2022
Giải đáp thắc mắc cho người trẻ – Kính nhớ tổ tiên theo truyền thống dân tộc
GIẢI ĐÁP THẮC MẮC CHO NGƯỜI TRẺ CÔNG GIÁO
Bài 65: KÍNH NHỚ TỔ TIÊN THEO TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC
Rômualđô M. Bùi Văn Nghĩa, CRM
Hỏi: Việc chưng trái cây, hoa nến lên trước hình ảnh ông bà tổ tiên có trái luật Công giáo không ạ? Người Công giáo có nên tổ chức làm lễ giỗ cho ông bà tổ tiên không? Trường hợp làm dâu gia đình ngoại giáo, có được phép tham dự nghi lễ gia tiên của nhà chồng không?
Trả lời:
Những câu hỏi các bạn nêu ra ở trên nói chung xoay quanh vấn đề thờ cúng tổ tiên, là vấn đề đã được bàn thảo khá nhiều, và đã được Lm. Giuse Phạm Đình Ngọc S.J. giải đáp trong tập đầu của bộ sách này. Giờ đây chúng ta bàn thêm về vài chi tiết nhỏ: việc chưng trái cây, hoa nến, và việc cúng giỗ.
Đối với truyền thống văn hóa và tín ngưỡng dân gian Việt Nam thì đây là những việc làm hay lễ nghi tỏ lòng hiếu thảo. Những việc làm này đã in sâu vào trong lối sống và tâm hồn hầu hết người Việt Nam chúng ta. Trong chuyên luận Thực Trạng Văn Hóa Gia Đình Việt Nam, nhà nghiên cứu văn hóa Lê Minh đã đưa ra những số liệu khảo sát tại 5 tỉnh thành là Hà Nội, tp. Hồ Chí Minh, Hà Tây, Hòa Bình và Cần Thơ như sau:
– 100% các gia đình có bàn thờ tổ tiên.
– 96,75% bàn thờ được đặt ở vị trí tôn nghiêm nhất trong nhà.
– 95,85% các gia đình nhớ ngày giỗ của người thân.[1]
Những con số trên cho thấy người Việt Nam trân trọng và có ý thức duy trì tinh thần đạo Hiếu biết chừng nào! Vì thế, người Việt Nam nói chung khó có thể chấp nhận được một gia đình nào mà lại không có bàn thờ tổ tiên, không chưng đĩa quả và chăm lo hương khói trên bàn thờ. Đối với họ, đó là thái độ bất hiếu không thể hiểu được.
Trong quá khứ, vì nhiều lý do, quả thật đã có những hiểu lầm và đối kháng giữa việc thực hành đức tin Công giáo và lễ nghi thờ kính tổ tiên. Ngày nay, vì những hủ tục và mê tín của đại đa số người Việt Nam đã bớt đi nhiều, Giáo hội cũng đã có cái nhìn cởi mở hơn về văn hóa của các dân tộc và xác định rằng hoạt động loan báo Tin Mừng không nhằm tiêu diệt nhưng nhằm “thanh luyện và nâng cao phong hóa các dân tộc”[2]. Cho nên những nghi thức tôn kính tổ tiên nói chung được chấp nhận và trân trọng.
Xét vì tinh thần hiếu thảo phù hợp với ý muốn của Thiên Chúa, qua điều răn thứ tư; và việc tưởng nhớ người đã khuất không khác xa so với tín điều các thánh thông công, các đức Giám mục Việt Nam đã ra nhiều văn bản hướng dẫn thực hành. Cụ thể, Quyết nghị của HĐGM/NVN tại Nha Trang năm 1974 đã nêu rõ những cử chỉ, thái độ, lễ nghi sau đây được thi hành và tham dự cách chủ động:
- Bàn thờ Gia Tiên được phép đặt dưới bàn thờ Chúa trong gia đình.
- Việc đốt nhang hương, đèn nến, và vái lạy trước bàn thờ tổ tiên được phép làm.
- Ngày giỗ được “cúng giỗ” theo phong tục địa phương… và giảm thiểu, cải cách những lễ vật như như dâng hoa trái, hương đèn. (Nghĩa là được dâng hoa trái hương đèn nhưng tránh đừng bày biện rườm rà.)
- Trong hôn lễ, dâu rể được làm “Lễ Tổ, Lễ Gia Tiên” trước bàn thờ.
- Trong tang lễ được vái lạy trước thi hài người quá cố, đốt hương vái theo phong tục địa phương.
- Được tham dự nghi lễ tôn kính vị thành hoàng quen gọi là phúc thần, là những người có công với dân tộc hoặc ân nhân của làng.
Trong 6 điều trên, văn bản luôn nhắc nhở phải loại bỏ những gì là mê tín dị đoan.
Mới đây, vào tháng 10 năm 2019, Hội đồng Giám mục Việt Nam đã ra thêm Văn kiện “Hướng dẫn việc tôn kính Tổ tiên”. Văn kiện này nhắc lại các văn kiện trước và thay thế từ “được phép” bằng từ “khuyến khích”: “Chúng tôi khuyến khích mỗi gia đình Công giáo nên lập bàn thờ gia tiên… nhưng không bày biện những gì có tính cách mê tín”.
Như vậy là đã quá rõ, chúng ta thấy việc “làm lễ giỗ” và việc “chưng trái cây, hoa, nến” để biểu trưng lòng biết ơn không trái với đức tin Công giáo và chúng ta rất nên thực hành. Vấn đề chúng ta cần lưu ý là phải tránh “những gì có tính cách mê tín”, là những điều chúng tôi trình bày ngay sau đây.
Những điều không phù hợp với đức tin Công giáo
Qua các văn kiện hướng dẫn, chúng ta có thể liệt kê ra những điều không phù hợp với đức tin Công giáo như sau:
– Đặt hồn bạch hay linh vị trên bàn thờ: là những vật mà dân gian tin rằng hồn người chết hiện diện ở đó, việc này không phù hợp với đức tin Công giáo, vì người Công giáo tin rằng “Linh hồn người công chính ở trong tay Thiên Chúa” (Kn 3,1).
– Đặt tượng Thần Tài, Ông Địa trong nhà: là trái với điều răn thứ nhất “thờ phượng và kính mến một Thiên Chúa duy nhất”.
– Coi tuổi, coi “ngày lành tháng tốt”: đây là việc làm đi ngược với xác quyết “Đức Kitô… là chủ thời gian và muôn thế hệ”.
– Mở Cửa Mả: Dân gian quan niệm rằng sau khi chôn cất sau 3 ngày thì hồn phách người chết hội tụ lại, vì vậy cần làm lễ mở cửa mả để cho vong linh tỉnh hẳn để có thể lên dương thế và tìm đường về nhà (nơi đặt bàn thờ).
– Tin hồn người chết đi đầu thai kiếp khác: cũng là điều không phù hợp với đức tin Công giáo. Vì người ta chỉ sống một đời và chết một lần.
– Đốt vàng mã: đây là một tập tục vừa vô lý vừa hao tốn tiền của mà ngày nay, ngay cả người ngoài Công giáo cũng đang hô hào nhau loại bỏ, vì nhận biết đó là một việc làm vô minh.
Việc chưng đĩa trái cây / mâm quả
Nói đến việc chưng trái cây, thiết nghĩ chúng ta cũng nên tìm hiểu đôi chút về ý nghĩa và quan niệm dân gian về việc này, để nếu có thực hiện, chúng ta thực hiện cách tinh tế chứ không tùy tiện.
Tùy vào từng địa phương với các sản vật riêng mà việc chưng trái cây cũng có sự khác nhau.
Người Miền Bắc từ xa xưa thường bày mâm quả gồm 5 loại, nên được gọi là mâm ngũ quả. Việc này xuất phát từ quan niệm về ngũ hành trong triết học cổ phương Đông: thế giới được tạo nên từ 5 yếu tố vật chất đầu tiên là Kim, Thủy, Mộc, Hỏa, Thổ, được thể hiện bằng năm màu sắc: Trắng, đen hoặc xanh dương, xanh lục, đỏ, vàng. Mâm ngũ quả vì thế cũng thường có 5 màu sắc, coi như một vũ trụ thu nhỏ, đồng thời cũng thể hiện sự đầy đủ, trọn vẹn.
Việc chưng đĩa quả của người miền Trung thường không quá câu nệ hình thức, do mảnh đất miền Trung khí hậu khắc nghiệt nên các loại trái cây không phong phú đa dạng như các vùng khác, nên họ có gì cúng nấy, thành tâm là chính.
Người miền Nam thì thường căn cứ vào tên gọi các loại quả để chọn lựa sao cho ghép thành một lời khấn nguyện. Chẳng hạn mâm quả gồm: mãng cầu, dừa, đu đủ, xoài, những thứ trái cây này ghép lại và được đọc chệch thành “cầu vừa đủ xài”. Thật thú vị là lời khấn nguyện khiêm tốn ấy có vẻ phù hợp với tinh thần của Kinh Lạy Cha trong Kitô giáo: “xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực đủ dùng”. Dĩ nhiên lời kinh trên chúng ta cầu nguyện với Thiên Chúa Cha, nhưng sẽ chẳng sai khi chúng ta xin ông bà tổ tiên chuyển cầu cho chúng ta, trong niềm tin vào mầu nhiệm Các thánh thông công.
Tuy nhiên, ngày nay những ước nguyện đơn thành này đang bị lòng tham làm biến dạng, người ta tìm những thứ trái cây khác để thay thế, chẳng hạn thay dừa bằng chùm sung để thành “cầu xài sung”, hoặc đưa lên bàn thờ một thứ trái cây lạ gọi là dư, có lẽ không phải là cái tên sơ khai của chúng, cũng không phải là thứ trái cây ăn được, vậy mà đưa lên bàn thờ để “cầu dư”. Việc chưng trái cây trở thành vụ lợi và bất kính. Ngoài ra người miền Nam cũng kiêng kỵ một số thứ trái cây mà tên gọi của chúng gợi sự liên tưởng đến điều xui rủi như chuối (chúi nhủi), lê (lê lết), cam (cam chịu). Việc chưng trái cây với những kiêng kỵ như thế này hẳn nhiên là nhuốm màu mê tín.
Việc tổ chức ngày giỗ
Ngày giỗ là ngày kỷ niệm người thân đã từ trần. Vào ngày đó, người ta làm cỗ bàn để dâng cúng tổ tiên, đồng thời tạo dịp cho con cháu tưởng nhớ người đã khuất và chia sẻ nỗi buồn thương với nhau.
Người Công giáo “được phép cúng giỗ theo phong tục”, nhưng tuyệt đối không tin linh hồn người quá cố về hưởng các thứ vật chất. Chúng ta tin linh hồn người đã chết hoặc được về thiên đàng với Chúa, hoặc đang phải thanh luyện trong luyện ngục, nếu vô phúc thì phải vào hỏa ngục đời đời, chứ không có chuyện linh hồn trở về trần thế để hưởng dùng của cúng hoặc “ăn uống” với thân nhân còn sống nữa.
Thực ra, việc bày biện thức ăn trong ngày tưởng nhớ không phải là vì nhu cầu của người chết nhưng là của người sống. Chính người sống muốn dùng những dấu hiệu cụ thể này để bày tỏ sự hiệp thông với người đã khuất,[3] đồng thời cũng là để con cái cháu chắt hưởng dùng trong ngày sum họp. Điều tốt nhất chúng ta có thể làm cho người đã khuất là cầu nguyện, làm việc lành để xin ơn giải thoát cho họ, nếu họ đang phải chịu thanh luyện nơi luyện ngục.
Ngay cả đối với anh chị em lương dân có hiểu biết thì bàn thờ tổ tiên luôn được giữ cho thanh tịnh. Lễ vật đặt trên đó chỉ có thể là hương, hoa, trà, quả… Những ngày giỗ Tết, con cháu muốn dâng cúng cỗ mặn phải đặt ở một chiếc bàn phía trước và dưới bàn thờ chính, rồi thắp hương hành lễ cung thỉnh bái vọng. Người Công giáo chúng ta càng không nên đặt đồ ăn trên bàn thờ người quá cố, bởi vì chúng ta không có ý dâng của ăn cho người đã khuất. Chúng ta chỉ nên đặt hoa quả lên bàn thờ, còn mâm cỗ thì cốt để anh chị em trong gia đình sum họp, đoàn tụ.
Trước bữa ăn giỗ, thân nhân và khách mời quây quần cầu nguyện. Để làm tốt việc này, các bạn hãy sắm cho gia đình quyển Kinh nguyện gia đình và Gia lễ Công giáo, do Ủy ban Mục vụ Gia đình của HĐGMVN phát hành để được hướng dẫn cặn kẽ về Lời cầu nguyện trong bữa giỗ, lời nguyện trên của ăn, những chỉ dẫn về việc niệm hương… Lưu ý không được dùng những mẫu văn khấn trong sách vở của người ngoài Công giáo vì lời văn trong đó có nhiều điều không hợp với đức tin Công giáo.
Người Công giáo chúng ta cũng không được mang tâm lý sợ sệt rằng nếu không cúng giỗ đàng hoàng thì sẽ bị tổ tiên quở trách, thậm chí nổi giận mà gây xui xẻo cho con cháu. Việc cúng giỗ của chúng ta chỉ mang ý nghĩa tỏ lòng thảo hiếu thuần túy mà thôi.
Đối với các bạn đang làm dâu, làm rể trong các gia đình lương dân
Trường hợp người Công giáo đang làm dâu làm rể trong gia đình ngoài Công giáo, các bạn thường cảm thấy khó xử trước những việc thờ cúng của gia đình bên ấy, băn khoăn giữa việc chu toàn bổn phận làm dâu, làm rể, và việc giữ đúng đức tin. Các bạn yên tâm, Văn kiện “Hướng dẫn việc tôn kính Tổ tiên” của HĐGMVN năm 2019, đã có chỉ dẫn cụ thể như sau:
“Để giữ tình thuận thảo với gia đình đôi bên, những người con dâu, con rể này và con cái của họ có thể sắm sửa lễ vật và dâng lễ vật trên bàn thờ gia tiên, vái hương trước di ảnh tổ tiên nhưng cần hiểu: trong lòng chỉ tôn thờ một Thiên Chúa duy nhất, đồng thời cũng sẵn sàng bày tỏ lòng thảo hiếu biết ơn tổ tiên qua các nghi thức lễ gia tiên và xác nhận thảo hiếu với tổ tiên là bổn phận của Kitô hữu.”[4]
Ngay cả khi trên bàn thờ gia tiên có đặt tượng Đức Phật, Văn kiện trên cũng đã chỉ dẫn: chúng ta nhìn nhận Đức Phật như là một bậc thầy đáng kính, chứ không phải như một vị thần linh.
Bạn thân mến, giữa một thế giới đang chạy theo tiện nghi vật chất và hưởng thụ như ngày hôm nay, các giá trị văn hóa truyền thống đang bị mai một dần, người trẻ Công giáo Việt Nam chúng ta cần góp phần duy trì, hoàn chỉnh và nâng cao những nét đẹp văn hóa dân của tộc mình, đồng thời làm nổi bật lên những giá trị của Kitô giáo, giúp cho anh chị em lương dân nhận ra một chiều kích rộng lớn hơn của lòng thảo hiếu: không chỉ thảo hiếu ông bà tổ tiên, mà còn thảo hiếu với Cha trên trời, là Đấng sinh ra vạn vật.
Thiết nghĩ, những điều nhỏ nhặt trên đây, nhưng chính là những nhịp cầu nối kết giữa Đạo với đời, để nhờ đó người ngoài Công giáo không còn cảm thấy Công giáo là một đạo xa lạ, nhưng là đạo có những nét đẹp về sự thảo hiếu rất gần gũi và dễ thương. Từ đó mà dễ đón nhận Tin Mừng hơn.
(Trích Giải Đáp Thắc Mắc cho người trẻ Công giáo, Tập 4, Nxb Tôn Giáo, 04/2021)
2022
Di dân Việt Nam tại Philippines mừng Đại lễ Các thánh Tử đạo Việt Nam
DI DÂN VIỆT NAM TẠI PHILIPPINES MỪNG ĐẠI LỄ CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM
Duy An | RVA
Chúa nhật, ngày 13 tháng Mười Một năm 2022, tại khuôn viên Đài Chân Lý Á Châu-Philippines, Ban Mục vụ Di dân Việt Nam tại Philippines cùng với Ban Việt ngữ-Đài Chân Lý Á Châu, đã tổ chức ngày họp mặt cho anh chị em di dân Việt Nam tại Philippines để mừng kính Các Thánh tử đạo Việt Nam. Đã có khoảng 800 anh chị em Việt Nam, cả người không Công giáo và người nước ngoài, cùng tham dự và chia sẻ niềm vui của ngày đại lễ.
Sau những phút thánh hóa và khởi động vui nhộn, các tham dự viên đã lắng nghe bài chia sẻ của cha Phêrô Tạ Anh Vũ, linh mục thuộc Giáo phận Osnabrück, bên Đức, và hiện là giáo sư bộ môn Thần học mục vụ truyền thông xã hội tại Đại học Hoàng gia Giáo hoàng thánh Tôma Aquinô, Manila (UST). Với đề tài: “Mục vụ di dân trong chiều hướng ‘Hiệp hành cùng với Giáo hội’”, cha thuyết trình viên đã chia sẻ cho các tham dự viên những khái niệm cơ bản về di dân, những hoàn cảnh của người di dân, Giáo hội và mục vụ di dân, các hoạt động thiết thực cho anh chị em di dân ở bất cứ nơi đâu, rồi vấn đề mục vụ di dân tại Philippines, sau cùng là di dân và hiệp hành, với nhau và với Giáo hội. Song song với những khái niệm, kiến thức và lịch sử nói trên, linh mục Phêrô cũng chia sẻ những cảm nghiệm riêng của mình trong việc hỗ trợ, cầu nguyện và đồng hành với anh chị em di dân tại đất nước Philippines trong thời gian qua.
Cao điểm của ngày họp mặt là thánh lễ tạ ơn mừng kính Các thánh Tử đạo Việt Nam, diễn ra vào lúc 11g00, do cha Gioan Baotixita Trần Thanh Thế, Dòng Đa Minh, Trưởng ban Việt ngữ-Đài Chân Lý Á Châu và cũng là người đồng hành với anh chị em di dân Việt Nam tại Philippines, chủ tế. Đồng tế trong thánh lễ này, có khoảng 60 linh mục thuộc nhiều quốc gia khác nhau, bao gồm các linh mục sinh viên, giáo sư và bề trên nhiều hội dòng.
Trước thánh lễ, mọi người cùng lắng đọng trong phút diễn nguyện xúc động và hào hùng về các chứng nhân đức tin Việt Nam khi xưa.
Trong bài giảng thánh lễ, cha Giuse Trần Quốc Bảo, Dòng thánh Scalabrini, cha linh hướng của Nhóm Bát Cơm Nhân Ái, đã lược lại vắn gọn lịch sử hào hùng và kiên trung sống đức tin của các thánh Tử đạo tại Việt Nam. Nhấn mạnh đến những “chọn lựa” của các vị tiền bối tử đạo trong đời sống đức tin của các vị, nhất là chọn lựa giữa sự sống và cái chết, cha Giuse mời gọi anh chị em Việt Nam can đảm và kiên trung làm chứng cho đức tin ấy, giữa bao nhiêu chọn lựa của cuộc sống mưu sinh hằng ngày tại Philippines, dù là đang học tập, làm ăn hay tu học…
Cuối thánh lễ, có phần giới thiệu Ban Điều hành Mục vụ Di dân Việt Nam tại Philippines, với Trưởng ban là anh Phêrô Ngô Văn Khá và 2 Phó ban cùng 6 Tiểu ban khác.
Kế đó, cộng đoàn cùng vỗ tay chúc mừng các tân Phó tế người Việt Nam, thuộc nhiều cộng đoàn dòng tu tại Philippines mới được phong chức trong tháng vừa qua, trong đó có 3 thầy Dòng Tên, 3 thầy Dòng Chúa Thánh Thần, 3 thầy Dòng Thừa sai thánh Claret, 1 thầy Dòng Cát Minh (OCD), 1 thầy Dòng thánh Scalabrini, và 1 thầy Dòng Chúa Cứu Độ.
Thánh lễ kết thúc trong tâm tình tạ ơn và vui tươi. Mọi người cùng chung chia với nhau trong bữa ăn huynh đệ, đồng thời thưởng thức các tiết mục văn nghệ đặc sắc, công phu và vui nhộn với sự cộng tác hết mình của các đơn vị, hội dòng, nhóm, cả người Việt lẫn người nước ngoài.
Ngày họp mặt mừng kính Đại lễ Các thánh Tử đạo Việt Nam của anh chị em di dân Việt Nam tại Philippines đã kết thúc lúc 15g00 cùng ngày trong bầu khí vui tươi, cảm tạ và tri ân.
Nguồn: vietnamese.rvasia.org
2022
Bài diễn văn Đức Thánh Cha dành cho Bộ Truyền thông
BÀI DIỄN VĂN ĐỨC THÁNH CHA DÀNH CHO BỘ TRUYỀN THÔNG
Đại hội toàn thể của Bộ Truyền thông với chủ đề: “Thượng hội đồng và Truyền thông: một hành trình để phát triển” (Synod and Communication: a journey to develop) đã diễn ra tại Roma từ ngày 10- 12. 11. 2022 với sự tham gia của nhiều thành viên bao gồm nhà báo, kỹ thuật viên, và nhân viên của Bộ. Được biết, Đức cha Phêrô Nguyễn Văn Khảm, Giám mục giáo phận Mỹ Tho, thành viên của Bộ Truyền Thông cũng tham dự Đại hội.
Nhân dịp này, các tham dự viên Đại hội đã có buổi tiếp kiến Đức Thánh Cha Phanxicô vào sáng 12. 11. 2022. Trong buổi gặp gỡ, Đức Thánh Cha đã ngẫu hứng chia sẻ trực tiếp những suy tư của Ngài, và trao bài diễn văn đã soạn sẵn cho những người hiện diện.
Dưới đây là nội dung bài diễn văn đã chuẩn bị của Đức Thánh Cha:
BÀI DIỄN VĂN ĐỨC THÁNH CHA DÀNH CHO BỘ TRUYỀN THÔNG
Xin chào anh chị em!
Tôi xin cám ơn về những lời tốt đẹp của Tiến sĩ Paolo Ruffini. Tôi chào tất cả anh chị em đang tham dự Đại hội toàn thể của Bộ Truyền thông với chủ đề “Thượng hội đồng và Truyền thông: một hành trình để phát triển”.
Đức Thánh Cha chào đón Tổng trưởng Bộ Truyền thông, Tiến sĩ Paolo Ruffini
Thượng Hội đồng không phải là một bài tập đơn giản trong truyền thông, cũng không phải là một nỗ lực để suy nghĩ lại về Giáo hội với logic của đa số và thiểu số, để tìm ra một thỏa thuận. Đó là kiểu tầm nhìn mang tính thế gian, và theo mô hình của nhiều kinh nghiệm xã hội, văn hóa và chính trị. Thay vào đó, yếu tính của lộ trình hiệp hành hệ tại ở chân lý cơ bản mà chúng ta không bao giờ được lãng quên: nhằm mục đích lắng nghe, thấu hiểu, và thực hành ý muốn của Thiên Chúa.
Như là một Giáo hội, nếu chúng ta muốn biết ý muốn của Thiên Chúa là làm cho ánh sáng của Tin Mừng chiếu toả hơn nữa trong thời đại của chúng ta, thì chúng ta phải trở lại với nhận thức rằng ý muốn ấy của Thiên Chúa không bao giờ được ban với tư cách cá nhân, nhưng luôn được ban tặng cho Giáo hội trong tư cách toàn thể. Chỉ trong kết cấu sống động của các mối tương quan trong Giáo hội, chúng ta mới trở nên có khả năng lắng nghe và hiểu được Đức Chúa, Đấng đang nói với chúng ta. Nếu không “bước đi cùng nhau”, chúng ta có thể đơn giản trở thành một tổ chức tôn giáo, song le tổ chức này đã đánh mất khả năng để cho ánh sáng sứ điệp của vị Tôn Sư tỏa sáng, đã đánh mất khả năng mang lại hương vị cho các biến cố khác nhau của thế giới.
Đức Giêsu cảnh báo chúng ta đề phòng về một xu hướng như vậy. Người lặp lại với chúng ta rằng: “Chính anh em là muối cho đời. Nhưng muối mà nhạt đi, thì lấy gì muối nó cho mặn lại? Nó đã thành vô dụng, thì chỉ còn việc quăng ra ngoài cho người ta chà đạp thôi. Chính anh em là ánh sáng cho trần gian. Một thành xây trên núi không tài nào che giấu được. Cũng chẳng có ai thắp đèn lên rồi lấy thùng úp lại, nhưng đặt trên đế, và nó soi sáng cho mọi người trong nhà. Cũng vậy, ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Ðấng ngự trên trời” (Mt 5, 13-16). Đây là lý do tại sao chiều kích hiệp hành là một chiều kích cấu thành Giáo hội, và việc suy tư mà chúng ta đã tham gia trong những năm vừa qua nhằm mục đích đưa ra một cách kiên vững điều mà Giáo hội luôn tin tưởng trọn vẹn.
Sách Thánh đầy rẫy những câu chuyện về những người nam và người nữ, mà đôi khi chúng ta nhầm tưởng là những anh hùng đơn độc. Chẳng hạn, tổ phụ Abraham, người đầu tiên được Thiên Chúa ngỏ lời, không phải là một người đơn độc lên đường, mà là một người rất coi trọng tiếng nói của Thiên Chúa, Đấng mời gọi ông rời khỏi quê cha đất tổ của mình, và ông thực hiện điều này cùng với gia đình của mình (Gen 12, 1-9). Câu chuyện về Abraham là câu chuyện về các tương quan thân thích của ông.
Ngay cả Môsê, người giải phóng dân Israel, cũng sẽ không thể hoàn thành sứ mạng nếu không có sự giúp đỡ của người anh Aaron, người chị Maria, và người anh rể Jethro, cùng một số người khác đã giúp ông lắng nghe Lời Chúa và đem ra thi hành vì lợi ích của tất cả mọi người. Môsê là một người bị tổn thương trong cuộc sống cá nhân, ông không có tài ăn nói, trái lại, còn là một người nói lắp. Thậm chí chúng ta có thể nói rằng Môsê là một người gặp khó khăn trong việc giao tiếp, nhưng những người ở bên cạnh Môsê đã bù đắp cho sự bất tài của bản thân ông (x. Xh 4; 10, 12-16).
Đức Maria thành Nazareth đã không thể hát bài Magnificat nếu không có sự hiện diện và tình bạn của người chị họ Elizabeth (x. Lc 1, 46-55). Mẹ cũng sẽ không thể bảo vệ hài nhi Giêsu khỏi sự căm ghét của những kẻ muốn giết Người nếu không có Giuse ở bên (Mt 2,13-15; 19-23).
Chính Đức Giêsu cũng cần có những tương quan với người khác, và khi phải đương đầu với trận chiến cuối cùng trong sứ mạng tại Giêrusalem, vào đêm bị bắt, Người đã đưa các bạn là Phêrô, Giacôbê và Gioan đến Vườn Ghết-sê-ma-ni (x. Mt 26, 36-46).
Sự đóng góp của truyền thông chính là làm cho chiều kích cộng đồng này, năng lực liên kết này, và ơn gọi kết nối này trở nên khả thi. Và, do đó, chúng ta hiểu rằng nhiệm vụ của truyền thông là thúc đẩy sự gần gũi, mang lại tiếng nói cho những người bị loại trừ, để thu hút sự chú ý đến những gì chúng ta thường loại bỏ và phớt lờ. Có thể nói, truyền thông là một công cụ kết nối, trong đó tiếng nói của Thiên Chúa vang lên và được lắng nghe.
Tôi muốn khai triển 3 điều như là những đường hướng để suy tư trong tương lai về lĩnh vực này.
Nhiệm vụ đầu tiên của truyền thông là làm cho con người bớt cô đơn. Nếu truyền thông không làm giảm đi cảm giác cô đơn mà rất nhiều người nam nữ cảm thấy họ phải cam chịu, thì truyền thông đó đơn thuần chỉ là giải trí, nó không phải là công cụ để kiến tạo các mối tương quan như chúng ta đã đề cập đến ở trên.
Để thực hiện một sứ mạng như thế, cần phải rõ ràng rằng người ta chỉ cảm thấy bớt cô đơn khi họ nhận ra những vấn đề, những hy vọng, và những khó khăn mà họ mang trong mình được sự bộc lộ ra bên ngoài. Chỉ duy Giáo hội biết dìm mình vào thực tại mới thực sự biết được điều gì ẩn khuất nơi tâm hồn của con người đương thời. Do đó, tất cả truyền thông đích thực được thực hiện trước hết từ sự lắng nghe chân thành, được hình thành từ những cuộc gặp gỡ, những khuôn mặt, những câu chuyện. Nếu không biết cách ở trong thực tại thì chúng ta sẽ tự giới hạn mình khi chỉ đưa ra những hướng dẫn từ trên cao mà không ai muốn chú ý đến. Truyền thông phải là một trợ giúp đắc lực đối với Giáo Hội trong việc ở trong thực tại một cách cụ thể, nhằm thúc đẩy việc lắng nghe và can thiệp vào phần lớn vấn đề của con người ngày nay.
Liên quan với thách đố đầu tiên này, tôi muốn thêm một thách đố khác: truyền thông mang lại tiếng nói cho những người không có tiếng nói. Rất thường xuyên chúng ta chứng kiến những hệ thống truyền thông gạt ra bên lề và phê bình những gì không thoải mái và những gì chúng ta không muốn thấy. Nhờ Chúa Thánh Thần, Giáo hội nhận thức rõ nhiệm vụ của mình là phải ở bên những người rốt hết, và môi trường sống tự nhiên của Giáo hội là chính môi trường sống của những vùng ngoại biên hiện sinh.
Nhưng những người ở vùng ngoại biên hiện sinh không chỉ là những người sống bên lề xã hội vì lý do kinh tế, mà còn là những người dù có của ăn nhưng bị tước đoạt ý nghĩa cuộc sống; họ cũng là những người sống trong hoàn cảnh bị gạt ra bên lề do những lựa chọn nhất định, hoặc những thất bại của gia đình, hoặc những biến cố cá nhân đã để lại những dấu ấn không thể xóa nhòa trong lịch sử của họ. Đức Giêsu không bao giờ sợ hãi người phung hủi, người nghèo, người xa lạ, ngay cả khi họ bị đánh dấu bởi sự kỳ thị về đạo đức. Đức Giêsu không bao giờ phớt lờ những người không theo đúng lễ giáo dưới bất cứ hình thức nào. Tôi tự hỏi rằng với tư cách là một Giáo hội, liệu chúng ta có biết cách đưa ra tiếng nói cho những anh chị em này, chúng ta có biết cách lắng nghe họ, chúng ta có biết cách phân định ý muốn của Thiên Chúa cùng với họ, và do đó, nói với họ Lời mang ơn cứu độ chăng.
Cuối cùng, thách đố thứ ba của truyền thông mà tôi muốn để lại cho anh chị em là việc giáo dục bản thân trong nỗ lực truyền thông. Trong Tin Mừng, không hiếm khi chúng ta thấy có những hiểu lầm, sự chậm chạp trong việc hiểu những giáo huấn của Đức Giêsu, hoặc sự hiểu lầm đôi khi trở thành những bi kịch thực sự, như đã xảy ra với Giuda Iscariot, người đã nhầm lẫn sứ mạng của Đức Kitô với chủ nghĩa thiên sai chính trị.
Vì vậy, chúng ta cũng phải chấp nhận chiều kích “gian nan” này trong truyền thông. Rất thường, những người nhìn Giáo hội từ bên ngoài vẫn bị bối rối trước những căng thẳng khác nhau bên trong Giáo hội. Nhưng những ai hiểu được cách thức hoạt động của Chúa Thánh Thần thì đều nhận thức rõ rằng Chúa Thánh Thần rất thích tạo ra sự hiệp thông giữa những đa dạng, và sự hòa hợp từ những hỗn độn. Hiệp thông không bao giờ là đồng nhất, mà là khả năng kết hợp các thực tại rất khác nhau. Tôi nghĩ rằng chúng ta cần có khả năng giao tiếp ngay cả với khó khăn này mà không cần giả vờ để giải quyết hoặc che giấu nó. Sự bất đồng ý kiếnkhông nhất thiết là một thái độ rạn nứt, nhưng nó có thể là một trong những thành tố của sự hiệp thông. Truyền thông cũng phải tạo điều kiện cho sự đa dạng về quan điểm, đồng thời luôn cố gắng duy trì sự hiệp nhất và sự thật, cũng như chống lại sự vu khống, bạo lực bằng lời nói, chủ nghĩa cá nhân, và chủ nghĩa chính thống cực đoan, nấp dưới chiêu bài trung thành với sự thật, nhưng lại chỉ gieo rắc chia rẽ và bất hòa. Nếu nhượng bộ những suy đồi này, thì truyền thông, thay vì làm nhiều điều tốt đẹp, rốt cuộc, lại gây ra nhiều nguy hại.
Anh chị em thân mến, công việc của Bộ Truyền thông không chỉ đơn thuần là kỹ thuật chuyên môn. Ơn gọi của anh chị em, như chúng ta đã thấy, chạm vào chính cách thức hiện diện của Giáo hội.
Xin cảm ơn anh chị em về những gì anh chị em thực hiện. Tôi khuyến khích anh chị em hãy tiến về phía trước với cách thế kiên quyết và ngôn sứ. Phục vụ Giáo hội có nghĩa là xứng đáng với sự tin cậy và cũng can đảm mạo hiểm trên những lộ trình mới. Theo nghĩa này, hãy luôn luôn đáng tin cậy và can đảm.
Tôi ưu ái chúc lành cho anh chị em. Xin anh chị em cũng đừng quên cầu nguyện cho tôi.
PHANXICÔ
Nt. Anna Ngọc Diệp, OP
Dòng Đa Minh Thánh Tâm
Chuyển ngữ từ: press.vatican.va (12. 11. 2022)
2022
Tuần lễ bảo vệ tự do tôn giáo
Tuần lễ bảo vệ tự do tôn giáo
Tổ chức Trợ giúp các Giáo hội Đau khổ sẽ tổ chức một chiến dịch, từ ngày 16 đến 23/11/2022, thu hút sự chú ý đến tự do tôn giáo và các Kitô hữu bị bách hại trên khắp thế giới. Các giờ cầu nguyện và trình bày chứng từ sẽ được tổ chức trên khắp năm châu.
Với tiêu đề #RedWeek (#Tuần lễ Đỏ), chiến dịch này sẽ diễn ra trên tất cả các lục địa. Như những năm trước ở một số quốc gia, các nhà thờ và tòa nhà mang tính biểu tượng sẽ được chiếu ánh sáng màu đỏ.
#Redweek (#Tuần lễ Đỏ)
#Redweek sẽ bắt đầu vào ngày 16/11/2022, tại London, với buổi trình bày chính thức trước quốc hội Anh bản báo cáo “Bị bách hại và bị lãng quên? – một báo cáo về những Kitô hữu bị bách hại vì đức tin của họ từ năm 2020-2022”.
Chiến dịch nâng cao nhận thức này sẽ được triển khai ở nhiều quốc gia và sẽ được đánh dấu bằng các giờ cầu nguyện, suy tư và các hội nghị. Ví dụ, ở châu Mỹ Latinh, Tổ chức Trợ giúp các Giáo hội Đau khổ ở Colombia đã mời Sơ Gloria Narvaez, một nữ tu bị những kẻ khủng bố Hồi giáo giam giữ ở Sahel trong 5 năm, chia sẻ kinh nghiệm của sơ ở Bogota và Medellin.
Tại Pháp, chuông sẽ vang lên tại 100 nhà thờ trên khắp đất nước và một hội nghị bàn tròn sẽ được tổ chức ở Paris, sau đó là một buổi cầu nguyện ở nhà thờ Thánh Tâm Montmartre vào ngày 23/11, với chứng từ của Đức Tổng Giám mục Ndagoso của Kaduna, Nigeria. Tại Đức, các nhân vật đến từ Iraq, Nigeria và Pakistan được mời để trình bày chứng từ tại các thánh đường Regensburg, Mainz hoặc Augsburg.
Tuần lễ bảo vệ tự do tôn giáo ra đời vào năm 2015 tại Brazil khi chi nhánh Tổ chức Trợ giúp các Giáo hội Đau khổ ở nước này đã chiếu ánh sáng đỏ tượng Chúa Cứu Thế ở Rio de Janeiro để thu hút sự chú ý về cuộc bách hại các Kitô hữu ở Iraq. Kể từ đó, một thứ Tư trong tháng 11 được dành cho tự do tôn giáo và các sáng kiến đã được phát triển ở nhiều quốc gia, bắt đầu bằng việc chiếu sáng một số tòa nhà.
Hồng Thủy
