2022
Cuối cùng người phụ nữ Samaria cũng tìm thấy người đàn ông của đời mình
Cuối cùng người phụ nữ Samaria cũng tìm thấy người đàn ông của đời mình
Phụng vụ của Chúa nhật thứ ba Mùa Chay này cho chúng ta suy niệm về một trong những khung cảnh đặc biệt nhất của Tin Mừng, nơi Thánh Gioan mặc khải cho chúng ta toàn bộ mầu nhiệm hồng ân Thiên Chúa. Mầu nhiệm này nằm dưới biểu tượng của nước tưới tắm cho trái đất và mang lại sự sống cho trần thế.
Chúa Giêsu hiện diện tại giếng Giacóp như một người đang khát, một người cần được giúp đỡ, người đang mệt mỏi vì cuộc hành trình. Giữa trưa nắng nóng gay gắt, Ngài ngồi xuống bên miệng giếng. Ngài không thống trị, không áp đặt ý mình, Ngài tìm kiếm sự tiếp xúc. Việc Ngài xin nước uống khiến người phụ nữ Samaria ngạc nhiên. Vì sự thù hận tồn tại giữa người Do Thái và người Samari, người Do Thái sẽ phạm phải một sự ô uế xét theo lề luật nếu họ chấp nhận từ người Samari dù chỉ một ly nước. Do đó người phụ nữ Samaria liền hỏi khi Chúa Giêsu xin bà: “Chị cho tôi xin chút nước uống!”: “Ông là người Do thái, mà lại xin tôi, một phụ nữ Samaria, cho ông nước uống sao?” (Gioan 4: 7-9).
Vì có sáu người chồng, nên người vợ thành Sykar đã chọn thời điểm đi đến giếng sao cho không bị những người phụ nữ khác chế giễu. Với quá khứ dày vò của mình, người phụ nữ Samaria thực sự cho thấy mình là một người xấu nết. Cô ấy là một kẻ thân tàn ma dại, một người phụ nữ hư hỏng, bầm dập. Cô ấy là món đồ chơi phục vụ nửa tá đàn ông. Tuy nhiên, chính cho cô ấy mà Chúa Giêsu sẽ tiết lộ bí mật của mình. Cô được chọn để đón nhận tâm tư riêng của Chúa Giêsu về chính mình và trở thành nhân chứng ưu tiên về căn tính của ngài.
Kẻ lạ mặt đang mệt mỏi, người đàn ông Do Thái bị khinh ghét đó đã đoán được vết thương lòng của cô. Ông dò xét trái tim nữ tính của cô một cách tế nhị, mà không làm cô khó chịu. Ông đã đoán được nỗi khát khao hạnh phúc của cô mà những cuộc tình đã qua không thể làm cô nguôi ngoai? Người bạn không quen biết này dường như muốn tiếp cận cô để bộc lộ cho cô thấy rằng, mặc dù trải qua những đau đớn, có lẽ cuộc sống của cô không phải là một thất bại?
Chúa Kitô biết cô là ai, nhưng Ngài không chỉ tay vào cô, không giơ tấm gương buộc tội cô và nói: Hãy nhìn xem, cô thật tội nghiệp làm sao. Ngài không ném thẳng vào mặt cô mọi thứ không vận hành êm xuôi trong cuộc sống tình yêu của cô. Ngài không cố làm bẽ mặt cô. Ngược lại, Ngài tâm sự với cô.
Khi Ngài hỏi cô có chồng chưa, cô trả lời rằng cô không có chồng. Chúa Giêsu nhắc nhở cô rằng cô đã có năm người và người đàn ông bây giờ cô đang sống chung với không phải là chồng của cô. Chúa Giêsu bộc lộ hoàn cảnh của cô nhưng không thái quá sa vào sự phán xét. Cảm thấy cuộc đối thoại trở nên quá riêng tư, người phụ nữ Samaria cố gắng trốn thoát bằng cách hỏi một câu hỏi mang tính thần học về ngọn núi miền Samaria và núi Giêrusalem. Chúa Kitô không thúc giục cô ấy. Cuộc đối thoại diễn ra với sự thẳng thắn nhưng cũng đầy tôn trọng và dịu dàng.
Để khôi phục niềm hy vọng cho người phụ nữ Samaria bên giếng Giacóp, Chúa Giêsu đã vi phạm mọi điều cấm kỵ: điều cấm kỵ về chủng tộc, điều cấm kỵ về tình dục và điều cấm kỵ về tôn giáo. Chúa Giêsu là một người tự do. Ngài không tin vào sự bế tắc dứt khoát, vào nhãn mác gây tổn thương, vào sự thù hận của tổ tiên cha ông. Như mọi khi, Ngài biết cách khôi phục hy vọng cho những người đang bị đánh gục bởi những khó khăn của cuộc sống: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng” (Mt 11,28)
Đối với Chúa Giêsu, vấn đề là làm phát sinh ra con người mới trong người phụ nữ này, như Ngài sẽ làm cho Nicôđêmô, Giakêu và Maria Mđalêna. Chúa Giêsu khơi nguồn một cái giếng trong tạo vật mới này, một cái giếng trở thành nguồn nước sự sống và sinh hoa kết trái. Ngài bôc lộ với cô ấy rằng cô đáng giá hơn nhiều so với tổng số tất cả những thất bại của cô ấy.
Chính lúc đó, Chúa Giêsu đã tiết lộ cho cô hai điều tuyệt vời: điều thứ nhất về bản chất thật của Thiên Chúa: “Nhưng giờ đã đến – và chính là lúc này đây- giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật, vì Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ phượng Ngài như thế” (Gioan 4: 2); và câu thứ hai về căn tính của chính Ngài: “Tôi biết Đấng Mêsia, gọi là Chúa Kitô, sẽ đến. Khi Ngài đến, Ngài sẽ loan báo cho chúng tôi mọi sự.” Chúa Giêsu nói: “Đấng ấy chính là tôi, người đang nói với chị đây” (Gioan 4: 25-26).
Trái tim của người phụ nữ này đã được cứu. Trong cuộc sống hời hợt, khô héo bởi một sự sinh tồn quá thấp lè tè trên mặt đất, một nguồn nước sự sống đã nảy nở. Cuối cùng cô cũng tìm được người đàn ông mà cô đang tìm kiếm. Cô không còn liên quan gì đến cái giếng này và cái bình của nó nữa. Cô chạy đi để truyền đạt những gì cô vừa khám phá được.
Buổi trưa mặt trời trên cao, cái nóng, sự mệt mỏi trên đường đi, trong văn bản tuyệt vời này của thánh Gioan thể hiện cuộc sống khó khăn và đơn điệu mỗi ngày của chúng ta. Ai là người khát trong câu chuyện này? Tất nhiên là Chúa Giêsu Trong biểu tượng của thánh Gioan, chúng ta có thể hiểu ở đây là sự khao khát của Thiên Chúa đối với con người, sự tìm kiếm của Ngài từ muôn thuở: “Ađam, ngươi đang ở đâu?” (Sáng thế ký 3: 9.) “Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi” (Máccô 2, 17).
Người phụ nữ Samaria này, là người đã tìm kiếm hạnh phúc cho mình, sự thật của cô ấy nằm trong tình yêu thoáng qua và chỉ biết đến thất bại, lại bị tiêu hao bởi một cơn khát khác mà chỉ Chúa Kitô sẽ cho phép cô ấy dập tắt. Cô ấy sẽ không bao giờ “khát” nữa vì nguồn nước sự sống này là trong cô ấy và cô ấy được Chúa yêu thương.
Còn chúng ta, chúng ta đang ở đâu trong cuộc đời? Chúng ta tìm kiếm hạnh phúc của mình ở đâu? Chúng ta có những khát khao nào?
Đối với người phụ nữ Samaria, Chúa có thể làm cho một suối nước ngọt ngào chảy ra, một nguồn mạch sự sống mới: “Còn ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời” (Gioan 4, 14).
Phêrô Phạm Văn Trung, theo cursillos.ca
2022
Người cha nhân hậu
27.3 Chúa Nhật thứ Tư Mùa Chay
Gs 5:9,10-12; Tv 34:2-3,4-5,6-7; 2 Cr 5:17-21; Lc 15:1-3,11-32
Người cha nhân hậu
Ta thường gọi là dụ ngôn “Người con hoang đàng”. Cách gọi này không được chính xác. Trước hết vì sự trở về của đứa con không đáng làm khuôn mẫu cho ta. Hơn nữa, xét theo bối cảnh và nội dung, Chúa Giêsu, khi kể dụ ngôn này, có ý đề cao tình yêu thương, lòng khoan dung nhân hậu của người cha.
Câu chuyện về đứa con phung phá, còn có thể được gọi là câu chuyện về tấm lòng của một người cha, hay nói đúng hơn là câu chuyện về ba cha con.
Thực vậy người con thứ chỉ là một tay giang hồ hèn nhát. Phải chi nếu vì thương cha nhớ mẹ mà anh ta trở về thì còn khá, đằng này chỉ vì đói khát, thèm ăn cả cám heo mà cũng chẳng được, thôi thì đành trở về. Mà đã trở về thì cũng phải ca mấy câu cho xong chuyện với ông già.
Dụ ngôn đứa con phung phá hay nói đúng hơn là câu chuyện về tấm lòng của một người cha, là câu trả lời trực tiếp cho những bàn tán của bọn biệt phái trước việc Chúa Giêsu thường đi lại và ăn uống với phường thu thuế và tội lỗi.
Khi đứa con xin chia gia tài, ông đã chia ngay, không so đo tính toán, không hạch sách khó khăn. Ông không nghĩ đến bản thân, không tự ái, chỉ mong sao con cái được vui lòng.
Khi con đã ra đi, ông ngày đêm thương nhớ, ngày nào cũng ra ngõ đứng chờ. Thật tội nghiệp, con ra đi chẳng nhớ nhung gì đến cha mà cha không phút giây nào ngừng thương nhớ con. Con chỉ biết tìm vui cho bản thân trong khi cha mỏi mòn trông đợi. Con chỉ biết đến tiền bạc, còn cha chẳng quan tâm gì đến tiền của, nhưng chỉ cần có con.
Cảm động nhất và cũng chan chứa tình thương nhất là phút giây gặp gỡ. Một phút giây vắn vỏi mà nói lên bao nhiêu điều về tình thương của cha. “Anh ta còn ở đàng xa thì người cha đã trông thấy”. Khi con chưa nhìn thấy cha thì cha đã nhìn thấy con. Mắt chàng trai trẻ hẳn phải tinh anh hơn mắt ông cụ đã nhoà dòng lệ vì thương nhớ chứ. Thế mà cha đã nhìn thấy con trước. Vì cha không nhìn bằng mắt nhưng nhìn bằng trái tim. Trái tim yêu thương có đôi mắt tinh tường giúp nhận ra ngay bóng người yêu dấu. Trái tim con không còn yêu thương nên nhìn chẳng thấy cha. Trái tim con khô cằn nên mắt vẫn sáng mà chẳng khác mù loà. Trái tim cha đầy ắp yêu thương nên đã loà rồi mà vẫn thấy rõ con ngay từ đàng xa.
“Ông chạnh lòng thương”. Trái tim dạt dào yêu thương quên hết tất cả lầm lỗi của đứa con. Tình cảm đầu tiên dâng lên trong tim ông không phải là tiếc xót nửa gia tài đã mất, cũng không phải là tức giận thằng con phá gia chi tử, nhưng lại là chạnh lòng thương. Yêu quá nên người cha chẳng còn nhìn thấy gì khác hơn là đứa con tiều tuỵ rách rưới. Yêu quá nên người cha chẳng nhìn thấy lầm lỗi mà chỉ nhìn thấy nỗi khổ của con. Trong trái tim ông, chỉ có tình thương dành cho con, nên vừa gặp con là tim đã rộn ràng xúc động.
“Chạy lại ôm cổ con”. Lại một cử chỉ lạ lùng. Cha không chờ con tới theo đúng lễ phép mà đã vội vàng chạy lại ôm con. Tình yêu thương thúc đẩy, niềm vui dâng dạt dào khiến người cha không chần chờ được nữa. Bất chấp thân phận cao quý của mình, ông chạy đi như một đứa trẻ được quà. Bất chấp tuổi tác của mình, ông nhanh nhẹn như một thanh niên sung sức. Đứa con tuổi còn trẻ mà sao chẳng nhanh nhẹn bằng ông già? Vì trong tim nó thiếu tình yêu. Trái tim không tình yêu cũng giống như cơ thể không sức sống. Ông già mà nhanh nhẹn vì ông không chạy bằng sức lực của đôi chân. Ông chạy bằng trái tim. Ông bay bằng tình yêu. Tình yêu chắp cánh cho ông.
“Hôn lấy hôn để”. Chẳng còn bút nào tả xiết niềm vui của người cha khi gặp lại đứa con. Những nụ hôn không ngớt đủ nói lên tình cảm dạt dào ông dành cho nó. Ông ôm chặt như để giữ không cho nó ra đi nữa.
Tấm lòng của người cha thật nhân hậu, tốt lành. Người con chỉ mong có được một chỗ ngủ, một bát cơm ăn, một tấm áo mặc. Nhưng cha anh đã quảng đại vô biên, đã đón nhận người con với niềm vui rộn rã: mặc áo mới cho con, mang giầy dép cho con, rồi mở tiệc ăn mừng.
Tình yêu của Thiên Chúa lớn hơn tội lỗi của chúng ta. Tình yêu của Ngài vượt quá mơ ước của chúng ta: “Nếu lòng chúng ta có cáo tội chúng ta, thì Thiên Chúa còn cao cả hơn lòng chúng ta, và Ngài biết hết mọi sự” (Rm 5,20).
Trở về là gặp lại niềm vui xum họp. Trở về là “tìm lại được”, là “sống lại”. Tìm lại được sự sống, đó là ý nghĩa đích thực của việc hoán cải và cũng là lý do của niềm vui sâu xa nơi người cha. Người cha vui mừng mở tiệc không phải vì từ nay đứa con trở về sẽ giúp cho ông việc nầy sẽ làm cho ông việc nọ, mà chỉ vì từ nay anh sẽ được sống và được sống hạnh phúc dồi dào. Thật là một niềm vui hoàn toàn vị tha và rộng mở của người cha bao dung, nhân hậu.
Trong khi người cha tràn đầy niềm vui đón nhận sự trở về của người con với tất cả sự bao dung rộng mở: “Em con đã chết, nay lại sống” thì lòng người anh lại đầy tị hiềm và từ chối chia sẻ niềm vui của người cha: “cái thằng con của cha kia…”
Ta thấy hình ảnh đẹp của người cha là người cha đã chờ đợi rồi ông đã chạy ra đón đứa con hư, tỏ lòng tha thứ mà không cần đứa con giãi bày lời thú tội. Ông đã dọn một bàn tiệc, tổ chức một buổi lễ… Đối với tội nhân hối cải, Thiên Chúa cũng có một thái độ tương tự. Ngài đến gặp họ. Phán quyết trong nội tâm và lòng hối cải đã là dấu hiệu của ân sủng Thiên Chúa. Kẻ lầm lạc khi tự phán quyết rồi lại quyết định trở về với Thiên Chúa, đó cũng là ân sủng.
Thiên Chúa cầu mong lại đón nhận họ. Đó là do lòng nhân hậu của Ngài. Và, nói một cách sát chữ, Ngài đem lòng yêu thương dạt dào người tội lỗi đã hối cải, quên đi quá khứ, xoá bỏ ác quả và tội vạ, và hơn nữa, cho họ được những đặc ân không ngờ, đây là mầu nhiệm khôn dò của ân sủng Người.
Mỗi người chúng ta hãy tỏ lòng biết ơn Chúa vì đã được tha thứ bằng cách ở lại trong tình yêu của Cha trên trời. Nếu chúng ta lỡ xa cách Chúa, hãy mau trở về với Ngài. Hãy cầu nguyện cho mình và anh chị em khám phá ra tình yêu của Chúa ngay giữa cuộc sống. Bắt gặp được tình yêu Thiên Chúa như Phêrô bắt gặp tia mắt của Chúa Giêsu khi chúng ta sa ngã. Chính tình yêu của Chúa mới cứu được chúng ta.
2022
Yêu thương
26.3 Thứ Bảy trong tuần thứ Ba Mùa Chay
Hs 6:1-6; Tv 51:3-4,18-19,20-21; Lc 18:9-14
Yêu thương
Chúng ta đã bước vào cuối tuần thứ III Mùa chay, lời kêu gọi sám hối và tin vào Tin Mừng, canh tân đổi mới đời sống của bản thân và gia đình vẫn khẩn thiết được gửi đến từng người trong chúng ta từ linh mục đến tu sĩ và giáo dân. Việc sám hối trở về là việc của mọi người, tuy nhiên có nhiều người trong chúng ta vẫn chưa có một quyết định thay đổi cụ thể nào, lý do vì họ không nhận ra những sai lầm thiếu sót của mình, là vì họ làm sai mà cứ cho là đúng, họ để cho sự kiêu căng tự mãn che khuất nên không thể nhìn thấy rõ thực chất tình trạng con người của mình.
Sự kiêu căng tự mãn nó cũng che khuất con mắt của người biệt phái hôm nay, anh ta lên đền thờ với tư thế hiên ngang tự đắc, anh nghĩ rằng các thành tích anh đã làm khiến cho Thiên Chúa phải “nể” anh và mắc nợ anh. Thực sự người biệt phái này không hề cầu nguyện, mà anh đang làm một bản báo cáo thành tích của chính mình và kể lể công trạng trước mắt Chúa: Tôi ăn chay mỗi tuần hai lần, và dâng một phần mười thu nhập hằng ngày. Việc làm ấy quá tốt, vượt trên cả luật lệ quy định về ăn chay, thế nhưng, anh ăn chay không phải để đền tội hy sinh, cũng không phải để chuẩn bị đón Đấng Mesia như ý nghĩa ban đầu của nó, mà anh ăn chay và giữ luật chỉ để cho thấy anh hơn người khác.
Chính vì thế, ngay từ lời mở đầu anh đã có ý so sánh mình với người khác: Lạy Chúa tôi tạ ơn Chúa vì tôi không như bao kẻ khác, tham lam bất chính, ngoại tình hay như tên thu thuế kia.
Không chỉ so sánh công trạng của mình với ngưới khác, nhưng anh còn tỏ vẻ khinh miệt người thu thuế kia, và cứ như anh đã nói, thì có thể thấy anh coi nhưng người khác là những người tội lỗi và phạm những cái tội mà anh không hề phạm, chứng tỏ anh tốt hơn họ rất nhiều, anh thầm muốn nói điều đó qua lời cầu của mình.
Trong khi đó, người thu thuế nhận ra tình trạng khốn khổ tội nghiệp tội lỗi bất xứng của mình, anh không dám ngửa mắt lên trời, mà chỉ đấm ngực cầu nguyện với lòng sám hối chân thành: Lạy Chúa xin thương xót con là kẻ tội lỗi. Anh không dám kể lể gì, vì anh thấy mình chẳng có công trạng gì, anh đã nhìn thấy sự thiếu sót khiếm khuyết và tội lỗi của mình, anh biết rằng vì nghề nghiệp, vì cuộc sống mà anh đã phải làm một cái nghề bị xã hội đương thời kết án là ô uế tội lỗi, vì anh đã thường xuyên phải tiếp xúc với nhiều người và vì sự cuốn hút của đồng tiền khiến anh cũng không thể cầm lòng được. Chính vì ý thức và nhìn thấy thực trạng con người của mình trước mặt Chúa và trước mặt mọi người, nên anh chỉ còn biết kêu xin lòng thương xót và sư tha thứ của Thiên Chúa.
Về phía Thiên Chúa, Ngài chỉ chờ đợi có như thế Ngài chỉ mong muốn không phải là những thành tích dài dòng, không phải là những báo cáo tổng kết, mà là một “tấm lòng tan nát khiêm cung”, tan nát vì hối hận, vì thấy rằng mình đã làm tổn thương đến tình yêu của Thiên Chúa là Cha, khiêm cung vì nhìn thấy mình hoàn toàn bất xứng đáng bị trừng phạt hơn là được khoan dung, khiêm cung để nhìn thấy được tình yêu và lòng quảng đại tha thứ của Chúa. Thiên Chúa muốn và chờ đợi thái độ như thế, và vì thế, câu chuyện cho thấy Chúa Giêsu tuyên bố: Người thu thuế khi trở về thì được tha thứ và nên công chính, còn người biệt phái thì không.
Chúa Giê-su rất thông hiểu về luật lệ Do Thái, có lẽ chính vì hiểu rất rõ những điều còn thiếu sót trong luật lệ Do Thái, nên Chúa Giê-su đã kiện toàn và làm trọn vẹn Luật Yêu Thương một cách độc đáo và triệt để. Các con cũng đã nghe dạy rằng: ‘Hãy yêu thương tha nhân, và ghét thù địch’. Còn Thầy, Thầy bảo các con: ‘Các con hãy yêu thương thù địch và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi các con’” (Mt 5,43-44).
Thánh Phaolô cũng tiếp lời giáo huấn của Đức Giêsu khi nói: “Hãy chúc lành cho kẻ bắt bớ, chúc lành chứ đừng chúc dữ… Nếu kẻ thù ngươi đói hãy cho nó ăn; nó khát hãy cho nó uống. Chớ để sự dữ thắng được ngươi, nhưng hãy lấy lành mà thắng dữ” (x. Rm 12:14, 20-21). Ngài đòi hỏi các môn đệ phải khước từ báo oán, phải tha thứ, yêu thương và cầu nguyện cho kẻ thù nữa, bởi vì: “Cha các con ở trên trời, là Ðấng làm cho mặt trời mọc lên trên người lành cũng như kẻ dữ, và cho mưa trên người công chính cũng như kẻ bất lương”. Ngài mời gọi các môn đệ hãy tha thứ vô điều kiện: “Không phải chỉ tha 7 lần nhưng là 70 lần 7”.
Giáo luật yêu thương của Đức Giêsu đã xóa bỏ nguyên tắc “ăn miếng trả miếng”. Luật yêu thương của Đức Giêsu mở ra con đường mới cho nhân loại. Con đường lấy thiện thắng ác, lấy tình yêu vượt thắng hận thù. Chỉ có yêu thương mới làm cho thù hận tiêu tan và tránh được vòng luẩn quẩn của bạo động và chiến tranh.
Chọn lựa con đường bất bạo động không phải là một chọn lựa cho sự nhu nhược hay là chọn lựa của kẻ yếu thế, nhưng chọn lựa bất bạo động có nghĩa là tin tưởng mạnh mẽ vào sức mạnh của chân lý; chọn lựa con đường bất bạo động, và không trả thù là sự am hiểu thấu đáo và lòng tin tưởng rất lớn nơi khả năng yêu thương và được yêu thương tận đáy thâm sâu của mỗi con người; chọn lựa con đường yêu thương hòa bình đòi hỏi sự kiên nhẫn, chấp nhận chịu thua thiệt, bị đàn ác…nhưng có thể mở ra một chuyển đổi mới cho một trật tự mới. Chính sự tha thứ sẽ giải phóng con người, còn nếu nuôi lòng hận thù báo oán thì con người sẽ chuốc lấy sự đau khổ: “ai dùng gươm sẽ chết vì gươm”.
Đó là một chân lý! Đức Khổng Tử cũng đã dạy học trò: “Dĩ đức báo oán”, nghĩa là phải làm điều tốt để đáp lại điều xấu của kẻ thù của mình. Đức Phật Thích Ca suốt đời tìm cách giải thoát con người khỏi đau khổ, cũng dạy các đệ tử như sau: “Lấy oán báo oán, oán chập chùng. Lấy đức báo oán, oán tiêu tan”. Thánh Gandhi của dân tộc Ấn độ, đã nêu ra học thuyết “bất bạo động” làm phương thế đấu tranh và đã giải phóng được nước Ấn thoát khỏi ách khỏi ách thống trị của thực dân Anh, cũng nói như sau: “Luật vàng của xử thế là sự tha thứ cho nhau”. Người Hylạp cổ thường ví von như sau: “Người khôn ngoan thà chịu đựng sự ác hơn là làm điều ác.”
Học biết yêu thương, tha thứ và hơn nữa là cầu nguyện cho kẻ thù là điều chắc chắn không đơn giản, nhưng không có nghĩa là không làm được. Đức Giê-su đã làm điều đó và cũng nhiều môn đệ của Đức Giê-su đã noi theo. Xin Chúa cho mỗi người chúng ta mỗi ngày biết học nơi Chúa giáo luật biết yêu thương và cầu nguyện cho người khác-ngay cả những người xem ra đối kháng, chống đối và thậm chí bách hại chúng ta.

