2023
Trẻ cảm thấy thế nào khi cha mẹ cãi nhau?
Trẻ cảm thấy thế nào khi cha mẹ cãi nhau?
Có ai trong chúng ta được sinh ra và lớn lên trong một gia đình chưa từng có những mâu thuẫn, xung đột? Có ai trong chúng ta chưa từng trải nghiệm, dưới nhiều hình thức, những khác biệt, và thậm chí những bất đồng giữa cha mẹ? Những lúc đó, chúng ta cảm thấy như thế nào?

Là bậc cha mẹ, chúng ta đã bao giờ tự vấn xem con cái mình sẽ cảm thấy thế nào khi chứng kiến sự cãi vã của người lớn? Đây thực sự là một vấn đề cần được quan tâm một cách nghiêm túc, với ý hướng, giúp chúng ta học cách xử lý những bất đồng sao cho vẫn bảo vệ những ranh giới nhất định và nhu cầu của các thành viên khác trong gia đình.
Trẻ cảm thấy thế nào khi chứng kiến xung đột giữa cha mẹ?
Cô đơn và bất lực
Một cậu bé 7 tuổi đang trong tiến trình điều trị đã đưa cho bác sĩ trị liệu của mình một mảnh giấy trong đó có ghi: “Cháu khóc suốt đêm. Nước mắt là người bạn duy nhất của cháu. Cháu cảm thấy cô đơn. Bố mẹ cháu cãi nhau cả đêm”.
Cô đơn là một cảm giác nổi bật trong tình huống như vậy. Khi người lớn chìm đắm trong cảm xúc (kể cả sự hung hăng), con cái họ không có ai để nương tựa. Bậc cha mẹ phải duy trì sự cân bằng cảm xúc để trẻ cảm thấy an toàn, dù đó là trẻ mới biết đi hay đang ở độ tuổi thanh thiếu niên.
Chỉ những người bình tĩnh, những người nhận ra và quản lý cảm xúc của bản thân mới có thể mang lại nền tảng an toàn giúp trẻ nhận thức được rằng thế giới là một nơi được mong đợi. Do đó, khi người lớn phát cáu, bắt đầu la hét và xúc phạm nhau, mọi nền tảng bảo vệ trong thế giới nội tâm của trẻ bị sụp đổ một cách nhanh chóng.
Trẻ chẳng có ai để cậy dựa. Trẻ cảm thấy sợ hãi (chẳng hạn, gia đình sẽ tan vỡ hoặc ai đó sẽ bị tổn thương), tức giận và buồn bã (vì cha mẹ mình có vẻ như không yêu thương nhau). Trong tình huống như vậy, trẻ cảm thấy dường như chỉ có một mình mình trên thế giới này.
Gánh nặng của người lớn trở thành gánh nặng của trẻ em
Ranh giới của trẻ bị vi phạm khi nội dung không phù hợp với tâm trí trẻ em lọt vào tai chúng. Bằng việc quyết định “ai có lỗi” hoặc “ai đúng”, bằng việc nói một cách thô lỗ về những vấn đề của người lớn, chúng ta kéo trẻ vào cuộc và trẻ phải chịu những gánh nặng của mối tương quan của chúng ta. Dù muốn hay không, trẻ bắt đầu chịu đựng những vấn đề chưa được giải quyết của người lớn như một gánh nặng quá tải.
Trẻ trở thành người bạn tâm giao trong nỗi sợ hãi của chúng ta về vấn đề tài chính gia đình, là nhân chứng cho cuộc cãi vã xem ai là người làm nhiều hơn cho gia đình, ai quan tâm đến mối tương quan nhiều hơn, và ai làm tổn thương ai và mức độ ra sao. Trẻ có thể nghe thấy những lời nhục mạ hoặc ác ý, vốn là những điều mà đối với người lớn, đã là nặng nề huống hồ là đối với một đứa trẻ.
Chọn Cha hay Mẹ?
Nhu cầu tự nhiên của trẻ em hoặc thiếu niên là có thể yêu thương cả cha lẫn mẹ. Những cuộc cãi vã buộc trẻ phải chọn người mà chúng sẽ đồng ý với và người mà chúng sẽ bảo vệ. Khi làm như vậy, trẻ cũng cảm thấy rằng chúng đang phản bội một trong hai người, vốn là cha mẹ của mình. Bởi vì, suy cho cùng, con cái phải hiếu thảo với cả Cha và Mẹ.
Thật là một tình huống bi thảm khi cha mẹ kéo con cái vào một cuộc tranh cãi chỉ để chúng quyết định xem bên nào là hợp lý. Thậm chí còn tồi tệ hơn khi người cha/ mẹ lập “hiệp ước” với trẻ chống lại người kia, giải thích lý do tại sao “không thể sống với cha/mẹ”. Điều tai hại đó chính là lạm dụng tình cảm và là điều rất nghiêm trọng.
Gạt nhu cầu của trẻ sang một bên
Khi cha mẹ cãi nhau, trẻ cảm thấy mình hoàn toàn chẳng là gì đối với cha mẹ cả. Và theo một cách nào đó, trẻ đã đúng: cha mẹ đang coi thường cảm xúc của trẻ, không quan tâm gì đến cảm xúc đó gây ra cho trẻ.
Trong một gia đình đầy những xung đột, sẽ không có chỗ cho nhu cầu của trẻ. Trẻ sẽ bắt đầu đẩy nhu cầu của mình lại phía sau. Trẻ cũng có thể cảm thấy có lỗi vì bố mẹ không hòa thuận với nhau. Trẻ có thể bắt đầu nghĩ rằng nếu chúng cư xử tốt hơn, học hành giỏi hơn, hoặc ăn uống dễ dàng hơn thì có lẽ cha mẹ chúng sẽ hạnh phúc hơn.
Trong những gia đình mà cha mẹ thường xuyên cãi vã, trẻ em cũng có thể mắc các bệnh về tâm thần. Rốt cuộc, trẻ mang nơi mình một gánh nặng căng thẳng to lớn. Vô hình chung, trẻ bị biến thành những người gìn giữ hòa bình bất đắc dĩ. Trẻ có thể nghĩ rằng mình có thể làm điều gì đó để tránh cuộc cãi vã, chẳng hạn như đùa giỡn, làm cha mẹ mất tập trung hoặc đóng vai trò là người hòa giải. Trẻ sẵn sàng xoa dịu ngay cả những điềm báo nhỏ nhất về xung đột.
Hơn nữa, sự sợ xung đột này đôi khi trở thành một phần thường trực trong thế giới nội tâm của trẻ. Trẻ biết được những mặt tồi tệ nhất của cha mẹ mình, mà không biết rằng hai người có thể khác nhau mà vẫn có thể bình tĩnh nói chuyện với nhau.
Hạnh phúc của trẻ so với lợi ích của hôn nhân
Là bậc cha mẹ thì điều này có ý nghĩa gì đối với chúng ta? Trước hết, đó là lời mời gọi để giữ lại các cuộc trao đổi của người lớn khi không có mặt trẻ. Nhưng đó cũng là lời kêu gọi giải quyết vấn đề sớm, tốt nhất là ngay khi chúng phát sinh. Việc trì hoãn vô thời hạn có thể khiến những vấn đề ngày càng lớn thêm giống như một tảng băng trôi.
Người ta thường nói rằng mối tương quan hôn nhân phải được đặt lên hàng đầu, bởi vì con cái cần tình yêu thương của cha mẹ. Nhưng tôi nhấn mạnh rằng, chúng ta phải đặt lợi ích của trẻ em lên trên hết, tạo cơ hội để trẻ có mối tương quan sâu sắc và đáng tin với người lớn.
Có được như vậy, chúng ta sẽ dễ dàng tìm thấy động lực để vượt qua những giai đoạn khó khăn trong hôn nhân theo cách có thể cứu vãn tâm hồn mong manh của một đứa trẻ 2 tuổi, 7 tuổi, hoặc một thiếu niên.
Nhưng nếu chúng ta thất bại thì sao? Điều quan trọng nhất là xin lỗi và giải thích rằng những gì đã xảy ra không phải là lỗi của trẻ. Chúng ta muốn mọi người trong gia đình mình cảm thấy quan trọng và cần thiết.
***
Ngoài ra, là những gia đình Công giáo, chúng ta có mẫu gương tuyệt vời của Thánh gia. Rõ ràng là, Thánh Giuse, Mẹ Maria và trẻ Giuse không thể không trải nghiệm những khó khăn, thách đố trong đời sống gia đình, nhưng các ngài luôn đối diện và cùng nhau giải quyết những tình huống như thế với tình yêu thương, khiêm tốn, lắng nghe, và tôn trọng nhau. Và trên tất cả, các ngài luôn tìm kiếm để cả gia đình cùng thi hành ý muốn của Thiên Chúa, cách trọn vẹn nhất.
Małgorzata Rybak
Nt. Anna Ngọc Diệp, OP
Dòng Đa Minh Thánh Tâm
2023
Di cư và cái giá phải trả
Di cư và cái giá phải trả
Thu qua. Đông tới. Trời trở gió. Khi bóng đêm đã nuốt chửng mọi sự vật, ngoài kia, những cơn gió đầu mùa đang gào thét như những con thú rảo quanh tìm mồi, phủ lấy cả xóm làng. Cái lạnh đang dần tràn ngập không gian. Những cơn gió như những bóng ma đến gõ từng cánh cửa lạch cạch… Trên cây, tiếng chú chim con đầy lo lắng như lả đi trong tiếng gió rít và mẹ chúng chưa về. Trong nhà, một không khí lạnh lẽo đến nặng nề không chỉ vì cái lạnh của đất trời, nhưng còn là cái lạnh của cô đơn, mất mát, đang bao phủ ngôi nhà và lòng người.. Bất chợt!!!- Mẹ!…Mẹ!
- Mẹ đừng đi… Hãy ở lại với con!
- Sao mẹ không về… Mẹ đi đâu? Mẹ!…Mẹ!…. Hu hu hu…
Đó là tiếng kêu thảng thốt trong mơ của đứa bé mới lên bốn, vẫn thét lên kể từ ngày mẹ nó vĩnh viễn không bao giờ về với nó nữa. Bàn tay nhỏ xinh của nó quờ quạng không khí như đang níu kéo một thứ gì đó đã vụt khỏi tầm tay. Tiếng kêu đó như dằn thêm nỗi đau của người bà đang ôm nó, với hai hàng nước mắt lăn dài đau đớn, cùng tiếng thều thào cố dỗ dành đứa cháu đáng thương, vì bà đã mất đi một người con gái yêu… Hình ảnh khuôn mặt xám xịt vì không còn sự sống của người mẹ trẻ, khi linh hồn đã lìa khỏi xác nơi đất khách quê người, được đưa lên Facebook ít lâu, vẫn cứ lảng vảng và ám ảnh tôi, khiến tôi tự hỏi tương lai của đứa trẻ này rồi sẽ ra sao? Sẽ còn bao nhiêu bạn trẻ phải phải đối diện với nghịch cảnh này nơi đất khách? Tại sao nên nông nỗi này? Phải chăng vì cơm áo gạo tiền? Đó chỉ là một trong không ít những nghịch cảnh mà những người trẻ phải rời bỏ quê hương xứ sở đã và đang phải đối diện.
Dẫu biết con người sinh ra đã là một sinh vật di cư, và di cư đã trở thành một tập quán của con người. Kể từ cuộc di cư đầu tiên của tổ tông loài người, có lẽ lúc đó cũng chỉ là những người trẻ, khi phải rời bỏ vườn Địa Đàng để đi đến một “vùng đất mới”, thì trái đất vẫn quay, thời gian vẫn cứ trôi và các cuộc di cư của loài người, trong đó có rất nhiều người trẻ, vẫn diễn ra trong suốt chiều dài lịch sử và sẽ còn tiếp tục.
Con người, nhất là người trẻ, những con người tràn đầy sức sống, như một điều tất yếu, sinh ra để ra đi, để khám phá, để tồn tại và phát triển, thậm chí là chạy trốn. Có rất nhiều yếu tố hay nguyên nhân đã và đang làm nên những cuộc di cư của con người trong suốt dòng lịch sử: Có thể là thiên tai, chiến tranh, bạo lực, hay cũng có thể là do việc tìm kiếm, khám phá những vùng đất mới… Tuy nhiên, có một yếu tố đang tác động và góp phần quan trọng khiến con người, nhất là các bạn trẻ phải ra đi, thậm chí là đi trong nước mắt. Đó chính là vấn đề kinh tế, cơm áo gạo tiền.
Nhìn vào bối cảnh xã hội Việt Nam ngày nay, tôi cảm nhận rất rõ vòng xoáy di cư đang tác động trực tiếp và sâu rộng đến mọi mặt của xã hội. Vòng xoáy này đang ngày càng khoét sâu khoảng cách và sự khác biệt giữa nông thôn và thành thị. Một vấn đề còn đau lòng hơn nữa đang diễn ra, đó là tình trạng xuất khẩu lao động. Thật đáng buồn khi có một người nào đó đã nói lên sự thật rằng các nước Đức, Mĩ, Hàn, Nhật xuất khẩu ô tô, điện thoại… trong khi Việt Nam lại “tự hào” là một nước “xuất khẩu người” hàng đầu thế giới. Ở cái tuổi mà lẽ ra các bạn phải dùng sức lực, trí tuệ của mình để xây dựng quê hương, đất nước, thì họ lại phải chấp nhận bị biến thành “một thứ hàng hóa” có thể trao đổi trên thị trường mà tôi xin lỗi phải dùng chữ “rẻ mạt”, chấp nhận rời bỏ nơi chôn nhau cắt rốn, người trẻ phải đối diện những vất vả của thân “nô lệ kiểu mới”, những rủi ro, thậm chí là bi kịch, như người con gái trẻ trong câu chuyện trên, để đổi lại những đồng lương nhiều khi không đáng với sức lao động mà họ bỏ ra mà họ lại tự hài lòng và thỏa mãn với nó… Đáng buồn thay!
Cuộc đời dường như có rất nhiều nghịch lý. Một trong những nghịch lý đang xảy ra nơi các miền quê, khi mà cuộc sống trở nên đầy đủ hơn nhờ những cuộc di cư nơi thành thị, nhất là nước ngoài, thì cũng là lúc những ngôi nhà khang trang và đầy đủ tiện nghi mọc lên như nấm, tạo nên một vẻ bên ngoài cho cuộc sống ấm no hạnh phúc. Thế nhưng, ẩn sau những “vỏ bọc vô hồn đó”, là sự lạnh lẽo vì những ngôi nhà thật to, thật đẹp kia lại thiếu đi hơi ấm của người bố, người mẹ, sức trẻ, năng động của người anh, người chị… những thành viên đáng ra phải được hưởng thành quả của mình, lại đang bon chen nơi đất khách quê người.
Nhìn vào các Thánh lễ hay các dịp lễ hội, tôi không khỏi chạnh lòng, vì ngày càng mất đi không khí sôi động, sốt sắng, đông đảo vốn có của các miền quê, nơi mà già, trẻ, lớn, bé, từ lâu đời đã gắn bó tuổi trẻ và sống chung nhịp đập với các sinh hoạt tôn giáo, xã hội. Giờ đây, bầu khí đó ngày càng trở nên một thứ gì đó xa xỉ và hiếm hoi. Những Thánh lễ lác đác bóng người, chỉ toàn các cụ già và trẻ con, những lễ hội đơn điệu và ngày càng nhạt nhẽo và thiếu sức sống, nhất là sức trẻ vì ít người tham dự…
Dẫu biết rằng những khó khăn về kinh tế, nhưng luôn có một niềm khao khát, mong ước đến ngày Tết để gia đình được đoàn viên, được sống lại bầu khí ấm cúng nơi các bữa cơm gia đình mà lẽ ra, những người ông, người bà và các con cháu đáng được hưởng nhiều hơn. Thế nhưng, ước mơ nhỏ nhoi đó nhiều khi cũng không đến với nhiều gia đình, vì không đủ các thành viên sum họp hay không bao giờ về nữa! Hình ảnh những người mẹ dựa cửa ngóng con đan xen hình bóng những người vợ trẻ đon đả ra vào ngong ngóng, ra xem vào ngó chiếc điện thoại mong chồng về… và cảm động hơn là bóng dáng hồn nhiên của những đứa con háo hức mong tan học thật nhanh để về nhà, vì biết đâu bố đã về, mẹ đã về, anh đã về, chị đã về??? Những hình ảnh ấy dường như chỉ có trong “thời chiến” thì nay đã trở nên quen thuộc nơi mỗi làng quê mỗi dịp Tết đến xuân về. Thật đáng suy gẫm…!!!
Dẫu biết cuộc sống rất giống cuộc đời, khi những mảnh ruộng, miếng vườn không còn là kế sinh nhai, cũng như không còn đáp ứng được nhịp chạy của sự phát triển và những đòi hỏi về nhu cầu vật chất, những người nông dân chân lấm tay bùn, vốn cần cù chịu khó, nay không thể bám víu được nữa, phải chấp nhận ngậm đắng nuốt cay, dắt dìu nhau rời quê hương để đến những vùng đất mới nơi thành phố, vùng kinh tế mới hay nước ngoài, để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của đời sống vật chất. Nơi đây, họ phải chấp nhận từ bỏ vị thế làm chủ để trở nên thân phận công nhân, tôi tớ… tìm mọi cách, mọi nghề để kiếm được đồng tiền lo cho cuộc sống. Họ chấp nhận rời bỏ ngôi nhà khang trang, ấm ấp để “chui rúc” trong những dãy nhà ổ chuột, với điều kiện sinh hoạt thiếu thốn, để giảm chi phí, tiết kiệm đồng lương ít ỏi kia. Vẫn có những tầng lớp, những bạn trẻ may mắn có một cuộc sống dễ chịu hơn nơi thành thị bon chen, nhưng còn quá nhiều những cảnh đời phải chấp nhận ngậm ngùi sống một cuộc sống thiếu thốn mọi bề, cũng chỉ vì miếng cơm manh áo, vì mong ước một cuộc sống sẽ đầy đủ hơn.
Cũng chính nơi đây, ảo tưởng về một cuộc sống dễ dàng, những công việc lương cao bổng hậu, hay những điều kiện sống thoải mái khiến những người nông dân vốn không quen với nhịp sống vội vã, không quen với tiếng ồn, những phương tiện hiện đại, phải tìm mọi cách để bắt kịp thời đại. Đó chính là con dao hai lưỡi, có thể tạo ra những cơ hội để vươn lên, nhưng bên cạnh đó, họ phải đối diện với một xã hội có quá nhiều cạm bẫy và vấn đề. Để rồi, không ít người, nhất là các bạn trẻ, những người còn đang thích khám phá và tò mò về mọi sự, bị xoáy vào dòng xoáy của hưởng thụ, của sự dễ dãi, của những công việc nhẹ lương cao nhưng trái pháp luật, lỗi đạo đức hay những tệ nạn xã hội mà không thể thoát khỏi, thậm chí mất tất cả. Điều này gây ra biết bao hậu quả đáng thương, những cảnh gia đình tan nát, các bạn trẻ đánh mất đức tin và chạy theo những phong trào, những triết thuyết nguy hiểm, hay tình trạng sống thử và suy đồi nơi giới trẻ, sinh viên…, những chuyện mà ngày nay nhan nhản và đáng báo động khi các bạn trẻ ngày càng “tôn thờ tự do quá chớn”. Nguy hiểm thay! Đứng trước tình trạng đó, những hội đồng hương, cộng đoàn công giáo xa quê hay các hội sinh viên Công giáo đã được thành lập, như một giải pháp tạm thời để những con người tha hương liên kết với nhau để thông cảm, chia sẻ và sinh hoạt với nhau, giúp cho vơi bớt đi nỗi nhớ nhà, bớt những cám dỗ và nhất là đoàn kết hơn.
Làn sóng di cư ồ ạt không chỉ gay ra những vấn đề nhức nhối nơi thành phố, mà nó còn len lỏi và gặm nhấm nhịp sống hơi thở của các miền quê. Nhất là nó đào hố sâu ngăn cách giữa thành phố và nông thôn, để lại nỗi trống vắng, lạnh lẽo vì thiếu thốn hơi ấm nơi thôn quê, nơi vốn đã thanh tĩnh, nay lại càng già cỗi và cô liêu. Những cánh đồng bát ngát nay đã thấp thoáng những mảnh ruộng bỏ hoang chờ dự án, hay bị rao bán. Những miếng vườn thân thương. đầy cây ăn trái, bóng mát, bị bê tông hóa đến tàn nhẫn. Dường như tất cả đang phải chạy theo tốc độ đáng sợ của kinh tế thị trường, của toàn cầu hóa, để rồi sự thanh bình, yên tĩnh vốn có bị phá hủy.
Quê tôi, những tiếng lạch bạch mệt nhọc nơi “ông bạn già Dream” của bố tôi vẫn phải gồng mình cùng bố hằng ngày làm bạn với con đường làng đã được trải nhựa mới, mà đằng sau là những khuôn mặt rạng rỡ có, ỉu xìu, mệt mỏi của mấy đứa cháu tôi đang trong lứa tuổi thiên thần. Vẫn còn đó sự đơn sơ hồn nhiên, nhưng dường như sâu trong đôi mắt đó là nỗi khao khát, thèm thuồng một gia đình có đầy đủ cả cha lẫn mẹ, các anh các chị, mà ít khi chúng được tận hưởng, vì bố hoặc mẹ, hay anh chị chúng đang phải còng lưng nơi đất khách để kiếm tiền lo cho gia đình, lo cho chúng. Đó chính là một thực tế đáng buồn không chỉ đang diễn ra nơi gia đình tôi, nhưng là một tình trạng chung của biết bao gia đình quê tôi, nơi những người ông người bà đã đến tuổi được an hưởng tuổi già, lại phải “miễn cưỡng hồi xuân” để làm thay vai trò, trách nhiệm mà những người trẻ để lại, dù vẫn biết là không thể thay thế.
Tôi vẫn còn nhớ như in một kỉ niệm khiến tôi xúc động và nhói lòng. Một lần, khi tôi chở thằng cháu lớn ra bến xe, tôi trở về nhà và nhìn thấy thằng Tâm, em thằng Hoàng, vẫn đứng ngoài cổng, ánh mắt xa xăm với hai hàng mi đẫm nước mắt:
- “Anh con đi đâu?” – Nó hỏi.
- “Ơ cái thằng này! Anh đi làm chứ đi đâu!” Tôi đáp.
- “Đi làm làm gì? Đi làm ở đâu?”
- “Thì trên Hà Nội. Đi làm để kiếm tiền nuôi con đấy!”
- “Con không muốn! Con muốn anh con ở nhà!” – Nó nức nở.
- Tôi cũng bối rối: “Ờ thì…. Không đi làm thì lấy gì mà ăn?”
- “Con không cần! Con chỉ cần anh ở nhà chơi với con thôi! Anh ơi….”
Tôi thật sự bế tắc và chỉ biết ôm lấy nó mà cố vỗ về an ủi mà thôi. Một ước mơ thật giản dị mà thực tế. Dù nó chưa ý thức được cơm nó ăn, tiền nó học, là những giọt mồ hôi cùng sự tủi nhục, thậm chỉ là cả máu mà bố và anh nó phải chịu để có được đồng tiền nuôi gia đình… nhưng điều đó phải chăng cũng đáng cho người lớn chúng ta suy ngẫm. Tiền có thể mua được nhiều thứ, nhưng có những thứ không thể mua được bằng tiền, mà những thứ đó lại làm nên hạnh phúc, giá trị của một con người.
Thời gian vẫn trôi, cuộc đời vẫn vần xoay theo nhịp của nó, thế giới vẫn đi lên. Những tiếng xe mệt nhọc rồi cũng phải dựng lại vì “quá tuổi hưu”. Khi tuổi đời đầu hàng thời gian, thì những thế hệ tiếp theo rồi sẽ ra sao? Dẫu biết sống là phải tiến lên, phải nỗ lực để no cái bụng, ấm cái thân, sung sướng cái cuộc đời. Nhưng nếu cái giá phải trả là quá đắt thì tôi thiết nghĩ chúng ta dừng lại để suy gẫm, để chọn lựa và quyết định! Đừng để mọi thứ qua đi trong tiếc nuối và ân hận!
Tác giả: Jos Trịnh
2023
Viết cho người sống thử
Viết cho người sống thử

1. Có thể tìm trên Internet với tựa: Chuyện của mẹ – Tự tay phá thai cho con.
Giuse Phạm Đình Ngọc, S.J
2023
Linh mục đối diện với nỗi buồn khi nghỉ hưu
Linh mục đối diện với nỗi buồn khi nghỉ hưu

Kể từ khi tôi chuyển sang “tình trạng cao niên” [hay còn gọi là “tình trạng nghỉ hưu bán phần”] (senior status) vào mùa hè năm ngoái, như giáo phận của chúng tôi quen gọi như thế với các linh mục đã nghỉ hưu, tôi thường được hỏi rằng mình thích được nghỉ hưu như thế nào. Hầu hết mọi lúc tôi đều trả lời một cách thành thật rằng tôi đang tận hưởng thời gian cho dù phải thích nghi với một chương mới trong cuộc đời mình. Đối với tôi, kinh nghiệm nghỉ hưu đến sau 48 năm tích cực trong sứ vụ.
Điều mà tôi không nói với mọi người và chỉ tự mình nhận ra sau khi suy ngẫm, đó là tôi cũng đã dành – và tiếp tục dành – thời gian để đau buồn, mà chính điều này cũng là một quá trình.
Tìm hiểu về nỗi buồn
Các linh mục trở thành một vấn đề nào đó mà các chuyên gia hay nhắc đến khi đề cập đến sự đau buồn. Qua mọi cái chết của người giáo dân, các mục tử nhận thức được nỗi đau và nỗi buồn mà chính mình cũng có thể dự phần. Họ cũng biết rằng việc chấp nhận một cách sống mới có thể là một thử thách. Các linh mục thường giúp mọi người đối phó với nỗi đau bằng cách đồng hành cùng họ trong cuộc hành trình, lắng nghe và giúp đỡ những người đang đau buồn để tìm ra một cách sống mới.
Ngoài ra, với tư cách là những mục tử tận tình, chúng ta cũng phải đối mặt với nỗi đau của chính mình. Không có gì lạ khi cái chết của giáo dân ở mọi lứa tuổi cũng ảnh hưởng đến chúng ta. Ngay cả khi tôi đã chia sẻ sức mạnh tinh thần và cảm xúc với người khác, tôi cũng phải đối mặt với nỗi đau nơi chính mình. Khi Hope, một thiếu nữ 17 tuổi mắc bệnh thiếu máu Fanconi, chết vì suy thận, tôi đã khóc cùng với gia đình và bạn bè của cô ấy. Và khi Tommy, 90 tuổi, nhân vật danh tiếng trong giáo xứ qua đời, tôi biết rằng mình vừa mất đi một người bạn.
Thêm vào đó, có một loại đau buồn xảy ra khi các vị lãnh đạo trong giáo xứ nói với bạn rằng họ chuyển đi nơi khác vì thay đổi công việc hoặc để gần gia đình hơn. Việc họ cảm thấy hối tiếc khi rời khỏi ngôi nhà thờ của bạn thường cũng chỉ mang lại một niềm an ủi nho nhỏ.
Chắc chắn, các linh mục biết rất nhiều về nỗi buồn. Tuy nhiên, tôi chưa bao giờ đọc bất cứ điều gì về quá trình đau buồn liên quan đến việc nghỉ hưu. Nỗi đau buồn đi kèm với việc nghỉ hưu có thể gây bối rối vì các linh mục không mong đợi điều đó hoặc vì dường như không ai thừa nhận điều đó khi các buổi chuyện trò từ biệt được diễn ra. Hầu hết những người mang đến lời chúc tốt lành khi từ biệt đều nhấn mạnh đến các thành tựu hoặc niềm vui dành cho một cuộc đời vốn nay đây mai đó.
Nhiều sắc thái
Tôi thừa nhận rằng có nhiều điều làm tôi yêu thích về tình trạng cao niên, bao gồm lịch trình nhẹ nhàng hơn, khả năng hỗ trợ các mục tử lân cận bằng cách cử hành Thánh lễ tại giáo xứ của họ, và tìm thấy sự nâng bậc giá trị đã được làm mới lại đối với chức linh mục bên ngoài vai trò của một nhà điều hành. Đồng thời, tôi thừa nhận rằng tôi đã phải chịu một mất mát đáng kể, đôi khi điều đó giáng lên tôi một cú nặng nề.
Khi sinh nhật lần thứ 75 của tôi đến gần, trong thâm tâm tôi biết rằng đã đến lúc phải rời bỏ cương vị mục tử của Giáo xứ Thánh Gioan XXIII, nơi tôi vừa là người sáng lập vừa là mục tử duy nhất trong 17 năm qua. Do đó, mối quan hệ của tôi với giáo xứ và các thành viên của giáo xứ này rất sâu sắc.
Mặc dù tôi đã chọn nghỉ hưu một cách có ý thức và biết rằng điều đó là tốt cho cả tôi và giáo xứ, nhưng cũng có tất cả những biểu hiện liên quan đến nỗi buồn: một niềm khao khát sâu sắc được trở lại với những người mà tôi yêu thương, một chút luyến tiếc vì tôi không thể hiện diện trong những khoảnh khắc đặc biệt và quan trọngở đó, và cả một chút buồn bã bất cứ khi nào tôi nghe tin rằng cuộc sống ở giáo xứ đó đang diễn ra (rất tốt) mà không có tôi lãnh đạo.
Không phải mọi người nghỉ hưu đều có thể trải qua nỗi buồn theo cách mà tôi đã trải qua. Họ có thể nhận thức rõ hơn về sự nhẹ nhàng hoặc niềm hân hoan về những gì đã đạt được. Tuy nhiên, tôi nghi ngờ rằng các linh mục nghỉ hưu hoặc đang phải đối mặt với việc nghỉ hưu cần phải ý thức về quá trình này.
Các thành phần của đau buồn
Tôi chia trải nghiệm đau buồn thành nhiều thành phần, mỗi thành phần cũng đưa ra một thử thách để giúp tôi vượt qua nỗi đau này.
Thứ nhất, có một sự thay đổi cụ thể và rõ ràng diễn ra đối với hầu hết các linh mục nghỉ hưu – nghĩa là họ cần phải rời khỏi nơi ở do giáo xứ cung cấp. Nhiều người trong các ngành nghề khác không có sự buông bỏ thêm vào như thế khi họ rời khỏi vị trí của mình. Đó không chỉ đơn giản là rời khỏi một ngôi nhà, nhưng chính là rời khỏi lối sống vốn đã trở thành một phần trong kinh nghiệm của một linh mục. Cá nhân tôi thấy phấn khích khi tìm kiếm một nơi ở mới. Có một tinh thần phiêu lưu xuất hiện đến mức không thể cưỡng lại được. May mắn thay, một số thành viên của giáo xứ đã ở đó để giúp đỡ tôi.
Không nên bỏ qua khía cạnh buông bỏ này bởi vì, ngay cả đối với những linh mục ít vật chất nhất, đó là một lời nhắc nhở rằng hầu hết mọi người đều phụ thuộc vào việc có được một mái nhà, một nơi trú ẩn và bảo vệ. Cùng với vấn đề nhà ở, còn có vấn đề buông bỏ về sự yên ổn, vì trong hầu hết cuộc đời của chúng ta, chúng ta đã biết rằng các giáo xứ có trách nhiệm chu cấp cho các mục tử của mình.
Đối phó với sự mất mát này, tôi thấy cần phải cởi mở và phó thác trước những điều mới lạ. Mỗi lần trong đời tôi di chuyển – từ rời khỏi nhà đến chủng viện, từ chủng viện đến chức linh mục, và từ nhiệm sở này sang nhiệm sở khác – đều phải có một hành động của đức tin. Giống như Giáo Hội tự gọi mình là Giáo Hội lữ hành, tôi cố gắng coi những cuộc di chuyển này là thời điểm của sự khám phá mới. Nếu đức tin của chúng ta nhắc nhở chúng ta rằng chúng ta không phải là công dân vĩnh viễn của thế giới này, thì những cuộc di chuyển như thế có thể phù hợp để nhắc nhở chúng ta về điều này.
Ngoài sự buông bỏ cơ bản nhất này, còn có việc đánh mất căn tính của một mục tử. Mặc dù hầu hết các linh mục, trong đó có tôi, vốn không thích lãnh nhận công tác điều hành, nhưng tôi có thể nói rằng công việc mục vụ vốn là một niềm vui. Tôi đã chấp nhận sứ mệnh của giáo xứ và ghi nhớ tầm nhìn của giáo xứ, sẵn sàng chia sẻ nó với những người khác. Tôi muốn nghĩ rằng tôi chưa bao giờ cảm thấy rằng mình phải có tiếng nói cuối cùng trong mọi quyết định, nhưng tôi thích được biết rằng tôi có thể chia sẻ với mọi người một cách tiếp cận cụ thể để trở thành Giáo Hội.
Thay vì trở thành một linh mục – mục tử, tôi bắt đầu tập trung vào việc trở thành một linh mục với tư cách là người của Chúa. Nói cách khác, điểm nhấn mới của tôi phải là tôi là ai chứ không chỉ đơn giản là vai trò mà tôi đã vui vẻ chấp nhận trong suốt những năm qua. Tôi vẫn còn nhiều cơ hội để làm mục tử, nhưng bây giờ chức vụ đó bắt nguồn từ chính chức linh mục chứ không phải từ một vị trí nào đó mà tôi đã được chỉ định.
Cuối cùng, và đây là điều quan trọng, tôi rất đau buồn khi gặp lại những giáo dân vốn đã là một phần quan trọng trong cuộc đời tôi. Trong những năm qua, tôi đã có cơ hội hiện diện với các gia đình tại các buổi cử hành bí tích và những khoảnh khắc vui vẻ khác. Tôi cũng đã từng chia sẻ nỗi đau, nỗi buồn, đôi khi chỉ là ngồi bên cạnh họ lúc nguy kịch. Tuy nhiên, tôi hầu như lúc nào cũng cảm thấy mình là thành viên của nhiều gia đình. Việc không gặp mọi người thường xuyên đã để lại một khoảng trống trong trái tim tôi.
Tôi không muốn phủ nhận sự mất mát hay nỗi đau này. Tôi cũng biết rằng nó sẽ không bao giờ giống như nó đã từng. Xin mượn lời tiêu đề từ tác phẩm của Thomas Wolfe để nói lên tâm trạng này: “Bạn không thể về nhà được nữa!” Đó là một phần của nỗi buồn khi nghỉ hưu.
Trong Giáo Hội, người vừa nghỉ hưu dường như nên bước sang một bên để vị mục tử mới có thể tìm ra con đường cho riêng mình. Khi tôi gặp lại các cựu giáo dân tại các buổi chiêu đãi, buổi hòa nhạc hoặc quán cà phê, đó là những khoảnh khắc rất vui cho cả tôi và họ. Tôi nghi ngờ một số mối quan hệ tình bạn sẽ tiếp tục trong khi những mối quan hệ khác sẽ nhường bước khi nhiều ngày và nhiều tuần trôi qua.
Tôi thường thấy mình tập trung vào những đứa trẻ nhỏ hơn trong giáo xứ, đặc biệt là những đứa trẻ mẫu giáo mà tôi gặp hàng tuần. Một người mẹ nói với tôi rằng cậu con trai 4 tuổi của cô ấy không thể hiểu được rằng tôi sẽ không có mặt ở đó thường xuyên. Tôi muốn nhắc nhở đứa trẻ rằng tôi vẫn yêu nó và gia đình nó. Những người trong giáo xứ vấn tiếp tục quan trọng đối với tôi.
Ba cách đối diện với nỗi buồn
Tình cảm đó cũng cho phép tôi nêu bật ba cách để đối phó với nỗi buồn từ việc nghỉ hưu. Một mặt, tôi nhớ đến những người đã từng là một phần quan trọng trong cuộc đời tôi trong lời cầu nguyện, cầu xin ơn lành tiếp tục xuống trên họ. Đây không chỉ đơn giản là một lời cầu nguyện chiếu lệ, mà đúng hơn là một cách tích cực để dâng lên Chúa những người mà tôi không thể nhìn thấy và ở bên cạnh.
Tôi cũng cảm thấy mình đã nhận được ơn lành khi đã có thể ở cạnh bên những người môn đệ cùng chí hướng tốt lành như thế trong những năm qua. Cách tôi chọn để nhìn vào công việc mục vụ là trở thành một phần của cộng đồng mà tôi phục vụ, không tách rời khỏi họ. Thái độ này có thể gây ra nhiều nỗi đau buồn hơn vào những thời điểm này, nhưng ơn lành thì lại rất dồi dào.
Sau đó, tôi nhận ra rằng tôi có thể tìm ra những cách thức thích hợp để tiếp cận, những cách nhắc nhở mọi người rằng sứ vụ mục tử của họ không chỉ là một công việc. Ví dụ, trong nhiều năm, khi tôi thấy trên báo chí rằng một số học sinh trung học mà tôi biết đến trong nhiều năm qua được vinh danh, tôi đã quyết định gửi cho họ một số ghi chú. Tôi biết những lời nói của mình sẽ được đón nhận nồng nhiệt và hữu ích cho những thanh thiếu niên này; tôi cũng biết điều quan trọng đối với tôi là cho họ biết rằng tôi mừng cho họ.
Trong một cuộc trò chuyện gần đây với một doanh nhân đang chuẩn bị nghỉ hưu, tôi đã cố gắng giải thích những niềm vui và thách thức mà tôi đã gặp phải. Khi tôi đề cập đến việc không tiếp tục ở với những người trong giáo xứ, anh ấy ngay lập tức nói rằng điều đó nghe có vẻ đáng buồn. Sau đó, anh ấy đưa ra những hiểu biết sâu sắc mà chúng ta, những người có đức tin thường rao giảng về sự cần thiết khi đừng để cuộc sống đời này này và những gì nó mang lại chiếm hữu. Điều đó đã giúp tôi tìm thấy mục tiêu để buông bỏ theo cách mà tôi chưa bao giờ lường trước được khi tôi tiếp tục suy ngẫm xem chức tư tế là gì và chúng ta có thể gặp phải điều gì khi nghỉ hưu.
(Theo The Priest (15/7/2023))
