2022
Tinh Thần Phục Vụ Ðích Thực
8.11 Thứ Ba trong tuần thứ Ba Mươi-Hai Mùa Quanh Năm
St 2:1-8,11-14; Tv 37:3-4,18,23,27,29; Lc 17:7-10
Tinh Thần Phục Vụ Ðích Thực
Tin Mừng mà Giáo Hội cho chúng ta lắng nghe hôm nay mời gọi chúng ta nhìn nhận những thiếu sót của chúng ta: có lẽ dung mạo của một Chúa Kitô phục vụ và phục vụ cho đến chết chưa được phản ảnh trên gương mặt của các Kitô hữu; tinh thần phục vụ đích thực của Kitô giáo vẫn chưa được sáng tỏ và thể hiện qua cách sống của các Kitô hữu. Chúa Giêsu đã khẳng định: “Khi làm tất cả những gì theo lệnh phải làm, thì hãy nói: chúng tôi là những đầy tớ vô dụng, chúng tôi chỉ làm những việc bổn phận mà thôi”. Ðầy tớ là người làm tất cả những mọi sự vì chủ, đầy tớ là người hoàn toàn sống cho chủ. Dĩ nhiên, ở đây, Chúa Giêsu không có ý đề cao quan hệ chủ tớ trong xã hội. Ngài đã xem quan hệ trong xã hội con người và Thiên Chúa như một quan hệ chủ tớ; Ngài đã chẳng mạc khải cho chúng ta Thiên Chúa như một người Cha và mời gọi chúng ta gọi Thiên Chúa là Cha đó sao?
Như vậy, ở đây, Chúa Giêsu chỉ muốn dùng hình ảnh người đầy tớ vốn có trước mắt người Do thái, để nói lên tương quan đích thực giữa con người và Thiên Chúa, đó là con người chỉ sống thực sự khi nó sống cho Thiên Chúa mà thôi. Cái nghịch lý lớn nhất mà Kitô giáo đề ra là càng tìm kiếm bản thân, càng sống cho riêng mình, con người càng đánh mất chính mình; trái lại, càng sống cho Thiên Chúa, càng tìm kiếm vinh danh Thiên Chúa, nghĩa là càng phục vụ vô vị lợi, con người càng lớn lên và càng tìm lại được bản thân; giá trị đích thực của con người như Chúa Giêsu đã dạy và đã sống chính là phục vụ một cách vô vị lợi. Công Ðồng Vaticanô II trong Hiến Chế “Vui Mừng và Hy Vọng” đã để lại một châm ngôn đáng được chúng ta suy niệm và đem ra thực hành: “Con người chỉ tìm gặp lại bản thân bằng sự hiến thân vô vị lợi mà thôi”.
Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu dạy các môn đệ tinh thần phục vụ đích thực: “Sau khi chu toàn phận vụ, các con hãy tự nhận mình là những đầy tớ vô dụng”.
Khi dạy các môn đệ, cũng như chúng ta như thế, Chúa Giêsu không có ý xem nhẹ chúng ta hay xem nhẹ việc chúng ta làm, nhưng Ngài muốn giúp chúng ta -qua con đường phục vụ vô vị lợi với tất cả tinh thần trách nhiệm và khiêm tốn- sẽ được Thiên Chúa ban dồi dào hồng ân gấp bội.
Trước khi khuyên chúng ta phục vụ hết mình và tự nhận mình là tôi tớ vô dụng, Chúa Giêsu -Ngôi Hai Thiên Chúa- đã vâng lời Chúa Cha đến trần gian trong thân phận con người hèn mọn. Ngài đến không phải để được phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến mạng sống cho con người (Mt 20, 28); Ngài là Thiên Chúa nhưng ở giữa các môn đệ như kẻ hầu bàn (Lc 22, 27)
Tuy là Thầy là Chúa, Ngài đã “chỗi dậy, bỏ áo xống đi và cúi xuống rửa chân cho các môn đệ” (Ga 13, 4-5). Thánh Phaolô trong thư gửi tín hữu Philippphe cho biết: “Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang…. Chính vì thế, ngài được Thiên Chúa tôn vinh và tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn vàn danh hiệu” (Pl 2, 6-11)
Theo gương Chúa Giêsu, biết bao Kitô hữu đã sống tinh thần phục vụ. Đức Thánh Cha Phaolô VI làm việc miệt mài lo cho Giáo Hội; cuối mỗi văn kiện gửi cho dân Chúa, ngài viết: “Phaolô VI, tôi tớ của các tôi tớ”. Mẹ Têrêsa Calcutta và các chị em trong dòng dong duổi khắp đường phố Ấn Độ để phục vụ những người nghèo hèn khốn khổ nhất. Gương phục vụ của Mẹ Têrêsa được cả thế giới trân trọng và ngưỡng mộ.
Mọi việc làm cho người khác đều phát xuất từ bổn phận. Trong gia đình, một người con phải làm việc nhà và vâng lời cha mẹ, đó là việc bổn phận của em. Vợ chồng chia sẻ cho nhau, chăm lo con cái, đó là điều họ đã cam kết khi thành hôn. Người anh, người chị giúp đỡ em mình, điều đó chẳng có gì lạ, bởi họ phải làm việc bổn phận. Đối với người khác cũng vậy, những việc hy sinh chúng ta phải làm để cầu cho các linh hồn trong luyện ngục là những đòi hỏi của bổn phận đối với các ngài. Cũng thế, những việc Ki-tô hữu phải làm là những việc do bổn phận đối với Thiên Chúa và tha nhân đòi buộc.
Thiên Chúa không mắc nợ con người; trái lại, những việc con người làm là do đòi buộc của lòng biết ơn đối với Thiên Chúa. Càng trưởng thành, con người càng biết ơn Đấng ban ơn cho mình. Vậy có gì mà chúng ta cao ngạo như thể đang làm ơn cho Chúa hay trách cứ Ngài không trả công xứng đáng? Thực ra, như lời Chúa quả quyết, chúng ta đang làm công việc của một người thuộc về Chúa. Chu toàn bổn phận như thế đã là vinh dự cho Ki-tô hữu, bởi họ được nên tôi trung của Ngài.
Ở tại giáo xứ, chúng ta cũng nhận thấy nhiều gương phục vụ âm thầm và khiêm tốn. Quý Tu sĩ, Quý Ban Hành Gíao, quý chức các hội đoàn, các anh chị Giáo Lý Viên, ca viên… phục vụ giáo xứ mà không nhận một đồng tiền lương. Có thể họ còn gặp phải nhiều khó khăn, hiểu lầm, trách móc; tuy nhiên, Chúa ban cho lòng họ chan chứa niềm vui vì vinh dự được trở nên “đầy tớ”. Bởi vậy, vô dụng không phải là không làm được việc gì nhưng là làm việc cách cần mẫn mà không kể công lênh.
Vì chưa ý thức mình là tôi tớ của Chúa, nên cũng chưa ý thức bổn phận phải làm. Khi đi lễ, cầu nguyện…, ta tưởng mình đang “làm ơn” cho Chúa. Khi làm việc tông đồ và từ thiện bác ái… ta tưởng làm cho Hội Thánh, cho Giáo xứ, nên thường đòi hỏi quyền lợi, đòi trả công, đòi được tôn trọng và biết ơn…! Bạn có chấp nhận làm người “tôi trung của Thiên Chúa” không? Tuỳ bạn, nhưng chính Đức Kitô đã chọn như thế khi Ngài đến trần gian để ở với chúng ta.
2022
Tiêu diệt gương xấu
7.11 Thứ Hai trong tuần thứ Ba Mươi-Hai Mùa Quanh Năm
St 1:1-9; Tv 24:1-2,3-4,5-6; Lc 17:1-6
Tiêu diệt gương xấu
Mở đầu bài Tin Mừng, thánh sử giới thiệu vị thầy dạy là Chúa Giêsu và các học trò là môn đệ của Ngài. Đối tượng bây giờ là các môn đệ, là cộng đoàn của các ông chứ không phải dân chúng. Chúa Giêsu khẳng định : đành rằng có những cớ làm cho người ta vấp ngã, nhưng Ngài lại chúc dữ cho kẻ làm điều ấy “ khốn cho kẻ làm cớ…” ( c1) và Ngài đưa ra hình phạt ngay : “ Cột cối đá vào cổ nó và xô xuống biển thì có lợi cho nó hơn…” (c. 2).
Một câu nói tưởng chừng như một hình phạt nhưng lại là công phúc, đem lại lợi ích cho kẻ gây ra và nhất là không gây tác hại cho kẻ khác, làm cớ cho người khác vấp ngã còn do những lời giảng dạy sai lầm, khiến người nghe, hiểu và có những hành động sai lạc. Đây cũng là lời cảnh tỉnh cho những người có trách nhiệm chăm sóc dạy dỗ linh hồn người khác như : Linh mục, tu sĩ, các giáo lý viên và ngay cả mỗi người Kitô hữu… Khi chúng ta sống trái với đạo lý, ngược với Tin Mừng. Chúng ta cần phải làm chứng về Đức Kitô cho những anh em tân tòng, các anh em thuộc các tôn giáo bạn bằng cách sống hằng ngày của chúng ta.
Kế đó, Chúa Giêsu còn chỉ dạy chúng ta cách sửa lỗi nhau : “Nếu người anh em của anh xúc phạm đến anh, hãy khiển trách nó” (c .3). Chúa không muốn chúng ta phủ nhận hay xem thường lỗi của người anh em, nhưng là lấy tình bác ái mà sửa dạy lẫn nhau. Ngài muốn chúng ta chỉ rõ lỗi của anh em, nói thẳng những điều xấu của họ trong tình bác ái. Không phải để la mắng, vùi dập, tố cáo… nhưng là nâng đỡ, vạch ra hướng đi, và giúp người anh em chỗi dậy và bước tiếp : “ nếu nó hối hận, hãy tha cho nó”
Tha thứ là hành vi bác ái mà luật Chúa Kitô đòi hỏi: “Dù nó xúc phạm một ngày 7 lần và 7 lần trở lại nói : Tôi hối hận; thì cũng phải tha cho nó” (c.4). Tha thứ không giới hạn, không kể đến vì lỗi lầm người kia cứ xúc phạm, nhưng nếu không tha thứ cho người anh em là chúng ta phủ nhận Tình Yêu của Chúa đối với ta qua bí tích Hòa giải. Thiên Chúa đã tha thứ cho ta và tha thứ cho người anh em, vậy sao ta lại cố chấp nhận không tha thứ ?. Sự tha thứ cần thiết vì con người quá yếu đuối, mỏng giòn. Tha thứ còn là cảm thông với những yếu đuối của họ và truyền sinh lực cho họ bước tiếp quãng đường.
Ý thứ ba mà bài Tin Mừng : Lần này người khởi xướng đề tài là các môn đệ. Có lẽ sau khi nghe bài giảng về việc “ làm cớ” và “ sửa lỗi”, các ông nhận ra giới hạn của bản thân, nên cùng nhau thưa với Chúa rằng “ Xin thêm lòng tin cho chúng con” (c. 5). Một lời cầu đích đáng và thích hợp cho mọi người trong mọi thời. Đây là dịp Chúa Giêsu dạy các ông về sức mạnh của lòng tin “ Nếu lòng tin bằng hạt cải, cây dâu sẽ vâng lời anh em” (c. 6).
Lòng tin làm được mọi sự. Nhiều khi chúng ta yếu đức tin, vì chưa phó thác vào Tình Yêu Thiên Chúa, vì còn nương tựa vào bản thân hay sức con người. Lòng tin còn là sự đáp trả của con người trước những phép lạ hoặc những điều kỳ diệu Chúa làm như trong Tin Mừng chúng ta thường thấy.
Chúng ta thấy con người thời nay như mất hết niềm tina nơi Chúa và họ chẳng còn tin cậy lẫn nhau. Cha của kẻ dối trá là ma quỷ đã gieo vào lòng con người sự ngờ vực, ngờ vực Tình Yêu tha thứ của Thiên Chúa, ngờ vực lòng tốt của người anh em. Đến nỗi, chúng con không phân biệt được đâu là đúng, đâu là sai, điều nào nên làm hay không nên làm. Xin Chúa củng cố thêm niềm tin của chúng ta, để cho dù trời đất có thay đổi, lòng chúng ta vẫn một niềm phó thác, tin cậy vào Chúa.
Qua bài Tin Mừng, Chúa Giêsu dạy chúng ta bài học không được làm gương xấu, xúi dục hay nên cớ cho người khác phạm tội bằng bất cứ hình thức nào. Vì đời sống của chúng ta ảnh hưởng đến anh chị em xung quanh.
Trong Tin Mừng, nhiều lần Chúa Giêsu đã lên án gắt gao với các Luật sĩ, biệt phái: “Các Luật sĩ và các người biệt phái ngồi trên toà Môsê: vậy những gì họ nói với các ngươi, các ngươi hãy làm và tuân giữ, nhưng đừng noi theo hành vi của họ: vì họ nói mà không làm”. Các luật sĩ, biệt phái sống cuộc sống hai mặt: Họ dạy người khác giáo lý về Thiên Chúa, nhưng chính họ lại không thực hành điều đúng đắn và phải làm. Điều này gây ảnh hưởng không tốt cho những người xung quanh, những người thuộc quyền, mà đáng lý ra họ phải là những người đầu tiên làm gương tốt.
Hôm nay, Chúa Giêsu cũng lên án những kẻ làm gương xấu: “Không thể nào mà không xảy ra gương xấu, nhưng vô phúc cho kẻ nào gây ra gương xấu.”
Gương xấu dễ lây lan ra nhanh như đại dịch, gương xấu ảnh hưởng những người xung quanh, vì “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”.
Ngày nay chúng ta dễ nhận ra trong thế giới văn minh tiến bộ giúp con người sống đầy đủ tiện nghi, mọi phương tiện sống rất thuận tiện, mang lại nhiều lợi ích, cuộc sống con người thoải mái hơn. Song chúng ta cũng phải thừa nhận rằng: con người đã lạm dụng tự do, kinh tế thị trường lôi cuốn con người chạy theo cách làm ăn phi pháp, gian dối, tham nhũng, lừa đảo; con người lạm dụng các phương tiện khoa học kỹ thuật, để sống hưởng thụ, thỏa mãn các đam mê…
Trong xã hội, vàng thau lẫn lộn, gương tốt thì ít và gương xấu lại quá nhiều. Chẳng hạn, phương tiện truyền thông khiến những gương mù gương xấu dễ tràn lan và đầu độc con người, đặc biệt là giới trẻ – đã không tự làm chủ được bản thân mình, mà sống một cách buông thả theo lối sống phương Tây. Môi trường giáo dục còn khiếm khuyết trong việc giảng dạy, đặc biệt về thi cử. Trong gia đình, đạo đức gia phong, đời sống tôn giáo xuống cấp trầm trọng, vì cha mẹ chỉ lo làm ăn buôn bán, không dạy dỗ con cái nên người hữu ích; cha mẹ làm ăn gian dối, đã gây tổn hại nặng nề cho con cái của họ sau này.
Chúa Giêsu tỏ ra thái độ dứt khoát và nghiêm khắc những kẻ làm gương xấu, vì đó là tiếp tay với ma quỉ: “vô phúc cho kẻ nào gây ra gương xấu. Thà nó bị cột cối đá vào cổ mà ném xuống biển còn hơn là làm gương xấu cho một trong những trẻ nhỏ này.”
Gương xấu là thái độ và thói xấu có ở nơi chúng ta, hoặc do chính chúng ta bị ảnh hưởng bởi môi trường xung quanh. Làm thế nào để diệt trừ các thói xấu?
2022
Chúa là Thiên Chúa của kẻ sống
6.11 Chúa Nhật thứ Ba Mươi-Hai Mùa Quanh Năm
2 Mcb 7:1-2,9-14; Tv 17:1,5-6,8-1522; Lc 20:27-38; Lc 20:27,34-38
Chúa là Thiên Chúa của kẻ sống
Tháng 11 là tháng cầu nguyện cho các linh hồn. Nhưng không chỉ như thế, tháng này còn nhắc nhở chúng ta về tính cách phù vân của cuộc sống thế gian, và nhất là về tính cách quan trọng đặc biệt của sự sống vĩnh cửu. Vì thế, thật ý nghĩa khi trong ngày Chủ Nhật đầu tháng 11 này, chúng ta được đọc bài tin mừng Lc 20, 37-38.
Để biện minh cho lập trường của mình là không tin kẻ chết sống lại, nhóm Xa-đốc giả định một “ca” khó giải: Nếu một người phụ nữ chẳng may goá chồng mà không có con nối dòng, chiếu theo luật Mô-sê (Đnl 25,5-10), cô ta cưới lần lượt cả bảy anh em, rồi tất cả đều chết mà không để lại người con nào, vậy thì khi sống lại cô sẽ là vợ của ai? Lập luận đó dẫn đến một tình huống bế tắc; suy ra không thể có việc sống lại. Chúa trưng dẫn từ Thánh Kinh rằng Thiên Chúa xưng mình là Chúa của các tổ phụ Áp-ra-ham, I-xa-ác, và Gia-cóp (Xh 3,15); mà Ngài là Chúa của kẻ sống, cho nên các tổ phụ vẫn đang sống, vậy sống lại là có thật. Chúa đâu nhắm đến việc lý luận hơn thua. Ngài nhắc chúng ta rằng cuộc đời này là vô thường, mà mục đích tối hậu chúng ta phải nhắm tới là sự sống đời sau bên Chúa, nơi chúng ta sẽ sống như các thiên thần.
Cuộc đời phù vân. “Trăm năm còn có gì đâu, chẳng qua một nấm cổ khâu xanh rì” (Nguyễn Gia Thiều). Xét theo một phương diện, suy nghĩ đó đúng. Nhưng xét theo phương diện khác thì không hẳn. Vì có sự sống lại, và trong sự sống lại đó, chúng ta là con cái được tham dự vào sự sống của chính Thiên Chúa là Cha chúng ta. Trang Tin Mừng hôm nay dạy chúng ta điều đó.
Trang Tin Mừng được mở đầu bằng một sự kiện đáng chú ý: “Có mấy người thuộc nhóm Xađốc đến gặp Chúa Giêsu. Nhóm này bảo rằng không có sự sống lại” (c.27). Đây là lần đầu tiên và cũng là lần duy nhất tin mừng Luca nói đến những người thuộc nhóm Xađốc. Nhóm này bao gồm những gia đình tư tế giàu có và các giáo dân quý tộc. Hoạt động của họ tập trung chính yếu ở đền thờ và trong lãnh vực chính trị. Họ không gần gũi với dân chúng như những người Pharisêu. Về phương diện tư tưởng và thần học, họ là những người bảo thủ. Sau năm 70 họ không còn vai trò gì quan trọng trong lịch sử nữa.
Những người Xađốc tin rằng Thiên Chúa đã tạo nên vũ trụ và loài người. Họ cũng tin rằng Thiên Chúa đã ban cho Israel Lề Luật, nhờ cụ Môsê, để dân Chúa tổ chức đời sống mình theo ý của Thiên Chúa. Nhưng vì Luật Môsê không nói gì đến sự sống lại, nên họ không công nhận điều đó. Vậy lập trường của họ không hẳn là một sự phủ định mạnh mẽ. Tuy nhiên, chính khi chủ trương như vậy, thì trong thực tế, họ đã chấp nhận một tiền giả định sai lầm về Thiên Chúa và về mối tương quan của người ta đối với Thiên Chúa. Theo đó, Thiên Chúa không thể và không muốn làm bất cứ điều gì cho con người bên ngoài thế giới hiện tại và cuộc sống trong thế giới này. Người Israel, theo quan điểm của nhóm Xađốc, sống dưới sự hướng dẫn của Luật và trong tương quan với Thiên Chúa, nhưng một khi cái chết đã xảy đến, thì sự sống chấm dứt và mối tương quan với Thiên Chúa cũng chấm dứt.
Theo Chúa Giêsu, niềm tin phục sinh của chúng ta được đặt nền tảng tận cùng ở trên chính bản tính của Thiên Chúa, đó là bản tính hằng sống ; và vì Ngài là hằng sống, nên Ngài tình yêu của Ngài cũng sẽ là muôn đời, là mãi mãi ; như Tv 136 tuyên xưng : “Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.”
Thế mà Thiên Chúa là tình yêu, nên tình yêu của Chúa không thể là vắn vỏi, không thể là chóng qua. Do đó, chúng ta tin mạnh mẽ rằng, chính tình yêu muôn đời của Thiên Chúa hằng sống làm cho chúng ta được sống lại và sống mãi, cho dù chúng ta có phải chết.
Bởi vì, Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta, đang yêu thương chúng ta và sẽ yêu thương mãi mãi. Như chính Chúa Giêsu nói một cách rất mạnh mẽ và thuyết phục về sự sống lại : « Thiên Chúa của Áp-ra-ham, Thiên Chúa của I-xa-ác, và Thiên Chúa của Gia-cóp. Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là của kẻ sống ».
Sau cùng, Chúa Giêsu không chỉ có quyền năng của một Thiên Chúa, trả lại cho con người sự sống tự nhiên, nhưng còn có quyền năng trao ban cho con người sự sống siêu nhiên sau khi chiến thắng satan, tội lỗi và sự chết bằng cách dâng hiến mạng sống mình cho Chúa Cha trên thánh giá đền thay tội lỗi cho nhân loại. Trái tim đã chịu lưỡi đòng đâm thâu hầu khơi nguồn các bí tích của Hội Thánh và sống lại trong vinh quang của Chúa Cha để thông chia sự sống mới ấy cho nhân loại.
Do đó mà nhờ bí tích Thánh Tẩy, con người được công chính hóa, được tái sinh trở nên con cái Thiên Chúa, chết đi đối với tội lỗi và sống trong sự sống mới với Chúa Giêsu. Nói cách khác, nhờ cái chết trên thập giá và sự sống lại, lên trời trong vinh quang của Chúa Cha mà tất cả nhân loại được trao ban niềm hy vọng sống đời đời. Với những ai tin vào Chúa Giêsu, niềm hy vọng đó đã trở thành hiện thực cho dù hiện thực ấy mới bắt đầu và thực sự viên mãn trong ngày cánh chung, ngày Chúa Giêsu trở lại trong vinh quang để xét xử kẻ sống và kẻ chết.
Thiên Chúa là nguồn sự sống và chính Ngài có quyền can thiệp vào sự sống. Ngài cho nó phát sinh, tồn tại và phát triển. Ngài có quyền cất nó đi và trả lại cho ai tùy ý. Ngài không những có quyền trên sự sống tự nhiên, nhưng còn có quyền trao ban sự sống siêu nhiên, sự sống viên mãn cho bất cứ ai tin. Chúa Giêsu được sai đến để làm điều đó. Bằng chứng là trong cuộc đời công khai, Ngài đã cho kẻ chết sống lại và sau khi từ cõi chết sống lại, Ngài đã bắt đầu công cuộc sáng tạo mới để kha sinh một nhân loại mới. Nguyện xin Chúa cho chúng ta luôn biết chạy đến với Chúa Giêsu để được Ngài chữa lành cả phần xác lẫn phần hồn, cả sự sống tự nhiên lẫn siêu nhiên. Xin Chúa cũng cho chúng ta một khi đã được chữa lành thì luôn biết dùng môi miệng và cuộc đời để cao rao tình thương và quyền năng của Chúa cho mọi người.
2022
Sử Dụng Tốt Tiền Của
5.11 Thứ Bảy trong tuần thứ Ba Mươi-Nhất Mùa Quanh Năm
Pl 4:10-19; Tv 112:1-2,5-6,8,9; Lc 16:9-15
Sử Dụng Tốt Tiền Của
Chúng ta đang sống trong một thế giới mà tiền của đóng một vai trò rất quan trọng, vì chủ nghĩa duy vật hưởng thụ đang thống trị và điều khiển xã hội về nhiều phương diện. Con người cũng thường đánh giá người khác dựa trên thế lực tiền của. Vì thế, người có nhiều tiền của dễ trở thành người có địa vị và danh giá. Đây quả thật là một thảm họa cho thời đại hôm nay!!!
Tin Mừng hôm nay đưa ra một đòi hỏi: “Hãy chọn lựa giữa Thiên Chúa và tiền của”, bởi vì không ai có thể làm tôi hai chủ được. Tiền của tự nó không phải là điều xấu, nó chỉ xấu khi con người tôn thờ nó như cùng đích cuộc sống. Thật ra, không có tiền của xấu, mà chỉ có cách tìm kiếm, sử dụng xấu của con người mà thôi. Cách tìm kiếm, sử dụng trở thành xấu là khi con người bóp nghẹt tiếng nói lương tâm, chối bỏ chính mình, khước từ người anh em, chối bỏ Thiên Chúa. Kẻ tham lam là người ích kỷ, chỉ nghĩ đến mình, nhưng thực ra, họ cũng là kẻ đang tự hủy, chối bỏ cùng đích của cuộc sống.
Tham nhũng và lừa đảo ở mọi qui mô trong xã hội chúng ta, đó là một kết luận hiển nhiên. Thế nhưng “thà đốt lên một ngọn nến, hơn là ngồi đó nguyền rủa bóng tối”. Chúng ta hãy bắt đầu chống tham nhũng, lừa đảo, ích kỷ ngay trong con người của chúng ta. Chúa Giêsu nói với chúng ta: “Nếu các con không trung tín trong việc sử dụng tiền của bất chính, thì ai sẽ tín nhiệm và giao phó của cải chân thật cho các con?”. Nếu chúng ta chưa loại được tham lam, lừa đảo trong những sinh hoạt hằng ngày, liệu chúng ta có thể chống tham nhũng ở qui mô lớn hơn không?
Tham nhũng đối với mỗi người chúng ta có thể mang nhiều tên gọi: ích kỷ, khước từ chia sẻ, liên đới, cảm thông. Xét cho cùng, của cải là đển mọi người cùng hưởng dùng; nếu tham nhũng, lừa đảo là chỉ muốn lấy của người để dành riêng cho mình, thì bất cứ hành động ích kỷ nào, bất cứ khước từ san sẻ nào cũng là một hình thức tham nhũng. “Không ai có thể làm tôi hai chủ”: của cải vật chất chỉ là phương tiện giúp chúng ta thờ phượng người chủ duy nhất và đích thực là Thiên Chúa.
Trong khi mưu cầu cho cuộc sống, xin Chúa cho chúng ta biết tìm kiếm và xây dựng giá trị Nước Trời. Xin cho chúng ta biết nhìn xa hơn về của cải vật chất, biết ra khỏi chính mình để gặp Chúa qua những chia sẻ, cảm thông đối với tha nhân.
Lời Chúa hôm nay chính là lời cảnh tỉnh cho mỗi chúng ta trong việc sử dụng tiền của ở đời này. Ngài mời gọi chúng ta hãy trung tín trong việc sử dụng tiền của. Vì tiền của cũng là một ân huệ Thiên Chúa tặng ban, nên chúng ta phải biết đặt tiền của vào đúng vị trí của nó như Thiên Chúa muốn. Đó là sự khôn ngoan cần thiết khi chúng ta sử dụng tiền của trong cuộc sống thường ngày.
Khi ta biết dùng tiền của Chúa ban để làm những việc tốt hữu ích cho bản thân và tha nhân là cách thức đẹp lòng Chúa nhất, “dùng tiền của bất chính mà tạo lấy bạn bè” (c. 9a). Tiền của chỉ là những phương tiện giúp ta có điều kiện thực thi lòng bác ái đối với tha nhân, và đó là những nén bạc ta đang ký gởi nơi Thiên Chúa, để sau này ta được “đón rước vào nơi ở vĩnh cửu” (c. 9b).
Có một câu danh ngôn rất ý nghĩa: “Tiền của là một đầy tớ tốt và là một ông chủ xấu”. Chúng ta suy nghĩ gì về nhận định trên?
Còn Chúa Giêsu thì nói: “Không gia nhân nào có thể làm tôi hai chủ” (c. 13a). Lời Chúa hôm nay thật cụ thể sống động cho thời đại chúng ta. Bởi lẽ nhiều người đã xem tiền của như ông chủ của đời mình, để rồi sẵn sàng để tiền của điều khiển cuộc đời mình, và cũng vì tiền của mà đánh mất phẩm giá và mất đi các mối tương quan tốt đẹp trong cuộc sống.
Vì thế, Chúa Giêsu đã khẳng định thật rõ ràng: “Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi tiền của được” (c. 13b). Thiên Chúa chính là Đấng Tạo Hóa đã dựng nên con người cùng với muôn tạo vật trong vũ trụ mênh mông này. Ngài còn là Người Cha giàu tình yêu thương nhân ái, luôn quan tâm chăm sóc từng người chúng ta bằng muôn vàn ân sủng của trời cao. Thế nên, chỉ mình Thiên Chúa là Ông Chủ duy nhất của đời ta, Ngài điều khiển và nắm giữ vận mạng của từng người chúng ta. Bổn phận của chúng ta là tôn thờ, yêu mến và vâng phục thánh ý Ngài trong từng biến cố của đời ta.
Chúng ta hãy ý thức để tự mình điều khiển tiền của theo cách Chúa muốn và mang lại hiệu quả tốt đẹp cho bản thân và tha nhân. Đừng bao giờ để tiền của vượt quá giới hạn của nó, nhưng chúng ta hãy làm chủ tiền của và sử dụng chúng theo ý muốn của chúng ta cách chính đáng.
