều hơn đàn ông. Cụ thể, 66% người tham gia là nữ mắc hội chứng Gamophobia. Trong khi đó, con số này chỉ là 34% với nam giới.[3]
Riêng tại các đô thị lớn ở Trung Quốc, hiện tượng khiếp sợ hôn nhân hiện nay đang dần dần đã trở thành một căn bệnh truyền nhiễm trong giới phụ nữ công chức. Các nhà tâm lý học và xã hội học đã tiến hành tìm hiểu và thấy có mấy nguyên nhân chính của căn bệnh trên, chẳng hạn như: do sợ gánh vác trách nhiệm trong hôn nhân, lo sợ hôn nhân là mồ chôn của tình yêu, do bị ảnh hưởng của những biến cố lớn trong cuộc đời như tuổi thơ đã phải chịu một vết thương tâm lý nặng nề, để lại dấu ấn sau đậm trong tim họ, hay trường hợp luôn lo sợ về gánh nặng kinh tế sau khi kết hôn, hoặc người có những yêu cầu quá cao, quá hoàn mỹ đến mức hà khắc về đối tượng hôn nhân.[4]
Một thống kê cho biết, tại Trung Quốc, tỷ lệ kết hôn đang giảm mạnh. Vào năm 2021, chỉ có 8,13 triệu cặp đôi đăng ký kết hôn, giảm 12% so với năm 2020. Đây cũng là năm thứ bảy liên tiếp tỷ lệ này giảm. Nếu so với năm 2013 (13,47 triệu cặp đăng ký kết hôn), tỷ lệ này đã giảm đến 40%. Một cuộc điều tra dân số trong năm vừa qua cho thấy nước này đã trải qua mức thấp nhất trong sáu thập kỷ về tỷ lệ sinh.
Trong khi đó, ở Nhật Bản thống kê cho thấy, cứ 4 người đàn ông thì có 1 người không lập gia đình cho đến độ tuổi 50. Tại sao vậy? Theo báo Japan Times, xu hướng không lập gia đình ngày càng tăng trong xã hội là một nội dung trong báo cáo sắp công bố của Chính phủ Nhật. Bên cạnh đàn ông, tỉ lệ phụ nữ Nhật ở vậy một mình đến tuổi 50 là 1/7 người. Dữ liệu này được Chính phủ Nhật công bố 5 năm một lần và không tính đến những người đã ly hôn hoặc có hôn phu/hôn thê qua đời trước tuổi 50. So với hồi thập niên 1970, chỉ có 1,7% đàn ông và 3,33% phụ nữ Nhật chưa từng kết hôn đến tuổi 50.
Các chuyên gia đánh giá xu hướng độc thân đi lên là do áp lực đối với chuyện cưới xin trong xã hội Nhật ngày càng giảm, cùng với nó là nỗi lo tài chính trong nhóm những người không có nghề nghiệp ổn định. Phát hiện này cũng đồng nghĩa tỉ lệ sinh ở Nhật khó lòng sớm hồi phục, trong khi sẽ có thêm nhiều người cao tuổi độc thân chọn viện dưỡng lão để sống những năm tháng cuối đời.
Riêng tại Việt Nam, tác giả bài viết “Những người chọn sống độc thân” đăng trên trang vnexpress.net ngày 2-3-2022 cho hay: Tại Việt Nam, theo Tổng cục thống kê tỷ lệ người sống độc thân cũng đang có xu hướng tăng nhanh, từ 6,23% năm 2004 tăng lên 10,1% vào năm 2019. Một giảng viên khoa Tâm lý Đại học sư phạm TP. Hồ Chí Minh đã cho hay là sống độc thân đã trở thành xu hướng mới, đại diện cho sự độc lập về kinh tế và tinh thần của một số người trẻ. Chuyên gia này cũng cho biết thêm về một nghiên cứu tại Mỹ thực hiện năm 2012 bởi các nhà tâm lý học Đại học Thành phố San Diego và được Hiệp hội Tâm lý học (Mỹ) công bố, những người sinh ra trong thập niên 80 và 90 thường tự cho mình là trung tâm hơn so với thế hệ trước. Họ trân trọng chủ nghĩa cá nhân, biểu hiện lớn nhất là khát vọng sống cho mình. Nếu hôn nhân không thể cải thiện chất lượng cuộc sống, hoặc ảnh hưởng đến giá trị bản thân, họ sẽ không lựa chọn hôn nhân. Ngoài ra, theo chuyên gia này, ngoài lý do theo đuổi chủ nghĩa cá nhân, việc chưa tìm thấy đối tượng phù hợp, sợ trẻ con hay bị ám ảnh về hôn nhân không hạnh phúc cũng khiến nhiều người chọn độc thân.[5]
Như vậy, chúng ta đã thấy rằng vấn đề sợ kết hôn không chỉ là một xu hướng nhất thời, chung chung nữa, mà đã trở thành một căn bệnh truyền nhiễm đặc biệt, đã và đang lây lan trong giới trẻ tại nhiều nơi trên thế giới. Các nhà tâm lý học và xã hội học đã nghiên cứu sâu hiện tượng này và đã phát hiện ra nhiều nguyên nhân khiến cho nhiều bạn trẻ lo sợ không dám kết hôn một cách bình thường nữa. Vậy những nguyên nhân chính là những nguyên nhân nào?
2.- Nguyên nhân
Trở lại với bài viết “Hội chứng sợ kết hôn” trên trang tamly.com.vn ngày 8-2-2022, tác giả đã nêu ra một số nguyên nhân gây Hội chứng sợ kết hôn, như sau: Hiện tại, các chuyên gia chưa thể xác định được nguyên nhân gây hội chứng sợ kết hôn. Tương tự như các ám ảnh sợ đặc hiệu khác, Gamophobia thường là hậu quả do nhiều yếu tố kết hợp. Trong đó, những trải nghiệm tiêu cực trong quá khứ là yếu tố có vai trò quan trọng nhất. Các nguyên nhân, yếu tố có thể gây ra chứng Gamophobia, đó là:
2.1. Trải nghiệm tiêu cực từ thời thơ ấu: Các chuyên gia nhận thấy, những người mắc hội chứng Gamophobia thường có gia đình không hạnh phúc, chứng kiến cha mẹ cãi nhau và có các hành vi bạo lực từ khi còn nhỏ. Điều này tạo nên thái độ tiêu cực của trẻ về việc kết hôn và dần phát triển thành nỗi sợ vô lý, thái quá.
2.2. Thất bại trong hôn nhân: Ngày nay, việc ly hôn, ly thân không còn là vấn đề quá xa lạ. Sau một cuộc hôn nhân tan vỡ, cả hai người đều sẽ phải chịu tổn thương về mặt tinh thần. Ngoài ra, chứng kiến những người xung quanh liên tục thất bại trong tình yêu cũng khiến cho nhiều người có suy nghĩ tiêu cực về hôn nhân. Yếu tố này góp phần thúc đẩy sự phát triển của nỗi sợ vô lý, thái quá về việc gắn kết lâu dài.
2.3. Ảnh hưởng của nền văn hóa: Ở một số quốc gia, phụ nữ phải chịu nhiều thiệt thòi khi kết hôn và nam giới phải có nguồn lực tài chính để chi trả cho những thủ tục cưới xin phức tạp. Những yếu tố này cũng được xem là nguyên nhân thúc đẩy sự phát triển nỗi sợ phi lý, thái quá về việc kết hôn.
2.4. Di truyền: Tương tự như các ám ảnh sợ đặc hiệu khác, Gamophobia cũng có khả năng di truyền. Ở những bệnh nhân mắc các ám ảnh sợ, chuyên gia nhận thấy hạch hạnh nhân hoạt động quá mức. Cơ quan này chịu trách nhiệm chi phối và kiểm soát nỗi sợ, sự lo lắng và bất an. Hạch hạnh nhân hoạt động quá mức khiến cho một số người sợ hãi thái quá với một số vấn đề không thực sự nguy hiểm.
Tác giả bài viết cũng cho biết thêm, theo nhiều chuyên gia, hội chứng sợ kết hôn là hệ quả do di truyền kết hợp với các yếu tố tâm lý – xã hội. Trong đó, thường có liên quan đến những trải nghiệm tiêu cực về hôn nhân của người thân trong gia đình hoặc chính bản thân người bệnh. Mặt khác, nhiều người nhầm lẫn hội chứng sợ kết hôn với những người theo chủ nghĩa độc thân, muốn sống tự do, thoải mái thay vì gò bó trong mối quan hệ hôn nhân. Sự nhầm lẫn này khiến cho nhiều bệnh nhân không được thăm khám và điều trị sớm. So với các dạng ám ảnh sợ khác, Gamophobia ít ảnh hưởng đến việc học, nghề nghiệp mà chủ yếu ảnh hưởng đến các mối quan hệ.
Người mắc hội chứng sợ kết hôn sẽ gặp phải nhiều vấn đề trong các mối quan hệ. Bởi phản ứng thái quá khi người khác hỏi về tình trạng hôn nhân và dự định lâu dài trong mối quan hệ. Mâu thuẫn, xung đột có thể xảy ra khiến bệnh nhân dần thu mình, ít giao tiếp và kết bạn. Việc giới hạn các mối quan hệ cũng sẽ gây ra những khó khăn nhất định trong quá trình học tập, làm việc, sinh hoạt vv…
Tương tự như các ám ảnh sợ đặc hiệu khác, bệnh nhân mắc hội chứng sợ kết hôn sẽ phải đối mặt với nhiều vấn đề sức khỏe thể chất như stress, mất ngủ, cao huyết áp, suy nhược cơ thể… Suy nghĩ tiêu cực, cảm giác đau khổ và tuyệt vọng khi phải chia tay với người mình yêu thương cũng khiến cho người bệnh phát triển các vấn đề tâm lý khác như rối loạn lo âu, trầm cảm, rối loạn ăn uống. Bản thân người mắc hội chứng Gamophobia nhận ra sự thái quá, vô lý về nỗi sợ của bản thân nhưng không thể nào kiểm soát. Để quên đi thực tại, bệnh nhân có xu hướng sử dụng rượu bia, thuốc lá, chất gây nghiện và khó có thể duy trì được lối sống lành mạnh. Nhiều người lựa chọn các mối quan hệ độc hại để tránh sự áy náy, hối hận khi phải chấm dứt mối quan hệ.[6]
Trên đây, dựa vào những nghiên cứu của các nhà chuyên môn về tâm lý xã hội, chúng ta biết được tính chất của hội chứng sợ kết hôn như thế nào, cùng với việc phát hiện ra nhiều biểu hiện đặc trưng và những nguyên nhân chính gây ra chứng này. Hiện nay, người ta đã nghiên cứu và đưa ra nhiều giải pháp khả thi nhằm làm giảm thiểu sự gia tăng và mức độ nghiêm trọng của hiện trạng này. Các chuyên gia đã thực hiện một số giải pháp khả thi trên ba phương diện y tế, tâm lý và xã hội.
Bên cạnh đó, vai trò của tôn giáo, đặc biệt là Hội thánh Công giáo, cũng góp phần không nhỏ trong việc quan tâm, yêu thương và nâng đỡ các bạn trẻ cách chung và những ai đang trong tình trạng sợ kết hôn, do dự không dám lập gia đình và kể cả những người được chẩn đoán là đang mắc hội chứng Gamophobia.
Sau đây, chúng ta sẽ bàn về các giải pháp nêu trên.
3.- Giải pháp của xã hội
Các nhà chuyên môn nhận định rằng, nỗi sợ vô lý về việc kết hôn gây ra nhiều ảnh hưởng đối với cuộc sống. Ngoài tình trạng phải sống đơn độc, sự đau khổ, lo lắng và bất an do hội chứng này gây ra cũng khiến cho bệnh nhân phải đối mặt với nhiều vấn đề sức khỏe thể chất và tinh thần. Can thiệp điều trị là điều cần thiết đối với hội chứng sợ kết hôn mặc dù còn tồn đọng nhiều khó khăn và thách thức. Tùy vào tình trạng cụ thể, bác sĩ sẽ tư vấn phương pháp phù hợp. Hiện nay, các phương pháp được áp dụng phổ biến nhất là liệu pháp tâm lý và sử dụng thuốc.
3.1. Y tế
Các chuyên gia cho rằng, sử dụng thuốc không phải là lựa chọn ưu tiên đối với hội chứng sợ kết hôn. Tuy nhiên, nếu bệnh nhân thường xuyên lo lắng, căng thẳng, bác sĩ có thể chỉ định dùng một số loại thuốc. Trường hợp mắc đồng thời với trầm cảm và các rối loạn lo âu khác sẽ phải sử dụng thuốc lâu dài như một phương pháp điều trị chính. Dùng thuốc không giúp ích trong việc kiểm soát nỗi sợ phi lý và thái quá. Do đó, bệnh nhân bắt buộc phải kết hợp sử dụng thuốc với can thiệp liệu pháp tâm lý.
3.2. Tâm lý
Liệu pháp tâm lý là lựa chọn ưu tiên khi điều trị rối loạn ám ảnh sợ, bao gồm cả hội chứng sợ kết hôn. Mục tiêu của phương pháp này là giúp bệnh nhân vượt qua nỗi sợ và học cách khống chế sự sợ hãi vô lý, thái quá. Về lâu dài, nỗi sợ kết hôn sẽ thuyên giảm và bệnh nhân có thể trải nghiệm cuộc sống một cách trọn vẹn thay vì thường trực sự lo lắng, sợ hãi như trước đây. Trước khi can thiệp, chuyên gia sẽ đánh giá tình trạng cụ thể và lựa chọn phương pháp phù hợp với từng bệnh nhân.
Liệu pháp tâm lý là phương pháp điều trị chính đối với hội chứng sợ kết hôn. Một số liệu pháp tâm lý tiêu biểu được áp dụng cho bệnh nhân mắc hội chứng sợ kết hôn, chẳng hạn như:
Liệu pháp nhận thức hành vi (CBT- Cognitive Behavioral Therapy): là hình thức trị liệu giúp bệnh nhân thay đổi suy nghĩ một cách tích cực hơn, từ đó kiểm soát nỗi sợ và giúp người bệnh phát triển các mối quan hệ lành mạnh. Hiện nay, CBT là phương pháp trị liệu tâm lý được áp dụng phổ biến nhất nhờ mang đến nhiều lợi ích.[7]
Liệu pháp tiếp xúc: Liệu pháp tiếp xúc (liệu pháp phơi nhiễm) được thực hiện bằng cách cho bệnh nhân tiếp xúc với nỗi sợ với cường độ tăng dần theo thời gian. Khi bệnh nhân xuất hiện sự sợ hãi và lo lắng, chuyên gia sẽ hướng dẫn các kỹ thuật thư giãn như thư giãn cơ, hít thở sâu,… Quá trình này sẽ được lặp đi lặp lại giúp cho bệnh nhân học cách khống chế nỗi sợ và giảm đi sự sợ hãi vô lý, thái quá.
Cách chung, liệu pháp tâm lý mang lại hiệu quả cao trong điều trị hội chứng sợ kết hôn và các ám ảnh sợ khác. Để tăng hiệu quả, chuyên gia có thể đề nghị bệnh nhân can thiệp trị liệu nhóm, cặp đôi hoặc gia đình bên cạnh trị liệu cá nhân.
3.3. Cá nhân
Theo các chuyên gia, phạm vi cá nhân sẽ có các biện pháp tự cải thiện. Ngoài các phương pháp y tế, bệnh nhân cũng cần có các biện pháp tự cải thiện để vượt qua nỗi sợ kết hôn và gắn kết lâu dài. Các biện pháp này góp phần giúp giảm nỗi sợ thái quá, đồng thời hỗ trợ bệnh nhân học cách khống chế cảm xúc và thay đổi những suy nghĩ méo mó về hôn nhân.
Các chuyên gia đã đề nghị một số biện pháp tự cải thiện hội chứng sợ kết hôn như:
. Chia sẻ tình trạng sức khỏe của bản thân với gia đình hoặc những người bạn thân thiết. Khi được người khác thấu hiểu, bệnh nhân sẽ cảm thấy thoải mái và có động lực để điều trị.
. Tập thói quen viết nhật ký hằng ngày cũng là cách giải tỏa cảm xúc hữu hiệu. Biện pháp này sẽ giúp bệnh nhân kiểm soát sự lo lắng, căng thẳng, bất an… Đồng thời có cơ hội đánh giá lại suy nghĩ, cảm xúc của bản thân, từ đó điều chỉnh hành vi và nhận thức một cách đúng đắn hơn.
. Nên trò chuyện, chia sẻ với những người có hôn nhân trọn vẹn để thay đổi những suy nghĩ tiêu cực. Năng lượng tích cực từ những người xung quanh sẽ giúp bệnh nhân có thêm niềm tin và hy vọng về hôn nhân, từ đó giảm đi nỗi sợ và sự lo lắng thái quá về việc gắn kết lâu dài.
. Xây dựng lối sống lành mạnh, không dùng rượu bia, thuốc lá và chất gây nghiện.
. Tham gia các hoạt động cộng đồng và thực hiện những hành động có ý nghĩa để gia tăng sự tự tin, lòng trắc ẩn và yêu thương. Nhiều nghiên cứu cho thấy, hoạt động thiện nguyện giúp giảm đáng kể những cảm xúc tiêu cực và học cách kiểm soát tốt cảm xúc cá nhân.
Các chuyên gia tâm lý cho biết thêm là trầm cảm là một trong những bệnh tâm lý phổ biến nhất dẫn tới tình trạng sợ hãi hôn nhân. Vì thế người mắc hội chứng Gamophobia luôn cần được sự quan tâm chăm sóc của gia đình và của cộng đồng. Bất kỳ ai tại một thời điểm nào đó trong cuộc đời mình có thể thấy chùn bước trước quyết định kết hôn và cảm thấy lo lắng, sợ hãi. Tuy nhiên với lòng kiên định cùng sức mạnh của ý chí, nỗi sợ hôn nhân có thể được giải quyết tương tự như các nỗi sợ khác. Để vượt qua nỗi sợ này, bạn cần tin tưởng người khác đồng thời duy trì lòng tin vào bản thân.
Tóm lại, theo các chuyên gia tâm lý và các nhà xã hội học, trong vấn đề thực trạng hôn nhân ở Việt Nam hiện nay, cùng với việc vi phạm điều kiện kết hôn, hiện tượng không muốn lập gia đình cũng là một hiện tượng hôn nhân đáng bàn luận. Không muốn lập gia đình có thể hiểu là nam, nữ không muốn tham gia vào mối quan hệ vợ chồng và không muốn xác lập quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng. Hiện tượng trên khởi đầu trong những nước có mức sống cao ở Bắc Âu, lan sang Bắc Mỹ. Ở Châu Á, Nhật Bản là quốc gia điển hình. Riêng ở Việt Nam, hiện nay chưa có con số thống kê về tỉ lệ người theo xu hướng sống độc thân. Trên thực tế, trong một thời gian dài, hiện tượng này trở thành một trào lưu và được nhiều bạn trẻ hưởng ứng, nhiều người trở nên tôn sùng “chủ nghĩa độc thân”.
Nhìn trên phương diện lợi ích quốc gia, xu hướng không lập gia đình nếu kéo dài sẽ gây xáo trộn đời sống xã hội, điển hình như: không lập gia đình kéo theo việc duy trì nòi giống bị gián đoạn, dẫn tới lực lượng lao động trên thị trường suy giảm; khi bước sang giai đoạn già hóa dân số, gánh nặng về vấn đề phúc lợi xã hội sẽ tăng cao; tỉ lệ sinh đẻ giảm khiến lượng cầu của hàng hóa, dịch vụ cho bà mẹ và trẻ em giảm theo. Quan trọng nhất, các “tế bào xã hội” sẽ dần bị mất đi. Hiện tượng trên có thể được hình thành từ nhiều nguyên nhân, nhưng điển hình có thể kể đến như do sự du nhập văn hóa từ các quốc gia khác, do áp lực về kinh tế và do tư tưởng muốn sống tự do, không thích ràng buộc của các bạn trẻ. (Nguồn: Internet)
3.- Giáo huấn của Hội thánh về mục vụ Hôn nhân Gia đình
Chúng ta biết rằng ngày nay, hôn nhân đối với hầu hết các bạn trẻ, kể cả các bạn trẻ Công giáo là một thực tế đầy khó khăn và phức tạp. Dường như họ đang gặp phải những thách thức to lớn khiến nhiều người rơi vào tâm lý khủng hoảng, hoang mang lo sợ cho viễn ảnh hôn nhân của mình. Có thể kể ra, nào là thực trạng ly hôn lan tràn, nào là việc bị ép kết hôn sớm, nào là chuyện phá thai hoặc có thai trước hôn nhân, nào là hiện tượng “mẹ-đơn-thân”, rồi vấn đề bạo hành bạo lực trong gia đình vv.
Trước những mặt tiêu cực đó của hôn nhân, Hội thánh Công giáo luôn bầy tỏ trách nhiệm phải làm sao giúp các bạn trẻ mạnh mẽ vượt qua tất cả, để có một cuộc hôn nhân xứng đáng và đem lại hạnh phúc đích thực. Có thể nói, Hội thánh mọi thời đều tỏ ra rất quan tâm, lo lắng tới vấn đề hôn nhân gia đình của các Ki-tô hữu, những người đã lập gia đình, những người đang gặp khó khăn cách này cách khác trong đời sống hôn nhân, những ai đang chuẩn bị kết hôn.
Đức thánh GH Gio-an Phao-lô II trong Tông huấn Những bổn phận gia đình Kitô hữu (Familiaris Consortio/ FC) ngày 22-11-1981, ngay trong phần dẫn nhập với tiêu đề “Giáo hội phục vụ các gia đình” đã viết như sau:
“Vì biết rằng hôn nhân và gia đình là một trong những điều thiện hảo quý giá nhất của nhân loại, Giáo Hội muốn ngỏ lời và đem lại sự nâng đỡ cho những người đã biết được giá trị của hôn nhân cũng như gia đình và đang cố gắng sống trung thành với giá trị đó, cho những người đang sống trong ngập ngừng âu lo và đang đi tìm chân lý, cho những người đang bị ngăn cản cách bất công, không được tự do sống những dự phóng của gia đình họ. Trong khi đem lại sự nâng đỡ cho nhóm thứ nhất, ánh sáng cho nhóm thứ hai và sự trợ giúp cho nhóm người thứ ba, Hội Thánh muốn đem thân phục vụ mọi người đang bận tâm lo lắng cho số phận của hôn nhân và gia đình.
“Giáo Hội đặc biệt ngỏ lời với các bạn trẻ đang chuẩn bị dấn thân trên con đường hôn nhân và gia đình, ngõ hầu mở ra cho họ những chân trời mới bằng cách giúp họ khám phá ra vẻ đẹp và sự cao cả của ơn gọi sống tình yêu phục vụ cho sự sống.” (x. số 1)[8]
Nếu đối với một số người, hôn nhân là tai họa, là gánh nặng, là hỏa ngục, là một cuộc chơi, là một ván cờ…thì trái lại hôn nhân đối với người Công giáo được khẳng định như một ơn gọi, một ơn huệ, một sứ mệnh đến từ Thiên Chúa. Vẻ đẹp cao cả của hôn nhân là do bản chất của nó nằm trong ý định sáng tạo và cứu rỗi của Thiên Chúa. Thiên Chúa đã tạo dựng con người có nam có nữ để họ kết hợp thành đôi hôn phối sống với nhau và nương tựa nhau: “Con người ở một mình thì không tốt. Ta sẽ làm cho nó một trợ tá tương xứng với nó” (St 2,18); “Bởi thế người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt” (St 2, 24).
Và sự kết hôn của họ nằm trong chương trình kế hoạch kỳ diệu của Thiên Chúa: “Những đôi bạn cử hành hôn nhân Công giáo là những người đã đi vào trong chính kế hoạch của lịch sử cứu độ, mà cao điểm tìm thấy trong Giao Ước Tình Yêu của Đức Ki-tô với Hội thánh. Họ được mời gọi trở nên hình ảnh sống động của Tình Yêu Thiên Chúa…” (Thánh GH Gio-an Phao-lô II, FC).
Hôn nhân đích thực là một ơn gọi như bao ơn gọi khác, bởi vì Thiên Chúa đã kêu gọi con người đi vào đời sống ấy như một ơn thiên triệu và hôn ước giữa hai người nam nữ được thiết định như một bí tích vừa đem lại ân sủng vừa thúc đẩy dấn thân chu toàn sứ mệnh.
“Thiên Chúa là tình yêu và nơi chính mình Người, Người đang sống mầu nhiệm hiệp thông yêu thương giữa các ngôi vị. Khi tạo dựng nhân tính của người nam và người nữ theo hình ảnh Người và liên lỉ bảo toàn cho nhân tính ấy được hiện hữu, Thiên Chúa ghi khắc vào đó ơn gọi cũng như khả năng và trách nhiệm tương ứng, mời gọi con người sống yêu thương và hiệp thông. Tình yêu là ơn gọi căn bản và bẩm sinh của mọi người” (Đức thánh GH Gio-an Phao-lô II, FC số 11).
Mặt khác, hôn nhân cũng là một sứ mệnh đặc biệt, bởi vì Thiên Chúa đã ban cho con người một trái tim để yêu và được yêu, một giới tính để hấp dẫn và thu hút nhau, một định mệnh để liên kết sống-với-nhau. Khi lãnh nhận những ân huệ ấy, con người đáp trả Đấng Tạo Thành bằng việc thi hành sứ mệnh của hôn ước. Họ chấp nhận nên một để trọn đời yêu thương và nâng đỡ bổ sung cho nhau, “Không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt” (x. Mt 19,6; St 2,24). Do vậy, “Sự hiệp thông vợ chồng ăn rễ sâu từ sự thu hút tự nhiên về giới tính, cũng như từ sự bổ túc lẫn nhau giữa nam và nữ, được nuôi dưỡng nhờ những nỗ lực của đôi bạn muốn chia sẻ cho nhau trọn cả bản thân trong suốt cuộc đời”. [9]
Họ chấp nhận liên kết nhau để hướng đến một mục đích cộng tác với Thiên Chúa trong việc sinh sản và giáo dục con cái. Họ ý thức rằng, “Con cái là ân huệ cao quý của hôn nhân và là sự đóng góp lớn lao kiến tạo hạnh phúc của cha mẹ. Tình yêu vợ chồng còn phong phú nhờ những hoa quả của đời sống luân lý, tinh thần và siêu nhiên được cha mẹ truyền lại cho con cái qua việc giáo dục. Theo nghĩa này, mục tiêu nền tảng của hôn nhân và gia đình là phục vụ cho sự sống và hạnh phúc.”[10]
Trong lá thư gửi các cặp vợ chồng nhân ngày lễ Thánh Gia 26-12-2021, cũng là dịp kỷ niệm 5 năm ban hành Tông huấn Amoris laetitia / Niềm Vui của Tình Yêu, ĐTC Phan-xi-cô đã chia sẻ những lời nhắn nhủ như sau:[11]
Với các bạn trẻ chuẩn bị kết hôn, ngài viết: “Ngay cả trước khi đại dịch xảy ra, việc các cặp đôi đính hôn lên kế hoạch cho tương lai cũng chẳng dễ dàng gì vì khó tìm được việc làm ổn định. Giờ đây, thị trường lao động thậm chí còn bấp bênh hơn, cha khuyến khích các cặp đôi đã đính hôn đừng nản lòng, nhưng hãy có sự can đảm sáng tạo như Thánh Giuse đã thể hiện, người mà cha đã muốn tôn vinh trong năm dành riêng cho ngài. Trên hành trình tiến tới hôn nhân, hãy luôn tin tưởng vào sự quan phòng của Thiên Chúa, dù khả năng của các con có hạn chế, vì đôi khi chính những khó khăn lại mang đến cho mỗi chúng ta những nguồn lực mà chúng ta chưa bao giờ nghĩ rằng mình có. Đừng ngần ngại dựa vào gia đình và bạn bè của các con, vào cộng đoàn Giáo hội, vào giáo xứ, để giúp các con chuẩn bị cho cuộc sống hôn nhân và gia đình bằng cách học hỏi từ những người đã trải qua lộ trình mà các con đang bắt đầu”.
Riêng đối với các đôi vợ chồng đã kết hôn, câu hỏi đặt ra là họ có thể đóng góp điều gì cho đời sống và sứ mạng của Hội Thánh. Về điểm này, ĐTC đã nhắc đến vai trò của giáo dân trong Hội Thánh, ngài viết: “Như cha đã lưu ý, chúng ta ngày càng nhận thức được căn tính và sứ mạng của giáo dân trong Giáo hội và xã hội. Các con có sứ mạng biến đổi xã hội bằng sự hiện diện của các con tại nơi làm việc và đảm bảo rằng các nhu cầu của gia đình được quan tâm đúng mức.”
Tiếp theo, ngài nhấn mạnh vai trò của các cặp vợ chồng trong Mục vụ Hôn nhân: “Vì vậy, cha khuyến khích các con, các cặp vợ chồng thân mến, hãy tích cực hoạt động trong Giáo Hội, đặc biệt là trong việc chăm sóc mục vụ gia đình. Tinh thần đồng trách nhiệm đối với sứ mạng của Giáo hội đòi hỏi các cặp vợ chồng và các thừa tác viên được thụ phong, đặc biệt là các giám mục, hợp tác với nhau cách hiệu quả trong việc quan tâm chăm sóc các Giáo hội tại gia”. Đừng bao giờ quên rằng gia đình là “tế bào nền tảng của xã hội.” ./.
Aug. Trần Cao Khải
[1] Giới trẻ Hàn Quốc lười kết hôn, ngại sinh con – VnExpress Đời sống
[2] Hội chứng sợ kết hôn (Gamophobia) là gì? Cách vượt qua nỗi sợ – Tâm Lý Học (tamly.com.vn)
[3] Hội chứng Gamophobia: Hễ nhắc đến hôn nhân là toát mồ hôi hột, tay chân bủn rủn (afamily.vn)
[4] Sợ hôn nhân – Căn bệnh của giới nữ công chức – Báo Người lao động (nld.com.vn)
[5] Vì sao nhiều người trẻ Việt chọn sống độc thân (vnexpress.net)
[6] Hội chứng sợ kết hôn (Gamophobia) là gì? Cách vượt qua nỗi sợ – Tâm Lý Học (tamly.com.vn)
[7] CBT: Những hiểu biết cơ bản liệu pháp nhận thức hành vi – YouMed
[8] Tông Huấn Familiaris Consortio (Gia Đình Kitô Hữu) Của ĐGH Gioan Phaolô II (Ngày 22-11-1981) – (1) | Học viện Đa Minh (catechesis.net)
[9] UB Giáo Lý Đức Tin – Giáo Lý Hôn Nhân Gia Đình – NXB TG Hànội 2004
[10] UB Giáo Lý Đức Tin – Giáo Lý Hôn Nhân Gia Đình – NXB TG Hànội 2004
[11] Đọc Thư của Đức Thánh Cha Phanxicô gửi các đôi vợ chồng (hdgmvietnam.com)
2022
Yêu nhau trong giai điệu ngày thường
Yêu nhau trong giai điệu ngày thường

Vượt trên những ngăn cản khuyên lơi của gia đình và bạn bè, vượt qua quãng đường dài tít tắp, và đôi khi vượt trên cả sự chênh lệch tuổi tác hay khác biệt về “môn đăng hộ đối”, nhiều người trẻ ngày nay cảm thấy rằng tình yêu là tất cả, và mọi thứ không phải là vấn đề miễn là họ yêu nhau. Tuy nhiên, khi đam mê cháy bỏng nguội bớt, những cưng chiều tình tứ ban đầu cũng sẽ tàn lụi. Tình yêu dù có lãng mạn, bền chặt đến đâu thì cuối cùng cuộc sống chung của họ cũng không thể bỏ lơ những thứ tầm thường như cơm áo gạo tiền và đủ điều vụn vặt khác. Khi những đôi bạn trẻ thực sự bắt đầu đối mặt với những vấn đề này, các vấn đề khác sẽ lần lượt bị lột trần.
Khoảng thời gian của thời tuổi trẻ, ta yêu nhau bằng tất cả sự say mê, đắm đuối; ta mong muốn mang đến cho nhau những gì lãng mạn, đẹp đẽ và hào hoa nhất. Nhưng tất cả đó là chưa đủ, vì khi quyết định gắn kết với nhau, ta cần sự thức nhận về tình yêu, về anh và em trong “giai điệu ngày thường” vượt trên những dư vang của thời tuổi trẻ cuồng nhiệt. Người ta yêu nhau, sống chung với nhau vì muốn mang bình yên đến cho nhau. Tình yêu không phải một vài lời hứa, tình yêu cũng không phải chỉ bên nhau một, hai ngày, càng không phải những lời thề non hẹn biển được viết trên giấy hay nói suông. Tình yêu là trách nhiệm không từ bỏ, hơn nữa đó là sự đồng hành bình đạm. Tình yêu phải đủ sâu đậm để đi được một đoạn đường dài, nếu không nó sẽ nhanh chóng bị giết chết giữa vô vàn lo toan trong bộn bề cuộc sống. Muốn đi với nhau trên một con đường dài trong một hành trình lâu bền, tình yêu phải là cái gì đó “tự nhiên và tự nguyện” trong chính những giai điệu ngày thường chứ không phải là những rung động trong những lúc nảy lửa của những kỷ niệm nồng nàn ngắn ngủi. Tình yêu càng sâu sắc thì càng ẩn sâu bên trong chứ không nằm ở miệng hay sự thể hiện hời hợt bên ngoài.
Giá trị đích thực của hôn nhân đôi khi không nằm ở sự đúng sai chính yếu, cũng không hệ ở sự ngọt ngào, lãng mạn và bay bổng như những ngày đầu mới yêu mà nằm ở những chi tiết hết sức nhỏ bé trong cuộc sống thường nhật. Đó là những quan tâm chân thành, những hi sinh nho nhỏ hàng ngày không chút đắn đo. Đó là khi trời lạnh, có người nhắc ta mặc thêm áo ấm. Đó là khi ta tăng ca về khuya, trong nhà vẫn có ánh đèn đợi ta về. Đó là khi ta gặp chuyện buồn hay khó chịu, luôn có người sẵn sàng lắng nghe. Mọi khoảng sáng tối của cuộc đời ta đều có một người đồng hành, vui vì niềm vui của ta, buồn vì nỗi buồn của ta. Nếu không có những thứ này, hai người sẽ không thể bên nhau dài lâu được. Trong hôn nhân, một người cố gắng là không đủ, nó cần sự nỗ lực của cả hai. Có những người chia tay không phải vì hết yêu, mà vì quá mệt mỏi để tiếp tục tình yêu ấy…
Trong năm qua, vì lệnh giãn cách xã hội, phần đông người Sài Gòn đã không đi làm, các em học sinh nghỉ học và phải ở trong nhà nhiều tháng. Chắc hẳn chưa khi nào các gia đình Sài Gòn đông đủ lâu dài như thế vì hầu như mọi thành viên trong gia đình, thuộc nhiều thế hệ, nhiều lứa tuổi, đã ở trong nhà nhiều tháng. Không gian chật hẹp với 4 bức tường của căn phòng trọ hay ngôi nhà trong hẻm sâu đã khiến không ít người cảm thấy bức bí, khó chịu và mệt mỏi. Không ít gia đình xảy ra cãi vã xích mích, va chạm về những điều vụn vặt mà trước đây, vì sự bận rộn của công việc và cuộc sống người ta dễ lơ đi nhanh hơn. Chính trong những lúc đồng lao cộng khổ, ta nhận ra sự chân chính của một tình yêu thủy chung. Chính trong những giai điệu của ngày thường, ta nhận ra nhịp điệu của tình yêu, nhịp điệu của cuộc đời vang lên trong mênh mông sâu thẳm.
Gió Biển
2022
Cái động và cái tĩnh của người tu – Một góc nhìn về ơn gọi thánh hiến
Cái động và cái tĩnh của người tu – Một góc nhìn về ơn gọi thánh hiến
Hạt suy tư được gợi hứng từ đoạn Tin Mừng Gioan 8, 1-11
Nếu đoạn Tin mừng Ga 8, 1-11 được chuyển thể thành phim, thì chắc chắn đó sẽ là một bộ phim rất hấp dẫn, vô cùng kịch tính và đầy dãy những hình ảnh đánh động người xem đến từng chi tiết nhỏ nhất. Một cuộc giao tranh giữa động và tĩnh.
Bộ phim của chúng ta được bắt đầu với một cảnh tĩnh: Sau một ngày giảng dạy nhiệt tâm, đám đông ai về nhà nấy, thì Chúa Giêsu đến Núi Ôliu nghỉ ngơi và cầu nguyện một mình cùng Chúa Cha. Sự kết hợp mật thiết giữa Chúa Giêsu và Chúa Cha thì không cần phải bàn cãi. Chính Người đã khẳng định mạnh mẽ với chúng ta rất nhiều lần: Ta và Cha Ta là một. Khung cảnh trên núi Ôliu có lẽ tĩnh lắm, vì Chúa Giêsu đâu cần nói nhiều với Chúa Cha. Khi hai người đã hiểu nhau và gắn bó khăng khít đến độ nên một thì không cần phải nói gì nhiều. Ngôn ngữ của họ không còn là ngôn ngữ của lời nói nữa, nhưng là ngôn ngữ của sự hiện diện và của ánh mắt; nhiêu đó thôi cũng đã đủ để hiểu tất cả rồi! Cái tĩnh từ sự kết hợp mật thiết với Chúa Cha là nguồn sức mạnh cho cuộc sống và sứ vụ của Chúa Giêsu.
Chúa Giêsu phá vỡ sự im lặng của màn đêm: khi trời vừa sáng, Người đã trở lại đền thờ. Không khí bắt đầu xôn xao và kéo theo cảnh động vào sân đền thờ. Dân chúng đua nhau đến với Chúa Giêsu để nghe Người giảng dạy. Xem ra họ rất thích đến với vị thầy Giêsu này, vì giáo lý của Người thì mới mẻ và Người dạy lại có uy quyền, chứ không như các kinh sư của họ. Thêm vào đó, lâu lâu Người lại ra lệnh cho các thần ô uế, rồi trừ quỷ, rồi chữa bệnh… Quả thật, có một sự sinh động, hấp dẫn và lôi cuốn đến từ nội tâm, lời nói, cử chỉ và việc làm của Chúa Giêsu. Tất cả đều toát lên cái gì đó rất Chúa, đến độ người ta phải nói với nhau: Ông này thật là một vị ngôn sứ. Ông đúng thật là Đức Kitô…
Cảnh phim bắt đầu sôi động hơn, khi các người Pharisêu và các kinh sư lôi một người phụ nữ bị bắt quả tang đang phạm tội ngoại tình đến với Chúa Giêsu. Một đám đông hầm hầm sát khí và bạo lực, phá tan bầu khí hứng thú của một buổi giảng dạy tôn giáo. Mỗi người một tiếng, kẻ thì bĩu môi, người thì chế giễu, kẻ thì chỉ chỏ, người thì kết án… Cứ thế, cái động ngày càng sôi sục của một phiên tòa đầy âm mưu và nham hiểm đã tràn ngập xung quanh Chúa Giêsu. Đến giây phút này, Người vẫn tĩnh!
“Thưa Thầy, người phụ nữ này bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình. Môsê dạy chúng tôi ném đá y. Còn Thầy, Thầy nghĩ sao?” Một người Pharisêu kênh kiệu hỏi thách, để gài bẫy Chúa Giêsu. Câu hỏi thách ấy như một viên đá đầu tiên ném vào mục tiêu là Chúa Giêsu. Người phụ nữ vẫn đứng giữa họ. Lòng đầy tủi nhục, mặt mũi bết bát xấu hổ. Cái chết đang chờ chị. Sự hối hận hòa theo những giọt nước mắt ăn năn muộn màng rơi xuống ướt đôi bàn chân xinh của chị, chảy vào lòng đất khô cằn như cõi lòng những người đang đứng xung quanh chị.
Đến giây phút ấy, Chúa Giêsu vẫn tĩnh – cái tĩnh của Thiên Chúa. Cái im lặng mà chúng ta vẫn thường lầm tưởng Thiên Chúa làm ngơ trước nỗi đau khổ của con người. Nhưng thực ra đâu phải như thế. Có bao giờ Thiên Chúa làm ngơ trước loài người mà Ngài đã hết lòng yêu thương và dựng nên họ vì chính họ đâu. Ngài đã dựng nên chúng ta theo hình ảnh Ngài cơ mà. Có loài thụ tạo nào được như thế đâu. Thiên Chúa luôn yêu thương chúng ta cách vô điều kiện. Chúa Giêsu đã chứng minh điều đó.
Trước câu hỏi của người Pharisêu, Chúa Giêsu cúi xuống đất và bắt đầu viết. Người viết gì thì chỉ có những người ở đó biết. Nhưng dường như Người đang đan mây dệt gió để tạo một cơn mưa, cơn mưa làm dịu đi những cái đầu động, đang sùng sục sát khí, la lối và kết án. Người nói: “Ai trong các ông sạch tội thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi.” Câu nói ấy như một gáo nước lạnh xối thẳng vào mặt những kẻ đang thù ghét và bày mưu tính kế gài bẫy Người. Nói xong, Chúa Giêsu lại cúi mặt xuống đất lần thứ hai, như thể không muốn nhìn những con người tội lỗi sắp lìa bỏ Ngài mà đi.
Thế rồi, kẻ trước người sau, từng người một, lặng lẽ bỏ đi. Cái sôi động lúc đầu giờ đã trôi đâu mất, nhường chỗ cho cái tĩnh của Chúa Giêsu và người phụ nữ. Đám đông nãy giờ quan sát cũng dần dần rút lui. Ắt hẳn họ cũng đồng tình với bản án ném đá người phụ nữ hư hỏng kia. Điều đó chứng minh một điều: họ đến với Chúa Giêsu chỉ vì vụ lợi thôi, bởi vì họ không hề hiểu gì về giáo lý và hành động yêu thương của Chúa Giêsu. Tất cả sự sôi động đã tan biến chỉ với một câu nói của Chúa Giêsu. Cái tĩnh của Người đã chiến thắng bao nhiêu cái động xung quanh Người.
Tưởng như câu chuyện đã kết thúc ở đó, nhưng chưa. Còn người phụ nữ thì sao? Chúa Giêsu không kết án chị. Người không phủ nhận tội chị đã phạm, nhưng tha thứ cho chị. Tình yêu của Người luôn đi bước trước, tha thứ tất cả và chịu đựng tất cả. Giờ đây, chị không còn đứng giữa một đám đông đòi kết án chị nữa, nhưng chị đứng giữa một tình yêu bao la và lòng thương xót vô hạn của Chúa Giêsu. Chị đứng giữa một Đấng thánh luôn yêu thương chị và hiến mình vì chị và cho cả những kẻ đã kết án chị nữa, dẫu cho từ đầu tới gần cuối câu chuyện, Chúa Giêsu chỉ toàn im lặng và tĩnh mà thôi. Đó là cái tĩnh của tình yêu, cái tĩnh của sự tha thứ vô ngần của Thiên Chúa, mà con người không thể hiểu nỗi.
Trong cuộc sống thường ngày, dường như chúng ta cũng động quá nhiều. Cái động có thể đến từ chính con người chúng ta, hoặc có thể do những sự kiện và biến cố xảy ra hằng ngày, hoặc cũng có thể do người khác mang lại cho chúng ta. Nhiều lúc chúng ta bị cuốn theo những cái động bên ngoài đó, nhưng vẫn cho rằng mình ổn, vì đã thành công lướt thắng được tất cả. Tuy nhiên, nhìn kỹ lại coi: tâm hồn chúng ta có thật sự tĩnh và bình an không? Nếu câu trả lời là không, thì Chúa Giêsu cho chúng ta một giải pháp, để đánh tan mọi cái động đang phá đi sự bình an nội tâm của chúng ta. Cái động làm cho chúng ta thấy mình dường như trống rỗng, mất phương hướng, không tìm ra ý nghĩa của đời sống hiện tại. Cái động làm cho tâm hồn chúng ta nhạt đi, theo cái vô vị của những công việc thường ngày, chứ không còn mặn mòi như thuở ban đầu mới yêu Chúa…
Đức Hồng y Robert Sarah, Tổng trưởng bộ Phụng tự và Kỷ luật Bí tích, đã chỉ ra nguyên nhân sâu xa của việc ngày nay người Kitô hữu bị khủng hoảng đức tin, muốn rời bỏ Chúa và Giáo Hội, không còn quan tâm đến người khác mà chỉ sống hưởng thụ cho chính mình. Đó là vì người ta đã không còn kết hợp với Chúa Giêsu Thánh Thể nữa. Thánh Thể là nguồn mạch và đỉnh cao của đời sống đức tin và đời sống Kitô hữu. Một khi đã xa rời nguồn mạch thì làm gì có sự sống nữa? Chúng ta chỉ là những cái xác Kitô hữu không có sức sống, vì không cắm rễ vào nguồn mạch là Chúa Giêsu Thánh Thể.
Tôi có quen một cha xứ nọ. Trước đây ngài là con người rất hiền hòa, vui tươi và hay quan tâm tới mọi người xung quanh. Tuy nhiên, sau khi chuyển đến một giáo xứ có nhà thờ cách khá xa nhà xứ, ngài đã dần dần thay đổi tính cách. Ngài chỉ ở trong nhà thờ mỗi khi dâng thánh lễ. Công việc bao la, công chuyện bao quanh, nào là tương giao với chính quyền đang gây khó khăn, nào là xây dựng, nào là củng cố hội đoàn… Dần dần, điếu thuốc và ly cà phê là bạn đường suy tư của ngài. Cây đàn Guitar là bạn tâm giao chia sẻ vui buồn của đời sống ơn gọi. Chiếc Smartphone là nơi ngài tìm đến, để kiếm một giải pháp cho công việc mục vụ đang làm… Cứ như thế, giờ gặp gỡ và kết hợp với Chúa Giêsu Thánh Thể đã trở thành xa sỉ đối với ngài lúc nào không hay. Và đó là lý do giải thích cho sự thay đổi tính cách của ngài. Giờ đây, ngài dễ nỗi cáu, ít cười và trầm tư hơn.
Thật ra, đó cũng chính là kinh nghiệm thiêng liêng rất riêng của tôi. Năm Thần 1 và Thần 2, tôi chăm chăm vào học hành, với bao nhiêu là mục tiêu. Rốt cuộc, tôi nhận ra sau này những mục tiêu ấy cũng mục và tiêu hết thôi. Tạ ơn Chúa, sau những năm tháng miệt mài đó, Chúa đã cho tôi nhận ra hình như tôi đang đặt sai mục tiêu. Tôi đi tu đâu phải chỉ để học. Tôi đi tu là để ở lại và sống với Chúa cơ mà. Đại dịch Covid 19 làm tôi sống chậm hơn; những cái đau như nhiễm Virus Covid 19 hay đau chân cả tháng trời củng cố thêm cái chậm và cái tĩnh mà Chúa cần nơi con người tôi, để rồi, tôi khám phá ra Chúa Giêsu Thánh Thể mới là nơi tôi cần tìm đến và sống với. Từ đó, tôi thấy tâm hồn mình được bình an hơn. Và lạ thay, khi dành ít thời gian để học hơn nhưng việc học của tôi lại trở nên dễ dàng và thư thái hơn. Tôi ngủ ngon hơn, da mặt đẹp hơn, sáng hơn và bớt đi mấy nếp nhăn…
Vậy thì đâu là giải pháp cho chúng ta? Chúa Giêsu đã cho chúng ta câu trả lời. Đó chính là sự kết hợp mật thiết với Thiên Chúa qua Bí tích Thánh Thể. Hãy dành thời gian và không gian riêng tư để kết hợp với Chúa Giêsu Thánh Thể. Đừng sợ mất thời gian ngồi trong tĩnh lặng và nên một với Chúa Giêsu Thánh Thể. Bởi vì, chính lúc đó, chúng ta đang đắm mình trong nguồn mạch sung mãn của đời sống đức tin của Giáo Hội. Chính những giây phút đó, tâm hồn chúng ta mới tìm được sự bình an đích thực. Sự bình an đủ sức giúp chúng ta chiến thắng được những cái động của thế giới xung quanh, của cái vô vị và nhạt nhẽo hay hiện diện trong đời sống cộng đoàn. Chính cái tĩnh của Chúa Giêsu Thánh Thể sẽ là nguồn sức mạnh cho cuộc sống và sứ vụ của chúng ta. Cái tĩnh ấy sẽ ban cho chúng ta có đủ sức mạnh để đánh tan mọi cái động của thế gian đang tác động lên chúng ta. Xin Chúa Giêsu Thánh Thể gìn giữ tất cả chúng ta. Amen.
Giuse hạt bụi tro
2022
Sự thánh thiện của linh mục qua đức ái mục tử
Trong Tông huấn Gaudete et Exsultate (về ơn gọi nên thánh trong thế giới ngày hôm nay), Đức Thánh cha Phanxicô muốn nhấn mạnh đến vấn đề chính yếu về ơn gọi nên thánh mà Chúa nói với mỗi người trong chúng ta, lời mời gọi này Chúa nói một cách cá nhân với từng người là “phải thánh thiện vì Ta là Đấng thánh” (Lv 11,44, x. 1Pr 1,16). Đồng thời, Đức Thánh cha cũng nhắc lại lời khẳng định của Công đồng Vaticanô II rằng: “Tất cả các Kitô hữu, dù trong hoàn cảnh hay bậc sống nào, cũng được Chúa kêu gọi, để mỗi người một cách, vươn tới sự thánh thiện trọn hảo như chính Chúa Cha là Đấng trọn lành”[1]. Cách riêng khi nói về ơn gọi nên thánh của các linh mục thì trong Sắc lệnh Presbyterorum Ordinis (về tác vụ và đời sống các linh mục) đã nói rõ: cùng chung với các Kitô hữu khác khi được lãnh nhận bí tích Rửa tội các linh mục cũng được mời gọi hướng đến sự hoàn thiện mà Chúa Giêsu đã mời gọi: “Các con hãy trở nên hoàn thiện như Cha các con trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5,48).
Tuy nhiên, các linh mục còn có một lý do đặc biệt buộc phải đạt tới sự hoàn thiện này, do bởi các linh mục được thánh hiến cho Thiên Chúa qua bí tích Truyền chức thánh. Các linh mục trở nên khí cụ sống động của Đức Kitô Tư Tế vĩnh cửu, để tiếp tục thực hiện các công trình kỳ diệu của Người cho toàn thể xã hội con người qua mọi thời. Vì thế, khi trở thành hiện thân của Đức Kitô theo chức vụ của mình, mỗi linh mục cũng nhận được những ơn riêng, để khi phục vụ dân được trao phó cho ngài cũng như phục vụ toàn thể Dân Chúa, các ngài có thêm khả năng vươn đến sự hoàn thiện của chính Đấng đã trao tác vụ cho các ngài, và để sự yếu đuối của xác thịt phàm nhân được chữa lành nhờ sự thánh thiện của Đấng đã vì chúng ta mà trở nên Vị Thượng tế “thánh thiện, vô tội, vẹn toàn, tách biệt khỏi các tội nhân” [Hr 7,26] (PO 12). Nói tóm lại, các linh mục chúng ta phải trở nên là các linh mục thánh thiện của thời đại ngày hôm nay[2]. Nhưng làm như thế nào để đời sống linh mục trở nên thánh thiện trong thời đại này?
- Sự thánh thiện của linh mục qua đức ái mục tử
Trong bài giáo lý nói về sự thánh thiện vào ngày 13 tháng 4 năm 2011 tại quảng trường thánh Phêrô, Đức Thánh cha Bênêđictô XVI đã nhắc lại những lời giải thích của Công đồng Vaticanô II để xác định rõ đâu là trọng tâm của sự thánh thiện. Công đồng cho chúng ta biết rằng sự thánh thiện của Kitô hữu không gì khác hơn là sống bác ái một cách trọn vẹn. “Thiên Chúa là tình yêu; ai ở lại trong tình yêu thì ở lại trong Thiên Chúa, và Thiên Chúa ở lại trong người ấy” (1Ga 4,16). Thiên Chúa đã tuôn đổ tình yêu của Ngài vào tâm hồn chúng ta, nhờ Thánh Thần được ban cho chúng ta (x. Rm 5,5); vì thế, tặng phẩm thứ nhất và cần thiết nhất chính là đức ái, nhờ đó chúng ta yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sự và yêu thương tha nhân vì Ngài” (LG 42).
Bởi vậy, trong Tông huấn Pastores Dabo Vobis đã chỉ ra phương cách nên thánh của linh mục là nên đồng hình đồng dạng với Đức Giêsu Kitô Mục Tử và là thực thi đức ái trong mục vụ (PDV 27). Hay nói cách khác, các linh mục nên thánh qua việc theo gương mẫu của Chúa Giêsu là Vị Mục tử đích thực biết rõ, yêu thương đàn chiên, đến nỗi hy sinh mạng sống cho đoàn chiên (x. Ga 10,15). Tình yêu dành cho đàn chiên đến nỗi Người chấp nhận chết trên thập giá. Tình yêu của Chúa Kitô không có sự chọn lựa ai để yêu, nhưng dành cho tất cả mọi người, không loại trừ ai. Người đã nhắc chúng ta về điều này khi nói: “Tôi còn có những chiên khác không thuộc ràn này. Tôi cũng phải đưa chúng về. Chúng sẽ nghe tiếng tôi. Và sẽ chỉ có một đoàn chiên và một mục tử” (Ga 10,16). Những lời này cho thấy Chúa Giêsu muốn mọi người có thể đón nhận tình yêu thương của Chúa Cha. Và chính các linh mục được mời gọi để thực hiện sứ vụ này của Chúa Kitô, Vị Mục tử nhân lành yêu thương tất cả mọi người, cả những người không thường xuyên hoặc không bao giờ đến nhà thờ, cả những người chống đối hoặc gây ra các tổn thương cho mình. Bởi lẽ tất cả đều là con Chúa, những người mà Chúa Cha giao phó cho các mục tử chăm sóc[3]. Như thế, linh mục là dấu chỉ hữu hình về tình yêu nhân từ của Chúa Cha[4]. Cũng như, Đức Thánh cha Bênêđictô XVI đã khẳng định:
“Thái độ mến Chúa và yêu người là dấu xác nhận người môn đệ đích thực của Đức Kitô” (LG 42). Đây là sự đơn sơ đích thực, sự vĩ đại và chiều sâu của đời sống Kitô hữu, của sự thánh thiện. Đây là lý do tại sao thánh Augustinô, khi chú giải về chương thứ tư trong thư thứ nhất của thánh Gioan, có thể tuyên bố táo bạo: “Dilige et fac quod vis [Yêu và làm những gì bạn muốn]”; và ngài tiếp tục: “bạn có thinh lặng, hãy thinh lặng vì yêu thương; bạn có nói, hãy nói vì yêu thương; bạn có sửa lỗi, hãy sửa lỗi vì yêu thương; bạn có tha thứ, hãy tha thứ vì yêu thương; hãy để tình yêu thương bén rễ trong bạn, vì từ cội rễ này không gì khác ngoài điều thiện mới có thể tiến triển được” (7,8 PL 35). Những ai được tình yêu hướng dẫn, những ai sống bác ái hết mình, đều được Thiên Chúa hướng dẫn, vì Thiên Chúa là tình yêu. Do đó những từ quan trọng này được áp dụng: “Dilige et fac quod vis”, “Yêu và làm những gì bạn muốn”[5].
Như vậy, chính nhờ sống đức ái mục tử trọn hảo mà các linh mục sẽ trở nên thánh thiện như Cha trên trời. Cũng thế, mọi người sẽ nhận ra nơi người linh mục có Chúa trong họ (x.Ga 13,35). Như những gì trong Tông huấn Pastores dabo Vobis đã nói: “Các linh mục được mời gọi nối dài sự hiện diện của Đức Kitô, Vị Mục tử duy nhất và tối cao, bằng cách noi theo lối sống của Người và bằng cách làm sao cho mình như thể được Người xuyên thấu ngay giữa đàn chiên được giao phó cho mình” (PDV 15).
- Người linh mục là hình ảnh sống động của Chúa Giêsu – Vị Mục tử nhân lành
Bài tham luận Ước nguyện của giáo dân về linh mục tại Công nghị Tổng Giáo phận Hà Nội (ngày 20 tháng 01 năm 2022) vừa qua, đã nói lên nhiều mong muốn của người giáo dân về linh mục, nào người linh mục là gương sáng trong đời sống dấn thân, người làm chứng cho chân lý, người tốt lành tử tế, trí tuệ… nhưng đặc biệt là giáo dân mong ước linh mục là một chứng nhân tình yêu – Nhìn thấy Chúa nơi linh mục, luôn hạnh phúc với sứ vụ và hết lòng vì tha nhân[6].
Thật vậy, trong thời đại ngày hôm nay, giáo dân mong muốn rất nhiều điều về linh mục. Nhưng chỉ có một điều mong ước là căn bản và cần thiết nhất mà dù trong bất kỳ thời đại nào, dù ở giáo xứ miền quê hay thành thị, dù ở những nơi giàu có hay nghèo khó, đó chính là mong ước giống như ước nguyện của tông đồ Philipphê nói với Chúa Giêsu năm xưa: “Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, như thế là chúng con mãn nguyện” (Ga 14,8). Quả vậy, ước nguyện này của thánh Philipphê cũng chính là ước nguyện của người giáo dân mong muốn nơi linh mục của họ.
Xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, như thế là chúng con mãn nguyện. Không phải là một nghệ sĩ, không phải một giáo sư, không phải một kỹ sư. Nhưng là một người Cha. Trong một giáo xứ không có nhu cầu cần một kỹ sư hay một nghệ sĩ, nhưng chỉ có nhu cầu cần một người cha. Người mục tử chúng ta hôm nay cũng phải đáp trả cho những con chiên của mình như những gì Chúa Giêsu đã trả lời cho Philipphê: “Thầy ở với anh em bấy lâu, thế mà anh Philípphê, anh chưa biết Thầy ư? Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha. Sao anh lại nói: ‘Xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha’? Anh không tin rằng Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy sao? Các lời Thầy nói với anh em, Thầy không tự mình nói ra. Nhưng Chúa Cha, Đấng luôn ở trong Thầy, chính Người làm những việc của mình. Anh em hãy tin Thầy: Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy; bằng không thì hãy tin vì công việc Thầy làm.” (Ga 14,9-11). Dĩ nhiên là những linh mục chúng ta ngày hôm nay không dám trả lời như Chúa Giêsu đã trả lời với thánh Philipphê. Nhưng câu trả lời của Chúa Giêsu phải luôn là khuôn mẫu và luôn là mục tiêu mà các linh mục vươn tới, bằng cách trong nếp sống và sứ vụ của mình mỗi ngày trở nên giống Chúa Giêsu hơn. Để rồi, trong sự e sợ và run rẩy, nhưng với một đức tin mạnh mẽ và can đảm thì người linh mục chúng ta ngày hôm nay cũng dám nói lên rằng: ai nhìn thấy tôi là thấy Chúa Giêsu.[7]
Để có thể trở nên hình ảnh sống động và phản chiếu đức ái mục tử của Đức Giêsu Kitô vị Thượng Tế đời đời một cách rõ ràng trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống của người linh mục, ngoài việc thi hành các tác vụ của mình cách ý thức, các linh mục còn tìm thấy các phương thế khác. Đặc biệt là nơi Đức Maria.
- Chúa Giêsu trao ban cho các linh mục những gì quý giá nhất của Người, đó là Thánh mẫu của Người
Công đồng Vaticanô II đã mời gọi các linh mục luôn hướng nhìn Đức Maria như là một mẫu gương hoàn hảo cho sự hiện hữu của các linh mục (PO 18). Ai không biết noi gương đức hạnh của Mẹ Maria thì không phải là người con tận tình. Do đó, linh mục phải nhìn lên Mẹ Maria nếu muốn trở thành một chứng nhân cho đức ái qua việc dâng hiến toàn thân cho Chúa và cho Giáo hội. Cũng như việc chiêm ngưỡng Đức Trinh nữ Maria luôn làm sáng tỏ lý tưởng mà linh mục phải theo đuổi trong sứ vụ chăm sóc đoàn chiên của mình[8]. Bởi thế, Công đồng Vaticanô II đã nhắc nhở: “Các linh mục phải lấy tình con thảo thành kính tôn sùng và mến yêu Đấng là mẹ của Vị Thượng tế đời đời, là Nữ vương các tông đồ và là nguồn trợ lực cho tác vụ linh mục” (PO 18).
Thật vậy, do bởi vai trò quan trọng của Đức Trinh nữ Maria trong đời sống và sứ vụ của linh mục, nên các linh mục đều biết rằng Đức Maria là người mẹ, là nhà đào tạo xuất sắc của chức linh mục, vì Mẹ là người biết cách uốn nắn trái tim linh mục; Do đó, Đức Trinh nữ Maria biết và muốn bảo vệ các linh mục khỏi những nguy hiểm, khi bị kiệt sức và những lúc nản lòng: với sự ân cần của một người mẹ, Mẹ trông nom người linh mục để người con của Mẹ có thể ngày càng thêm khôn ngoan, thêm sức mạnh và thêm ân nghĩa đối với Thiên Chúa và người ta (x. Lc 2,52)[9].
Như vậy, chúng ta nhận ra rằng có một môi liên hệ gần gũi và bền chặt giữa Chúa Giêsu với Đức Trinh nữ Maria và chức linh mục. Như Đức Thánh cha Bênêđictô XVI đã trích dẫn lại lời của một trong những người con hiếu thảo của Mẹ Maria đó là thánh Gioan Maria Vianey, những lời mà cha thánh họ Ars yêu mến và thường xuyên lặp lại: “Chúa Giêsu Kitô, sau khi cho chúng ta tất cả những gì Người có thể cho chúng ta, Người còn muốn làm cho chúng ta thành người thừa kế những gì quý giá nhất của Người, đó là Thánh mẫu của Người”. Điều này áp dụng cho mọi Kitô hữu, cho tất cả chúng ta, nhưng theo một cách đặc biệt là đối với các linh mục. Chúng ta hãy cầu nguyện để Mẹ Maria làm cho tất cả các linh mục trở nên giống với hình ảnh của Chúa Giêsu là con của Mẹ, trong mọi vấn đề của thế giới ngày nay, như những người quản lý kho tàng tình yêu quý giá của Người với tư cách là Vị Mục tử nhân lành. Lạy Mẹ Maria, mẹ của các linh mục, xin cầu bầu cho chúng con![10]
- Vấn tâm
Trong dịp tĩnh tâm hôm nay, chúng ta cùng nhau vấn tâm với những gợi ý từ bài giảng của Đức Thánh cha Phanxicô dành cho các linh mục trong thánh lễ Truyền Dầu ngày 14 tháng 4 năm 2022 vừa qua.[11]
- “Chăm chú nhìn Chúa Giêsu” là một ân sủngmà linh mục chúng ta phải trau dồi. Là điều tốt vào cuối ngày, nhìn lên Chúa, và để Chúa nhìn vào tâm hồn chúng ta, cùng với những người chúng ta đã gặp. Đây không phải là việc đếm tội, nhưng là một chiêm ngắm đầy yêu thương, chúng ta nhìn vào ngày sống của mình với cái nhìn của Chúa Giêsu và như thế nhìn thấy những ân sủng trong ngày, những ân ban và tất cả những gì Người đã làm cho chúng ta, để tạ ơn. Và chúng ta cũng cho Chúa thấy những cám dỗ của chúng ta, để nhận ra và từ chối chúng.
- Có ba không gian của việc tôn thờ ngẫu tượng ẩn giấu,trong đó Ác thần sử dụng các thần tượng của chúng để làm suy yếu chúng ta khỏi ơn gọi làm mục tử và từng chút một, tách chúng ta khỏi sự hiện diện tốt lành và yêu thương của Chúa Giêsu, của Chúa Thánh Thần và của Chúa Cha.
– Thần tượng trong tinh thần thế gian mang tính thiêng liêng đó là “một đề xuất cho cuộc sống, một nền văn hóa của phù du, bề ngoài, hoá trang”. Tiêu chí của nó là sự chiến thắng, một chiến thắng không thập giá… Tinh thần thế gian tìm kiếm vinh quang của chính mình lấy khỏi chúng ta sự hiện diện của Chúa Giêsu khiêm nhường và chịu đau khổ. Chúa gần gũi với mọi người, Chúa Kitô đau khổ với tất cả những người đau khổ. Một linh mục theo tinh thần thế gian không gì khác hơn là một kẻ ngoại đạo khoác áo giáo sĩ.
– Thần tượng Quan tâm trước tiên đến tính thực dụng của những con số được coi là ưu tiên hàng đầu. Những người yêu mến thần tượng ẩn giấu này có thể được công nhận vì tình yêu của họ đối với các số liệu thống kê, những thứ có thể làm mất tính chất con người trong các cuộc thảo luận và lấy số đông làm tiêu chí cho sự phân định. Đây không thể là cách duy nhất và cũng không thể là tiêu chí duy nhất trong Giáo hội của Chúa Kitô. Con người không thể được “đánh số”, và Thiên Chúa không ban Thần khí “bằng thước đo” (Ga 3,34). Thực tế, trong sự quyến rũ của những con số, chúng ta tìm kiếm chính mình và chúng ta hài lòng với sự kiểm soát được đảm bảo bởi lý luận này, vốn không quan tâm đến các khuôn mặt cá nhân và xa rời tình yêu.
– Thần tượng Duy chức năng, nhắm hiệu quả. Điều này có thể quyến rũ nhiều người “nhiệt tình với các danh mục hơn là lên đường”. Tâm thức của người theo chủ nghĩa chức năng hướng đến hiệu quả, không quan tâm đến mầu nhiệm. Từng chút một, thần tượng này đang thay thế sự hiện diện của Chúa Cha trong chúng ta. Cha chúng ta là Đấng Tạo Hóa, nhưng không phải là Đấng chỉ làm cho mọi thứ “hoạt động”. Ngài “tạo nên” chúng ta với tư cách là Cha, với sự dịu dàng, chăm sóc thụ tạo và làm cho con người tự do hơn… Linh mục với tâm thức chức năng nuôi dưỡng chính mình, đó là cái tôi của mình. Theo chủ nghĩa chức năng, chúng ta bỏ qua một bên việc tôn thờ Chúa Cha trong những việc nhỏ và lớn của cuộc đời mình và chúng ta hài lòng với hiệu quả các chương trình của mình.
Trong hai không gian cuối cùng của việc thờ ngẫu tượng ẩn giấu (theo các con số và duy chức năng) chúng ta thay thế hy vọng, là không gian của cuộc gặp gỡ với Chúa, bằng các kết quả thực nghiệm. Đó là một thái độ hư danh về phía mục tử, một thái độ làm tan rã sự kết hợp của dân với Thiên Chúa và định hình một thần tượng mới dựa trên những con số và chương trình: thần tượng “sức mạnh của tôi, sức mạnh của chúng tôi”. Việc che giấu những thần tượng này và không biết cách vạch mặt chúng ra trong cuộc sống hàng ngày làm tổn hại đến lòng trung thành của giao ước linh mục của chúng ta và làm cho mối quan hệ cá nhân của chúng ta với Chúa trở nên nguội lạnh.
(Trích: Suy niệm tĩnh tâm linh mục Giáo phận Phú Cường, tháng 5/2022)
[1] x. ĐTC Phanxicô, Tông huấn Gaudete Et Exsultate, số 10.
[2] x. ĐTC Gioan Phaolô II, Sứ điệp ngày Giới trẻ Thế giới lần thứ XV (2000), số 3.
[3] x. ĐTC Phanxicô, Bài giảng trước kinh Lạy Nữ Vương Thiên Đàng, Chúa nhật 25/4/2021.
[4] x. Bộ Giáo sĩ, Đào tạo linh mục – 2016 (Bản dịch của Uỷ ban Giáo sĩ và Chủng sinh trực thuộc HĐGMVN), nxb Tôn giáo, 2017, số 35.
[5] ĐTC Bênêđictô XVI, Bài giáo lý nói về sự thánh thiện, 13/4/2011.
https://www.vatican.va/content/benedictxvi/it/audiences/2011/documents/hfben-xvi_aud_20110413.html
[6] x. Bài tham luận Ước nguyện của giáo dân về linh mục https://www.tonggiaophanhanoi.org/bai-tham-luan-uoc-nguyen-cua-giao-dan-ve-linh-muc/
[7] x. ĐHY Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, Scoprite la gioia della speranza, Art, Roma 2006.
[8] x. NORBERTO RIVERA, The blessed Virgin Mary in the life and ministry of the priest (Đức Trinh Nữ Maria trong đời sống và sứ vụ của linh mục), Conference at the 2° International meeting of Priests – Yamoussoukro, 09/7/1997. https://www.vatican.va/roman_curia/congregations/cclergy/documents/rc_con_cclergy_doc_19071997_conri_en.html
[9] Ibid.
[10] x. ĐTC Bênêđictô XVI, Bài giáo lý nói về Đức Maria Mẹ của tất cả các linh mục, 12/8./2009.
https://www.vatican.va/content/benedictxvi/it/audiences/2009/documents/hf_ben-xvi_aud_20090812.html
[11] ĐTC Phanxicô, Bài giảng trong thánh lễ Truyền Dầu, 14/4/2022.
https://www.vaticannews.va/vi/pope/news/2022-04/dtc-phanxico-cu-hanh-le-truyen-dau-tai-den-tho-thanh-phero.htmlLM Phaolô Nguyễn Phú Cường
