2022
Đức Phanxicô, giáo hoàng của tôi
Đức Phanxicô, giáo hoàng của tôi
Ở tuổi 85, Đức Phanxicô đã bắt đầu thấy già. Những hình ảnh gần đây cho thấy ngài đi đứng khó khăn nên liên tục có tin đồn ngài sẽ sớm từ nhiệm. Có đúng như vậy không? Dĩ nhiên tôi không biết, nhưng nếu xảy ra, tôi sẽ hiểu. Để là giáo hoàng, dù những đầu óc hẹp hòi có nghĩ như thế nào về chức vụ giáo hoàng, thì chức vụ này đòi hỏi một năng lực mà một người ngoài tám mươi mệt mỏi có quyền không còn năng lực này nữa.
Các quân nhân của quân đội Ý chụp selfie với Đức Phanxicô trong buổi tiếp kiến chung ở Quảng trường Thánh Phêrô ngày thứ tư 15 tháng 6-2022. (Ảnh CNS / Vatican Media)
Ở tuổi 85, Đức Phanxicô đã bắt đầu thấy già. Những hình ảnh gần đây cho thấy ngài đi đứng khó khăn nên liên tục có tin đồn ngài sẽ sớm từ nhiệm. Có đúng như vậy không? Dĩ nhiên tôi không biết, nhưng nếu xảy ra, tôi sẽ hiểu. Để là giáo hoàng, dù những đầu óc hẹp hòi có nghĩ như thế nào về chức vụ giáo hoàng, thì chức vụ này đòi hỏi một năng lực mà một người ngoài tám mươi mệt mỏi có quyền không còn năng lực này nữa.
Do đó, tôi sẽ hiểu, nhưng tôi sẽ không khỏi đau lòng vì ngài là giáo hoàng của tôi, tôi nói điều này tự đáy lòng, tôi không thể kiềm chế được. Trong tất cả các giáo hoàng tôi từng biết trong đời – tôi sinh năm 1969 – ngài là giáo hoàng làm cho tôi hòa hợp với thể chế Giáo hội nhiều nhất, một thể chế đôi khi rất khó yêu.
Nơi Đức Phanxicô và trong các văn bản của ngài, có một tâm hồn đơn sơ thực sự, linh hồn và đức tin đan chặt nhau, dĩ nhiên là do lòng trung thực hoàn hảo của một người, cũng như lòng khiêm nhường của người đó. Năm 2018, nhà xã hội học người Pháp Dominique Wolton đã xuất bản quyển sách phỏng vấn ngài, Chính trị và xã hội, (Politique et société), không giấu được sự ngưỡng mộ của mình, ông tự hỏi: “Làm cách nào mà ngài có được thiên tài giao tiếp, khả năng cho thấy bản thân mình một cách đơn giản đến như vậy, với một tình thương thực sự cho người dân, cho ‘những người bình thường’”?
Tôi có ý kiến của tôi về điều này: khi ngài diễn tả, ngài không đưa ra các bài giảng hoặc nói nôm na, ngài truyền bá trực tiếp thông điệp kitô trong sự thật của nó, không phải là không chính xác, như trong tông huấn Niềm vui Tin mừng Evangelii Gaudium năm 2013, rằng huấn quyền giáo hoàng không có “lời dứt khoát hoặc đầy đủ về mọi vấn đề liên quan đến Giáo hội và thế giới”. Với Đức Phanxicô, công thức “tôi là ai để phán xét?” mang đúng nghĩa của nó.
Từ bỏ và niềm vui
Ngài nói trong tông huấn Niềm vui Tin mừng Evangelii Gaudium, một người rao giảng Tin Mừng “không nên có bộ mặt đám ma thường xuyên, một “bầu khí Mùa Chay không có Lễ Phục sinh”. Người tín hữu kitô phải có khả năng nói không với một “nền kinh tế giết người”, với “toàn cầu hóa của dửng dưng”, ngài phải nói to, nói rõ, rằng “phẩm giá của con người và lợi ích chung phải ở trên sự an nhàn của một số ít người không muốn từ bỏ các đặc quyền của mình” và nhận thức rằng “không ai cảm thấy mình bị loại trừ trong sự quan tâm đến người nghèo và công bằng xã hội”. Ngài viết trong Thông điệp Chúc tụng Chúa Laudato Si năm 2015, “nhưng sự từ chối này phải đi kèm với cảm giác hân hoan rằng, thế giới còn hơn cả một vấn đề cần giải quyết, đó là huyền nhiệm bí ẩn vui tươi mà chúng ta đang chiêm ngưỡng trong niềm hân hoan và ngợi khen”.
Với nhà xã hội học Dominique Wolton, Đức Phanxicô nói, óc hài hước “ở cấp độ con người, là điều giúp chúng ta đến gần với ơn Chúa nhất”. Khi các nhà bình luận cực hữu gọi ngài là cộng sản vì ngài nghiêm khắc công kích chủ nghĩa tư bản, Đức Phanxicô không cảm thấy mình bị xúc phạm vì lời chỉ trích này, ngài còn vui vẻ nói thêm, ngài biết “có nhiều người mác-xít là những người rất tốt.” Đúng, ngài là giáo hoàng của tôi.
Đối thoại với những người nhỏ bé
Năm 2017, trong một album tuyệt đẹp, Giáo hoàng Phanxicô thân mến (Cher pape François, nxb. Novalis) ngài trả lời một cách trong sáng và rất xúc động cho các bức thư của các em trên khắp thế giới gởi về. Một em bé người Canada hỏi Chúa đã làm gì trước khi tạo ra thế giới, Đức Phanxicô đơn giản trả lời, “Chúa yêu thương”. Một em bé Albania hỏi khi còn nhỏ ngài có thích nhảy không, ngài ca ngợi niềm vui và trả lời với các em bé, khi còn nhỏ phải nhảy chứ, “để không quá nghiêm túc khi lớn lên”.
Em Wing, 8 tuổi ở Trung Quốc muốn biết vì sao ngài thích môn bóng đá, Đức Phanxicô giải thích vì ngài thích tinh thần đồng đội. Ngài nói: “Để trở thành những cầu thủ bóng đá giỏi, chúng ta phải chơi cùng nhau. Trong Giáo hội cũng nên như vậy!” Với một em bé người Úc lo lắng về nạn đói trên thế giới và muốn Chúa nhân bánh thêm một lần nữa, nhân đó ngài tóm tắt học thuyết xã hội của Giáo hội, ngài giải thích: “Bánh mì thì có đó. Và có đủ cho tất cả mọi người! Nhưng vấn đề là có một số người có rất nhiều nhưng không muốn chia sẻ cho người khác. Vấn đề không phải là Chúa Giêsu, nhưng là ở những kẻ ích kỷ dữ dằn muốn giữ của cải cho riêng mình. Chúa Giêsu rất nghiêm khắc với những người này”. và Đức Phanxicô là như thế: bộc trực, vui tươi, công bằng, sáng suốt, lạc quan.
Bên cạnh người nghèo
Lại cũng ngài, trong quyển sách Từ người nghèo đến giáo hoàng, từ giáo hoàng đến thế giới (nxb. Seuil, 2022), đối thoại giữa Đức Phanxicô và người nghèo trên khắp thế giới do hiệp hội Ladarô Pháp tổ chức. Các người điều phối chương trình viết: “Nghe có vẻ kỳ lạ, giáo hoàng đã dành cho chúng tôi nhiều giờ nói chuyện. Không lúc nào ngài để các thư ký hoặc điện thoại quấy rầy. Cái nhìn và lời nói của ngài cho chúng tôi có cảm tưởng chúng tôi là duy nhất trên thế giới lúc này”.
Các câu hỏi gởi cho giáo hoàng trong quyển sách này tạo một mạng lưới rộng lớn và cho thấy ngài rất tự do trong giọng điệu. Các người nghèo hỏi ngài đủ chuyện, ngài thích đọc gì, ngài trả lời các thi sĩ Pháp Verlaine và Baudelaire để nuôi dưỡng “phần hoài niệm” của ngài, thích nghe nhạc Wagner để thư giãn. Khi được hỏi lương của ngài bao nhiêu, “Tôi không kiếm được gì, nhưng sự nghèo khó của tôi là giả tạo vì tôi không thiếu gì.” Lỗi của ngài là thiếu kiên nhẫn, và điều ngài ngưỡng mộ nơi người khác là tính đơn giản và minh bạch.
Ngài thú nhận ngài không thoải mái với sự tôn kính mà một số người dành cho ngài vì ngài cảm thấy mình không có gì là thần thánh, vì trước hết là ngài thích gần gũi với mọi người. Ngài nói: “Tôi thường tự hỏi phong cách của Chúa là gì. Đọc Kinh Thánh cho tôi biết phong cách này là: gần gũi, trắc ẩn, dịu dàng. Chúa là như vậy.”
Không như Đức Gioan-Phaolô II năng động nhưng có chút gì đó của một người cao cả, Đức Bênêđíctô XVI xuất sắc nhưng khắc khổ, Đức Phanxicô là giáo hoàng bình thản, hay cười và khiêm tốn. Ngài không ngần ngại nói ngài chưa bao giờ thấy Chúa trong giấc mơ và không nghe thấy tiếng nói từ trên trời, rõ ràng ngài không trường phái thần nghiệm. Ngài nói, Chúa nói từ quả tim. Khi một phụ nữ Brazil hỏi ngài Chúa Giêsu có đẹp không, ngài trả lời rất dễ thương: “Chúa của chúng ta rất đẹp. Đẹp một cách độc đáo. Nếu bạn thấy Chúa, chắc chắn bạn sẽ yêu Chúa.” Chúa có đón nhận mọi người không, Chúa có kín đáo không? Với người không tin và đồng tính thì Chúa đón nhận như thế nào? Đức Phanxicô trả lời: “Bạn phải biết cách đọc và chú giải Kinh Thánh. “Chúa không từ chối ai vì cách của họ, vì hoàn cảnh xã hội của họ hoặc bản sắc giới tính của họ.” Với tôi, thật rõ ràng.
Đấu tranh cho công lý
Trong đối thoại với người nghèo, dĩ nhiên phải nói đến vấn đề bất công xã hội, nguyên nhân của nó và giải quyết vấn đề. Đức Phanxicô không cần phải yêu cầu để được nói về chủ đề yêu thích của ngài. Ngài nhấn mạnh về sự cần thiết phải đấu tranh “để chấm dứt nghèo đói vật chất, vì công lý, để mọi người, đàn ông cũng như đàn bà phải có việc làm, cơm ăn, học hành”. Tất nhiên, chúng ta phải giúp đỡ người nghèo khi họ cần, nhưng sự giúp đỡ này “đến lượt chúng ta, chúng ta không thể tách rời sự đóng góp của chúng ta trong việc giải quyết bất công xã hội hoặc chống lại sự khiếm nhã mà sự giàu có thể hiện ra bên ngoài”.
Đạo công giáo không phải là con đường tâm linh không nhập thể. Đức Phanxicô giải thích: “Một số người cho rằng tôi là người cộng sản… Tôi, tôi chỉ khẳng định rằng nếu chúng ta loại bỏ người nghèo ra khỏi Phúc âm thì sẽ không còn Phúc âm. Tội lỗi lớn của xã hội là phân phối của cải không đều.”
Đức Phanxicô sắp từ nhiệm không? Tôi không biết. Nhưng tôi biết, trong gần mười năm, triều giáo hoàng mới mẻ của ngài là lời mời gọi cho tất cả người công giáo trên thế giới đừng bao giờ từ bỏ niềm vui đấu tranh cho một thế giới công bằng hơn, xứng đáng hơn cho tất cả, cho một thế giới mà tôi chỉ muốn nói, huynh đệ hơn, tốt đẹp hơn, chân thật hơn.
Đức Phanxicô, giáo hoàng của tôi, sẽ khó để thay thế ngài.
Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch
2022
Gương sáng
29.6 Thánh Phêrô và Phaolô, Tông Đồ
Am 5:14-15,21-24; Tv 50:7,8-9,10-11,12-12,16-17; Mt 8:28-34
Gương sáng
Hôm nay Giáo Hội mừng lễ thánh Phêrô và Phaolô, hai cột trụ của Giáo Hội. Nhờ đó mà Giáo hội có thể đứng vững trong ơn thánh của Thiên Chúa. Thánh Phêrô và thánh Phaolô đã đem Tin mừng cho thành Rôma và biến nơi trung tâm ngoạI giáo này thành trung tâm Kitô giáo. Chính nơi đây, Thánh Phêrô và những người kế vị ngài sẽ thực hiện việc thánh hoá, giảng dạy và cai quản dân Chúa trên khắp địa cầu.
Thánh Phê-rô, còn gọi là Simon, là một con người ít học, sinh sống bằng nghề chài lưới. Khi được Thầy Giê-su kêu gọi làm môn đệ thì liền lập tức bỏ lại mọi sự mà đi theo Thầy, trong quá trình theo Chúa ông tỏ ra nhiệt thành và năng nổ, bộc trực, luôn nhanh nhẹn trả lời câu hỏi mỗi khi Thầy đưa ra, nhưng bởi vì bộc trực và năng nổ cộng với sự cậy mình: “ta đây” khiến ông hay vướng vào sai lầm; cụ thể ông đã can ngăn Thầy đừng lên Giêrusalem để chịu khổ nạn, chịu chết để chuộc tội cho thiên hạ. Trong cuộc thương khó của Thầy, vì sợ bị liên lụy nên ông đã chối Thầy ba lần…
Nhưng sau đó ông đã ăn năn than khóc, hối hận vì những việc mình đã làm đối với Thầy, từ đó ông không còn dám cậy mình, để cho cái tôi kiêu hãnh trong mình chi phối hành động nữa, ông đặt trọn niềm tin và vâng lời tuyệt đối nơi Thầy Giê-su Chí Thánh. Chính vì thế mà Đức Giê-su đã đặt ông làm đầu thay Ngài để xây dựng và bảo vệ Hội Thánh thuở sơ khai. Cuối cùng ông đã anh dũng hy sinh mạng sống để bảo vệ niềm tin vào Thầy Giê-su. Ông xin chịu đóng đanh ngược vì nghĩ không xứng đáng được như Thầy. Thánh nhân có câu nói bất hủ: “Lạy Thầy, bỏ Thầy con biết theo ai? Chỉ có Thầy mới có lời ban sự sống đời đời” (Ga 6, 68).
Ngược lại, Thánh Phao lô là một trí thức, ông trung thành với truyền thống Do-Thái giáo, ông chống đối Đức Giê-su và ra tay bắt bớ những kẻ theo Ngài. Cụ thể là ông đã ủng hộ việc người Do Thái sát hại thánh Têphanô…Nhưng về sau, chính Thầy Giê-su đã dùng biến cố ngã ngựa khi ông trên đường đi đến Đamas để thu phục ông. Kể từ đó ông đã thay đổi hoàn toàn, ông trở thành tông đồ của dân ngoại, bôn ba khắp nơi rao giảng Tin Mừng nước trời để rồi cuối cùng bị vua Nêrôn giết bằng cách chặt đầu vào khoảng năm 67. Thánh nhân có những câu nói rất hay: “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Ki-tô sống trong tôi”. (Gl 3, 20). “Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Ki-tô ? Phải chăng là gian truân, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ, gươm giáo?” (Rm 8, 35).
Sau khi Phêrô thay mặt các tông đồ tuyên xưng Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, chính Đức Giêsu đã nói với Phêrô : Anh là Phêrô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng Đá này, Thầy sẽ xây Giáo Hội của Thầy và cửa địa ngục sẽ không thắng được. Thầy sẽ trao cho anh chìa khoá nước trời: dưới đất, anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng cầm buộc như vậy; dưới đất anh tháo cởi điều gì , trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy. Đức Giêsu đã đặt Phêrô làm Đá Tảng xây Hội Thánh Chúa và trao quyền cầm buộc tháo cởi (vốn là đặc quyền của thiên Chúa) cho Phêrô.
Phêrô là trưởng nhóm 12 và là đại diện của Chúa ở trần gian. Ông đã chối Chúa nhưng đã ăn năn thật lòng. Trước khi về trời, Ngài không nhắc lại lỗi lầm của Phêrô, để ông khỏi hổ thẹn về quá khứ nhưng giao cho Phêrô công việc coi sóc đoàn chiên Chúa: Nếu con yêu mến Thầy, con hãy chăm sóc các chiên của Thầy, yêu mến các chiên của Thầy và đưa về đàn những chiên chưa thuộc đàn này. Sự sống mà Phêrô sẵn sàng hiến dâng cho Thầy thì hãy hiến dâng cho chiên của Thầy.
Điều này cho thấy Chúa Giêsu quan tâm chăm sóc chúng ta tới mức độ nào. Việc phục vụ anh em là bằng chứng tình yêu lớn nhất của Phêrô đối với Đức Giêsu. Ngày nay Chúa Giêsu cũng ngỏ lời với mỗi người chúng ta như thế, những gì chúng ta muốn phục vụ cho Chúa để tỏ lòng biết ơn Ngài thì chúng ta hãy làm cho anh em mình. Chúng ta đừng bao giờ trả lời với Chúa như những ngừơi trong Mt 24 : chúng tôi đâu có thấy Chúa đói mà cho ăn, khát mà cho uống… những người không biết tỏ lòng yêu thương anh em thì Chúa cũng không thể tỏ lòng thương xót họ trong ngày sau hết!
Chúa Giêsu muốn Phêrô nói rõ rằng Phêrô yêu mến Ngài. Quả vậy, Phêrô hết lòng yêu mến Chúa Giêsu. Phêrô đã tận tâm tận lực rao giảng Tin Mừng, không sợ gì đòn vọt hy sinh; tất cả vì Giáo Hội của Ngài, cho đoàn chiên của Ngài. Phêrô lấy làm vinh hạnh khi được chịu khổ vì Đức Kitô. Mỗi khi bị đánh đòn trước công chúng, các ngài không tức giận những người đánh mình. Trái lại còn hân hoan bởi được chịu khổ nhục vì danh Đức Kitô (Cv 5, 41). Cuối cùng, Phêrô chết trên thập giá để làm chứng về tình yêu của Ngài đốiI với nhân loại.
Chúa Giêsu cũng thích chúng con nói với Ngài rằng chúng con yêu mến Ngài. Nhờ đó, Ngài có thể dạy dỗ chúng con, giúp chúng con mỗi ngày một trưởng thành hơn, luôn theo sát bên Ngài và cộng tác với Ngài trong công trình cứu độ loài người. vấn đề là bây giờ con có dám nói với Chúa là “con yêu mến Chúa” hay không? Nếu Ngài đòi con tỏ tình yêu bằng những việc hy sinh, con có vui lòng chịu hay không ? Yêu mến Chúa là làm theo ý Chúa, cụ thể trong việc hăng hái làm việc bổn phận hiện tại, kế đó là phục vụ những người nghèo về tinh thần hoặc vật chất. Phục vụ đòi hỏi nhiều hy sinh, chịu cực, mất mát thời giờ, tiền bạc, sức khoẻ… mà không đòi phải được đáp trả. Chính Chúa sẽ trả cho chúng ta trong ngày sau hết. Điều này đòi hỏi phải có lòng Tin, Cậy, Mến và tinh thần quảng đại phó thác.
Phêrô và những người kế vị ngài có nhiệm vụ giữ gìn đức tin của Giáo hội toàn cầu theo đúng mạc khải của Thiên Chúa nơi Đức Giêsu Kitô. Phần chúng ta hãy hiệp một lòng một ý cùng Hội Thánh Chúa và góp phần của mình vào để Hội Thánh ngày một phát triển và đem ơn cứu độ đến cho mọi người .
Mừng kính hai vị thánh cả hôm nay. Trước hết chúng ta cảm tạ và ngợi ca Thiên Chúa. Vì biết bao hồng ân Chúa đã ban cho hai vị thánh cũng như đã ban cho mỗi người chúng ta. Đấng đã biến đổi hai vị thánh thành rường cột của Giáo Hội. Sau là chúng ta nhìn lên hai vị thánh nhân mà học tập, bắt chước các nhân đức nơi các Ngài để rồi cuộc đời chúng ta luôn biết cậy trông, tín thác vào sự quan phòng và tình yêu vô biên của Thiên Chúa.
2022
Xin cứu chúng con
28.6 Thánh Irenaeus, Gmtđ
Am 3:1-8; Tv 5:4-6,6-7,8; Mt 8:23-27
Xin cứu chúng con
Trong các bài giáo lý về những đại nhân vật của Giáo Hội thuộc các thế kỷ đầu tiên, hôm nay, chúng ta tới hình ảnh của một con người nổi nang, đó là Thánh Irenaeus thành Lyons. Chi tiết tiểu sử của ngài xuất phát từ chứng từ của ngài, được truyền lại cho chúng ta từ sử gia giáo phụ Eusebius trong cuốn thứ năm của bộ ‘Storia Ecclesiastica’.
Thánh Irenaeus rất có thể được sinh ra ở Smyrna (ngày nay là Izmir, Thổ Nhĩ Kỳ), giữa những năm 135-140. Ở đó, khi còn trẻ, ngài đã tham dự trường của Thánh Giám Mục Polycarp là môn đệ của Thánh Tôn g Đồ Gioan. Chúng ta không biết vào lúc nào ngài đã di chuyển từ Tiểu Á tới Gaul, thế nhưng việc di chuyển này đã trùng hợp với những phát triển ban đầu của cộn g đồng Kitô Giáo ở Lyons: Ở đó, vào năm 177, chúng ta thấy Thánh Irenaeus đã đề cập tới giáo sĩ đoàn.
Vào năm đó ngài được sai phái tới Rôma, mang 1 bức thư của cộng đồng Lyons đệ trình lên Đức Giáo Hoàng Eleutherius. Sứ vụ đến Rôma giúp cho Thánh Irenaeus thoát khỏi cuộc bách hại của Marcus Aurelius, sát hại ít là 48 vị tử đạo, trong đó có chính vị giám mục ở Lyons là Pothinus 90 tuổi, vì bị đối xử tàn tệ trong tù. Bởi vậy, khi trở về, Thánh Irenaeus được chọn làm giám mục của thành phố này. Vị mục tử mới đã hoàn toàn dấn thân cho thừa tác vụ giáo phẩm của mình, một thừa tác vụ kết thúc vào khoảng năm 202-203, có thể vì tử đạo.
Thánh Irenaeus trước hết là một con người của đức tin và là một vị mục tử. Như vị Mục Tử Nhân Lành, ngài là người khôn ngoan, sâu xa tín lý, và nhiệt tình truyền giáo. Là một văn gia, ngài đã nhắm đến 2 mục tiêu, đó là việc bênh vực tín lý chân thực cho khỏi bị tấn công bởi thành phần lạc giáo, và việc diễn giải một cách rõ ràng sự thật đức tin. Hai tác phẩm của ngài vẫn còn cho tới nay hoàn toàn tương quan tới việc làm trọn hai mục tiêu ấy: 5 cuốn ‘Chống Lại Các Lạc Thuyết’, và ‘Diễn Giải Giáo Huấn Tông Đồ’ (một cuốn sách có thể được gọi là ‘cuốn giáo lý về tín lý Kitô Giáo’ cổ kính nhất). Một điều chắc chắn đó là Thánh Irenaeus là một đối thủ chiến đấu chống lại các lạc thuyết.
Giáo Hội trong thế kỷ thứ hai bị đe dọa bởi một chủ nghĩa được gọi là bất khả thần tri – Gnosticism, một giáo thuyết chủ trương rằng đức tin được Giáo Hội truyền dạy chỉ là những biểu hiệu cho thành phần ngây thơ, thành phần không thể thấu hiểu nổi những điều khó khăn hơn. Trái lại, thành phần có sáng kiến, thành phần tri thức – họ gọi mình là Gnostics – có thể hiểu được những gì ở đằng sau các thứ biểu hiệu ấy, bởi thế, làm nên một thứ Kitô Giáo thế giá, tri thức.
Hiển nhiên, thứ Kitô Giáo trí thức này càng ngày càng bị phân mảnh bởi những luồng tư tưởng khác nhau, thường lạ lùng và thái quá, song lại thu hút được nhiều người. Một yếu tố chung trong những luồng tư tưởng khác nhau ấy là khuynh hướng nhị nguyên, tức là khuynh hướng chối bỏ niềm tin tưởng vào vị Thiên Chúa duy nhất là Cha của tất cả mọi người, là hóa công và là đấng cứu độ nhân loại và thế giới. Để giải thích sự dữ trên thế giới này, họ chủ trương có một thứ nguyên lý tiêu cực, song song với vị Thiên Chúa tốt lành. Nguyên lý tiêu cực này đã tạo dựng nên chất thể, các vật về thể lý.
Trở về với Tin Mừng và thực tế của cuộc sống, ta thấy sự quan phòng của Thiên Chúa đã cho phép cơn bão tố xảy ra trong cuộc sống con người để thức tỉnh con người trở về với Ngài. Ðiều quan trọng không phải là không có bão tố hoặc khó khăn thử thách, nhưng là có Chúa hiện diện dù lúc đó xem ra Ngài ngủ, không màng chi đến nguy hiểm đang xảy ra.
Thật vậy, gian nan thử thách Thiên Chúa cho xẩy đến là để con người ý thức về sự yếu đuối, mỏng dòn của mình, đồng thời đặt niềm trông cậy vào Chúa. Cơn bão xẩy ra đã làm cho các Tông Ðồ không còn dựa vào phương tiện vật chất là chiếc thuyền đang nâng đỡ chở che các ông, cũng như không còn tự phụ vào tài năng vượt biển của mình; trái lại, các ông ý thức mình cần đến Chúa. “Lạy Thầy, xin cứu chúng con, chúng con chết mất”. Chính nhờ lời cầu nguyện trong lúc gian nan nguy hiểm, các Tông Ðồ được chứng kiến phép lạ và quyền năng của Chúa.
Hành trình đức tin của chúng ta cũng cần trải qua những khổ luyện và hy sinh để có thể đứng vững trước những nghịch cảnh. Đức tin là một ân ban phát xuất từ Thiên Chúa chứ không do con người thủ đắc. Vì thế để sống niềm tin một cách trọn vẹn và sung mãn, chúng ta phải quy hướng mọi ước muốn và tư tưởng về Thiên Chúa. Chỉ nơi Thiên Chúa chúng ta mới tìm được câu trả lời cho cuộc đời của mình. Chỉ có ân sủng của Thiên Chúa mới giúp chúng ta chấp nhận mọi khó khăn thử thách xảy đến trong cuộc sống.
Hành trình đức tin nơi mỗi người không giống nhau nhưng điểm phát xuất và đích đến của đức tin đều ở nơi Thiên Chúa.Thời Cựu ước, Giavê Thiên Chúa đã nhiều lần thử thách Israel để xem đoàn dân có trung thành với Chúa hay không. Họ đã phải sống trong sa mạc với cảnh thiếu lương thực và nước uống, họ đã nhiều lần kêu trách và Chúa đã mở cho họ con đường sống. Có những lúc Israel đã đi hoang chạy theo thần ngoại, nhưng Thiên Chúa đã tái lập giao ước và xua tan bao sóng gió đưa họ vào Đất Hứa.
Trong lịch sử cứu độ, hành trình đức tin của mỗi người đều có những lúc chao đảo nhưng chỉ những ai biết cậy dựa vào ơn Chúa mới vượt qua được tất cả. Hành trình đức tin của Mẹ Maria có nhiều thử thách gian khổ nhưng không giống hành trình đức tin của thánh Giuse. Mẹ Maria đã từ bỏ chương trình riêng của mình trong nếp sống bình dị để đi vào chương trình của Thiên Chúa trong một tương lai đầy những bấp bênh và trắc trở, nhưng Mẹ hoàn toàn phó thác vào Thiên Chúa. Còn thánh Giuse lại thể hiện niềm tin một cách sống động nhưng âm thầm, kín đáo.Sự đáp trả của ông Giacaria không giống tâm tình của bà Êlisabet.Hành trình của ba đạo sĩ phương Đông xa xôi thăm thẳm, có lúc tưởng như cùng đường tắc lối nhưng với ánh sao lạ, các ông đã đi đến đích.
Tin mừng thánh Matthêu thuật lại rằng: hôm ấy các môn đệ theo Chúa Giêsu xuống thuyền thì bỗng biển hồ nổi sóng gió, các môn đệ hoảng sợ kêu cứu Chúa Giêsu. Các ông chỉ dựa vào sức mình mà không nhận ra Đấng quyền năng đang ở giữa các ông. Chúa Giêsu đã trấn an các ông rồi Người truyền cho gió và biển im lặng. Biến cố ấy cho thấy, đức tin luôn gặp thử thách nếu mỗi ngày chúng ta không biết cậy dựa vào ơn Chúa, chúng ta dễ dàng trượt ngã trên những ý nghĩ kiêu căng của chính mình. Khi gặp thử thách chúng ta thường kêu trách Chúa, thật ra Chúa không bao giờ để chúng ta phải chiến đấu một mình, Người luôn ban cho ta những ơn cần thiết qua các bí tích, qua những mạc khải trong Kinh Thánh để soi rọi bước đường đời của chúng ta. Chính trong những lúc thử thách, Thiên Chúa mới tỏ rõ quyền năng và tình thương của Người. Qua những gian nan thử thách, đức tin của chúng ta càng được tôi luyện để ngày càng son sắt, giúp chúng ta khiêm tốn nhìn nhận con người yếu đuối của mà biết cậy dựa vào ơn Chúa hơn.
Ta thấy Giáo hội luôn mời gọi mỗi người chúng ta quay trở về với Đức Giêsu Kitô như lời mặc khải trọn vẹn khuôn mặt yêu thương của Thiên Chúa. Chúng ta phải xây dựng đức tin của mình trên nền tảng tình yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi, trên lời rao giảng của các tông đồ và Giáo hội. Một đức tin bền vững phải được chìm sâu trong nguyện cầu, thấm nhuần trong tình bác ái và hy sinh.
