2022
ĐTC Phanxicô: Hoà bình của Chúa Kitô không bao giờ là hoà bình bằng vũ khí
ĐTC Phanxicô: Hoà bình của Chúa Kitô không bao giờ là hoà bình bằng vũ khí
Trong buổi tiếp kiến chung sáng thứ Tư Tuần Thánh 13/4/2022, Đức Thánh Cha đã suy tư về bình an do Chúa Phục Sinh ban tặng. Ngài lên án logic theo quyền lực và bạo lực của thế gian và giải thích rằng Chúa Giêsu mang lại hòa bình thực sự nhờ sự hiền lành và Thánh giá. Đức Thánh Cha mời gọi các tín hữu trong Tuần Thánh này hãy đến gần Chúa Kitô, Đấng chịu đóng đinh và sống lại, và cầu xin ơn bình an của Người trong tâm hồn chúng ta và trên thế giới.
Đức Thánh Cha nhắc với các tín hữu hiện diện tại đại thính đường Phaolô VI rằng trong Tuần Thánh này, Giáo hội cử hành mầu nhiệm Thương khó, Tử nạn và Phục sinh của Chúa chúng ta. Chúa Nhật tuần trước, chúng ta nhắc lại việc Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem. Đám đông ca ngợi Người là Đấng Mêsia, người sẽ mang lại một nền hòa bình huy hoàng bằng cách giải phóng Giêrusalem khỏi sự chiếm đóng của đế quốc Roma. Tuy nhiên, bình an mà Chúa Giêsu mang lại không sử dụng các chiến lược của thế giới. Thay vì sử dụng bạo lực, Chúa Giêsu mang lại hoà bình bằng sự khiêm nhường và hiền lành, điều đã đưa Người đến cái chết trên Thập giá. Bằng cách chết cho tội lỗi của chúng ta, Chúa Kitô đã giải thoát chúng ta.
Trong cuốn tiểu thuyết Anh em nhà Karamazov của Dostoyevsky, vị Đại Phán quan buộc tội Chúa Giêsu đã không sử dụng quyền lực của Người để thiết lập hòa bình, nhưng tôn trọng tự do của từng người. Thật vậy, sự bình an mà Chúa Giêsu mang lại không sử dụng vũ lực, nhưng chỉ là “những vũ khí” của Tin Mừng: cầu nguyện, tha thứ và cảm thương với tất cả những người lân cận của chúng ta. Hoà bình này không phải là bạo lực bỉ ổi của chiến tranh, nhưng là hòa bình của Lễ Phục sinh; nền hòa bình làm thay đổi lịch sử và trái tim của tất cả những ai chấp nhận nó.
Bài giáo lý của Đức Thánh Cha
Đức Thánh Cha bắt đầu bài suy tư của ngài bằng cách tập trung vào hai Chúa Nhật Lễ Lá và Phục sinh. Ngài nói:
Anh chị em thân mến,
Chúng ta đang ở trung tâm của Tuần Thánh, kéo dài từ Chúa Nhật Lễ Lá đến Chúa Nhật Phục Sinh. Cả hai ngày Chúa Nhật này đều cử hành xung quanh Chúa Giêsu. Nhưng chúng là hai ngày lễ khác nhau.
Chúa Nhật tuần trước, chúng ta đã thấy Chúa Kitô long trọng tiến vào Giêrusalem, như một ngày lễ hội, được chào đón như Đấng Mêsia: để đón Người, các áo choàng được trải trên đường (x. Lc 19,36) và các cành cây được cắt từ các cây (x. Mt 21, 8). Đám đông hân hoan chúc tụng lớn tiếng “Đức Vua đang đến”, và tung hô: “Bình an trên trời, vinh quang trên các tầng trời” (Lc 19,38). Dân chúng ăn mừng vì họ nhìn thấy việc Chúa Giêsu vào thành như sự xuất hiện của một vị vua mới, người sẽ mang lại hòa bình và vinh quang. Đây là nền hòa bình mà dân chúng mong đợi: một nền hòa bình huy hoàng, kết quả của sự can thiệp của vị vua, của một đấng cứu thế đầy quyền năng, người sẽ giải phóng Giêrusalem khỏi sự chiếm đóng của đế quốc Roma. Những người khác, có lẽ, mơ ước về sự phục hồi hòa bình xã hội và nhìn thấy Chúa Giêsu là vị vua lý tưởng, người sẽ cho đám đông no đầy cơm bánh, như ngài đã làm, và thực hiện những phép lạ vĩ đại, nhờ đó mang lại công bằng hơn cho thế giới.
Đường lối của sự hiền lành và của thập giá
Nhưng Chúa Giêsu không bao giờ nói về điều này. Có một lễ Vượt Qua khác đang chờ đợi Người, không phải là một lễ Vượt Qua khải hoàn. Điều duy nhất Người quan tâm khi chuẩn bị cho việc vào thành Giêrusalem là cưỡi “một con lừa con chưa ai cỡi bao giờ, đang cột sẵn đó” (Lc 19,30). Đây là cách Chúa Kitô mang lại hòa bình cho thế giới: qua sự hiền lành và nhu mì, được tượng trưng bởi con lừa con chưa ai cỡi bao giờ, đang cột sẵn. Không ai cỡi, bởi vì cách làm của Thiên Chúa khác với cách làm của thế gian. Thực ra, ngay trước lễ Vượt Qua, Chúa Giêsu đã giải thích cho các môn đệ: “Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không theo kiểu thế gian. Anh em đừng xao xuyến cũng đừng sợ hãi” (Ga 14,27)
Bình an của Chúa Kitô
Đức Thánh Cha giải thích: Hòa bình mà Chúa Giêsu ban cho chúng ta trong Lễ Phục sinh không phải là hòa bình theo các chiến lược của thế giới, vốn tin rằng nó có thể đạt được bằng vũ lực, bằng các cuộc chinh phục và nhiều hình thức áp đặt khác nhau. Hòa bình này, trên thực tế, chỉ là khoảng thời gian ngừng nghỉ giữa các cuộc chiến tranh. Bình an của Chúa theo đường lối của sự hiền lành và của thập giá: mang gánh nặng giúp người khác. Thật vậy, Chúa Ki-tô đã tự mình gánh lấy điều ác, tội lỗi và sự chết của chúng ta. Vì vậy, Người đã giải thoát chúng ta. Người đã đền bù vì chúng ta. Bình an của Người không phải là kết quả của một sự thỏa hiệp nào đó, nhưng đến từ món quà trao tặng chính mình. Tuy nhiên, hòa bình nhẹ nhàng và can đảm này rất khó được đón nhận. Trên thực tế, đám đông ca tụng Chúa Giê-su cũng là đám đông mà vài ngày sau hét lên “Hãy đóng đinh hắn”, và sợ hãi và thất vọng, không cử động một ngón tay nào vì Người.
Để minh hoạ cho vấn đề này, Đức Thánh Cha nhắc đến tường thuật rất hay của Dostoevsky, có tên là Truyền thuyết về Đại Phán quan. Tác phẩm kể về Chúa Giêsu, sau vài thế kỷ, trở lại Trái đất. Ngay lập tức Người được chào đón bởi đám đông vui mừng, những người nhận ra và cổ vũ Người. Nhưng sau đó Người bị bắt bởi vị Phán quan, người đại diện cho lý luận của thế gian. Vị Phán quan chất vấn Chúa Giêsu và chỉ trích Người dữ dội. Lý do quan trọng nhất của việc khiển trách là Chúa Giê-su Kitô, mặc dù có thể, nhưng không bao giờ muốn trở thành Xê-da, vị vua vĩ đại nhất của thế giới này; Chúa Giêsu thích để con người tự do hơn là khuất phục họ và giải quyết các vấn đề bằng vũ lực. Người đã có thể thiết lập hòa bình trên thế giới bằng cách bẻ cong trái tim tự do nhưng mong manh của con người bằng sức mạnh vượt trội, nhưng Người không muốn: Người tôn trọng tự do của chúng ta. Phán quan nói với Chúa Giêsu: “Nếu ông chấp nhận thế giới và chiếc áo của Xêda, ông sẽ thành lập vương quốc hoàn vũ và mang lại hòa bình toàn cầu” (Anh em nhà Karamazov, Milan 2012, 345); và với một câu đả kích ông kết luận: “Nếu có ai đó xứng đáng với hình phạt bị thiêu của chúng tôi hơn cả, thì đó chính là ông” (348). Đây là sự lừa dối được lặp lại trong lịch sử, sự cám dỗ của một nền hòa bình giả tạo, dựa trên quyền lực, sau đó dẫn đến hận thù và phản bội Thiên Chúa và sự cay đắng trong tâm hồn.
Hòa bình của Chúa Giêsu không bao giờ là một nền hòa bình bằng vũ khí
Cuối cùng, vị Phán quan muốn Chúa Giê-su “nói với ông ta điều gì đó, thậm chí có thể là điều gì đó cay đắng, khủng khiếp”. Nhưng Chúa Kitô đã phản ứng bằng một cử chỉ dịu dàng và cụ thể: “Người im lặng đến gần ông ta và nhẹ nhàng hôn lên đôi môi già nua nhợt nhạt của ông ta” (352). Hòa bình của Chúa Giêsu không chế ngự người khác, nó không bao giờ là một nền hòa bình bằng vũ khí. Vũ khí của Tin Mừng là lời cầu nguyện, sự dịu dàng, sự tha thứ và tình yêu nhưng không đối với tha nhân, với mọi người. Đây là lý do tại sao cuộc xâm lược vũ trang ngày nay, giống như mọi cuộc chiến, thể hiện sự phẫn nộ chống lại Chúa, một sự phản bội xúc phạm đối với Chúa Phục sinh, một sự yêu thích gương mặt của vị thần giả của thế giới này hơn khuôn mặt nhu mì của Chúa Giêsu. Chiến tranh luôn là một hành động của con người để mang đến việc thờ ngẫu tượng của quyền lực.
Xin Chúa Kitô ban bình an
Trước Lễ Vượt Qua cuối cùng, Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ: “Lòng anh em đừng xao xuyến và đừng sợ hãi” (Ga 14:27). Vâng, bởi vì trong khi quyền lực thế gian chỉ mang lại sự hủy diệt và chết chóc, hòa bình của Chúa tạo dựng nên lịch sử, bắt đầu từ trái tim của mỗi người đón nhận nó. Do đó, Lễ Phục sinh là ngày lễ đích thực của Thiên Chúa và con người, bởi vì hòa bình mà Chúa Kitô đã đạt được trên thập giá khi tặng ban chính mình, được ban phát cho chúng ta. Do đó, Đấng Phục sinh, trong ngày Phục sinh, đã hiện ra với các môn đệ và lặp lại: “Bình an cho anh em!” (Ga 20,19.21). Đây là lời chào của Chúa Kitô vinh thắng, Chúa Kitô phục sinh.
Thưa anh chị em, lễ Phục Sinh (trong tiếng Ý là Pasqua) có nghĩa là “sự vượt qua”. Đặc biệt là Phục sinh năm nay là cơ hội may mắn để đi từ vị chúa của thế gian sang Thiên Chúa của Kitô giáo, từ lòng tham chúng ta mang trong mình đến lòng bác ái giải thoát chúng ta, từ sự mong đợi một nền hòa bình do vũ lực mang lại đến sự dấn thân làm chứng cách cụ thể cho hòa bình của Chúa Kitô. Chúng ta hãy đứng trước Thập giá, nguồn mạch bình an của chúng ta, và xin Người ban bình an trong tâm hồn và hòa bình trên thế giới.
Hồng Thủy
2022
Mô tả dung mạo Đấng Phục Sinh
23.4 Thứ Bảy trong tuần Bát Nhật Lễ Phục Sinh
Cv 4:13-21; Tv 118:1,14-15,16-18,19-21; Mc 16:9-15
Mô tả dung mạo Đấng Phục Sinh
Trong mầu nhiệm Giáng Sinh Ngôi Hai trở thành Đấng Emmanuen, “Thiên Chúa ở cùng chúng ta.” Ngài không chỉ đến viếng thăm con người trong chốc lát mà còn ở lại, chia sẻ trọn vẹn kiếp người, gánh lấy tội lỗi nhân loại, để chết thay, để đền bù cho nhân loại. Nếu chỉ có thế mà thôi thì chưa đủ, Ngài đã Phục Sinh để chúng ta cùng sống lại với Ngài nữa. Phúc Âm Gioan hôm nay tường thuật chính lúc các tông đồ vất vả chài lưới, từ bờ biển Tibêria, Ngài đứng dõi theo, hướng dẫn để các ông bắt được nhiều cá. Chẳng những thế Ngài còn nướng sẵn bánh và cá và ân cần thân ái gọi các ông “Hãy đến mà ăn đi!”
Tin Mừng hôm nay là một tóm kết về những lần hiện ra của Chúa Giêsu khi Ngài sống lại. Thánh Marcô nhấn mạnh đến sự cứng lòng tin của các môn đệ để làm nổi bật chứng từ của Chúa Giêsu hiện ra và mệnh lệnh phải ra đi làm chứng cho Ðấng Phục Sinh. Chúa Giêsu Phục Sinh vẫn mãi mãi là một, nhưng khi hiện ra, Ngài luôn đến với hình dạng của một người xa lạ. Với bà Maria Madalena, Ngài hiện ra như một người làm vườn; với hai môn đệ đi về làng Emmaus, Ngài đồng hành như một lữ khách xa lạ; với các môn đệ chài lưới, Ngài xuất hiện như một người mà họ cũng không nhận ra ngay tức khắc.
Niềm tin vào Ðấng Phục Sinh luôn đòi hỏi các môn đệ phải làm một bước nhảy vọt để từ một người xa lạ, nhận ra dung mạo của Thầy mình. Từ hai ngàn năm qua, chứng từ về Ðấng Phục Sinh cũng luôn diễn ra như thế, từ cuộc sống của cộng đồng tín hữu tiên khởi, qua cái chết của các vị tông đồ đến cuộc tử đạo, của không biết bao nhiêu các tín hữu ở mọi thời đại, cuộc sống tin cậy mến ở mọi nơi là một chứng từ sống động và liên lỉ về Ðấng Phục Sinh.
Câu chuyện Tin Mừng mở ra cho thấy dấu hiệu của một cuộc đánh bắt thất bại, lạc lõng và thất vọng. Một hậu cảnh tối đen, xám xịt. Tuy nhiên, từ đó chúng ta đã có thể nhìn thấy những nét tươi sáng của cuộc gặp gỡ đầy ngạc nhiên với Thiên Chúa và niềm vui của một mẻ cá dồi dào nổi lên như một sự tương phản.
Các môn đệ là những ngư phủ kinh nghiệm. Họ có sẵn công cụ, kĩ thuật, kiên trì trước những mệt mỏi, sự hiểu biết về hướng gió và luồng nước, khôn ngoan trong việc phán đoán đúng thời điểm, đúng vị trí để đưa thuyền ra đến nơi có độ sâu thích hợp để thả lưới. Bất chấp nhiều kinh nghiệm và mọi nỗ lực, lưới cá vẫn trống không, giống như một chiếc giẻ cũ ướt mèm. Để trả lời cho câu hỏi của Đức Giêsu “Này các chú, không có gì ăn ư ”, họ đã đáp lại cộc lốc, pha chút chua xót “Không”.
Người ta chỉ có thể nhận ra những bàn tay trống rỗng khi xòe ra nhận lấy quà tặng. Đó dường như là phong cách giáo dục thường xuyên của Đức Giêsu để dẫn người ta đến với sự thật trần trụi về chính họ, không thể bào chữa và không có lối thoát. Người phụ nữ Samari, trong cuộc đối thoại với Ngài đã được dẫn đến việc thừa nhận “chị không có chồng” (Ga 4,17).
Trước khi được Đức Giêsu chữa lành, người bại liệt tại hồ nước ở Bedatha nhận biết rằng anh đã phải chờ đợi trong vô vọng suốt 38 năm và thành thật tự thú về sự bất lực và cô đơn của mình: “Thưa Ngài, không có ai…” (Ga 5,7). Ở giữa đám đông nhưng không một ai giúp anh vào đúng thời điểm cần đến. Với chàng thanh niên giàu có, Đức Giêsu đã nói: “Anh chỉ còn thiếu một điều…” (Mc 10:21). Tại tiệc cưới Cana, chính Đức Maria đã nhận thấy tình trạng hết rượu và cảnh báo với Chúa Giêsu: “Họ hết rượu rồi” (Ga 2:3)
Đó là một phần của sự tăng trưởng nhân bản và thiêng liêng khi chúng ta thành thật nhận ra có điều gì đó thật đáng tiếc, khi nhận ra những yếu kém của chúng ta. Trong bối cảnh này, mẻ lưới trống trông vì không có Chúa. Chỉ với sự hiện diện và lời của Chúa Giêsu mới có thể biến đổi sự thất vọng thành niềm hy vọng, sự thất đảm của các môn đệ trở thành kinh ngạc. Sự kiện này minh họa cách sống động cho những gì Đức Giêsu đã nói trong diễn từ cuối cùng “Cũng như cành nho không thể tự mình sinh hoa trái, nếu không gắn liền với cây nho, anh em cũng thế, nếu không ở lại trong Thầy….Không có Thầy anh em chẳng làm gì được” (Ga 15: 4-5).
Từ hậu cảnh buồn bã nổi lên sự tương phản của một sự dư dật đáng kinh ngạc: 153 (50*3 + 3, dấu chỉ của sự tròn đầy) những con cá lớn. Sự dồi dào là một trong những đặc tính “kì diệu của món quà” mà Đức Giêsu thực hiện, hóa bánh ra nhiều làm thỏa mãn đám đông với những chiếc rổ đựng đầy bánh. Tại Cana, 6 chum đựng nước lã đã hóa thành rượu, mỗi chiếc chứa từ 80 đến 120 lít nước. Hơn thế nữa, toàn là rượu ngon hảo hạng, nhiều hơn mức cần thiết để giải quyết tình huống khẩn cấp.
Tin Chúa Giêsu phục sinh đòi hỏi một điều khác nữa cần thiết hơn điều tai nghe mắt thấy. Đó là cảm nghiệm được sự sống lại và được giải thoát. Điều đó đòi hỏi sống cảm nghiệm tích cực, không giới hạn và cởi mở vô cùng.
Tóm lại, đức tin vào Chúa Giêsu phục sinh chỉ phát sinh từ lòng trông cậy riêng đối với tôi, riêng đối với mỗi người. Trông cậy có thể được sống lại cho chính bản thân chúng ta trong sự hợp nhất với Người và duy trì được sự hiện diện sâu xa với Người ngay ơ đời này.
Giáo Hội là thân thể mầu nhiệm của Ðấng Phục Sinh, Ngài chỉ thực sự được nhận diện trong thân thể ấy qua cử chỉ trao ban mà thôi. Chính vì thế mà trọng tâm và cao điểm của Giáo Hội chính là cử hành Thánh Thể. Giáo Hội lập lại cử chỉ trao ban của Chúa Giêsu, nhưng cử chỉ ấy sẽ không diễn tả trọn vẹn dung mạo của Ðấng Phục Sinh, nếu nó không được nối dài và diễn tả cùng cuộc sống trao ban cụ thể của Giáo Hội và của các tín hữu Kitô. Cuộc đời của người tín hữu Kitô phải là một thánh lễ nối dài để mãi mãi mô tả dung mạo của Ðấng Phục Sinh.
2022
Chúa đó
22.4 Thứ Sáu trong tuần Bát Nhật Lễ Phục Sinh
Cv 4:1-12; Tv 118:1-2,4,22-24,25-27; Ga 21:1-14
Chúa đó
Sau khi nhận tin báo từ Maria Madalêna là các ông sẽ được thấy Đức Giêsu phục sinh tại Galilê (x. Mt 28,10). Tuy nhiên, ngày và giờ thì không biết, nên trong khi chờ đợi, các ông đã tranh thủ đi đánh cá. Tuy nhiên, lần ra quân đầu tiên của các ông đã thất bại.
Thánh sử Gioan trình thuật: họ thức suốt đêm để đánh cá, nhưng tới sáng, họ vẫn trắng tay, không bắt được con cá nào!
Vì thế, họ sửa soạn giặt lưới để đi nghỉ sau một đêm vất vả cực nhọc. Đúng lúc ấy, Chúa Giêsu hiện ra và đứng trên bãi biển gọi các ông với những từ rất thân thương, gần gũi: “Này các chú, không có gì ăn ư”. Khi họ đáp không có, Đức Giêsu truyền lệnh cho họ thả lưới bên phải mạn thuyền thì sẽ bắt được cá. Kết quả đúng như lời Đức Giêsu nói. Tổng tất cả là 153 con. Ngay lập tức, người môn đệ được Đức Giêsu thương mến nhận ra Thầy của họ và reo lên: “Chúa đó!”.
Tin Mừng chúng ta vừa nghe, tác giả cho biết đây là lần thứ ba Đức Giêsu hiện ra với các môn đệ. Tuy nhiên, lần này có những điểm đặc biệt vì ngoài việc củng cố niềm tin, chúng ta thấy có những tình tiết khác:
Thứ nhất, vâng lời Chúa thì sẽ được thành công cách mỹ mãn hơn cả suy tính của con người. Có Chúa mọi chuyện sẽ được êm đẹp. Thuyền đầy cá và lưới không rách chứng minh điều đó.
Thứ hai, qua mẻ cá lạ với 153 con, muốn nói lên các ông sẽ là lưới người như lưới cá và ơn cứu độ phải được loan đi đến với hết mọi người, mọi nơi và mọi thời.
Thứ ba, công cuộc truyền giáo là của mọi người, không riêng rẽ. Vì thế, sự hiệp nhất để cùng nhau thi hành sứ vụ là điều cần thiết. Một mình không thể chu toàn. Lưới đầy cá và phải nhờ các thuyền khác cùng kéo lên cho thấy đặc tính này.
Cuối cùng, yêu mến thì sẽ nhận ra Chúa và đi vào mối tương quan mật thiết với Ngài cách đặc biệt như Gioan.
Trình thuật sau cùng trong Tin Mừng thánh Gioan kể lại cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu phục sinh với các môn đệ ở biển hồ Tibêria. Các môn đệ trải qua một đêm thả lưới, đến sáng vẫn chưa bắt được con cá nào. Nghe tiếng Đức Giêsu từ trên bờ vọng ra: “Cứ thả lưới xuống bên phải thuyền thì sẽ bắt được cá.” Các ông thả lưới xuống, nhưng lần này không sao kéo lên được vì lưới đầy cá. Như đã có kinh nghiệm đọc ra dấu chỉ, các môn đệ nhận ra Chúa và đến với Người.
Điểm nhấn của trình thuật sau cùng này trong tin mừng Gioan là ba lần Đức Giêsu hỏi ông Phêrô: “Này anh Simon, con ông Gioan, anh có yêu mến Thầy hơn các anh em này không?” và cũng ba lần ông can đảm và khiêm tốn đáp rằng: “Thưa Thầy có, Thầy biết con thương mến Thầy.” (Ga 21, 15-17)
Chúa Giêsu và Phêrô đã có ít nhất ba năm đồng lao cộng khổ, đã cùng chia nhau biết bao thăng trầm sóng gió trong cuộc đời rao giảng Tin Mừng. Ba năm không phải là khoảng thời gian quá ngắn để có thể hiểu được lòng dạ một người vốn gần gũi bên mình. Thế nên, thật ngạc nhiên khi Thầy Giêsu lại hỏi Phêrô đến ba lần câu hỏi về tình yêu của ông dành cho Người. Vì Đức Giêsu chưa hiểu được tấm lòng Phêrô? hay là vì Phêrô đã chưa một nào lần thật lòng tuyên xưng tình yêu của mình dành cho Thầy Giêsu?
Nhiều người giải thích rằng, ba lần Chúa Giêsu gạn hỏi là một cách khéo léo để nhắc Phêrô về ba lần ông đã chối Thầy trong cuộc thương khó. Điều ấy có thể đúng. Thế nhưng rõ ràng Thầy Giêsu đến với Phêrô không phải để vặn vẹo hay hạch tội, nhưng là để dứt điểm chữa lành mặc cảm tội lỗi và để hàn gắn những đổ vỡ trong tâm hồn Phêrô. Ba lần đối diện với câu hỏi của Chúa Giêsu là ba lần Phêrô có cơ hội để xác tín về tình yêu của mình. Tình yêu ấy vượt qua những lỗi lầm sai phạm và những bất trung bất tín… Có lẽ ít khi ta thấy ông Phêrô tuyên xưng lòng mến cách điềm tĩnh và lặng lẽ như lần này, bởi tính cách của ông luôn sôi nổi, mạnh mẽ. Nhưng để thưa lên những lời như thế, Phêrô hoàn toàn cậy dựa vào ơn Chúa, vì cú vấp ngã đau thương của ông trong cuộc thương khó của Thầy Giêsu đã giúp Phêrô nhận ra mình mong manh và dễ ngã thế nào.
Kinh nghiệm của tông đồ Phêrô cho ta thấy rằng ta cần ơn đặc biệt để yêu mến và bước đi theo Chúa. Phêrô đã từng tự tin và cậy vào sức riêng. Vấp ngã và được Đức Giêsu nâng dậy giúp Phêrô hiểu mình hơn, biết Chúa hơn và nhờ đó có thể theo Chúa hơn.
Theo Chúa luôn là một hành trình riêng tư, một tương quan cá vị với Chúa. Nơi đó, chỉ có Chúa và ta. Trải qua nhiều kinh nghiệm khác nhau, thăng trầm, hăng say hay cả những vấp ngã, ta học được bài học yêu thương và lớn lên trong lòng mến. Theo Chúa trong đời sống thường ngày cũng cần những nỗ lực bản thân và ơn Chúa trợ giúp. Câu hỏi Chúa dành cho ông Phêrô “con có yêu mến Thầy không?”cũng áp dụng cho mỗi người chúng ta vào một thời điểm nào đó trên hành trình theo Chúa hoặc cũng có thể là ngay hôm nay.
Để trả lời cho Chúa, chúng ta cần nhìn vào cõi lòng mình để biết mình hơn, để nhìn ra con tim đang nghiêng về đâu giữa nhiều chọn lựa. Thật tốt lành nếu chúng ta cũng có thể thưa lên với Chúa câu nói đầy xác tín của Phêrô “Thưa Thầy, Thầy biết rõ mọi sự; Thầy biết rõ con yêu mến Thầy.” Và nếu câu trả lời không hẳn như thế, chúng ta cũng đừng vội hốt hoảng nhưng xin Chúa giúp để can đảm chọn Chúa, để con tim biết yêu mến hơn và để theo sát Chúa hơn. Ước gì Chúa tiếp tục đến với chúng ta mỗi ngày để hướng dẫn và chỉ dạy chúng ta trong những bôn ba vất vả, xin Chúa nâng đỡ khi chúng ta yếu đuối hay vấp ngã và xin Chúa thực hiện những điều kỳ diệu từ những nỗ lực bé nhỏ bình thường của chúng ta.
Trang Tin Mừng hôm nay mời gọi chúng ta hãy tin tưởng vào quyền năng của Chúa. Sống tín thác vào Ngài ngay trong những biến cố đau buồn, thất vọng nhất của cuộc đời. Sống tình hiệp nhất, yêu thương và làm chứng cho Chúa trong thời đại chúng ta hôm nay.
