2022
Đức Hồng Y Marc Ouellet đòi sự thật và công lý
Đức Hồng Y Marc Ouellet đòi sự thật và công lý
Hôm 13/12 vừa qua, Đức Hồng Y Marc Ouellet, Tổng trưởng Bộ Giám Mục, nguyên Tổng Giám Mục giáo phận Québec, Canada, qua một văn phòng luật sư ở Montréal, đã đệ đơn tại một tòa án ở Canada kiện người phụ nữ đã vu khống và phỉ báng ngài, cho rằng ngài đã tấn công tình dục bà. Đức Hồng Y đòi bồi thường 100 ngàn đôla Canada vì những thiệt hại về “thanh danh, danh dự và phẩm giá”. Tiền bồi thường này, nếu được, ngài sẽ dành cho công cuộc bài trừ nạn lạm dụng tính dục các thổ dân Canada.
Đây là lần đầu tiên một Hồng Y đứng đầu một cơ quan Tòa Thánh phản ứng chống lại một vụ kiện về “xách nhiễu, tấn công hoặc lạm dụng tình dục”, với xác tín mình bị cáo gian, để yêu cầu làm sáng tỏ sự thật và thi hành công lý.
Đức Hồng Y Marc Ouellet
Đức Hồng Y Marc Ouellet, sinh trưởng tại Québec, năm nay 78 tuổi (1944), đậu cử nhân sư phạm tại đại học Laval trước khi học thần học tại Đại chủng viện Montréal, đậu cử nhân thần học và thụ phong Linh Mục năm 1968 lúc mới 24 tuổi. Sau 2 năm làm cha phó (1968-1970), cha đi Colombia, để học tiếng Tây Ban Nha và làm giáo sư tại đại chủng viện Bogotà trong 2 năm, rồi gia nhập tu đoàn Xuân Bích năm 1972.
Tiếp đó, cha Ouellet đi Roma, học triết tại đại học Angelicum và đậu cử nhân, trước khi trở về Colombia phục vụ tại Đại chủng viện Manizales trong 2 năm, rồi trở lại Canada, làm Giám đốc đại chủng viện Montréal từ năm 1975. Kế đến, cha trở lại Roma, học thần học tín lý và đậu tiến sĩ tại Đại học Gregoriana. Cha trở về Colombia để giảng dạy đồng thời làm Giám đốc đại chủng viện Manizales, trước khi nhận nhiệm vụ giám đốc đại chủng viện Montréal, rồi đại chủng viện Edmonton, bang Alberta.
Năm 1996, cha Ouellet làm giáo sư thần học tín lý tại Học viện Giáo Hoàng Gioan Phaolô II thuộc đại học Laterano ở Roma trong 6 năm, cho đến khi được Đức Gioan Phaolô II bổ nhiệm làm Giám Mục Tổng thư ký Hội đồng Tòa Thánh hiệp nhất các tín hữu Kitô từ năm 2001. Nhưng cuối năm 2002 ngài được thăng Tổng Giám Mục Québec, là giáo phận đầu tiên tại Canada. Trong công nghị Hồng Y hồi tháng 10 năm 2002, ngài được Đức Gioan Phaolô II phong làm Hồng Y. Cuối tháng 6 năm 2010, Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI bổ nhiệm Đức Hồng Y Ouellet làm Tổng trưởng Bộ Giám Mục kiêm Chủ tịch Ủy ban Tòa Thánh về Mỹ châu La tinh, nhiệm vụ ngài chu toàn từ hơn 12 năm qua.
Ngoài tiếng mẹ là Pháp ngữ, Đức Hồng Y Ouellet còn thông thạo 5 thứ tiếng: Anh, Đức, Tây ban nha, Ý và Bồ đào nha.
Vụ kiện
Các giáo phận Công Giáo tại bang Québec bị chiếu cố trong vụ kiện tập thể chống các giáo sĩ bị cáo là lạm dụng tính dục trong khoảng thời gian hơn 80 năm qua, tức là từ năm 1940. Có 101 người tham gia vụ kiện đòi Giáo Hội phải bồi thường hơn 600 ngàn đôla Canada cho mỗi nạn nhân. Tính tổng cộng là 66 triệu đôla. Nhưng từ hai năm nay, số người tham gia vụ kiện liên tục gia tăng.
Các nguyên đơn kể lại là, khi còn là trẻ vị thành niên, họ đã bị các linh mục tại Québec lạm dụng tính dục. Dư luận không để ý bao nhiêu đến những lời cáo buộc ấy. Nhưng ngày 16 tháng 8 năm nay (2022), người ta được biết trong số 80 giáo sĩ và nhân viên của tổng giáo phận Québec bị cáo trong các đơn kiện, có cả Đức Hồng Y Marc Ouellet.
Những lời cáo buộc Đức Hồng Y Ouellet
Người tố cáo Đức Hồng Y Ouellet là một nữ thực tập viên mục vụ, tên tắt là F., làm việc tại tòa Tổng Giám Mục Québec, từ năm 2008 đến 2010. Bà nói là đã bị một Linh Mục làm việc trong giáo xứ nơi bà làm việc “tấn công tình dục” và cả Đức Hồng Y Ouellet vào tháng 8 năm 2008. Hôm đó, bà tham gia một cuộc gặp gỡ tất cả các nhân viên của tổng giáo phận Québec. Chính tại đó bà gặp Đức Hồng Y Ouellet lần đầu tiên. Bà F. cho biết: bà ngồi tuốt phía sau của hội trường, và “cảm thấy hai tay đặt trên vai bà và bắt đầu xoa bóp mạnh”. Bà nhận ra ngày đó là Đức Hồng Y “đang cười và vuốt ve lưng của bà trước khi ra đi”.
Bà “ngỡ ngàng, đứng lặng người trước sự xâm nhập ấy và không biết phản ứng ra sao”. Bà cảm thấy xôn xao, “một tâm tình khó chịu xâm chiếm bà suốt ngày hôm ấy”. 3 sự kiện khác cũng được nhắc đến trong đơn kiện: Đức Hồng Y tỏ ra quá khăng khăng đối với bà, mau lẹ hôn má bà, nói nhỏ vào tai bà để hỏi tên, v.v. Từ đó bà quyết định tránh mọi cuộc họp hoặc những nơi có thể gặp lại Đức Hồng Y Québec.
Khi bà F. dám nói về sự khó chịu đã cảm thấy khi đứng trước Đức Hồng Y, thì bà được trả lời là Đức Hồng Y rất nồng nhiệt. Hơn nữa, bà không phải là phụ nữ duy nhất gặp vấn đề như vậy với Đức Hồng Y, như bà kể trong đơn kiện.
Đức Hồng Y được bổ nhiệm làm Tổng trưởng Bộ Giám Mục ở Roma năm 2010. 10 năm sau, bà F. tham dự một khóa huấn luyện về những vụ lạm dụng tính dục. Chính khi ấy “bà nhận ra mình đã bị Đức Hồng Y Ouellet gây hấn tình dục và một Linh Mục khác trong tổng giáo phận Québec cũng đã làm như vậy đối với bà”.
Bà F. cho biết đã viết thư cho Đức Giáo Hoàng để cáo về vụ này, nhưng không nhận được thư trả lời nào từ Vatican.
Các phản ứng
Ngày 16/8 năm nay, báo chí thế giới đặc biệt đưa tin về Đức Hồng Y Ouellet. Hai ngày sau, 18/8, Giám đốc Phòng báo chí Tòa Thánh, ông Matteo Bruni, cho biết không có đủ những yếu tố để mở cuộc điều tra theo giáo luật về Đức Hồng Y Marc Ouellet.
Ông nói: “Sau cuộc điều tra sơ khởi được Đức Thánh Cha ủy thác cho cha Jacques Servais, dòng Tên, thực hiện, có kết luận là không có những yếu tố để khởi sự một cuộc xét xử đối với Đức Hồng Y Ouellet về tội gây hấn tình dục.”
Sau khi tái tham khảo ý kiến của cha Servais và nhận được lời khẳng định rằng “không có lý do có căn cứ để mở một cuộc điều tra về tội gây hấn tình dục, cả trong chứng từ qua video mà tôi đã thu thập sau đó, trước sự hiện diện của một thành viên Ủy ban giáo phận về vụ này, đương sự không đưa ra một lời cáo buộc có thể cung cấp chất liệu cho một cuộc điều tra như thế”. Sau khi mở những cuộc tham khảo về vấn đề này, Đức Thánh Cha tuyên bố rằng không có đủ yếu tố để mở cuộc điều tra theo giáo luật về tội gây hấn tình dục từ phía Đức Hồng Y Ouellet đối với người tên là F.”
Trong thông cáo ngắn công bố ngày 19/8 sau đó, Đức Hồng Y Ouellet nói: “Sau khi hay tin những lời cáo gian chống lại tôi do một phụ nữ vu khống (F), tôi quyết liệt phủ nhận: tôi không hề làm những cử chỉ không thích hợp trên đương sự và tôi coi là vu khống mạ lỵ bằng sự diễn giải cũng như việc phổ biến những lời cáo buộc về những hành động tấn công tình dục. Nếu một cuộc điều tra dân sự được mở ra, thì tôi có ý định tích cực tham dự để sự thật được minh tỏ và sự vô tội của tôi được nhìn nhận”.
Luật sư của Đức Hồng Y Ouellet
Các luật sư của Đức Hồng Y Ouellet, thuộc Văn phòng LCM ở Montreal, giải thích rằng “những từ dùng trong vụ kiện quan trọng và việc sử dụng chúng phải tỏ ra khôn ngoan thận trọng và nhất là chính những từ ấy hàm chứa điều xấu xa”.
Theo các luật sư, những cử chỉ là bà F. trách cứ Đức Hồng Y – những cử chỉ mà ngài quyết liệt phủ nhận nhiều lần – không thể được coi là “những sờ mó có tính chất tình dục” hoặc “tấn công tình dục”. Thật là điều sai khi trình bày những cáo buộc chống Đức Hồng Y với những cáo buộc bao hàm những hành vi nghiêm trọng đối với các trẻ vị thành niên”. Các luật sư còn đi xa hơn và đặt câu hỏi “tại sao chuyện bà F. phải chịu lại được đặt chung với những hành vi ấu dâm khác? Hành động này chỉ có thể là kéo vào trong hồ sơ này một chức sắc cao cấp… Việc liên kết Đức Hồng Y với những kẻ có lẽ đã phạm những hành động thuộc loại như thế chứng tỏ một sự cẩu thả. Người dân thường sẽ cảm thấy rằng mọi lời cáo buộc chống các giáo sĩ được nêu danh trong vụ kiện đều cùng một loại với nhau”.
Các luật sư nói rằng “Đối với một thành phần của hàng giáo sĩ, một cáo buộc gây hấn hoặc hành động sai trái về tính dục là vết nhơ tệ nhất người ta có thể thấy trong hồ sơ của người ấy. Trong vụ này thanh danh của Đức Hồng Y trên trường quốc tế bị thương tổn nặng nề vì những lời cáo gian ấy”. Ngoài ra, từ khi bị nêu danh trong vụ kiện tập thể này, Đức Hồng Y “sống trong một sự lo âu tâm lý nặng nề… Vì sự thiệt hại quan trọng như thế tới thanh danh, một số tiền 100 ngàn đôla được yêu cầu như tiền bồi thường. Nếu Đức Hồng Y thắng kiện, số tiền này sẽ được dành cho cuộc chiến chống nạn lạm dụng tính dục mà các thổ dân Canada đã chịu.
- Trần Đức Anh, O.P
2022
Vì sao Hội Thánh mừng Chúa Giáng Sinh vào 25 tháng 12 mà không phải vào một ngày khác?
Vì sao Hội Thánh mừng Chúa Giáng Sinh vào 25 tháng 12 mà không phải vào một ngày khác?
Có một giả thuyết phổ biến là Hội Thánh kế thừa ngày 25 tháng 12 từ ngày lễ ngoại giáo của người La Mã, như lễ hội Saturnalia cho thần nông hay lễ hội Sol Invictus cho thần mặt trời. Nhưng hoàn toàn không có một tài liệu nào từ những thế kỷ đầu cho thấy Hội Thánh tiếp nhận những lễ hội này.
Việc gán ghép những thực hành của Công giáo với các nghi lễ ngoại giáo chỉ mới phổ biến vào thế kỷ 18. Chẳng hạn giả thuyết người Công giáo tiếp thu lễ thần mặt trời là do một mục sư tên Paul Ernest Jablonski (mất 1757) đề xuất.
Các giả thuyết trên không phù hợp với lịch sử. Lễ hội Saturnalia là vào 17 tháng 12, và dần về sau thì kéo dài đến 23 tháng 12 – cho nên ngày 25 tháng 12 không liên quan gì cả.
Người ta cũng nói là hoàng đế Aurelian (214-275) thiết lập lễ “Ngày sinh của thần mặt trời” vào ngày 25 tháng 12, và Hội Thánh du nhập lễ này vào. Nhưng không có minh chứng rõ ràng cho việc hoàng đế Aurelian đích thân thiết lập lễ này. Tài liệu đầu tiên đề cập đến việc một vị thần được tôn vinh vào ngày 25 tháng 12 là một cuốn lịch năm 354 (Chronography of 354) do ký lục Filocalus soạn thảo.
Chưa kể tài liệu sớm nhất cho việc các Kitô hữu mừng Chúa Giáng Sinh vào 25 tháng 12 còn xuất hiện trước khi hoàng đế Aurelian ra đời.
––––––––––
Hồng y Ratzinger trong cuốn Tinh thần Phụng vụ đã viết rằng: “Thật đáng ngạc nhiên là việc tính toán ngày Chúa Giáng Sinh bắt đầu từ ngày 25 tháng 3”. Tức là các Kitô hữu ngày xưa chọn ngày 25 tháng 3 làm điểm mốc để tính toán, chứ không ấn định thẳng ngày 25 tháng 12.
Ngày 25 tháng 3 có gì? Giáo phụ Tertullian viết vào năm 197, “Chúa tử nạn trên thập giá vào tháng 3 trong Lễ Vượt Qua, 8 ngày trước khi vào tháng 4”. Tức là theo truyền thống và cách tính từ ngày Lễ Vượt Qua, Tertullian cho rằng Chúa tử nạn vào ngày 25 tháng 3. Thánh Hippolytus cũng viết vào năm 204 rằng:
“Khi Chúa chúng ta đến trong xác thịt, Ngài sinh tại Bêlem vào thứ tư ngày 25 tháng 12, khi mà Augustus đang trị vì năm thứ 42, nhưng là 5500 năm kể từ thời Adam. Ngài chịu tử nạn năm 33 tuổi, vào thứ sáu ngày 25 tháng 3, khi mà Tiberius trị vì năm thứ 18.” (Commentary on Daniel)
Kitô hữu thời xưa tin rằng Đức Kitô được thụ thai và qua đời vào cùng một ngày, nên cộng thêm 9 tháng cưu mang thì sẽ được ngày 25 tháng 12. Thế nhưng tư tưởng này đến từ đâu? Nhiều học giả cho rằng đây bắt nguồn từ ý niệm của người Do Thái về các ngôn sứ, nhưng cũng có một cách lý giải thần học hơn. Chúng ta có dữ kiện từ thánh Augustinô:
“Vì Chúa Giêsu được xem là thụ thai vào ngày 25 tháng 3, và đây cũng là ngày Ngài chịu tử nạn. Vì nơi cung lòng Đức Trinh Nữ mà Ngài thụ thai – nơi mà trước đó không có người phàm nào được sinh ra, thì tương ứng với ngôi mộ Ngài được chôn cất, nơi mà chưa có ai được an táng từ trước tới nay. Theo truyền thống, Ngài được sinh vào ngày 25 tháng 12.” (On the Trinity)
Ở đây thánh Augustinô nhấn một điểm sáng vào chi tiết ngôi mộ Chúa mà chúng ta thường bỏ qua. Ba cuốn Tin Mừng chỉ ra rằng ngôi mộ Chúa là ngôi mộ mới:
Mátthêu viết, “Khi đã nhận thi hài, ông Giô-xếp lấy tấm vải gai sạch mà liệm, và đặt vào ngôi mộ mới, đã đục sẵn trong núi đá, dành cho ông.” (Mt 27, 60)
Luca viết, “Ông hạ xác Người xuống, lấy tấm vải gai mà liệm, rồi đặt Người vào ngôi mộ đục sẵn trong núi đá, nơi chưa chôn cất ai bao giờ.” (Lc 23, 53)
Đặc biệt hơn là tuy Tin Mừng Gioan vốn viết rất khác các cuốn Nhất Lãm, nhưng cũng đề cập, “Nơi Đức Giê-su bị đóng đinh có một thửa vườn, và trong vườn, có một ngôi mộ còn mới, chưa chôn cất ai.” (Ga 19, 41)
Tại sao các thánh sử lại chú ý đến chi tiết này? Bởi vì họ muốn cho thấy ngôi mộ này là “thánh” (hagios), được biệt riêng ra cho Chúa. Đây cũng là cách các Kitô hữu hiểu về Đức Mẹ: xác thịt và linh hồn Mẹ cũng được biệt riêng cho Chúa.
Như tiên tri Ezekiel đã viết, “Cổng này sẽ đóng; người ta sẽ không mở và không ai được vào, qua cổng này, vì Đức Chúa, Thiên Chúa Ít-ra-en, đã tiến vào qua cổng ấy. Vì thế cổng này đóng.” (Ed 44, 2). Các Kitô hữu thời đầu, chẳng hạn như chính thánh Augustinô, cũng cho rằng đây là lời tiên báo rõ ràng về sự đồng trinh của Mẹ.
Nếu chúng ta không đọc và “nhai” Sách Thánh như cách các tín hữu ngày xưa đã làm, thì chúng ta sẽ nghĩ rằng việc Hội Thánh mừng Chúa Giáng Sinh vào 25 tháng 12 là việc ngẫu hứng, hoặc có khi bị sa vào những giả thuyết không rõ ràng mới xuất hiện vào thời hiện đại.
––––––––––
Trang để đọc:
Joe Heschmeyer, “What’s So Important About December 25?”
Steven Hijmans, “Sol Invictus, the Winter Solstice, and the Origins of Christmas”
Joseph Ratzinger, Spirit of Liturgy
Khánh Nguyễn
2022
THƯ GỬI SINH VIÊN, HỌC SINH CÔNG GIÁO NHÂN DỊP MỪNG LỄ CHÚA GIÁNG SINH 2022
ỦY BAN GIÁO DỤC CÔNG GIÁO
trực thuộc
Hội Đồng Giám Mục Việt Nam
THƯ GỬI SINH VIÊN, HỌC SINH CÔNG GIÁO
NHÂN DỊP MỪNG LỄ CHÚA GIÁNG SINH 2022
Các con thân mến,
Chúng ta đang đi trên những chặng đường cuối của hành trình Mùa Vọng, một khoảng thời gian được nhấn mạnh bằng hai ý nghĩa chính yếu: chuẩn bị mừng đại lễ Chúa Giáng Sinh và hướng về ngày Chúa quang lâm. Chúng ta mừng lễ Chúa Giáng Sinh không chỉ đơn thuần là một lễ hội của đức tin, với những trang hoàng rực rỡ và công phu, nhưng trên hết, vì đó là một biến cố rất quan trọng cho và trong niềm tin của mình, qua lời suy tư của Thánh Phaolô tông đồ: “Khi thời gian tới hồi viên mãn, Thiên Chúa đã sai Con mình tới, sinh làm con một người đàn bà, và sống dưới Lề Luật, để chuộc những ai sống dưới Lề Luật, hầu chúng ta nhận được ơn làm nghĩa tử” (Gal 4, 4-5). Chúa đến mở ra một trang sử mới của đức tin, ban cho chúng ta một ơn trọng đại, đó là được làm con Chúa. Giờ đây, trong không khí rộn ràng của những ngày cận kề mừng Chúa Giáng Sinh, cùng với lời chào của mình, cha muốn chia sẻ với các con một vài điều về Mầu Nhiệm rất đặc biệt này.
- Giáng sinh trong sự nghèo khó.
Sau thời gian lắng xuống của dịch bệnh, Lễ Giáng Sinh năm nay, tại nhiều nơi như cha đang nhìn thấy qua truyền thông xã hội, có thể được trang hoàng quy mô và sinh động hơn, nhưng chắc chắn rằng, những trang trí phong phú đầy sáng kiến ấy sẽ không làm mất đi nét đặc trưng của mầu nhiệm Giáng Sinh, được các Thiên Thần báo tin cho các mục đồng, đó là sự nghèo nàn của Con Thiên Chúa làm người: “Anh em cứ dấu này mà nhận ra Người: anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ” (Lc 2, 12). Con Thiên Chúa đã chọn một Bêlem bé nhỏ, chọn một gia đình nghèo nàn, chọn một đêm khuya lạnh lẽo, chọn một cánh đồng hoang vắng, chọn một hang đá đơn sơ, chọn một thời điểm khó khăn để được sinh ra. Và như thế, chắc chắn rằng, việc Thiên Chúa giáng sinh làm người sẽ mãi là một điều kỳ diệu cho tất cả nhân loại. Tại sao lại có những nghịch lý đến ngỡ ngàng như vậy trong mầu nhiệm này? Tại sao Đấng mà Thánh Gioan mô tả là đã có từ lúc khởi đầu, nhờ Người mà muôn vật được tạo thành (x. Ga 1, 1-3), lại xuất hiện trong một khung cảnh im lìm và đơn giản như thế? Dường như không có bất kỳ một câu trả lời nào cho thỏa đáng, nếu chúng ta bỏ qua lời của Thánh Phaolô tông đồ khi nói về Thiên Chúa của mình: “Người vốn giàu sang phú quý, nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em, để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em trở nên giàu có” (2 Cr 8, 9). Thật vậy, với sự kiện Adam và Eva trong vườn Địa Đàng, con người đã đánh mất tất cả những điều tốt đẹp mà Thiên Chúa đã ban tặng lúc ban đầu, nghèo nàn và xa cách trong ân sủng với Thiên Chúa của mình. Dầu vậy, Thiên Chúa nhân từ vẫn luôn trung thành với ý định ban đầu, là dựng nên con người để chia sẻ vinh quang và hạnh phúc với Người, nên giờ đây, khi thời gian đã đến, trong mầu nhiệm Giáng Sinh, Thiên Chúa hạ mình xuống để trở thành con người và thậm chí cho phép con người sinh ra mình, để sống, chịu đau khổ và chết cho con người, trả lại sự giàu có thiêng liêng cao quý mà Thánh Gioan không ngần ngại gọi chúng ta là những kẻ thừa tự gia nghiệp đời đời (x. Ga 4, 7).
- Giáng sinh kêu gọi sống Đức Ái
Trong bài giảng Lễ Đêm Giáng Sinh năm 2021, Đức Thánh Cha Phanxicô kêu gọi mọi người hãy vượt qua những ánh đèn, đừng chú ý đến những món đồ trang trí, nhưng hãy tập trung vào điều chính yếu của mầu nhiệm Giáng Sinh: đó là một trẻ thơ được sinh ra trong cảnh khó nghèo cùng cực nơi máng cỏ. Từ tâm điểm này, người kêu gọi: hãy yêu mến Chúa Giêsu nơi những người rốt hết, hãy phục vụ Người nơi những người nghèo khó. Họ chính là những người giống Hài Nhi Giêsu nhất, Đấng đã sinh ra trong khó nghèo vì và cho chúng ta. Bởi đó, khi đứng trước máng cỏ Chúa Hài Đồng năm nay, cha muốn cùng với chúng con nhìn lại sự kiện liên quan để học lấy bài học của Đức Ái cho cuộc đời của mình.
– “Hôm nay, Ðấng Cứu Thế đã giáng sinh cho chúng ta” (x. Lc 2, 11). Đó là lời loan báo của sứ thần Thiên Chúa cho tất cả mọi người. Chúa giáng sinh không phải để cho Chúa, nhưng là để cho chúng ta và vì chúng ta. Chúng ta học lấy bài học của Đức Ái nơi hài nhi bé nhỏ này, để từ nay không sống cho riêng mình nữa, đừng lấy mình làm trung tâm, nhưng là sống cho gia đình, cho Giáo hội và cho bạn bè mình.
– “Nào chúng ta sang Bê-lem…” (x. Lc 2, 15). Những bước chân này đã bỏ lại sau lưng những gì là đối lập, là bất đồng, để nhường chỗ cho niềm vui và hiệp nhất. Chúng ta cùng học lấy bài học của Đức Ái nơi những bước chân của các mục đồng, tạo mọi điều kiện cho tình hiệp nhất được triển nở. Hiệp nhất được lớn lên, chia rẽ nhất định sẽ nhỏ lại, hiệp nhất được kiến tạo, yêu thương chắc chắn sẽ lan tỏa. Thánh Gioan nói với chúng ta rằng: đó cũng chính là dấu hiệu để mọi người nhận ra chúng ta là con cái Thiên Chúa (x. Ga 13, 34-35).
- Chúa Giêsu tấm gương Đức Ái.
Mầu nhiệm Giáng Sinh đã khởi đầu cho một hành trình sống Đức Ái tuyệt hảo của Chúa Giêsu. Thật vậy, trong sứ vụ trần thế của mình, Chúa Giêsu luôn luôn làm điều thiện: giảng dạy phúc âm, chữa lành bệnh tật, bày tỏ lòng trắc ẩn đối với người nghèo khó, người đau khổ và những người khốn quẫn tuyệt vọng. Sách Tông đồ Công vụ nói thêm rằng: “Đi tới đâu là Người thi ân giáng phúc tới đó, và chữa lành mọi kẻ bị ma quỷ kiềm chế, bởi vì Thiên Chúa ở với Người” (Cv 10, 38b). Sau cùng, một biểu hiện cao nhất của Đức Ái, đó là cái chết chuộc tội vô giá của Người trên thập giá. Cái chết ấy đã chứng minh rằng: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15, 13). Đến trần thế vì yêu thương, vác lấy thập giá bởi yêu thương, Đấng Cứu Thế muốn mọi người chia sẻ tình yêu thương này với những người khác, khi tuyên bố với các môn đồ: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau” (Ga 13, 34-35). Là môn đệ của Chúa, qua Bí tích Rửa tội và Thêm sức, trong các mối tương quan hàng ngày, các con hãy sống yêu thương như chính Chúa Giêsu đã sống và đã dạy. Theo gương Người, mỗi người các con hãy là một người Samaritanô nhân hậu cho bạn bè, cho bất kỳ một ai mà các con gặp gỡ trong cuộc sống của mình. Điều đó không những giúp các con tìm được hạnh phúc ở đời này, mà còn là một bảo đảm cho phần rỗi đời của chúng ta ở đời sau vĩnh cửu.
Các con thân mến,
Đức Ái không bao giờ lỗi thời trong cuộc đời này, lại càng không thể thiếu vắng trong đời sống đức tin của chúng ta. Thánh Phaolô luôn nhắc nhở rằng: “Nếu tôi có làm được tất cả mọi sự, nói được mọi ngôn ngữ, biết hết mọi điều bí ẩn, bố thí cả gia tài, mà không có đức ái, thì tôi cũng chẳng có gì…” (x. 1 Cr 13, 1-3). Ước mong rằng: trong những ngày đại lễ sắp tới, mỗi khi đứng trước máng cỏ Chúa Hài Đồng, chúng ta được khơi lại và thúc đẩy việc sống đức ái nơi cuộc sống hàng ngày của mình. Các con đừng sợ bất kỳ một điều gì khi thực thi đức ái với mọi người, vì không có một việc tốt nào phát xuất từ lòng yêu mến, lại mang theo hay để lại một hệ quả xấu cho chúng ta cả. Ước mong đó, cha coi như một tấm thiệp chúc mừng Giáng Sinh và Năm Mới dương lịch gửi đến các con, cho tất cả các bạn học sinh, sinh viên Công giáo trên khắp mọi miền đất nước. Nguyện xin Thiên Chúa Tình Yêu ban tràn đầy đức ái trên các con. Xin Người ban cho các con và toàn thể gia quyến của các con mọi điều an lành và hạnh phúc.
Vĩnh Long, ngày 20 tháng 12 năm 2022.
+ Phêrô Huỳnh Văn Hai
Giám mục Giáo Phận Vĩnh Long
Chủ tịch Ủy Ban Giáo Dục Công Giáo
2022
Diễn từ của Đức Thánh Cha dành cho Liên hiệp các Bề trên Tổng quyền dòng nam
DIỄN TỪ CỦA ĐỨC THÁNH CHA
DÀNH CHO LIÊN HIỆP CÁC BỀ TRÊN TỔNG QUYỀN DÒNG NAM
Sáng ngày 26. 11. 2022, Đức Thánh Cha Phanxicô đã tiếp khoảng 150 tham dự viên Đại hội lần thứ 98 của Liên hiệp các Bề trên Tổng quyền dòng nam (Union of Superiors General – USG) được tổ chức tại Roma từ ngày 23 tới 26. 11. 2022.
Với chủ đề “Fratelli tutti: Được kêu gọi trở thành những người kiến tạo hòa bình”, Đại hội tập trung vào (1) cam kết của Giáo hội đối với việc thúc đẩy hòa bình trên thế giới; (2) thông qua các chương trình đào tạo dành cho những người nam nữ thánh hiến; và (3) cam kết chung của USG và UISG (Liên hiệp Quốc tế các Bề trên Tổng quyền dòng nữ- International Union Superiors General) đối với hòa bình, công lý và sự toàn vẹn của thụ tạo.
Sau đây là nội dung bài Diễn từ của Đức Thánh Cha:
Anh em thân mến, xin chào anh em!
Tôi vui mừng chào đón tất cả anh em, các thành viên của Liên hiệp các Bề trên Tổng quyền, cùng với Đức Tổng Giám mục Thư ký Thánh Bộ Đời sống Thánh hiến và Tu đoàn Tông đồ. Tôi cảm ơn cha Arturo Sosa vì những lời tốt đẹp của cha.
Trong Đại hội, dựa trên Thông điệp Fratelli Tutti, anh em đã đề cập đến chủ đề, “Được kêu gọi trở thành những người kiến tạo hòa bình”. Đây là một lời kêu gọi cấp thiết liên quan đến mọi người, nhất là những người thánh hiến: Hãy trở thành những người kiến tạo hòa bình, sự hòa bình mà Đức Chúa đã trao ban và làm cho chúng ta trở thành anh chị em của nhau: “Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không như thế gian ban tặng” (Ga 14, 27).
Bình an mà Chúa Giêsu ban tặng cho chúng ta là bình an nào, và bình an đó khác với bình an của thế gian như thế nào? Trong thời đại này, nghe đến từ “Hoà bình” chúng ta nghĩ ngay đến một tình trạng không có chiến tranh hoặc kết thúc chiến tranh, một trạng thái yên bình và hạnh phúc. Điều này, như chúng ta biết, không hoàn toàn tương ứng với ý nghĩa của từ shalom trong tiếng Do Thái, mà trong bối cảnh Kinh thánh vốn có ý nghĩa phong phú hơn nhiều.
Bình an của Chúa Giêsu trên hết là hồng ân của Người, là hoa trái của đức ái. Bình an ấy không bao giờ là sự thành tựu của con người; và từ hồng ân này, đó là tổng thể hài hòa của các mối tương quan với Thiên Chúa, với chính mình, với người khác và với thụ tạo. Bình an còn là kinh nghiệm về lòng thương xót, tha thứ và nhân từ của Thiên Chúa, giúp chúng ta có khả năng thực thi lòng thương xót, tha thứ, khước từ mọi hình thức bạo lực và áp bức. Đây là lý do tại sao hồng ân bình an của Thiên Chúa không thể tách rời khỏi việc trở thành những người xây dựng và chứng nhân cho hòa bình. Như Thông điệp Fratelli Tutti đã nói, “những người kiến tạo hòa bình đầy khôn ngoan và táo bạo, sẵn sàng thực hiện các tiến trình chữa lành và tìm gặp lại nhau” (số 225).
Như Thánh Phaolô nhắc nhở chúng ta, Chúa Giêsu đã phá bỏ bức tường ngăn cách là sự thù hận giữa con người với nhau, và giao hòa họ với Thiên Chúa (x. Eph 2, 14-16). Sự hòa giải này xác định những cách thức để trở thành “những người kiến tạo hòa bình” (Mt 5, 9) bởi vì, như chúng ta đã đề cập trên đây, hòa bình không chỉ đơn thuần là không có chiến tranh, cũng không phải là sự cân bằng giữa các lực lượng đối lập (x. Hiến chế Gaudium et Spes, 78). Trái lại, hòa bình dựa trên việc thừa nhận phẩm giá của con người, và đòi hỏi một trật tự mà trong đó công lý, lòng thương xót và sự thật đều hoạt động không thể tách rời (x. Fratelli Tutti, 227).
Do đó, “kiến tạo hòa bình” là một công trình thủ công, được thực hiện với niềm đam mê, sự kiên nhẫn, kinh nghiệm, bền bỉ, vì đó là một tiến trình kéo dài theo thời gian (x. sđd. 226). Hòa bình không phải là một sản phẩm công nghiệp mà là một tác phẩm thủ công. Hòa bình không được chế tạo một cách máy móc mà cần có sự lao tác khôn ngoan của con người. Hòa bình không được sản xuất hàng loạt chỉ với sự phát triển của công nghệ mà đòi hỏi sự phát triển của con người. Đây là lý do tại sao tiến trình hòa bình không thể được ủy thác cho các nhà ngoại giao hoặc quân đội: Hòa bình là trách nhiệm của mỗi người và tất cả mọi người.
“Phúc thay ai xây dựng hoà bình” (Mt 5, 9). Phúc cho chúng ta, những người được thánh hiến, nếu chúng ta dấn thân gieo rắc hòa bình bằng những hành động hàng ngày qua những thái độ và cử chỉ phục vụ, tình huynh đệ, đối thoại, và lòng thương xót; và nếu trong lời cầu nguyện, chúng ta không ngừng khẩn cầu Chúa Giêsu Kitô, Đấng là “bình an của chúng ta”, (Eph 2, 14) ban cho chúng ta hồng ân bình an. Nhờ đó, đời sống thánh hiến có thể trở thành một lời tiên báo về hồng ân này, nếu những người thánh hiến học cách trở thành những nghệ nhân của hoà bình, bắt đầu từ chính cộng đoàn của mình, xây dựng những nhịp cầu chứ không phải những bức tường bên trong và bên ngoài cộng đoàn. Khi mọi người đều đóng góp bằng việc chu toàn bổn phận của mình trong đức ái, thì ắt sẽ có hòa bình trong cộng đoàn. Thế giới cần chúng ta, những người nam nữ thánh hiến, và cũng là những nghệ nhân của hòa bình!
Thưa anh em, khi suy tư về hòa bình cũng dẫn tôi đến việc xem xét một khía cạnh đặc trưng khác của đời sống thánh hiến đó là Tính Hiệp hành, mà tiến trình hiệp hành này, tất cả chúng ta được mời gọi tham gia như là thành viên của Dân thánh Chúa. Hơn nữa, như là những người thánh hiến, chúng ta được mời gọi cách cụ thể để tham gia tiến trình này, vì đời sống thánh hiến tự bản chất là hiệp hành. Đời sống thánh hiến cũng bao hàm nhiều cơ cấu có thể thúc đẩy tính hiệp hành: tôi đang nghĩ đến các tu nghị – tổng hội, tỉnh hội, hoặc hội đồng miền, và địa phương– các cuộc kinh lý và viếng thăm huynh đệ, các hội nghị, ủy ban và các cơ cấu khác dành riêng cho mỗi Hội dòng.
Tôi biết ơn những người đã và đang cống hiến cho hành trình này dù ở nhiều cấp độ, và lĩnh vực tham gia khác nhau. Xin cảm ơn anh em đã làm cho tiếng nói của anh em được lắng nghe với tư cách là những người thánh hiến. Nhưng, như chúng ta biết rõ, có các cơ cấu hiệp hành thì vẫn chưa đủ. Chúng ta còn cần phải “xem xét lại”, đó là trước hết hãy tự vấn: những cơ cấu này được chuẩn bị và áp dụng như thế nào?
Trong bối cảnh này, cũng cần phải xem xét lại, và có lẽ cũng cần phải sửa đổi lại cung cách thực thi quyền bính. Thật vậy, cần phải cảnh giác trước nguy cơ việc thực thi quyền bính có thể suy thoái thành những hình thức độc đoán, đôi khi chuyên quyền, với những lạm dụng lương tâm hoặc thiêng liêng, vốn cũng là cơ sở thuận lợi cho lạm dụng tình dục, bởi vì con người và các quyền của họ không còn được tôn trọng. Ngoài ra, vẫn có nguy cơ là quyền bính được thực thi như một đặc quyền, dành cho những người nắm giữ nó hoặc cho những người ủng hộ nó, do đó, cũng là một hình thức đồng lõa giữa các bên, để mỗi bên có thể làm theo ý mình, và vì thế, thúc đẩy một cách nghịch lý một loại tình trạng hỗn loạn, gây ra rất nhiều thiệt hại cho cộng đoàn.
Tôi mong rằng tính phục vụ của quyền bính sẽ luôn được thực thi theo cách thế hiệp hành, tôn trọng quyền bính hợp pháp và các trung gian mà quyền bính cung cấp, để tránh chủ nghĩa độc đoán, đặc quyền, và thái độ “muốn ra sao thì ra”; nuôi dưỡng bầu khí lắng nghe, tôn trọng lẫn nhau, đối thoại, tham gia và chia sẻ. Với chứng tá của mình, những người thánh hiến có thể cống hiến rất nhiều cho Giáo hội trong tiến trình hiệp hành mà chúng ta đang trải qua. Miễn là anh em là người đầu tiên trải nghiệm điều đó: bước đi cùng nhau, lắng nghe nhau, đánh giá cao những ân sủng khác nhau, và trở thành những cộng đoàn chào đón.
Từ quan điểm này, các lộ trình đánh giá năng lực và sự phù hợp cũng là một phần của tiến trình hiệp hành, nhờ đó việc đổi mới thế hệ lãnh đạo của các Hội dòng có thể diễn ra theo cách tốt nhất. Không có sự ứng biến. Thật vậy, để hiểu được những vấn đề hiện tại, thường là những vấn đề mới và phức tạp, đòi phải được đào tạo đầy đủ, nếu không, người ta sẽ chẳng biết phải đi đâu và đành “tới đâu thì tới”. Ngoài ra, việc tổ chức lại hoặc tái cơ cấu một Hội dòng phải luôn được thực hiện nhằm bảo vệ sự hiệp thông, để không biến mọi thứ thành sự hiệp nhất của các giới hạn, điều mà sau đó có thể gây khó khăn cho việc điều hành hoặc gây ra xung đột. Về vấn đề này, điều quan trọng là các Bề trên phải cẩn thận để tránh việc một số người quá bận rộn, bởi vì điều này không chỉ gây hại cho đương sự, mà còn tạo ra căng thẳng trong cộng đoàn.
Anh em thân mến, xin cảm ơn anh em vì cuộc gặp gỡ này! Tôi cầu chúc anh em tiếp tục sứ mạng phục vụ của mình một cách thanh thản và hiệu quả, và trở thành những nghệ nhân của hòa bình. Xin Đức Mẹ đồng hành với anh em. Tôi ưu ái ban phép lành cho anh em, xin anh em cũng cầu nguyện cho tôi.
Nt. Anna Ngọc Diệp, OP
Dòng Đa Minh Thánh Tâm
