2022
ĐHY Chủ tịch FABC kêu gọi hãy biểu lộ khuôn mặt Á châu của Chúa Giêsu và đừng sợ làm chứng cho Tin Mừng
ĐỨC HỒNG Y CHỦ TỊCH FABC KÊU GỌI
HÃY BIỂU LỘ KHUÔN MẶT Á CHÂU CỦA CHÚA GIÊSU
VÀ ĐỪNG SỢ LÀM CHỨNG CHO TIN MỪNG
“Chúa Giê-su được sinh ra ở Châu Á và người dân trên lục địa rộng lớn này đang đợi chờ khuôn mặt Á Châu của Chúa Giêsu”, đó là lời phát biểu của Đức Hồng y Charles Maung Bo, Tổng Giám mục Yangon và Chủ tịch Liên Hội đồng Giám mục Á châu (FABC) trong Thánh lễ khai mạc Đại hội FABC 50 tại Bangkok, ngày 12 tháng 10.
Đại hội mang tên FABC 50 đã được khai mạc với một Thánh lễ đầy màu sắc với sự chủ tọa của Đức Hồng Y Bo, cùng sự đồng tế của một số Hồng y, hơn 150 Giám mục và hơn 100 đại biểu từ khắp Châu Á.
Đại hội 50 nhằm đánh dấu dịp kỷ niệm 50 thành lập FABC. Ban đầu, Đại hội dự kiến được tổ chức vào năm 2020 nhưng bị hoãn lại do đại dịch.
Trong bài giảng của mình, Đức Hồng Y Bo đã mô tả cuộc quy tụ này là một sự kiện của niềm phấn khởi to lớn, một khoảnh khắc của ân sủng và là một lời tạ ơn dâng lên Thiên Chúa vì muôn ơn lành Ngài đã ban.
Đức Hồng y nói: “Chúng ta được mời gọi để đạt tới một sự hoán cải tâm linh tận căn (metanoia), và sự hoán cải này tiếp tục kêu gọi chúng ta bước đi cùng nhau. Đây cũng là lời mời gọi của Chúa để tái xác nhận, canh tân và mang lại sức sống mới cho toàn thể Giáo hội. Chúng ta đang bước đi cùng nhau trên con đường đã được mở ra và ghi dấu bởi hàng trăm mục tử, giáo lý viên và tất cả những người loan báo Tin Mừng ở Châu Á.”
Sử dụng phép loại suy về bụi gai đang bốc cháy mà ông Môsê đã chứng kiến, Đức Hồng y nói: “Chúng ta cũng bị choáng ngợp bởi nhiều thử thách và thực tại, chúng khiến chúng ta sợ hãi và phủ lấp chúng ta. Nhưng Thiên Chúa đang thúc giục chúng ta đừng sợ hãi. Ngài luôn bảo đảm với chúng ta về sự gần gũi của Ngài đối với chúng ta. Thiên Chúa đã trao ban quyền năng cho một người chăn cừu đơn sơ như Môsê, một người đánh cá như Phêrô hay một người thợ dệt lều như Phaolô để làm công việc của Ngài, thì Ngài cũng sẽ ban quyền năng và thêm sức cho chúng ta.”
Nhắc lại những lời của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trong tài liệu Thượng Hội đồng về Châu Á, “Giáo hội tại Châu Á – Ecclesia in Asia”, Đức Hồng Y nhắc nhớ về sự ưu tiên đặc biệt của Châu Á, nơi mà Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu Thế đã chọn để sinh ra và làm một người Á châu. Hân hoan trong sự tốt lành của một lục địa với sự sinh động các dân tộc, văn hóa và tôn giáo, đồng thời ý thức về món quà đức tin độc đáo đã được lãnh nhận, Giáo hội ở Châu Á phải tiếp tục rao truyền sự tốt lành và tình yêu của Thiên Chúa, cũng như Châu Á vẫn đang chờ đợi khuôn mặt Á châu của Chúa Giêsu.
Đức Hồng y nói tiếp: Châu Á là cái nôi của các tôn giáo thế giới. Châu Á có một tâm linh sâu sắc và ngay cả những người từ phương Tây cũng đang hướng về phương Đông để được trải nghiệm về Chúa. Con người không tìm kiếm lời giải thích mà là sự cảm nghiệm về Chúa, không chỉ qua lời nói mà còn qua hành động và nội tâm. Nhiều cộng đồng bản địa ở Châu Á dạy chúng ta cách chia sẻ và chăm sóc trái đất và trở thành người quản lý thiên nhiên tốt lành theo tinh thần của Thông điệp Laudato si.”
“Kitô giáo ở Châu Á đã 2000 năm tuổi và chúng ta tự hào về di sản của Thánh Tôma Tông Tông đồ, Thánh Phanxicô Xaviê và vô số các vị thừa sai linh mục, tu sĩ và giáo dân.”
Đức Hồng y cho biết trọng tâm của Đại hội này là làm chứng cho Chúa Kitô, để biểu lộ khuôn mặt của Người, “khuôn mặt Á châu của Chúa Giêsu”.
Giáo hội là phổ quát và cần sự hiệp nhất để trở thành một Giáo hội truyền giáo thực sự.
Đức Hồng y nhắc lại nhiều thách thức mà Giáo hội Á Châu phải đối mặt trong sứ vụ được trao phó, nhưng thách thức càng lớn thì ơn Chúa cũng sẽ càng nhiều.
Đức Hồng Y hy vọng rằng dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, Đại hội sẽ “phân định được những cách thức để trở thành một giáo hội tập trung hoàn toàn vào sứ vụ được trao phó cho mình, một giáo hội dấn thân sâu rộng qua bộ ba đối thoại, đó là với các tôn giáo, với các nền văn hóa và với người nghèo mà FABC đang ưu tiên và tiến hành.
Đức Hồng y nói: Đại hội FABC 50 và Thượng Hội đồng là những cơ hội đầy ân sủng để khơi lại lòng say mê Tin Mừng và tái thúc đẩy động lực tinh thần truyền giáo trong Giáo hội ở Châu Á. Chúng ta phải tìm ra những đại lộ mới, những phương pháp và ngôn ngữ mới, cũng như những lối nhỏ mới. Và theo Đức Hồng y, chủ đề của Đại hội “FABC 50: Cùng nhau hành trình như các dân tộc Châu Á… và họ đã đi theo một con đường khác” (Mt 2, 12) phản ánh một cách tuyệt vời khát vọng này.
Văn Việt
Chuyển ngữ từ: rvasia.org (13.10.2022)
2022
Thánh Têrêxa Avila đã được Thánh Giuse chữa lành như thế nào?
Thánh Têrêxa Avila đã từng nói về thánh Giuse: “Cho đến nay, thánh Giuse chưa bao giờ quên làm những gì tôi cầu xin ngài.” Một lần khác, thánh nữ đã tổ chức một buổi lễ ăn mừng hoành tráng mừng thánh Giuse với pháo hoa…
Được mừng lễ vào ngày 15/10, thánh Têrêxa Avila, nhà đại thần bí người Tây Ban Nha vào thế kỷ XVI, đã có lòng sùng kính đặc biệt đối với thánh Giuse. Trong cuốn “Sách về đời sống” của mình, nhà cải cách dòng Cát Minh đã thổ lộ rằng ngài đã nhiều lần cảm nghiệm sự trợ giúp từ thánh Giuse. Thánh nữ gợi lên những kết quả đáng kinh ngạc từ những lời cầu nguyện với thánh Giuse.
Sự chữa lành
Thánh Têrêxa tin chắc rằng ngài mang ơn thánh Giuse về việc được chữa lành thể lý của mình. Lúc 18 tuổi, khi thánh nữ vào dòng Cát Minh luật nhặt ở Avila, sức khỏe của ngài giảm sút nhanh chóng. Căn bệnh là kết quả của những thực hành khổ chế đến kiệt sức, khiến ngài bị tê liệt và những đau đớn không thể chịu đựng được.
Nhiều lần, các chị em trong tu viện đã chuẩn bị cho cái chết của ngài. Một ngày nọ, thậm chí thánh nữ đã không thể mở mắt ra được. Các chị em trong cộng đoàn trang điểm cho đôi mắt của thánh nữ, nghĩ rằng không có hy vọng gì nữa đối với thánh nữ, và dầu sao thân thể của ngài phải sớm được đặt vào quan tài. Với sức lực cuối cùng của mình, thánh nữ lúc đó quyết định hướng về thánh Giuse để được giúp đỡ. Nhiều năm sau, thánh nữ viết: “Lúc đó, tôi đã chọn thánh Giuse vinh hiển làm luật sư và người bảo trợ bằng cách phó thác bản thân cho ngài. Tôi đã thấy rõ ràng rằng trong nhu cầu này cũng như những nhu cầu khác, lớn hơn, liên quan đến danh dự và sự mất mát của linh hồn, người cha này và người bảo trợ của tôi đã dẫn dắt tôi tốt hơn nhiều so với những gì tôi biết cầu xin ngài.”
Trước sự ngạc nhiên của mọi người, thánh nữ đã hoàn toàn được chữa lành. Từ giây phút đó và cho đến cuối đời mình, nhà đại thần bí này sẽ cổ võ lòng sùng kính thánh Giuse ở khắp nơi. Ngài xác tín rằng sự trung gian của thánh Giuse, người cha nuôi của Chúa Giêsu, có một đặc tính hoàn toàn đặc biệt. Thánh nữ giải thích điều này trong cuốn Tự Thuật của mình: “Cho đến nay, thánh Giuse chưa bao giờ quên làm những gì tôi cầu xin ngài. Thật ngạc nhiên khi thấy những món quà to lớn mà Thiên Chúa đã ban cho tôi qua sự trung gian của vị thánh diễm phúc này ; ngài đã giải thoát tôi khỏi những hiểm nguy, cả về thể xác lẫn linh hồn. Điều đó đã được xác nhận bởi chính kinh nghiệm của tôi, nhưng còn bởi nhiều người khác mà tôi đã nói là phó thác cho ngài. Nhiều người, cảm nghiệm được sự thật này, đã làm mới lại lòng sùng kính đối với ngài.”
Ngay lập tức, thánh Têrêxa Avila đã nghĩ đến việc tổ chức một buổi chiêu đãi lớn để tôn kính ngài. Thánh nữ quyết định chuẩn bị trong tu viện của mình những buổi mừng lễ long trọng trong ngày lịch phụng vụ kính nhớ thánh Giuse. Một buổi ăn mừng long trọng trong bầu khí vui tươi ngay cả với pháo hoa.
Những hoa trái thiêng liêng
Chỉ sau một thời gian, các nữ tu dòng Cát Minh sẽ hiểu rằng loại biểu hiện tôn kính này là không đủ. Còn hơn những dấu hiệu tôn kính bên ngoài, chính sự biến đổi thiêng liêng mới quan trọng. Đó là những gì thánh nữ đã ghi lại: “Tôi đã cố gắng mừng lễ của ngài cách huy hoàng hết sức có thể. Tôi tràn đầy sự phù vân hơn là tinh thần khi muốn rằng nó được thực hiện một cách tinh tế và thành công (…). Xin Chúa tha thứ cho tôi.”
Vậy, đâu là những hoa trái thiêng liêng của việc chạy đến với thánh Giuse ? Trên hết, thánh Têrêxa Avila nhấn mạnh đến hiệu quả của lời cầu nguyện với đấng bảo vệ Chúa Giêsu. Tuy nhiên, đó không phải lúc nào cũng là sự thỏa mãn một lời cầu xin hay một ước muốn cụ thể, nhưng là ý thức mới mẻ về điều thiện hảo mà Thiên Chúa muốn cho mỗi người. Sự thiện hảo này thường tỏ ra khác với sự thiện hảo được cầu xin. Thánh nữ giải thích điều này như sau: “Với kinh nghiệm tuyệt vời mà tôi có được về những ân huệ mà thánh Giuse xin được từ Thiên Chúa, tôi muốn thuyết phục mọi người trở thành những người sốt sắng sùng kính vị thánh vinh hiển này vì có một ích lợi lớn lao cho các linh hồn phó thác bản thân cho ngài chăm sóc.”
Thiên Chúa biết rõ nhất
Trong thái độ này của thánh Têrêxa Avila được tiết lộ một điều gì đó mà Đức Thánh Cha Phanxicô gọi là tính hiện thực Kitô giáo. Nó hệ tại một sự ưng thuận với hành động của Thiên Chúa để vứt bỏ nỗi sợ hãi về việc không nhận được những món quà cụ thể mà người ta có thể coi là quan trọng ở một thời điểm nào đó – thường là sai lầm. Tính hiện thực Kitô giáo không bác bỏ bất cứ điều gì tồn tại.
Chính thánh Giuse đã dạy điều đó cho thánh Têrêxa Avila. Những lời cầu xin được Thiên Chúa lắng nghe, ngay cả khi Thiên Chúa không luôn ban những gì có vẻ đúng đắn nhất đối với chúng ta. Điều quan trọng là phó thác cho thánh ý của Thiên Chúa trong sự tin tưởng, điều này thường tương đương với một sự ưng thuận ngầm trước một tình yêu mà chúng ta không thể hiểu hết được vào lúc đó.
Tý Linh
Chuyển ngữ từ: Sebastian Duda, Aleteia
2022
Đệ trình hồ sơ đúc kết án phong chân phước cho chị Lucia
Đệ trình hồ sơ đúc kết án phong chân phước cho chị Lucia
ĐỆ TRÌNH HỒ SƠ ĐÚC KẾT ÁN PHONG CHÂN PHƯỚC CHO CHỊ LUCIA
- Trần Đức Anh, O.P. | RVA
Đài Chân Lý Á Châu (13.10.2022) – Thêm một bước tiến trong án phong chân phước cho chị Lucia dos Santos, một trong ba thiếu nhi được Đức Mẹ hiện ra tại Fatima, năm 1917.
Hôm 13 tháng Mười vừa qua, Hãng tin Ecclesia của Công giáo Bồ Đào Nha cho biết tập hồ sơ đúc kết, gọi là Positio, đã được đệ trình lên Đức Hồng y Marcello Semeraro, Tổng trưởng Bộ Phong thánh. Hồ sơ này nói về đời sống, các nhân đức và tiếng tăm thánh thiện của vị Tôi tớ Chúa Lucia dos Santos.
Hồ sơ đúc kết các tài liệu thu thập được trong cuộc điều tra tại giáo phận Coimbra trong 9 năm, từ 2008 đến 2017. Hàng ngàn thư từ và văn bản đã được thu thập và xếp đặt, cùng với chứng từ của 61 nhân chứng.
Nay hồ sơ đúc kết sẽ được 9 chuyên gia cố vấn của Bộ Phong thánh cứu xét và cho ý kiến, để trả lời vấn nạn: “Vị Tôi tớ Chúa Lucia có thực hiện các nhân đức Kitô giáo đến mức độ anh hùng hay không?” Nếu qua được giai đoạn này, Bộ Phong thánh, với sự chấp thuận của Đức Thánh cha, sẽ công bố sắc lệnh nhìn nhận các nhân đức anh hùng của chị Lucia và chị sẽ được gọi là “Đấng Đáng kính”. Giai đoạn kế tiếp là cứu xét phép lạ.
Chị Lucia sinh năm 1907 và qua đời ngày 13 tháng Hai năm 2005, tại Đan viện dòng kín Cát Minh ở Coimbra, hưởng thọ 98 tuổi. Ba năm sau khi chị qua đời, tức là hai năm trước hạn kỳ, Đức Giáo hoàng Biển Đức XVI đã chuẩn chước luật và cho phép mở án điều tra để thu thập hồ sơ xin phong chân phước cho chị Lucia.
Hai thiếu nhi khác, em họ của chị Lucia, được Đức Mẹ hiện ra là Phanxicô và Giaxinta Marto đã được Đức Thánh cha Phanxicô tôn phong hiển thánh, ngày 13 tháng Năm năm 2017 tại Fatima.
(Kai 13-10-2022)
Nguồn: vietnamese.rvasia.org
2022
Kinh Minh Côi: Những huyền thoại và sự việc thông thường
Kinh Minh Côi: Những huyền thoại và sự việc thông thường
Tháng 10 được Giáo hội Công giáo chỉ định là “Tháng Mân Côi”. Dưới đây là bảy huyền thoại và sự việc thông thường về lòng sùng kính Đức Mẹ này.
- Chỉ có người Công giáo mới có thể lần hạt Mân Côi.
Sai. Dù chuỗi hạt thường gắn liền với người Công giáo, nhưng chắc chắn những người không Công giáo vẫn có thể lần hạt – và trên thực tế, nhiều người tin rằng lần hạt Mân Côi giúp họ hoán cải. Ngay cả một số người theo đạo Tin lành cũng công nhận chuỗi hạt là một hình thức cầu nguyện có giá trị.
- Cầu nguyện bằng cách lần hạt là thờ ngẫu tượng.
Sai. Một số người phản đối việc lần hạt Mân Côi, cho rằng việc lần hạt Mân Côi là coi Đức Mẹ Maria như thần thánh do đó là ngẫu tượng và lải nhải quá mức.
Cũng giống như bất kỳ thực hành nào, chuỗi hạt Mân Côi có thể bị lạm dụng – giống như ai đó có thể thần tượng một vị mục tử hoặc linh mục cụ thể, một hình thức tôn thờ hoặc chay tịnh. Nhưng bản thân kinh Mân Côi không phải là một hình thức thờ ngẫu tượng.
Kinh Mân Côi không phải là lời cầu nguyện dành riêng cho Mẹ Maria – nhưng là sự suy gẫm về cuộc đời của Chúa Kitô được mặc khải qua năm mầu nhiệm với mục đích lôi kéo người cầu nguyện suy ngẫm sâu hơn về những niềm vui, sự hy sinh, đau khổ và những phép lạ vinh quang của Chúa Kitô trong cuộc đời Ngài.
Khi chúng ta đọc Kinh Kính Mừng, chúng ta không tôn thờ Mẹ Maria, chúng ta đang cầu xin sự chuyển cầu của Mẹ – giống như chúng ta có thể nhờ một người bạn hoặc người thân trong gia đình cầu thay nguyện giúp cho chúng ta.
Thứ hai, bất cứ lời cầu nguyện nào cũng có thể mất đi ý nghĩa nếu chúng ta không chú tâm suy gẫm về nó. Tập trung vào những mầu nhiệm với mục đích tốt và thiện chí là chìa khóa để có được sức mạnh biến đổi từ chuỗi hạt Mân Côi. Như một tác giả khuyến khích : “Bản thân kinh Mân Côi vẫn như vậy, nhưng chúng ta thì không như vậy nữa.”
- Bạn có thể đeo tràng hạt như một chiếc vòng cổ.
Điều đó còn tùy. Việc đeo chuỗi hạt quanh cổ thường bị coi là thiếu tôn trọng và bất kính, mặc dù Giáo hội không có tuyên bố rõ ràng chống lại việc làm đó.
Tuy nhiên, Điều 1171 của Bộ Giáo luật nói rằng “Các đồ vật thánh đã được được cung hiến hay đã được làm phép để dùng vào việc thờ phượng Thiên Chúa phải được sử dụng cách cung kính và không được dùng vào việc trần tục hay việc không thích hợp, mặc dù các đồ vật ấy thuộc quyền sở hữu cá nhân.”
Điều quan trọng là phải dùng chuỗi hạt với sự tôn trọng và thành ý. Nếu bạn có ý định đeo tràng hạt như một vật trang sức, điều này là không tôn trọng và nên tránh. Không cần phải nói rằng đeo chuỗi hạt như một biểu tượng chế giễu hoặc một biểu tượng của băng đảng sẽ là một tội lỗi.
Nhưng nếu bạn có ý định sử dụng chuỗi hạt và lưu tâm đến việc cầu nguyện, thì điều đó có thể được phép. Không có gì lạ ở một số nền văn hóa, như ở Honduras và El Salvador, người ta xem chuỗi hạt được đeo quanh cổ một cách kính cẩn như một dấu hiệu của lòng sùng kính.
Nhẫn Mân Côi hoặc vòng tay Mân Côi có thể là một lựa chọn tốt hơn nếu bạn muốn giữ chuỗi hạt Mân Côi gần gũi tiện tay của mình như một lời nhắc nhở hãy cầu nguyện, bởi vì chúng được để khuất tầm nhìn hơn và sẽ không dễ bị hiểu nhầm là một món đồ trang sức.
- Chuỗi tràng hạt là một biểu tượng cực đoan.
Sai. Một bài báo trên tờ Atlantic được chia sẻ rộng rãi vào mùa hè vừa qua đã lan truyền vì cáo buộc chuỗi hạt là “biểu tượng cực đoan”.
Bài báo đó viết: “Nói chung giống như khẩu súng trường AR-15 đã trở thành một vật linh thiêng đối với những Kitô hữu theo chủ nghĩa dân tộc, chuỗi hạt Mân Côi cũng có một ý nghĩa quân phiệt đối với những người Công giáo truyền thống cực đoan – radical-traditional, còn gọi là “rad trad”.
Tác giả cũng trích dẫn lập trường của Giáo hội về hôn nhân truyền thống và sự thánh thiện của cuộc sống như là bằng chứng của “chủ nghĩa cực đoan” và tuyên bố rằng xu hướng của người Công giáo gọi kinh Mân Côi là “vũ khí trong cuộc chiến chống lại cái ác” là nguy hiểm.
Các Đức Giáo Hoàng đã kêu gọi người Công giáo cầu nguyện lần chuỗi mân côi kể từ năm 1571 – thường đề cập đến chuỗi hạt như một “vũ khí” cầu nguyện và là công cụ tinh thần mạnh mẽ nhất.
- Chuỗi Mân Côi không phải là kinh thánh.
Không đúng! Hầu hết các từ ngữ của Chuỗi Mân Côi đều trực tiếp phát xuất từ Kinh thánh.
Đầu tiên, kinh Lạy Cha được xướng lên. Những lời của kinh Lạy Cha là những lời mà Chúa Kitô đã dạy các môn đồ cầu nguyện trong Mátthêu 6: 9–13:
“Vậy, anh em hãy cầu nguyện như thế này:
Lạy Cha chúng con là Đấng ngự trên trời,
xin làm cho danh thánh Cha vinh hiển,
triều đại Cha mau đến,
ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời.
Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày;
xin tha tội cho chúng con
như chúng con cũng tha
cho những người có lỗi với chúng con;
xin đừng để chúng con sa chước cám dỗ,
nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ.”
Kinh Kính mừng cũng phát xuất từ Kinh thánh. Phần đầu tiên: “Kính mừng Maria đầy ơn phúc, Đức Chúa Trời ở cùng Bà” trích từ Luca 1:28: “Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà,” và phần thứ hai: “Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ và Giêsu con lòng Bà gồm phúc lạ” được tìm thấy trong Luca 1:42: “Em được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ, và người con em đang cưu mang cũng được chúc phúc”.
Cuối cùng, mỗi chục kinh trên chuỗi hạt tượng trưng cho một sự kiện trong cuộc đời của Chúa Giêsu và Mẹ Maria. Các chục kinh được chia thành bốn nhóm mầu nhiệm: Vui, Sáng, Thương và Mừng, phần lớn được tìm thấy trong Kinh thánh.
- Một hạt Mân Côi có thể giết chết bạn.
Có phần đúng. Hạt mân côi thời xưa thường được làm bằng hạt của cây abrus, một loài cam thảo dây có nguồn gốc từ Ấn Độ và các vùng của Châu Á. Hạt của cây cam thảo dây này có màu đỏ với đốm đen, thường được dùng để kết hạt làm đồ trang sức – bao gồm cả tràng hạt. Chúng chứa một chất độc gọi là abrin, đây là một chất độc tự nhiên có thể gây tử vong nếu ăn phải. Tuy nhiên, không có chuyện một người nào đó bị ngộ độc abrin chỉ vì cầm một chuỗi tràng hạt làm từ hạt cây cam thảo dây, vì người ta sẽ phải nuốt chúng thì mới bị ngộ độc.
Ngày nay, hầu hết tràng hạt được làm từ các vật liệu không độc hại khác, chẳng hạn như gỗ ô liu, nhựa hoặc thủy tinh – loại bỏ mối lo ngại này.
- Mang theo chuỗi hạt có thể bảo vệ bạn.
Đúng vậy. Chuỗi Mân Côi đã được chứng minh là một sức mạnh kỳ diệu để bảo vệ những người có đức tin và ban cho họ thêm nhiều ân sủng, chẳng hạn như chiến thắng của các lực lượng Kitô giáo trong Trận chiến Lepanto sau khi Thánh Giáo Hoàng Piô V yêu cầu các Kitô hữu phương Tây cầu nguyện bằng cách lần chuỗi Mân Côi.
Nhiều vị thánh vĩ đại trong lịch sử, bao gồm các Đức Giáo Hoàng, thánh Padre Pio, và Chị Lucia làng Fatima, cũng đã công nhận chuỗi hạt là vũ khí mạnh mẽ nhất để chống lại các trận chiến thiêng liêng thực sự mà chúng ta phải đối mặt trên trần thế.
Chúng ta biết rằng cuộc chiến thiêng liêng là một mối nguy hiểm có thực hiện nay: “Hãy mang toàn bộ binh giáp vũ khí của Thiên Chúa, để có thể đứng vững trước những mưu chước của ma quỷ. Vì chúng ta chiến đấu không phải với phàm nhân, nhưng là với những quyền lực thần thiêng, với những bậc thống trị thế giới tối tăm này, với những thần linh quái ác chốn trời cao” (Êphêsô 6: 11–12). [1]
Chị Lucia, một trong ba trẻ đã thị kiền Mẹ Maria hiện ra trên đồi Cova da Ira, làng Fatima, nói với LM Fuentes năm 1957: “Trong thời đại này, Rất Thánh Trinh Nữ đã gửi đến một hiệu năng mới trong việc cầu nguyện với Kinh Mân Côi, đến độ không một vấn đề nào, ngăn trở nào, dù là thể lý hay tinh thần, trong đời sống cá nhân cũng như gia đình,… mà Kinh Mân Côi không giải quyết được. Tôi phải nói rằng không một vấn đề, một ngăn trở nào khó đến độ mà chúng ta không thể giải quyết bằng lời Kinh Mân Côi.” [2]
Cha thánh Padre Pio nói: “Một số người khờ khạo đến mức nghĩ rằng họ có thể đi hết cuộc đời mà không cần đến sự giúp đỡ của Đức Mẹ. Hãy yêu mến Đức Mẹ và lần hạt Mân Côi, vì Kinh Mân Côi của Mẹ là vũ khí chống lại những tệ nạn của thế giới ngày nay. Mọi ơn Chúa ban đều qua Đức Mẹ.”
Cha thánh nói với Lucietta Pennelli, con tinh thần của Ngài: “Hãy đọc kinh Mân Côi, và đọc mỗi ngày. Kinh Mân Côi là vũ khí phòng thủ và cứu rỗi. Kinh Mân Côi là vũ khí được Mẹ Maria ban cho chúng ta để sử dụng chống lại những mưu chước của kẻ thù hỏa ngục.”
Đức Giáo Hoàng Piô XI nói: “Kinh Mân Côi không chỉ phục vụ một cách đáng ngưỡng mộ để chiến thắng kẻ thù của Thiên Chúa và Tôn giáo, mà còn là động lực thúc đẩy việc thực hành các nhân đức Phúc âm mà kinh đó gieo trồng và vun xới trong tâm hồn chúng ta. Trên hết, Kinh Mân Côi nuôi dưỡng và làm cho Đức tin Công giáo phát triển mạnh mẽ trở lại, bằng cách suy ngẫm kỹ về các mầu nhiệm thiêng liêng, và nâng cao tâm trí đến với sự thật được Thiên Chúa mặc khải cho chúng ta.”
Đức Giáo Hoàng Piô XI nói tiếp: “Các bậc làm cha, làm mẹ trong các gia đình đặc biệt phải nêu gương cho con cái của mình, nhất là khi lúc chiều tà, họ quây quần bên nhau sau giờ làm việc trong ngày, trong các bức tường trong nhà, và quỳ đọc kinh Mân Côi trước ảnh Đức Trinh Nữ, cùng nhau hòa quyện tiếng nói, niềm tin và tình cảm. Đây là một phong tục đẹp đẽ và sinh ơn cứu độ, từ đó chắc chắn không thể không phát sinh sự yên tĩnh và các ân phúc chan chứa từ trời ban cho các gia đình.”
Ngài khuyên bảo: “Rất thường xuyên, khi chúng tôi tiếp các cặp vợ chồng mới cưới đến yết kiến và nói những lời tình cha con với họ, chúng tôi trao cho họ chuỗi tràng hạt, tha thiết khuyên họ, làm theo chúng tôi, đừng để một ngày trôi qua mà không đọc kinh Mân Côi, cho dù bạn đã có thể phải gánh chịu nặng nề như thế nào bởi nhiều lo toan và lao động cực nhọc.” [3]
Còn trongTông thư Kinh Mân Côi Rosarium Virginis Mariae, ngày 16-10-2002, số 3, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II viết: “Tôi cảm thấy được thôi thúc đưa ra một suy tư về Kinh mân côi…và một lời khuyên nhủ chiêm ngưỡng dung nhan Đức Kitô trong tâm tình thông hiệp với, và trong trường học của, Mẹ rất thánh Ngài. Đọc Kinh mân côi chính là chiêm ngưỡng dung nhan Chúa Kitô cùng với Mẹ Maria … Nếu được tái khám phá trong ý nghĩa trọn vẹn của nó, Kinh mân côi đi vào giữa lòng đời sống Kitô hữu; nó trao ban một cơ hội quen thuộc nhưng đem nhiều hoa quả thiêng liêng và giáo dục cho đời sống chiêm ngưỡng cá nhân, đào tạo Dân Thiên Chúa và công cuộc phúc âm hoá mới.”
Chính Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II kể ra gương mẫu của các vị thánh có lòng sùng kính phép lần hạt Mân Côi: “Sẽ không thể nêu tên tất cả các vị thánh đã khám phá trong Kinh mân côi một con đường đích thực để tăng trưởng trong sự thánh thiện. Tuy nhiên chúng ta cần nhắc đến thánh Louis Marie Grignion de Montfort, tác giả của một tác phẩm xuất sắc về Kinh mân côi, và, gần hơn với chúng ta, Cha Pio Pietrelcina, mà tôi vừa mới có được niềm vui phong thánh. Là một vị tông đồ đích thực của Kinh mân côi, Chân phước Bartolo Longo đã có một đoàn sủng đặc biệt. Con đường nên thánh của ngài dựa trên một thần hứng được nghe thấy trong cõi thâm sâu của tâm hồn: Ai truyền bá Kinh mân côi sẽ được cứu độ! Từ đó, ngài cảm thấy được mời gọi xây cất một nguyện đường dâng kính Đức Bà Mân Côi tại Pompei, gần những tàn tích của thành phố cổ, hầu như đã nghe lời loan báo của Đức Kitô trước khi bị chôn vùi vào năm 79 A.D. trong một lần phun trào núi lửa Vesuvius, chỉ vươn dậy từ đống tro tàn hàng thế kỷ sau như một nhân chứng về ánh sáng và bóng tối của nền văn minh cổ xưa. Qua sự nghiệp và đặc biệt qua việc thực hành 15 ngày thứ Bảy, Bartolo Longo đã cổ võ các tâm hồn quy hướng về Đức Kitô và chiêm ngưỡng Đức Kitô nhờ Kinh Mân Côi, và đã nhận được sự cổ võ và nâng đỡ lớn lao từ Đức Lêô XIII, vị Giáo hoàng của Kinh Mân Côi.”
Ngài kết thúc Tông thư bằng lời khuyến khích: “Tôi nhìn đến toàn thể anh chị em, những anh em, chị em thuộc mọi bậc sống, đến anh chị em, các gia đình Kitô giáo, đến anh chị em, những người bệnh và cao tuổi, đến các con, những người trẻ: Hãy cầm lấy lại chuỗi mân côi với lòng tin tưởng. Hãy tái khám phá Kinh mân côi dưới ánh sáng của Kinh Thánh, trong sự hài hoà với Phụng vụ và trong bối cảnh của đời sống hằng ngày của anh chị em.”
Đức Thánh Cha Phanxicô đã có diễn từ tại đền thờ Pompei vào Chủ nhật ngày 19 tháng 10 năm 2008, về Kinh Mân Côi như sau: “Nếu việc chiêm niệm của người Kitô hữu không thể thực hiện được mà không có Lời Chúa, thì Kinh Mân Côi, để trở thành lời cầu nguyện chiêm niệm, luôn phải phát sinh từ sự thinh lặng của trái tim như một lời đáp lại Lời, theo khuôn mẫu lời cầu nguyện của Mẹ Maria. Khi xem xét kỹ hơn, chuỗi mân côi được dệt hoàn toàn bằng các yếu tố lấy từ Kinh thánh. Trước hết, có sự thông báo về các mầu nhiệm, tốt hơn là được thực hiện như ngày nay, bằng những từ được trích từ Kinh thánh. Làm theo Cha của chúng ta: bằng cách cho lời cầu nguyện theo hướng “thẳng đứng”, nó mở tâm trí của người đọc Kinh Mân Côi để họ có thái độ hiếu thảo đúng đắn, theo lời mời gọi của Chúa: “Khi anh em cầu nguyện, hãy nói: Lạy Cha …” ( Luca 11, 2). Phần đầu tiên của Kinh Kính Mừng Ave Maria , cũng trích từ Phúc Âm, mỗi lần như vậy khiến chúng ta phải lắng nghe lại những lời Thiên Chúa đã nói với Đức Trinh Nữ qua Thiên thần, và những lời chúc phúc cho Mẹ từ người chị họ Isave. Phần thứ hai của Kinh Kính Mừng Ave Maria vang vọng như một lời đáp từ những người con, những người đang khẩn cầu Mẹ, không làm gì khác hơn là bày tỏ sự gắn bó của họ với kế hoạch cứu độ được Thiên Chúa mặc khải.. Vì vậy, tư tưởng về người cầu nguyện luôn được neo chặt trong Kinh thánh và trong những mầu nhiệm được trình bày trong đó” [4]
Cùng Chân phúc Bartolo Longo, tông đồ của Kinh Mân Côi, chúng ta thưa với Mẹ là Nữ Vương rất thánh Mân côi:
“Hỡi chuỗi Mân Côi đầy ơn phúc của Mẹ Maria, sợi dây ngọt ngào liên kết chúng con với Thiên Chúa, sợi dây tình yêu liên kết chúng con với các thiên thần, là tháp cứu độ chống lại sự tấn công của Địa ngục, bến cảng an toàn cho thế giới đắm chìm của chúng con, chúng con sẽ không bao giờ lìa xa Mẹ. Mẹ là niềm an ủi của chúng con trong giờ chết, là nụ hôn cuối cùng của chúng con khi cuộc đời sắp tàn. Và lời cuối cùng từ đôi môi của chúng con sẽ là tên ngọt ngào của Mẹ, hỡi Nữ Vương Mân Côi, hỡi người mẹ thân yêu nhất, hỡi nơi ẩn náu của những kẻ tội lỗi, hỡi Đấng bảo trợ tối cao cho những người bị đau khổ. Chúng con nguyện ước Mẹ được ngợi ca ở khắp mọi nơi, hôm nay và luôn mãi, dưới đất cũng như trên trời.”
Phêrô Phạm Văn Trung tổng hợp
[1] Edie Heipel, www.thecatholictelegraph.com.
[2] Vào ngày 26 tháng 12 năm 1957, Cha Augustin Fuentes, Cáo thỉnh viên cho việc phong chân phước cho Phanxicô và Giacinta Marto, đã gặp Sơ Lucia tại tu viện của chị ở Coimbra, Bồ Đào Nha. Tại đây, Cha đã có thể trò chuyện với Sơ Lucia rất lâu. Khi trở về quê hương Mexico, Cha tổ chức một cuộc họp về buổi gặp gỡ đó, trong đó Cha kể lại những lời của Sơ Lucia. Cha Alonso, nhà lưu trữ chính thức của Fatima trong 16 năm, nhấn mạnh rằng những lời kể về buổi gặp gỡ này đã được xuất bản “với mọi đảm bảo về tính xác thực và với sự chấp thuận của giám mục, bao gồm cả tài liệu của Giám mục Fatima.”
[3] Thông điệp Ingravescentibus Malis, ĐGH Piô XI, số 22, 28,29, ban hành tại Castel Gandolfo, gần Rôma, vào ngày 29 tháng 9, Lễ Thánh Micae Tổng lãnh thiên thần, năm 1937.
[4] Tông thư Kinh Mân Côi Rosarium Virginis Mariae, ĐGH Gioan Phaolô II, số 8, số 43
