2023
Biết ơn Công đồng và Thượng Hội đồng
Biết ơn Công đồng và Thượng Hội đồng
Lịch sử Giáo hội cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã để lại cho chúng ta một bài học cay đắng về sự trì trệ mà chúng ta không được lặp lại sai lầm đã gây ra. Hơn nữa, xã hội không những không dừng lại vào thời Công đồng Vatican II, mà còn tăng tốc chóng mặt. Những thay đổi trước đây mất một hoặc hai thế kỷ, giờ đây mất một thập niên. Do đó, nhu cầu đổi mới liên tục, nhu cầu hoán cải liên tục, phải được mở rộng từ cá nhân tín hữu cho đến toàn thể Giáo hội. Giáo hội đang cùng với Chúa Thánh Thần tiếp tục công cuộc đổi mới của Công đồng. Cùng với Chúa Thánh Thần, Công đồng Vatican II và Thượng Hội đồng đã hiến tặng cho Giáo hội và nhân loại, ngàn năm thứ Ba, chìa khóa vàng: “Cân bằng và hài hòa”. Chìa khóa này, không đi ngược lại với quy luật tự nhiên, “luật Cân bằng”. Đó là “ân huệ” trân quý. Nhận ơn thì phải biết ơn. Cổ nhân dạy: “Ơn như giọt nước, trả bằng giòng sông”.
Tâm hồn biết ơn làm nảy sinh lòng quyết tâm khiêm tốn, dấn thân phục vụ theo định hướng của Công đồng và Thượng Hội đồng. Đặc trưng lòng biết ơn, đó là Giáo hội tập trung vào Chúa Thánh Thần, Đấng mà Chúa Giêsu hứa ban. Và thực hành con đường: Đối thoại và hòa giải.
CHÚA THÁNH THẦN: SỰ CÂN BẰNG
Đó là điều chắc chắn mà Chúa Giêsu đã trao cho các tông đồ trong ngày lễ Ngũ Tuần qua hình ảnh “Lửa và Gió”. Như Người đã hứa: “Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Ðấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi” (Ga 14,16); “Anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần khi Người ngự xuống trên anh em. Bấy giờ anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giêrusalem, trong khắp các miền Giuđê, Samari cho đến tận cùng trái đất” (Cv 1,8). Và một lần nữa: “Thần Khí sự thật sẽ dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn” (Ga 16, 13).
Đặt Chúa Thánh Thần ở trung tâm của toàn bộ đời sống Giáo hội, và đặc biệt, trong thời điểm tiến trình Hiệp hành. Sách Công vụ Tông đồ cho chúng ta thấy một Giáo hội từng bước được Thánh Thần hướng dẫn: “Thánh Thần và chúng tôi đã quyết định …” (Cv 15,28). “Vậy, nếu Thiên Chúa đã ban cho họ cùng một ân huệ như Người đã ban cho chúng ta, vì chúng ta tin vào Chúa Giêsu Kitô, thì tôi là ai mà dám ngăn cản Thiên Chúa?” (Cv 11,17)
ĐỐI THOẠI VÀ HÒA GIẢI: HÀI HÒA
Đối thoại
Đức Hồng y Matteo Zuppi, Chủ tịch Hội đồng Giám mục Ý đã từng khẳng định “Đối thoại là cách tốt nhất cho tất cả. Chúng ta phải học cách đối thoại. Chiến tranh gây chia rẽ, làm cho người ta không còn nhận ra mình là anh chị em. Hãy học cách ở bên nhau vì khi đó chúng ta sẽ tìm thấy anh chị em mình, tìm thấy chính mình”. Đối thoại là con đường, bước bắt đầu từ việc lắng nghe. Đức Thánh Cha Phanxicô, dịp tông du Hungary, trong cuộc gặp gỡ các tu sĩ Dòng Tên vào ngày 29.4.2023, đã cảnh báo rằng việc thiếu đối thoại đã đẩy một số người theo chủ nghĩa hiện đại nổi tiếng nhất vào những quan điểm ngày càng cực đoan và cuối cùng rõ ràng là dị giáo. Con đường Thượng Hội đồng gợi mở hướng đi: gặp gỡ, lắng nghe, cầu nguyện, phân định. Phân định bao gồm: cùng với Chúa Thánh Thần định hướng, định hình và định hành.
Hòa giải
Nhà bác học Albert Einstein nói: “Cứ đòi hỏi người ta phải làm cùng một việc, đang khi mong chờ những kết quả khác thì quả là không lành mạnh”. Đôi khi trong Giáo hội, chúng ta thường nghĩ “điều này đã là như thế cả hai ngàn năm rồi, cho nên không cần phải thay đổi gì hết”; hoặc “theo truyền thống thì phải thế này, thế kia!”. Đức Hồng y Americo Aguiar, người tổ chức và điều hành Đại hội giới trẻ thế giới Lisbon, Bồ Đào Nha, đã cho rằng lập luận như thế là thứ mục vụ bảo quản! Cứ như thế đi cho đến lúc nó không còn như thế nữa vì chẳng có ai lo việc bảo quản nữa. Và ngài đã bày tỏ: “Ước mơ của tôi là các bạn trẻ đến Lisbon sẽ trở về quê hương mình với ước muốn sống tốt hơn, dù họ theo tôn giáo nào. Bởi lẽ ở Lisbon này họ gặp được cả người da trắng cũng như da màu, cao lớn hay thấp bé, từ Nam hay Bắc bán cầu, giàu hay nghèo, Hồi giáo, Do Thái giáo hay các tôn giáo khác, và họ khám phá ra rằng sự khác biệt ấy làm nên sự phong phú. Và như thế mọi khác biệt giữa các anh chị em trở thành cơ may cho chúng ta”.
LỜI KHUYÊN
Trân trọng quá khứ, nhưng hiện tại và tương lai phải tiến lên. Theo nguyên tắc: “Dĩ bất biến ứng vạn biến”. Và tiếp nhận cái mới có chọn lọc. Cảnh giác văn hóa trì trệ, bảo thủ, chống lại tiến bộ. Chúng ta hãy xin Chúa giải thoát Hội Thánh khỏi những kẻ muốn làm cho Hội Thánh già đi, giam hãm Hội Thánh trong quá khứ, kềm hãm hay làm cho Hội Thánh bị tê liệt. Chúng ta cũng hãy xin Chúa giải thoát Hội Thánh khỏi một cơn cám dỗ khác, là tin rằng mình trẻ trung vì đã chấp nhận tất cả những gì thế giới mời mọc, tin rằng mình đổi mới vì đã quên đi sứ điệp của mình mà bắt chước người khác. Hội Thánh trẻ trung khi Hội Thánh là chính mình, khi Hội Thánh đón nhận sức mạnh luôn mới mẻ của Lời Chúa, của Thánh Thể, của sự hiện diện Đức Kitô và sức mạnh Thánh Thần của Người mỗi ngày. Hội Thánh trẻ trung khi Hội Thánh có khả năng không ngừng trở về nguồn. Biết ơn Công đồng Vatican II và Thượng Hội đồng Giám mục thế giới là như thế!
Lm. Gioan Kim Khẩu Nguyễn Văn Hinh (D.Min.)
2023
Ký ức về lỗi lầm và công bằng xã hội, hai khía cạnh của sự cứu chuộc
“Trong cuộc sống, tất cả chúng ta đều thiếu thốn và chúng ta cần lòng thương xót. […] Tất cả chúng ta đang mắc nợ Thiên Chúa, Đấng rất quảng đại, và mắc nợ anh chị em. Mọi người đều biết rằng chúng ta chưa thực sự là cha mẹ, chồng hay vợ, anh chị em như chúng ta phải là”. Những lời này của Đức Thánh Cha Phanxicô, được nói vào tháng 4/2021, giúp hiểu không chỉ về trọng tâm của khái niệm lòng thương xót trong thông điệp thần học của ngài, nhưng còn là bản chất của lòng thương xót trong đời sống Giáo hội và của mỗi Kitô hữu. Do tầm quan trọng của cả hai khía cạnh này, Báo Quan sát viên Roma của Toà Thánh có cuộc phỏng vấn với giáo sư Giacomo Canobbio của Phân khoa Thần học Bắc Ý ở Milano, và giám đốc khoa học của Hàn lâm viện Công giáo Brescia, nhằm giúp khám phá mối liên hệ của chúng với những “hạt giống” thần học khác của Đức Thánh Cha.
Trong ngôn ngữ hàng ngày, “thực thi công bằng” đôi khi đồng nghĩa với việc trả thù: bắt một người phải chịu một hình phạt tương ứng với điều xấu họ đã làm, đến mức loại bỏ họ nếu điều ác được thực hiện là nghiêm trọng và là mối đe dọa cho xã hội. Theo quan điểm này, tiêu chí mà người ta tiến hành là hình phạt phải tương xứng với tội đã gây ra. Tuy nhiên, bằng cách này, người ta đặt quá nhiều niềm tin vào hình phạt, cho rằng nó có thể phục hồi con người và chữa lành điều ác gây ra cho xã hội. Để sửa chữa giới hạn của quan điểm này, trong vài thập kỷ qua trong lĩnh vực luật hình sự, một con đường gọi là công lý phục hồi đã được đưa ra. Mục tiêu của công lý là phục hồi phẩm giá của người phạm tội, tái hòa nhập người này vào xã hội với một khuôn mặt mới, tương ứng với những gì người này phải là.
Trong bối cảnh này nảy sinh ý tưởng về lòng thương xót, đặc trưng cho hành động của Thiên Chúa đối với những người có tội và nhân loại nói chung. Tuy nhiên, lòng thương xót không có nghĩa là giả vờ rằng điều ác chưa thực hiện; đúng hơn, đó là một hành động nhằm đổi mới con người và xã hội, làm cho họ tương ứng với bản tính do chính Thiên Chúa thiết lập. Đó là một hành động cứu độ. Về điều này tất cả các môn đệ Chúa Giêsu đều được mời gọi, những người, theo quan điểm Tin Mừng, đã trải nghiệm lòng thương xót, được mời gọi sử dụng lòng thương xót theo mẫu gương của Đấng đã phục hồi chúng ta. Nếu nhân loại bị đánh dấu bởi sự bất bình đẳng và đây là hậu quả của bất công, thì thực hiện công bằng sẽ có nghĩa là thực thi lòng thương xót, nghĩa là thái độ chữa lành. Do đó, lòng thương xót và công bằng xã hội không đối nghịch nhau: đúng hơn, chúng là hai khía cạnh của cùng một hành động nhằm làm cho con người và xã hội tương ứng với những gì họ phải là, nghĩa là theo hình ảnh và giống Thiên Chúa và một nơi trong đó phẩm giá của tất cả mọi người đều được nhìn nhận.
Thông thường công bằng xã hội, theo nghĩa công bằng phân phối và tái phân phối, đòi hỏi không có lòng thương xót. Làm thế nào lòng thương xót có thể củng cố công bằng xã hội trên bình diện đạo đức và chính trị?
Không có lòng thương xót, công bằng không thể đạt được. Vấn đề là làm thế nào mối liên hệ giữa hai “đức tính” có thể được duy trì về mặt chính trị. Nếu nhiệm vụ của chính trị là quản lý xã hội, thì vấn đề đặt ra liên quan đến mô hình xã hội mà người ta muốn thực hiện. Và đây là vấn đề đạo đức. Không có xã hội “công bằng” theo nghĩa được đề cập ở trên, bởi vì nếu nó tồn tại thì sẽ không cần luật pháp và thể chế điều chỉnh trật tự của các quan hệ xã hội. Luật pháp được ban hành để đạt được mục tiêu công lý. Vì lý do này, cần phải có những luật công bằng, nghĩa là, tương ứng với một xã hội công bằng, trong đó tất cả mọi người đều được công nhận một cách hiệu quả về phẩm giá, không tuỳ thuộc vào công trạng. Nhiệm vụ của chính trị là xây dựng và thực thi luật pháp cho phép mọi người được hưởng lợi ích như nhau để họ có thể sống tự do, tương ứng với phẩm giá của họ. Một xã hội công bằng là một xã hội giúp mọi công dân trở nên “công bằng”, nghĩa là có thể đóng góp vào việc xây dựng một cách có trách nhiệm xã hội mà họ thuộc về. Điều này bao gồm hành động chính trị tiến hành với các tiêu chí không mang tính đảng phái, nhưng tìm kiếm công ích, trong khi nhận thức được những hạn chế của chính mình.
Câu hỏi đặt ra là liệu lòng thương xót có thể và / hoặc cũng là động lực của hành động chính trị hay không. Người ta thường cho rằng tình cảm này phải được dành riêng cho các mối quan hệ giữa các cá nhân: chính trị chỉ có nhiệm vụ thực hiện công bằng. Tuy nhiên, nếu công bằng bị tách rời khỏi lòng thương xót, người ta sẽ tiếp tục với một ý tưởng hẹp hòi về công bằng vì nó bị giới hạn trong chiều kích trừng phạt và phân phối, quên đi chiều kích phục hồi. Về vấn đề này, cần nhắc lại nguyên tắc đã được hiền triết Cicero xây dựng, theo đó công bằng bao gồm việc trao cho mỗi người những gì phù hợp với họ theo phẩm giá. Bây giờ, nếu phẩm giá có giá trị “hữu thể học” để thực thi công bằng, thì nó có nghĩa là khôi phục phẩm giá đã mất cho tất cả mọi người; Và đây là công trình của lòng thương xót.
Vai trò của lòng thương xót trong đời sống Giáo hội ngày nay là gì?
Để trả lời câu hỏi này, chúng ta phải tìm hiểu thực hành và giáo huấn của Chúa Giêsu, mà chính các môn đệ của Người phải thi hành. Cần phải xác định rõ rằng lòng thương xót không có nghĩa là buông lỏng. Thật vậy, nếu lòng thương xót có mục đích chữa lành con người, thì điều này cần phải có những con đường hoán cải, nghĩa là điều chỉnh cảm xúc, hành động, tư tưởng, phù hợp với phẩm giá Thiên Chúa ban. Khi đọc lại cuộc đời mình, Thánh Phaolô đã thú nhận chính lòng thương xót đã làm cho đời sống ngài thay đổi (x. 1 Tm 1, 13-16).
Bối cảnh văn hóa cũng ảnh hưởng trên các môn đệ Chúa Giêsu, theo hướng hợp pháp hóa mọi hình thức suy nghĩ và hành động, và mọi người có xu hướng trước hết là mong đợi được nhìn nhận. Tuy nhiên, bằng cách này, lòng thương xót bị giảm xuống thành sự chấp nhận vốn không làm cho chúng ta lớn lên. Trái lại, lòng thương xót Chúa làm cho sự biến đổi chuyển động. Và Giáo hội có nhiệm vụ làm cho tiến trình này trở nên khả thi. Nếu Tin Mừng không đưa ra các tiến trình thay đổi, Tin Mừng sẽ không còn là một sứ điệp cứu độ, nghĩa là người tạo ra những cách sống mới. Rõ ràng là điểm khởi đầu của tiến trình biến đổi được đưa ra là việc đón nhận mọi người, không thành kiến hay phân biệt, về khả năng hiệu quả: không có hai yếu tố này, con người không thể sống kinh nghiệm về Thiên Chúa Cứu Độ.
Mối quan hệ giữa ân sủng, lòng thương xót và sự tha thứ là gì? Ba chiều kích có nhất thiết phải kết nối với nhau không?
Khởi đầu là ân sủng, nghĩa là cử chỉ nhân từ của Thiên Chúa, được tỏ lộ cả trong việc đưa thực tại vào hiện hữu và phục hồi nó khi nó đã bị biến dạng. Trong Tông sắc Misericordiae vultus – Dung mạo Lòng Thương Xót, Đức Thánh Cha Phanxicô lấy từ Thánh Tôma Aquinô ý tưởng rằng quyền năng tuyệt đối của Thiên Chúa được thể hiện trước hết trong lòng thương xót và tha thứ, như vẫn được cầu nguyện trong Lời nguyện Nhập lễ Chúa nhật XXVI thường niên. Trong bối cảnh của mối liên hệ giữa ba chiều kích – ân sủng, lòng thương xót, sự tha thứ – là những đặc điểm của Thiên Chúa được minh họa bởi các bản văn Kinh Thánh. Thiên Chúa là Đấng thương xót và thành tín. Người ta có thể nói: Chúa thương xót vì Người thành tín. Thực vậy, Thiên Chúa trung tín trong việc làm cho nhân loại được sống, và khi nhân loại tỏ ra không thể giữ giao ước, Thiên Chúa ban cho con người khả thể mới cho phép họ trở về với Người. Do đó, lòng thương xót là sự thể hiện vĩnh viễn và vô điều kiện về căn tính của Thiên Chúa, nó chuyển thành sự tha thứ khi sự bất trung của con người lấn át.
Tha thứ không đồng nghĩa với việc phủ nhận điều ác đã làm; đúng hơn, nó bao gồm việc cung cấp một cách vô điều kiện sự khởi đầu của một tiến trình phục hồi, thoát khỏi những tội lỗi làm con người biến dạng. Vì lý do này, như lời nguyện nhập lễ được trích dẫn trên, quyền năng Thiên Chúa đang bị đe dọa trong sự tha thứ. Không phải ngẫu nhiên mà trong phụng vụ Bí tích Rửa tội và Hòa giải, lặp lại cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và Nicôđêmô, ngôn ngữ tái sinh được sử dụng, đó là hoạt động của Thánh Thần, nghĩa là sức mạnh sống động và ban sự sống của Thiên Chúa.
Đâu là những trở ngại hay thách đố mà thế giới ngày nay có thể gặp trong việc chấp nhận và thực hành hòa giải như sự tha thứ?
Trở ngại lớn nhất bao gồm việc cho rằng tha thứ là dấu hiệu của sự yếu đuối, vì nó được hiểu là sự thất bại trong việc nhận ra điều ác đã phạm. Cách suy nghĩ này được phản ánh bởi định hướng tự ái, phổ biến trong văn hóa ngày nay: về cơ bản mọi người đều muốn có sự chấp thuận và, nếu họ không xứng đáng, họ muốn được biện minh. Đây là một nghịch lý: một mặt, người đã phạm sai lầm phải bị trừng phạt. Mặt khác, nếu người ta sai, họ sẽ không muốn bị trừng phạt. Thật ra – như Đức Thánh Cha Phanxicô đã minh họa trong thông điệp Fratelli tutti – tha thứ là một tiến trình vất vả, không che giấu sự dữ đã làm, nhưng không để mình bị lừa gạt trong đó.
2023
Tôi nên làm gì khi quên mất việc đền tội của mình?
Khi xưng tội xong, Chúa tha tội cho chúng ta và cha giải tội giao cho chúng ta việc đền tội. Điều gì sẽ xảy ra nếu tôi quên những gì vị linh mục ấy bảo tôi phải làm?
Chúa Kitô, vị thầy thuốc của linh hồn và thể xác, ban cho chúng ta một đời sống mới trong các bí tích khai tâm Kitô giáo. Tuy nhiên, sự sống này có thể bị suy yếu và thậm chí mất đi vì tội lỗi. Vì lý do này, Giáo Hội tiếp tục công việc chữa lành và cứu độ của mình qua các bí tích chữa lành: Bí tích Giải tội (còn gọi là Bí tích Hòa giải) và Bí tích Xức dầu Bệnh nhân.
Xưng tội và đền tội
Sau khi xét mình cẩn thận, cảm thấy đau buồn vì tội lỗi của mình và quyết tâm không tái phạm, chúng ta đi xưng tội với linh mục, là thừa tác viên của bí tích này. Sau khi ban phép giải tội để tha thứ cho chúng ta nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, cha giải tội ấn định cho chúng ta việc đền tội. Đây là việc chu toàn một số hành vi đền tội nào đó (cầu nguyện hoặc việc làm) để sửa chữa những thiệt hại do tội lỗi gây ra.
Tôi đã quên mất việc đền tội của mình
Tuy nhiên, đôi khi chúng ta sao nhãng hoặc chần chừ, và cuối cùng chúng ta có thể quên đi điều cha giải tội bảo chúng ta phải làm. Chúng ta phải làm gì trong trường hợp đó?
Aleteia đã hỏi Cha José Luis Solís Rincón, một chuyên viên giáo luật, và ngài đã đưa ra câu trả lời như sau:
Trong trường hợp đó, người ta tự nhiên biết rằng có một việc đền tội, cho dù họ không nhớ đó là gì. Họ hầu như luôn luôn phải đến với Bí tích Thánh Thể và cầu nguyện một điều gì đó. Vậy bây giờ, nếu chúng ta biết các linh mục của mình, thì chúng ta cũng biết vị nào yêu cầu bạn lần chuỗi Mân Côi hay đọc Kinh Lạy Cha. Thông thường nếu chúng ta quên điều gì đó thì đó là vì nó là điều quá đỗi thông thường.
Hãy đi và đọc kinh Kính Mừng hoặc Kinh Lạy Cha, và lần tới khi bạn đi xưng tội, hãy nói với cha giải tội rằng bạn không nhớ việc đền tội của lần xưng tội trước. Thêm vào đó, hãy nói với ngài những gì bạn đã cầu nguyện và ngài sẽ cho bạn biết nếu bạn cần thêm điều gì đó vào việc đền tội mới của mình.
Đền tội và bồi thường
Về mức độ nghiêm trọng của tội lỗi và việc đền tội phải thực hiện, Đức Giám mục Victor Alejandro Aguilar Ledesma nói với Aleteia rằng: “Việc đền tội được chỉ định tùy theo tội lỗi. Đừng giả vờ rằng, nếu bạn lấy cắp 5.000 đô-la, bạn chỉ cần đọc kinh Lạy Cha mà thôi. Bạn phải trả lại số tiền đó. Nếu bạn làm vỡ cửa sổ, bạn phải trả tiền cho điều đó; nếu bạn đã nói xấu ai đó, bây giờ hãy nói tốt và cầu nguyện cho người đó. Cùng với lời cầu nguyện còn có việc bồi thường.”
Tác giả: Mónica Muñoz
Chuyển ngữ: Phil. M. Nguyễn Hoàng Nguyên
2023
Làm thế nào phân định sứ mạng của mình trong Giáo xứ?
Làm thế nào giúp đỡ các linh mục? Đâu là sứ mạng của tôi trong giáo xứ? Sự phân định này ngang qua cuộc gặp gỡ giữa ước muốn, khả năng và ơn gọi, với ý thức “Chúa đã dựng nên tôi cho một sứ mạng duy nhất mà Ngài không giao phó cho ai khác”.
Tôi có thực sự hữu ích không?
Sự hiện diện và sự giúp đỡ mà chúng ta có thể mang đến cho các linh mục trên thực địa thường ngày có hữu ích thực sự không? Hay chúng là những thứ không đáng kể, vô nghĩa bên cạnh những nhu cầu thực sự mà chúng ta không thể tưởng tượng được bản chất và tầm quan trọng? “Viên đá sống động” (1P 2, 5) mà tôi mang đến cho tòa nhà Giáo hội, có thực chỉ là một hạt cát nhỏ? Liệu những gì tôi có thể làm với phương tiện hạn chế của mình, thời gian quá ngắn, sự hiểu biết một phần của tôi về thực tại, cuối cùng có thay đổi được điều gì không?
Vâng, có thay đổi một cái gì đó. Khi chúng ta cảm thấy mình đang trượt dài trên con dốc của sự phiền muộn, chúng ta có thể nhớ đến thánh Inhaxiô, người đã khuyên chúng ta hãy neo mình vào những nơi an ủi của chúng ta, vào những gì chúng ta biết là luôn luôn đúng và là nguồn bình an, của niềm vui sâu xa và bền vững, của sức sống và nhiệt huyết. Trong trường hợp hiện tại, đâu là những điều chắc chắn mà chúng ta có thể dựa vào?
Nhờ phép rửa tội, chúng ta trở thành “chi thể của thân thể Đức Kitô” và tham dự vào “phẩm giá tư tế, ngôn sứ và vương đế” của Người. Do đó, chúng ta luôn được tháp nhập vào thân thể Chúa Kitô là Giáo hội. Một ngày nọ, một giáo dân đã từng kết thúc cuộc trò chuyện bên lề với một người rất dấn thân bằng câu nói: “Giáo hội sẽ tìm ra giải pháp”. Người đó trả lời: “Nhưng Giáo hội là chúng ta! ” Lời nói rất đơn giản này có sức biến đổi đối với tất cả những người nghe phần cuối cuộc trao đổi này.
Thực hành phân định
Vì vậy, câu hỏi đặt ra: cụ thể tôi có thể làm gì thực sự hữu ích? Tôi có phần nào trong vườn nho của Chúa để sinh hoa trái? Tôi phải phục vụ ở đâu? Đức Hồng y Newman viết trong một lời cầu nguyện: “Tôi là một mắt xích trong toàn thể. Chúa đã dựng nên tôi cho một sứ mạng duy nhất mà Ngài không giao phó cho ai khác”. Lời này, cực kỳ an ủi trong những thử thách, là lời đảm bảo hàng ngày rằng công việc của mỗi người đều xứng đáng, quý giá và độc đáo trong Nước Trời.
Nhận ra Thiên Chúa muốn chúng ta ở đâu vì lợi ích của Giáo hội và vì cuộc sống vui tươi và phong nhiêu của chúng ta, đó là một bài tập phân định vốn diễn ra trong việc lắng nghe Chúa Thánh Thần và trong cộng đoàn. Đó là sự gặp gỡ giữa ước muốn, khả năng và ơn gọi. Có lẽ tôi phải lắng nghe trái tim mình nhiều hơn: tôi bị thu hút bởi điều gì? Điều gì mang lại cho tôi niềm vui? Ca hát, cắm hoa, giáo dục, tổ chức, nói chuyện, sửa chữa, viết lách, đón tiếp, đồng hành, cầu nguyện…? Có lẽ tôi cần được đào tạo thêm để mang lại những điều tốt nhất của bản thân vì lợi ích của Giáo hội?
Chúng ta sẽ vui hơn nếu chúng ta cảm thấy hoàn toàn thoải mái khi phục vụ, và chính những người khác, đôi khi là những giáo dân không quen biết, được cử đến để xác nhận với chúng ta rằng chúng ta đang ở đúng nơi mình cần đến. Có lẽ có những thiết bị kinh tế mới mẻ sẽ được phát minh để tài trợ cho việc đào tạo các tín hữu để thực hiện công việc này và công việc kia một cách có năng lực và tự chủ.
Phát minh ra các mô hình khác
Các tổ chức giáo xứ của chúng ta trong các nhóm và hội đồng chắc chắn sẽ được đại tu và thiết kế lại các chu vi trong tương lai gần. Đây là cơ hội để thoát ra khỏi khuôn khổ, để phát minh ra các mô hình làm việc cùng nhau khác. Làm thế nào để làm cho nó hấp dẫn hơn? Làm sao để thu hút những người năng động, hay các sinh viên? Bằng cách thay đổi địa điểm, bằng cách gặp gỡ ở nơi khác ngoài các hội trường giáo xứ, bằng cách tạo ra một không khí vui vẻ mới vốn sẽ bao quanh công việc phục vụ, bằng cách cùng nhau thực hiện các hoạt động khác chẳng hạn như thể thao.
Cũng ngang qua sự ghi nhận cá nhân, lời cảm ơn cá nhân chú ý đến sứ mạng mà mỗi mắt xích trong toàn thể đã hoàn thành. Theo nghĩa của phụng vụ phép Rửa, tất cả chúng ta đều là tư tế, nghĩa là tất cả chúng ta đều hiệp nhất với nhau, cùng nhìn về một hướng và cùng làm một công việc. Cầu nguyện, làm việc và thư giãn với các linh mục của chúng ta sẽ không giải quyết được mọi vấn đề, nhưng sẽ thay đổi cuộc sống của họ ở đây với chúng ta và cho phép họ sinh hoa trái thiêng liêng. Mỗi người chỉ có thể hoàn thành nghĩa vụ bậc sống của mình một cách tốt nhất có thể, và đây là phẩm giá của chúng ta, là lời đáp lại ơn gọi của chúng ta và là sứ mạng của chúng ta với tư cách là một “mắt xích trong toàn thể”.
Theo nhật báo Aleteia
