2023
Thứ ba tuần II thường niên
Thứ ba tuần II thường niên
Ca nhập lễ
Lạy Chúa, toàn thể địa cầu thờ lạy và ca khen Chúa, lạy Đấng Tối Cao toàn thể Đất Nước ca khen thánh danh của Ngài.
Lời nguyện nhập lễ
Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, Chúa điều khiển hết mọi loài trên trời dưới đất; xin dủ thương chấp nhận lời dân Chúa khẩn cầu và ban cho thời đại chúng con được bình an. Chúng con cầu xin…
Bài Ðọc I: Dt 6, 10-20
“Chúng ta có một niềm tin đặt trước mặt như chiếc neo chắc chắn và bền vững”.
Trích thư gửi tín hữu Do-thái.
Anh em thân mến, Thiên Chúa không bất công đến nỗi quên công trình của anh em và lòng bác ái anh em đã tỏ ra vì danh Người, anh em là những người đã phục vụ và hiện đang phục vụ các thánh. Chúng tôi mong ước mỗi người anh em thi thố cũng một lòng hăng hái đó để giữ vững niềm hy vọng đến cùng, ngõ hầu anh em không trễ nải, nhưng sẽ noi gương những kẻ nhờ tin tưởng và kiên nhẫn mà hưởng thụ các điều đã hứa.
Quả thật, khi Thiên Chúa hứa cùng Abraham, Người không dựa vào ai lớn hơn mà thề, nhưng dựa vào chính Mình mà thề rằng: “Ta sẽ chúc phúc cho ngươi và sẽ cho ngươi sinh sản ra nhiều”. Do đó, Abraham kiên nhẫn chờ đợi, nên được hưởng lời hứa. Vì chưng, loài người dựa vào kẻ lớn hơn mình mà thề, và lời thề được coi như bảo chứng chấm dứt mọi tranh tụng. Cũng vậy, vì Thiên Chúa muốn minh chứng cho những kẻ hưởng thụ lời hứa ý định bất di bất dịch của Người, nên đã làm lời thề, để nhờ hai điều bất di bất dịch mà Thiên Chúa không thể sai lời, thì chúng ta là những người tìm ẩn náu nơi niềm hy vọng đã ban cho chúng ta, chúng ta có một nguồn yên ủi chắc chắn. Trong niềm hy vọng đó, linh hồn chúng ta có một chiếc neo chắc chắn và bền vững, cắm vào tận bên trong bức màn, nơi Ðức Giêsu đã vào như vị tiền phong của chúng ta, Người được phong làm Thượng tế đến muôn đời theo phẩm hàm Menkixêđê.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 110, 1-2. 4-5. 9 và 10c
Ðáp: Cho tới muôn đời Chúa vẫn nhớ lời minh ước (c. 5b).
Hoặc đọc: Alleluia.
Xướng: Tôi sẽ ca tụng Chúa hết lòng, trong nhóm hiền nhân và trong Công hội. Vĩ đại thay công cuộc của Chúa tôi, thực đáng cho những người mến yêu quan tâm học hỏi.
Xướng: Chúa đã làm những điều lạ lùng đáng nhớ, Người thật là Ðấng nhân hậu từ bi. Chúa đã ban lương thực cho những ai tôn sợ Người, cho tới muôn đời Người vẫn nhớ lời minh ước.
Xướng: Chúa đã gởi tặng ơn giải phóng cho dân Người, đã thiết lập lời minh ước tới muôn đời, danh Người thực là thánh thiện và khả uý. Lời khen ngợi Chúa còn tồn tại đến muôn đời.
Alleluia: Ga 8, 12
Alleluia, alleluia! – Chúa phán: “Ta là sự sáng thế gian, ai theo Ta sẽ được ánh sáng ban sự sống”. – Alleluia.
Phúc Âm: Mc 2, 23-28
“Ngày Sabbat làm ra vì loài người, chứ không phải loài người vì ngày Sabbat”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.
Vào một ngày Sabbat, Chúa Giêsu đi qua đồng lúa, môn đệ Người vừa đi vừa bứt lúa. Tức thì những người biệt phái thưa Người rằng: “Kìa Thầy xem. Tại sao ngày Sabbat người ta làm điều không được phép như vậy?” Người trả lời rằng: “Các ông chưa bao giờ đọc thấy điều mà Ðavít đã làm khi ngài và các cận vệ phải túng cực và bị đói ư? Người đã vào nhà Chúa thời thượng tế Abiata thế nào, và đã ăn bánh dâng trên bàn thờ mà chỉ mình thượng tế được ăn, và đã cho cả các cận vệ cùng ăn thế nào?” Và Người bảo họ rằng: “Ngày Sabbat làm ra vì loài người, chứ không phải loài người vì ngày Sabbat; cho nên Con Người cũng làm chủ cả ngày Sabbat”.
Ðó là lời Chúa.
Lời nguyện tiến lễ
Lạy Chúa, xin thương giúp cộng đoàn tín hữu chúng con cử hành thánh lễ này cho xứng đáng. Vì mỗi khi chúng con dâng lễ tưởng niệm cuộc khổ hình của Ðức Kitô là chúng con được hưởng ơn cứu chuộc của Người. Người hằng sống và hiển trị muôn đời.
Lời Tiền Tụng
Lạy Chúa là Cha chí thánh, là Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, chúng con tạ ơn Chúa mọi nơi mọi lúc, nhờ Ðức Ki-tô, Chúa chúng con, thật là chính đáng, phải đạo và đem lại ơn cứu độ cho chúng con.
Nhờ mầu nhiệm Vượt Qua, Người đã thực hiện một công trình kỳ diệu này/ là kêu gọi chúng con bỏ đàng tội lỗi, thoát ách sự chết, tới ánh vinh quang. Nhờ đó, giờ đây chúng con được gọi là giống nòi được tuyển chọn, hàng tư tế vương giả, chủng tộc thánh thiện, dân riêng của Chúa, để chúng con loan truyền khắp nơi quyền năng Chúa là Ðấng đã kêu gọi chúng con từ chốn tối tăm tới nơi sáng láng diệu kỳ của Chúa.
Vì thế, cùng với Thiên thần và tổng lãnh Thiên Thần, các Bệ Thần và Quản Thần, cùng toàn thể đạo Binh Thiên Quốc, chúng con không ngừng hát bài ca chúc tụng vinh quang Chúa rằng.
Thánh! Thánh! Thánh!…
Ca hiệp lễ
Chúa đã dọn ra cho tôi mâm cỗ, và chén rượu tôi đầy tràn chan chứa.
Hoặc đọc:
Chúng ta đã biết, và tin vào tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta.
Lời nguyện hiệp lễ
Lạy Chúa, Chúa đã cho chúng con cùng được chia sẻ một tấm bánh bởi trời; xin ban Thánh Thần là nguồn mạch tình yêu giúp chúng con cũng biết tâm đầu ý hợp và chân thành yêu thương nhau. Chúng con cầu xin…
2023
VÀI SUY NGHĨ VỀ THÁNH LỄ AN TÁNG ĐỨC NGUYÊN GIÁO HOÀNG BÊ-NÊ-ĐÍCH-TÔ XVI NGÀY 5-1-2023
VÀI SUY NGHĨ VỀ THÁNH LỄ AN TÁNG ĐỨC NGUYÊN GIÁO HOÀNG BÊ-NÊ-ĐÍCH-TÔ XVI NGÀY 5-1-2023
Vào đúng 09g30 phút sáng ngày thứ năm 5-1-2023 theo giờ Roma, tức là 15g30 chiều cùng ngày giờ VN, thánh lễ an táng Đức cố Giáo hoàng Bê-nê-đích-tô XVI đã diễn ra một cách trang nghiêm, sốt sắng, tuy bề ngoài có vẻ trầm lắng, gọn nhẹ, đơn giản nhưng không kém phần long trọng. Đến tham dự thánh lễ này có khoảng hơn 50 ngàn người tín hữu, cùng với 120 vị Hồng y, hơn 400 Giám mục và khoảng 4.000 linh mục đồng tế. Ngoài ra, nhiều nhà lãnh đạo trên thế giới cùng rất nhiều nhà báo từ các quốc gia cũng có mặt tại thánh lễ này. Đặc biệt, việc hát lễ an táng do ca đoàn tổng hợp gồm 250 ca viên đảm nhận.
Cũng vào thời điểm này, trên thế giới hàng triệu hàng triệu tín hữu Công giáo âm thầm, sốt sắng thông công thánh lễ an táng trực tuyến của vị nguyên Giáo hoàng (cũng là một thần học học gia nổi tiếng) thọ 95 tuổi. Thánh lễ kết thúc, nhiều người đã tỏ ra “ngỡ ngàng” vì đã được tham dự và chứng kiến một thánh lễ an táng quá đơn giản, quá ngắn gọn của một nhà thần học nổi tiếng Joseph Ratzinger và cũng là vị lãnh đạo Giáo hội Công giáo toàn cầu trong gần 10 năm (2005-2013). Có vài người đã mạo muội nêu lên ý kiến, so sánh thánh lễ an táng này với nhiều thánh lễ an táng hay một số thánh lễ đặc biệt ở xứ ta, sao mà khác nhau thế! Và cũng có người cho rằng sự khác biệt đó chẳng qua là do văn hóa của từng dân tộc, từng quốc gia, từng vùng miền, hay khác biệt nhau vì thói quen, do tập tục nào đó…theo kiểu nói “Mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh!” vv.
Riêng tôi – người viết – đã chăm chú theo dõi và hiệp thông trọn vẹn thánh lễ an táng trực tuyến Đức cố Giáo hoàng Bê-nê-đích-tô XVI hôm thứ năm 5-1 vừa qua, xin mạn phép được chia sẻ cùng quý độc giả một vài suy nghĩ với nội dung sau: Đây là một thánh lễ có rất nhiều cái “Không”, một thánh lễ có nhiều cái “Đẹp” và một thánh lễ có nhiều điều phải suy nghĩ.
1- Một thánh lễ có rất nhiều cái “Không”
Sau khi thánh lễ an táng này kết thúc, có lẽ cảm nhận đầu tiên của nhiều người trong chúng ta, đó là thánh lễ này có rất nhiều cái “Không”: Không vành khăn tang, không vòng hoa hay hoa trang trí, không di ảnh người quá cố, không cờ xí, không băng-rôn khẩu hiệu, không kèn, không trống, không đèn nến, không giới thiệu khách mời hay diễn văn khai mạc, không đọc điếu văn, không phát biểu cảm tạ, không ngỏ lời cám ơn tri ân… thậm chí cũng không quay phim, chụp hình, chớp chớp nữa. Tôi quan sát kỹ thì thấy trên bục đặt tượng Đức Mẹ ở bên trái bàn thờ chính có điểm chút hoa hồng vàng và phía đầu quan tài có để một chân đèn/ nến cao khoảng hơn 2m. Quan tài người quá cố được đặt sát đất, trên một cái cáng đơn sơ. Bên trên quan tài, người ta đặt một cuốn Kinh Thánh khá lớn… Có thể nói ngắn gọn, tất cả chỉ có thế, nhưng thánh lễ đã diễn ra thật là sốt sắng, trang nghiêm, đơn giản được cử hành giữa một rừng người im lặng, ngậm ngùi và thành kính.
Một linh mục, nhân sự kiện này đã gợi lại hình ảnh của một thánh lễ an táng tương tự đã lâu tại Roma, đưa nhận định: “Đơn giản, im lặng và lạnh lùng. Quan tài đặt ngay trên nền, rất đơn giản và lạnh lùng nhưng thành kính. Đúng như đặc tính của cái chết là đơn giản, lạnh lùng và im lặng. Nhắc lại, giống như nghi thức an táng Đức Hồng y Roberto Rucci, cựu giám đốc Radio Vatican, qua đời ở tuổi 94. Đức Giáo hoàng Phan-xi-cô đã tiễn biệt vị hồng y quá cố chiều thứ sáu 17-4-2015.” (Nguồn: FB linh mục Phạm Quang Long, Quảng Bình, ngày 07-1-2023).
Riêng về vấn đề băng rôn, biểu ngữ, nhờ có ống kính camera mà người ta có thể nhận ra có hai biểu ngữ, một cái ghi “Sancto Subito”, nghĩa là [hãy] phong thánh [cho ngài] ngay lập tức, và một biểu ngữ khác ghi tiếng Đức “Danke Benedict!” (Cám ơn [ĐTC] Bê-nê-đích-tô!). Tôi nghĩ hai biểu ngữ này cũng chỉ là những biểu ngữ tự phát xuất hiện lọt thỏm giữa rừng người tham dự thánh lễ chứ không phải là của ban tổ chức lễ tang. Ngoài ra, không thấy có thêm biểu ngữ nào khác kiểu “Thương tiếc…”, hay “Khóc thương…” hay “Vĩnh biệt…” như ở xứ ta! Và bên cạnh nhiều cái “Không” như ta đã biết, thánh lễ an táng này còn để lại nhiều ấn tượng vô cùng lớn bởi hội tụ rất nhiều cái “Đẹp”.
2- Một thánh lễ có nhiều cái “Đẹp”
Nét đẹp đầu tiên phải nói đến, đó là màu sắc. Ngoài màu sắc đỏ rực, màu hi vọng và niềm vui Phục sinh, của phẩm phục vị chủ tế và các Hồng y tham dự, là y phục màu đen và xen lẫn màu trắng, ngập tràn của hơn 50 ngàn người từ khắp nơi đến tham dự. Ống kính camera thỉnh thoảng lướt qua toàn cảnh lễ an táng. Ta thấy cả rừng người thành kính hiệp thông cầu nguyện. Quả thực hoành tráng nhưng trang nghiêm, vĩ đại nhưng giản dị, thánh thiêng nhưng khiêm tốn…
Bên cạnh ấn tượng của màu sắc, ta nhận ra một cái đẹp khác, đó là tiếng hát du dương trầm bổng của ca đoàn tổng hợp với hàng trăm ca viên. Khi vừa cất lên câu đầu của bộ lễ “Requiem”, người nghe cảm giác tâm hồn lắng đọng như đang chìm trong bầu khí huyền linh của Phụng vụ thánh. Nhiều lúc, tôi muốn nhìn xem ca đoàn đứng ngồi như thế nào nhưng tiếc là cái camera chỉ lướt qua đôi bàn tay dịu dàng, uyển chuyển của người ca trưởng điều khiển. Tôi nghĩ đó cũng là chủ đích của đạo diễn buổi lễ. Cái gì không quan trọng thì lướt qua. Điều này xem ra khác biệt với nhiều thánh lễ an táng ở xứ ta!
Một nét đẹp khác của buổi lễ không thể không nói đến. Đó là sự đa dạng ngôn ngữ trong Phụng vụ Lời Chúa qua sự thể hiện đại diện của các quốc gia trong thánh lễ. Ngoài bài giảng bằng tiếng Ý ngắn gọn, sâu sắc và đầy ý nghĩa của Đức Thánh Cha Phan-xi-cô [1], các phần khác của Phụng vụ thánh lễ cũng được nhiều thành phần Dân Chúa đảm nhận. Hai bài đọc bằng tiếng Anh và tiếng Pháp. Lời nguyện tín hữu cũng kết hợp các ngôn ngữ khác nhau như tiếng Ý, Pháp, Đức, Tây Ban Nha…Nhờ có thuyết minh viên người Việt của Vatican News tiếng Việt, nên mọi người có thể hiệp thông dễ dàng với phần Phụng vụ Lời Chúa này. Đây là thể hiện tính thống nhất của Phụng vụ thánh và sự đa dạng của thành phần trong cộng đoàn Dân Chúa toàn cầu.
Sau cùng không thể không đề cập đến diễn tiến buổi lễ và bài giảng của Đức Thánh Cha Phan-xi-cô. Có lẽ nhiều người Công giáo chúng ta không nghĩ rằng thánh lễ an táng của một vị nguyên Giáo hoàng, một nhà thần học nổi tiếng, mà lại đơn giản và gọn nhẹ đến thế. Thời lượng chỉ kéo dài hơn một giờ đồng hồ với đầy đủ các nghi thức. Không có bài phát biểu mở đầu, hay lời giới thiệu khách quý, hoặc đôi dòng cám ơn sau lễ. Không kể lể công đức, cũng không nhấn nhá dài dòng đến tiểu sử người quá cố. Tất cả là một nghi lễ trọn vẹn với các nghi thức chuẩn mực. Thực ra, ngay sau khi Đức Bê-nê-đích-tô XVI qua đời lúc 9g34 phút sáng ngày 31-12-2022, phát ngôn viên của Tòa Thánh Vatican, ông Matteo Bruni cũng cho hay là theo di nguyện của người quá cố thì tang lễ sẽ được tổ chức thật đơn giản.
Riêng về bài giảng của Đức Thánh Cha Phan-xi-cô trong lễ an táng, người nghe cảm thấy như được đưa vào chiều sâu lắng đọng của đức tin và sự kính cẩn. Không hoa mỹ rườm rà, không đi ra khỏi trọng tâm của thánh lễ cầu nguyện cho người quá cố. Bài giảng của ngài vì thế ngắn gọn, đầy ý nghĩa và có sức mạnh dẫn người nghe vào chiều sâu của Tin Mừng Ki-tô giáo. Chính ngài đã từng dạy như sau:
“Bài giảng không thể mang một hình thức giải trí giống như những bài giảng trên các phương tiện đại chúng, nhưng bài giảng phải ban sức sống và ý nghĩa cho cuộc cử hành. Nó là một thể loại đặc trưng, vì việc giảng dạy được đặt trong khung cảnh một cuộc cử hành phụng vụ; thế nên bài giảng phải ngắn và tránh mang dáng dấp của một bài diễn văn hay thuyết trình. Một giảng viên có thể thu hút sự chú ý của người nghe trong suốt một giờ đồng hồ, nhưng lúc ấy các lời giảng của họ trở thành quan trọng hơn việc cử hành đức tin. Nếu bài giảng quá dài, nó sẽ ảnh hưởng tới hai yếu tố đặc trưng của cử hành phụng vụ: sự cân bằng và nhịp độ.” (số 137) [2]
Viết đến đây, tôi xin được mạn phép kể lại câu chuyện sau:
Nhớ lại vào chiều ngày thứ hai 25-11-2019 tại hội trường thể thao Tokyo Dome (Nhật Bản), Đức Thánh Cha Phan-xi-cô đã đến dâng thánh lễ đại trào cùng với hàng trăm linh mục và trên 50 ngàn giáo dân đến tham dự. Những ai theo dõi thánh lễ trực tuyến này, đều có chung một cảm nhận là khung cảnh và bầu không khí diễn ra thánh lễ thật trang nghiêm, long trọng và sốt sắng. Có người đã không ngần ngại thốt lên, “Ôi trên cả tuyệt vời!”.
Tuyệt vời không phải do những vòng hoa sặc sỡ, những bảng hiệu bắt mắt, những giàn âm thanh hoành tráng, những cờ quạt biểu ngữ rợp trời, những đội kèn-trống vĩ đại, những tiếng vỗ tay nồng nhiệt, những bài phát biểu rườm rà lê thê vv. là những điều mà chúng ta dễ dàng được chứng kiến trong các buổi lễ ở ta hiện nay. Ở đây có thể nói ấn tượng về buổi lễ, chính là một sự trang nghiêm thanh thoát, sâu lắng được diễn tả thông qua khung cảnh, màu sắc chủ đạo và sự tối giản của buổi lễ.
Qua quan sát kỹ, người ta nhận thấy rằng bối cảnh diễn ra buổi lễ rất đơn giản nhưng không kém phần hiện đại. Trên lễ đài, phía sau ghế vị chủ tế là cây Thánh giá màu trắng vươn cao khoảng từ 10-12 m. Bên dưới có ba bức phông làm nền, bức chính giữa rộng hơn và cao hơn một chút. Chính giữa không gian cử hành thánh lễ là một bàn thờ trưng bày sáu cây nến và một thánh giá nhỏ cao khoảng 30 cm. Phía sau bàn thờ là ghế ngồi của ĐTC, dựa vào một tấm nền cao có gắn huy hiệu Giáo hoàng. Bục giảng được bố trí đặt phía bên trái của lễ đài. Ngoài ra, ban tổ chức cũng có đặt phía bên phải lễ đài một tượng Đức Mẹ bằng đồng cao khoảng 1m20. Không hoa, không nến. Tất cả chỉ có thế. Rất đơn giản.
Về màu sắc, có thể thấy ngay màu trắng chính là màu chủ đạo của buổi lễ. Toàn thể lễ đài đều sáng lên màu trắng biểu tượng cho sự thanh khiết, thánh thiện. Kế đến là phẩm phục của ĐTC Phan-xi-cô và các vị giám mục, linh mục đồng tế cũng toàn màu trắng. Riêng ca đoàn thì mặc đồng phục đen, gồm đủ mọi tuổi tác, thành phần tham gia. Chỉ có một sự khác biệt về màu sắc, đó là tấm thảm đỏ, đó có thể là màu hồng-y, được trải dài suốt từ phía dưới lên trên lễ đài. Màu đỏ hồng y đã nói lên sự kính trọng và sự tiếp đón đặc biệt đối với vị Cha chung của Hội thánh khi ngài là Đấng nhân danh Chúa đến với đoàn chiên.
Diễn tiến buổi lễ cũng diễn ra một cách bình thường như bao thánh lễ khác. Riêng bài phát biểu cám ơn sau thánh lễ của ĐTGM Kikuchi của Tokyo cũng rất ngắn, chỉ chừng 3 phút. Sau khi cám ơn xong, ĐTGM Tokyo cũng được vị đại diện của ĐTC trao quà lưu niệm. Thánh lễ kết thúc trong sự hân hoan tột cùng của mọi người, và dư âm của buổi lễ đọng lại trong tâm trí chúng ta về một cách tổ chức lễ nghi Công giáo của người Nhật. Không ồn ào, không phô trương, không hình thức, nhưng sâu lắng và thánh thiện.
Chúng ta biết rằng người Nhật luôn đề cao sự đơn giản, họ coi đó như một triết lý sống. Họ quan niệm lối sống tối giản sẽ đem lại hạnh phúc, tự do và sự bình an cho con người. Vì thế, trong việc tổ chức lễ nghi hay sự kiện tôn giáo, người Nhật cũng muốn thể hiện triết lý “sống tối giản” của họ. Đối với họ, sự đơn giản cũng là một cái đẹp phản ánh sự trong suốt của tinh thần và sự bình an của nội tâm. Sự đơn giản nhẹ nhàng trong lễ nghi Phụng vụ của người Nhật vừa qua đã khiến cho chúng ta suy nghĩ nhiều về khuynh hướng của người Công giáo ta hiện nay tại nhiều nơi trong nước, đó là thích tổ chức những lễ lạy quá thiên về hình thức bên ngoài, vừa rườm rà, vừa tốn kém, lại vừa làm suy giảm ý nghĩa căn cốt của buổi lễ.
3- Một thánh lễ có nhiều điều phải suy nghĩ…
Có lẽ biến cố ra đi về Nhà Cha của Đức cố Giáo hoàng Bê-nê-đích-tô XVI đã khiến rất nhiều người trong chúng ta phải suy nghĩ nhiều về thân phận và cái chết của con người. Ở đây người viết xin đưa ra ba điểm suy tư ngắn, đó là về sự khiêm hạ của người Mục tử, về sự chết của người Ki-tô hữu và về đức tin, lòng mến Ki-tô giáo.
3.1 Về sự khiêm hạ của người Mục tử
Chúng ta biết rằng, Đức Hồng y Joseph Ratzinger được bầu vào ngày 19- 4-2005, là Giáo hoàng thứ 265. Ngài là người lớn tuổi nhất được bầu làm Giáo hoàng kể từ năm 1730, và là Hồng y trong một thời gian dài hơn bất kỳ Giáo hoàng nào kể từ năm 1724. Tuy nhiên, vào ngày 11-2-2013, trong Công nghị Công khai thường lệ để bỏ phiếu về một số Án Phong Thánh, Đức Bê-nê-đic-tô đã chính thức thông báo quyết định từ nhiệm với những lời sau:
“Sau nhiều lần xét mình trước mặt Thiên Chúa, tôi đã đi đến chỗ chắc chắn rằng sức lực của tôi, do tuổi cao, không còn phù hợp để thi hành thừa tác vụ của thánh Phêrô nữa. Tôi ý thức rõ rằng thừa tác vụ này, do bản chất thiêng liêng thiết yếu của nó, phải được thực hiện không chỉ bằng lời nói và việc làm, mà còn bằng lời cầu nguyện và đau khổ. Tuy nhiên, trong thế giới hôm nay, trước biết bao thay đổi nhanh chóng và bị lung lay bởi những vấn đề liên quan sâu xa đến đời sống đức tin, để cai quản con thuyền của Thánh Phêrô và loan báo Tin Mừng, thì sức mạnh tinh thần và thể xác đều cần thiết, sức mạnh mà trong vài tháng qua, đã sa sút trong tôi đến mức tôi phải nhận ra mình không có khả năng chu toàn thánh chức được giao phó một cách thích đáng. Vì lý do này, và ý thức rõ ràng về mức độ nghiêm trọng của hành động này, tôi hoàn toàn tự do tuyên bố rằng tôi từ nhiệm chức vụ Giám mục Rôma, Người kế vị Thánh Phêrô.”
Triều đại giáo hoàng của ngài kết thúc vào ngày 28-2-2013. Sau khi đơn từ chức của ngài có hiệu lực, Đức nguyên Giáo hoàng Bênêđictô XVI đã sống ở Vatican trong Tu viện Mater Ecclesiae cho đến khi ngài qua đời vào ngày 31-12-2022. [3]
Sau cái chết êm đềm của Đức Bê-nê-đích-tô XVI, mọi người trong và ngoài Hội thánh Công giáo đều ca tụng ngài là một vị Giáo hoàng thánh thiện, một nhà thần học uyên bác và một mục tử khiêm tốn. Sự khiêm tốn của ngài chẳng những được thể hiện qua việc ngài từ chức ngôi vị Giáo hoàng mà biểu lộ trong suốt cuộc đời mục tử của ngài.
Trong bài giảng bế mạc Năm Linh mục, lễ trọng kính Thánh Tâm Chúa Giê-su, Quảng trường Thánh Phê-rô, ngày 11-6-2010, Đức cố Giáo hoàng Bê-nê-đích-tô đã chia sẻ: “Chức linh mục không chỉ đơn thuần là ‘Chức vụ’ nhưng là Bí tích: Thiên Chúa dùng chúng ta là những người đàn ông hèn kém, để qua chúng ta, Thiên Chúa hiện diện với mọi người nam nữ và hành động vì họ. Sự táo bạo này của Thiên Chúa, Đấng phó mình cho nhân loại – Đấng, biết rõ sự yếu đuối của chúng ta, nhưng vẫn cho là chúng ta có khả năng hành động và hiện diện thay cho Ngài – sự táo bạo này của Thiên Chúa là sự cao cả đích thực ẩn chứa trong từ ‘chức linh mục’.” [4]
Sự khiêm-tốn-mục-tử của ngài lan tỏa trong Giáo hội Công giáo xuất phát từ ước vọng thâm sâu về một Giáo hội cần trở nên nhỏ bé hơn, thiết yếu hơn, nghèo hơn, thiêng liêng hơn, xác thực hơn.
Bản tin của Vatican News ngày 14-4-2022 đã cho hay, trong buổi gặp riêng các tu sĩ Dòng Tên tại Toà Sứ Thần ở Rabat trong chuyến tông du đến Malta ngày 03-4-2022, ĐTC Phan-xi-cô đã trả lời một số câu hỏi do các tu sĩ đặt ra về tương lai của Giáo hội, về ơn gọi linh mục tu sĩ và về công cuộc loan báo Tin Mừng. Để trả lời câu hỏi về tương lai của Giáo hội, bản tin trên cho biết câu trả lời của ĐTC Phan-xi-cô như sau:
“Đức nguyên Giáo hoàng Bê-nê-đíc-tô XVI là một ngôn sứ về tương lai của Giáo hội. Một Giáo hội sẽ nhỏ hơn, không còn những đặc quyền, khiêm tốn, xác thực hơn, và sẽ tìm được năng lượng cho những điều thiết yếu. Đó là một Giáo hội thiêng liêng, nghèo và ít chính trị hơn. Giáo hội của những người bé nhỏ. Khi còn là Giám mục, Đức Bê-nê-đíc-tô XVI đã nói: Chúng ta phải chuẩn bị để trở thành một Giáo hội nhỏ hơn. Đây là một trong những trực giác sâu sắc của ngài”. [5]
Được biết trong Thượng Hội đồng Giám mục về “Tân Phúc âm hoá để thông truyền đức tin Kitô giáo”, một tiếng nói từ Châu Á, Đức Hồng y Tagle có lý khi nhấn mạnh rằng: nếu Hội thánh muốn khơi dậy tinh thần truyền giáo trong thế kỷ XXI, Hội thánh cần có 3 phẩm chất: khiêm tốn, đơn giản, khả năng thinh lặng. [6]
Thực vậy, qua những gì mà chúng ta chứng kiến được trong thánh lễ an táng Đức nguyên Giáo hoàng Bê-nê-đích-tô XVI hôm 5-1-2023 vừa qua, mọi người tin tưởng rằng Hội thánh Công giáo đã và đang hướng đến việc sống và thể hiện 3 phẩm chất mà Đức Hồng y Tagle đã đề cập (Khiêm tốn, đơn giản và khả năng thinh lặng).
3.2 Về sự chết của người Ki-tô hữu
Thoạt đầu khi chúng ta chứng kiến một tang lễ bề ngoài xem ra có vẻ quá buồn tẻ thông qua hình ảnh một cỗ quan tài nằm sát mặt đất, đặt trên một cái cáng 4 người khiêng, không hoa nến, không khói nhang nghi ngút, không cả một tấm ảnh chân dung vĩnh biệt… chúng ta dễ liên tưởng tới cảnh tượng lạnh lùng, cô đơn, im lặng của cái chết.
Mỗi lần chúng ta tham dự thánh lễ an táng hay dự buổi đọc kinh cầu nguyện cho một người tín hữu đã qua đời, thường chúng ta mang hai tâm trạng trái ngược nhau. Một là đau buồn, xót xa vì phải chia lìa vĩnh viễn người quá cố, hai là vui mừng và hi vọng vì tin rằng “Chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời”. Không người Ki-tô hữu nào mà lại không xác tín rằng chết là một cuộc ly trần để vượt qua thế gian này về Nhà Cha. Chết là chấm dứt cuộc đời trần thế. Riêng đối với những người chết trong ân sủng Đức Ki-tô, chết là về với Chúa, là được lên thiên đàng, là tham dự vào cái chết của Chúa để sau cùng được thông dự vào sự Phục sinh vinh quang của Ngài.
Đức Thánh cha Phan-xi-cô, khi nói về Thiên đàng là đích điểm niềm hy vọng Ki-tô giáo, đã chia sẻ như sau: “Trong giờ chết, Kitô hữu lập lại với Chúa Giêsu: ‘Xin Chúa nhớ đến con’. Và cho dù không còn ai nhớ đến chúng ta, Chúa Giêsu vẫn ở đó cạnh chúng ta. Ngài muốn đưa chúng ta vào nơi đẹp đẽ nhất. Ngài muốn đưa vào đó với ít nhiều điều thiện trong cuộc sống chúng ta, để không điều gì bị mất đi khỏi những gì Ngài đã cứu chuộc. Và trong nhà Cha, Ngài cũng mang tất cả những gì ở trong chúng ta cần được cứu chuộc: những thiếu sót và những sai lầm trong trọn cuộc sống. Đó là mục đích cuộc sống của chúng ta: tất cả được hoàn thành, được biến đối trong tình thương...
Nếu chúng ta tin điều đó, thì cái chết không còn làm cho chúng ta sợ hãi nữa và chúng ta cũng có thể hy vọng rời khỏi thế giới này một cách thanh thản, với bao nhiêu lòng tín thác. Ai đã biết Chúa Giêsu, thì không còn sợ hãi gì nữa. Và chúng ta cũng có thể lập lại những lời của cụ già Simeon, cụ cũng đã được phúc gặp gỡ Chúa Kitô, sau trọn cuộc đời chờ đợi: ‘Giờ đây, lạy Chúa, xin cho tôi tớ Chúa ra đi bình an, theo lời Ngài, vì mắt con đã thấy ơn cứu độ của Chúa’ (Lc 2,29-30).” (Nguồn vi.radiovaticana.va/news).
Nhân đây, nhắc lại trong bài giảng thánh lễ trọng kính Đức Trinh Nữ Maria Hồn xác lên trời, Giáo xứ Thánh Thomas of Villanova, Castel Gandolfo, ngày 15-8-2010, Đức Cố Giáo Hoàng Bê-nê-đích-tô XVI đã nói như sau: “Sự thanh thản, hy vọng và bình an của chúng ta thực sự dựa trên điều này: trong Thiên Chúa, trong tư tưởng, và trong tình yêu của Ngài, không phải chỉ có một ‘cái bóng’ của chúng ta tồn tại, mà trái lại, chúng ta được gìn giữ và đưa vào cõi vĩnh hằng với toàn thể con người chúng ta ở trong Thiên Chúa, và trong tình yêu sáng tạo của Ngài. Chính Tình Yêu của Ngài đã chiến thắng sự chết, và ban cho chúng ta sự vĩnh cửu, và chính tình yêu này mà chúng ta gọi là ‘Thiên Đàng’: Thiên Chúa cao cả đến nỗi Ngài cũng dành chỗ cho chúng ta”. [7]
Trong đức tin, người Ki-tô hữu chúng ta luôn được mời gọi đón nhận cái chết như là một biến cố “đổi đời” chứ không phải là “chết là hết!”.
Thánh nữ Tê-rê-sa Hài Đồng Giê-su trong tập sách về những lời cuối cùng, đã thốt lên: “Tôi không chết, nhưng đang bước vào cõi sống”. Sự chết chính là ngưỡng cửa để con người bước vào sự sống khác, như lữ khách vượt qua dòng sông sang bờ bên kia để đến miền đất tươi sáng, diệu kỳ, vĩnh cửu. Ngay cả những Ki-tô hữu bình thường cũng có cảm nhận lạc quan về sự chết. Chẳng hạn, nhà soạn nhạc thiên tài Wolfgang Amadeus Mozart đã nói: “Tôi cảm ơn Chúa đã độ lượng ban cho mình cơ hội để hiểu rằng cái chết là chìa khóa mở cánh cửa dẫn tới chân hạnh phúc”. Còn ca sĩ kiêm nhạc sĩ nổi tiếng John Lennon cũng đã phát biểu: “Tôi không sợ chết vì tôi không tin vào nó. Đó chỉ là ra khỏi xe này và vào xe khác”.
Đức tin Ki-tô giáo cho ta biết rằng khi chết thì thân xác tiêu tan nhưng linh hồn thì tồn tại và sẽ trở về với Thiên Chúa để được xét xử. Thực vậy, “Ngay khi lìa khỏi xác, linh hồn bất tử sẽ chịu phán xét riêng để được thưởng hay bị phạt đời đời; tùy theo đời sống của mình trong tương quan với Đức Ki-tô, linh hồn hoặc phải trải qua một cuộc thanh luyện hoặc được hưởng phúc trên trời hoặc sa địa ngục vĩnh viễn ” (GLHTCG số 1022). Và “Cái nhìn Ki-tô giáo về sự chết được diễn tả đặc biệt trong phụng vụ: ‘Lạy Chúa! Đối với chúng con là những tín hữu, sự sống thay đổi chứ không mất đi; và khi nơi trú ngụ dưới trần gian bị hủy diệt, chúng con được về hưởng hạnh phúc vĩnh cửu trên quê trời’ (Sách lễ Rô-ma, kinh tiền tụng cho kẻ qua đời).” (GLHTCG số 1012)
Đối với chúng ta, là con cái Thiên Chúa, Đấng nguồn mạch sự sống, thì sự chết chính là biến cố đưa ta vào cõi sống. Thánh Phao-lô đã từng mong chết để được sống, ngài nói: “Đối với tôi, sống là Đức Ki-tô, và chết là một mối lợi…” (Pl 1, 21-23), và “Chúng tôi luôn mạnh dạn, và điều chúng tôi thích hơn, đó là lìa bỏ thân xác để được ở bên Chúa” (2Cor 5, 8).
3.3 Về đức tin, lòng mến Ki-tô giáo
“Nền tảng của thế giới là tình yêu”. Sau khi Đức nguyên Giáo hoàng Bê-nê-đích-tô XVI qua đời, cả thế giới nhắc đến câu nói ngắn gọn này của ngài. Ngài chính là vị Giáo hoàng có đức tin trổi vượt và có lòng mến dạt dào.
Chúng ta hãy nghe chứng từ sau đây của một nữ tu đến kính viếng thi hài Đức cố Giáo hoàng Bê-nê-đích-tô XVI. Sơ Concilia Odea, Dòng Sisters of Jesus the Good Shepherd, Nigeria, sinh viên thần học, Đại học Giáo hoàng Urbaniana đã chia sẻ với phóng viên phỏng vấn chị:
“Đức Bê-nê-đíc-tô là một nhà thần học vĩ đại của thời đại chúng ta, và đối với tôi, ngài là một vị Thánh. Lắng nghe những buổi tiếp kiến, và đọc một số tác phẩm của ngài, tôi có thể thấy rằng ngài có tình yêu dành cho Thiên Chúa, và ngài thực sự làm việc cho Thiên Chúa. Bạn có thể tưởng tượng câu nói cuối cùng của ngài là ‘Lạy Chúa, con yêu Chúa’.
Tóm tắt các điều răn là mến Chúa, yêu người lân cận và yêu chính mình.
Đối với Đức Bê-nê-đic-tô, việc nói về Chúa Giê-su cũng giống như thực hiện sứ mạng của Chúa Ki-tô là chúng ta phải nói về Thiên Chúa cho đến tận cùng thế giới. Và Đức Bê-nê-đic-tô là một nhà truyền giáo, ngài đã rao giảng cho cả thế giới, và ngài đã làm điều đó rất tốt. Vì vậy, đối với tôi, Đức Bênêđictô đang ở bên Thiên Chúa, với vương miện như là nhà truyền giáo vĩ đại của thời đại chúng ta.
Tại đất nước của tôi, bạo lực xảy ra ở phía bắc, đông, nam và tây Nigeria, chúng tôi cầu nguyện rằng nhờ sự cầu bầu của Đức Bê-nê-đic-tô, Thiên Chúa sẽ mang lại sự chữa lành cho Nigeria. Chúng tôi có thể có hòa bình, bởi vì tất cả chúng ta đều được dựng nên theo hình ảnh của Thiên Chúa.” [8]
Và đây là những câu nói đáng ghi nhớ của Đức cố Giáo hoàng:
Về vấn đề tìm kiếm hạnh phúc, ngài chia sẻ: “Càng noi gương Chúa Giêsu và càng kết hợp với Người, chúng ta càng đi vào mầu nhiệm của sự thánh thiện thần linh của Người. Chúng ta khám phá ra rằng Người yêu thương chúng ta vô bờ bến, và do đó, thúc đẩy chúng ta yêu thương anh chị em mình. Yêu thương luôn đòi hỏi hành động từ bỏ chính mình, ‘đánh mất chính mình’, và chính điều này làm cho chúng ta hạnh phúc.” (Bài giảng Lễ Các thánh, Vương Cung Thánh Đường thánh Phêrô, ngày 01-11-2006)
Khi diễn giải Thiên Chúa là tình yêu, ngài nói: “Thiên Chúa không phải là một thế lực thống trị, một thế lực xa vời; trái lại, Thiên Chúa là tình yêu và Ngài yêu tôi – và như vậy, cuộc sống cần được Ngài hướng dẫn bằng sức mạnh gọi là tình yêu.” (Lời chứng cuối cùng/ Last Testament, 2016) [9]
Trong bài viết có tựa “Tưởng nhớ Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI”, ĐGM Phêrô Nguyễn Văn Khảm, giáo phận Mỹ Tho, đã có đoạn viết như sau:
“Cách riêng, Đức Bênêđictô XVI đã lưu lại cho Giáo Hội 3 thông điệp quan trọng. Thông điệp đầu tiên của Đức Bênêđictô XVI là Deus caritas est, tóm kết giáo huấn của ngài về tình yêu. Tình yêu Thiên Chúa dành cho chúng ta là nền tảng cho đời sống và dẫn đến những câu hỏi quan trọng của đức tin : Thiên Chúa là ai? Chúng ta là ai? Vì Thiên Chúa yêu thương chúng ta trước, nên yêu thương không chỉ đơn thuần là điều răn phải giữ, nhưng là sự đáp lại của chúng ta trước tình yêu của Chúa. Tình yêu ấy bao gồm toàn bộ đời sống con người. Trong tình yêu, phải biết cho đi và cũng biết đón nhận. Khi người Kitô hữu sống thân tình với Chúa, họ học nhìn người khác bằng cặp mắt của Chúa: ‘Nhìn bằng cặp mắt của Chúa Giêsu, tôi có thể trao tặng người khác những gì lớn lao hơn những nhu cầu bên ngoài, tôi có thể trao cho họ cái nhìn yêu thương mà họ khao khát’.” [10]
Aug. Trần Cao Khải
______________
[1]https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/bai-giang-duc-thanh-cha-phanxico-trong-thanh-le-an-tang-duc-benedicto-xvi-49101
[2]http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/Giaohoi/TongHuan/Evangelii-Gaudium/05UBLBTMdich.htm
[3]https://dcvphanxicoxavie.com/vn/Tin-Tuc/Tieu-Su-Chinh-Thuc-Cua-Duc-Nguyen-Giao-Hoang-Benedicto-XVI.htmlMon,02/01/2023 (Nguồn: vaticannews.va)
[4]https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/than-hoc-cua-duc-benedicto-xvi-qua-12-loi-trich-dan-don-gian-
[5]https://www.vaticannews.va/vi/pope/news/2022-04/dtc-tuong-lai-giao-hoi-thuoc-ve-nhung-nguoi-be-nho.html
[6]http://daminhvn.net/suy-tu-nghien-cuu/song-mau-nhiem-tu-huy-kenosis-cua-duc-kito-8278.html
[7]https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/than-hoc-cua-duc-benedicto-xvi-qua-12-loi-trich-dan-don-gian-
[8]https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/tai-sao-nhieu-nguoi-xep-hang-kinh-vieng-duc-benedicto-xvi–49103
[9]https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/than-hoc-cua-duc-benedicto-xvi-qua-12-loi-trich-dan-don-gian-
[10]http://giaophanmytho.net/giao-phan-my-tho/tuong-nho-duc-giao-hoang-benedicto-xvigm-phero-nguyen-van-kham-37316.html
2023
Theo và sống
15.1. Chúa Nhật Chúa Nhật thứ Hai Mùa Quanh Năm
Is 49:3,5-6; Tv 40:2-4,7-8,8-9,10; 1 Cr 1:1; 3 Ga 1:29-34
Theo và sống
Trong lịch sử Giáo Hội, sự gặp gỡ làm thay đổi cuộc đời đã được thể hiện qua hình ảnh của thánh Augustinô, thánh Ignatiô và nhiều vị thánh khác. Từ một cuộc sống sa ngã trác táng, họ đã trở nên những con người thánh thiện, nhiệt thành với sự nghiệp Nước Chúa.
Một câu nói của Chúa: Được lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn thì có ích lợi chi, đã làm chuyển hướng cả cuộc đời của Phanxicô. Một câu trong Phúc âm: Hãy bán tất cả, làm phúc cho kẻ nghèo rồi đến mà theo Ta, đã thay đổi hẳn con người của Antôn.
Gioan Tiền Hô đã gặp Chúa Giêsu và giới thiệu Ngài cho các môn đệ: Đây Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xoá tội trần gian. Và các môn đệ đã từ giã Gioan là thầy mình, để đi theo Chúa Giêsu và ở lại với Ngài suốt ngày hôm đó. Rồi đến lượt Andrê đã trở về và dẫn anh mình là Simon đến gặp Chúa Giêsu và đã được Ngài đổi tiên cho ông là Kêpha.
Những cuộc gặp gỡ trong Tin Mừng luôn có những diễn tiến như vậy. Một người nào đó gặp Chúa, họ trở về và loan báo cho người khác. Như các mục đồng chăn chiên, như ba nhà đạo sĩ phương Đông, như Andrê với Simon, như Philipphê với Nathanael…
Hoặc nếu không qua trung gian, thì chính Chúa Giêsu lại gặp gỡ con người trong chính cuộc sống của họ: Người thì đang giặt lưới dưới thuyền, kẻ thì đang trầm tư suy nghĩ dưới gốc cây vả, kẻ khác thì đang ngồi ở bàn thu thuế hay đang ở trên cây cao như ông Giakêu…
Thiên Chúa luôn đến với chúng ta qua một trung gian: Trung gian của một người đã gặp Chúa, trung gian của một cuộc sống hay của một biến cố nào đó. Có thể nói: Bao nhiêu cuộc gặp gỡ và biến cố trong cuộc sống là bấy nhiêu dịp để nhận ra Tin Mừng, là bấy nhiêu dấu chỉ mời gọi để gặp gỡ Chúa.
Bước theo Đức Kitô, cũng có nghĩa là chúng ta biết đáp trả cách nhiệt thành và kiên trung trước tiếng gọi từ thập giá. Như hai môn đệ của Gioan, sau khi đã nghe Gioan giới thiệu Đấng “là Chiên Thiên Chúa”, hai ông đã không hề do dự nhưng đã hoàn toàn dứt bỏ lối cũ và nhất mực bước đi theo Người, để sống với Người. Câu hỏi của các ông, “Thưa Thầy, Thầy ở đâu?” (Ga 1, 38b), hàm ẩn niềm khát khao kiếm tìm tận căn thân thế và hành động yêu thương của “Chiên Thiên Chúa” khi Người cứu độ nhân loại. Được tình yêu cứu độ thúc bách, các ông đã “đến xem chỗ Người ở, và ở lại với Người” (Ga 1, 39b). Để từ đây, “hai người trong nhóm môn đệ” của Gioan có thể thông dự vào đời sống thần nhiệm sâu xa và sung mãn của Đức Kitô, nhờ lòng tin và tình yêu tận hiến cho vinh quang thập giá.
Đời sống của người kitô hữu là một tiến trình bền bỉ, liên tục kết hiệp mật thiết và sinh động với sự sống của Đức Kitô. Dấu chứng cho sự kết hiệp này được biểu tỏ qua thái độ hy sinh trao hiến của chúng ta như hệ quả do bởi giá máu cứu chuộc của Con Chiên Thiên Chúa. Dù phải đối diện với những chọn lựa đầy khó khăn, người tông đồ của Đức Kitô hôm nay cũng được mời gọi đáp trả tiếng Chúa qua hành động kiếm tìm và “ở lại” trong tình yêu của Người.
Sống với Đức Kitô là cảm thông, sớt chia và làm triển nở tình yêu cứu độ của Người. Hôm nay, ta không thể “đến xem chỗ Người ở” cách thể lý, nhưng mỗi người chúng ta là thành viên chính thức, được hạnh phúc thông dự vào “Ngôi Nhà” Giáo hội do Đức Kitô thiết lập nên, là chính Nhiệm Thể của Người. Do đó, khi ta chu toàn sứ vụ của một chi thể ngay giữa lòng Giáo hội thì ta cũng đồng thời được kết hiệp với sự sống trọn hảo của Đức Kitô.
Sống với Đức Kitô, là tháp hiệp vào trong từng hơi thở, trong ánh mắt yêu thương, trong mỗi cử chỉ, hành vi trao hiến của Người. Tình yêu của Đấng “là Chiên Thiên Chúa” sẽ hiển trị khi ta biết mở rộng cõi lòng để đón nhận và đỡ nâng biết bao phận người đang bị vùi dập giữa những khổ đau của kiếp nhân sinh. Như Đức Kitô, ta hãy dõi ánh mắt yêu thương về phía hận thù và hãy nói lời thứ tha được khởi phát từ con tim dạt dào Đức ái trong ta. Như Đức Kitô, ta hãy cúi xuống và vực dậy nhân loại hôm nay đang cố rời xa những chuẩn mực nền tảng của Tin Mừng.
Theo lời mời gọi của Chúa Giêsu, Anrê và người môn đệ ẩn danh không chỉ “đến xem” và “ở lại với Người ngày hôm ấy” (Ga 1, 39b), nhưng các ông đã báo tin vui cho Si-mon và những người khác: “Chúng tôi đã gặp Đấng Mê-si-a” (Ga 1, 41b). Như vậy, được sống với Chúa Giêsu dù chỉ trong khoảng khắc ngắn ngủi của buổi đầu gặp gỡ, các môn đệ đầu tiên đã thấu cảm gương mặt đích thực của “Chiên Thiên Chúa” như lời giới thiệu của Gioan. Các ngài đã được biến đổi thành những tông đồ thực thụ nhờ được “ở lại” trong tình yêu của Đức Kitô. Tình yêu ấy thúc bách các ngài tiến xa hơn trên hành trình sứ vụ giới thiệu “Chiên Thiên Chúa” cho muôn người, dẫu phải trả giá bằng chính mạng sống của mình.
Bước theo Đức Kitô trong cuộc sống hôm nay, chúng ta cũng được mời gọi trở nên chứng nhân trung thành của Người trước một nhân loại đang tỏ ra lãnh đạm với chân lý và mục tiêu tối hậu. Trong bối cảnh ấy, tiếng gọi từ thập giá vẫn không ngừng âm vọng trong cõi sâu thẳm của con người, kêu mời sự dấn thân quả cảm của những tâm hồn thiện chí cho sự sống và tình yêu của Đức Kitô được trở nên dũng khí linh nhiệm nhằm cảm hóa và biến đổi thế giới này.
Trong Tin Mừng hôm nay, chúng ta thấy Thánh Gioan Tẩy Giả đã giới thiệu Chúa Giêsu cho hai môn đệ của mình là André và Gioan, và hai ông đã trở thành môn đệ Chúa Giêsu, suốt đời đã dấn thân trọn vẹn cho Người. Tất cả chúng ta phải lấy nguồn sinh lực trong Bí tích Thánh Thể để giới thiệu cho người khác.
2023
Ý thức và trở về
14.1 Thứ Bảy Thứ Bảy trong tuần thứ Nhất Mùa Quanh Năm
Dt 4:12-16; Tv 19:8,910,15; Mc 2:13-17
Ý thức và trở về
Chúa Giêsu đi dọc bờ biển giảng dạy dân chúng. Người thấy ông Lêvi (Mátthêu) đang ngồi thu thuế. Người gọi ông, ông liền theo Người, và dọn tiệc thiết đãi Người với các kẻ thu thuế và nhiều người tội lỗi. Thấy vậy, nhóm luật sĩ và biệt phái hỏi môn đệ Chúa: Sao Thầy các ông ăn uống với phường thu thuế và kẻ tội lỗi ? Chúa nghe thấy vậy thì đáp: Thầy thuốc không cần cho người khỏe mạnh mà chỉ cần cho kẻ yếu đau. Cũng thế, Ta không đến để kêu gọi người lành thánh mà đến để kêu gọi người tội lỗi ăn năn thống hối.
Thiên Chúa là Đấng toàn năng. Sự toàn năng nơi Ngài có sức biến đổi và cứu độ. Và sự toàn năng nơi Ngài xuất phát từ lời nói đến việc làm. Quả thế, “ngôn hành” của Ngài luôn có ý hướng và mục đích. Ý hướng của Ngài gợi hứng từ sự yêu thương vô điều kiện. Mục đích Ngài nhắm đến chính là chia sẻ ơn cứu độ cũng như mong mỏi hết thảy mọi người đều được tham dự vào bàn tiệc Thiên Quốc.
Đọc lại hành trình lịch sử cứu độ dân Chúa, chúng ta nhận ra rằng từ trong Cựu Ước cho đến Tân Ước, Thiên Chúa vẫn dùng “ngôn hành” của mình để dẫn dắt, dạy dỗ và biến đổi từng cá nhân trong dân tộc của Ngài. Trong Cựu ước, Thiên Chúa đã kêu gọi, đồng hành và hướng dẫn Mô-sê thành một người chỉ huy tài ba, thành cầu nối giữa dân và Chúa. Mặc dầu Mô-sê không phải là người tài ăn, khéo nói, thậm chí nhút nhát. Nhưng Chúa muốn và Mô-sê vâng phục, Mô-sê trở thành thủ lãnh trong dân, thành người kéo ơn Chúa xuống cho dân và thông truyền mong mỏi của dân đến với Chúa. Đó là sự toàn năng và tuyệt hảo nơi Chúa thực hiện qua Mô-sê cũng như dân của Ngài.
Còn trong Tân ước, có rất nhiều những con người, những nhân vật đã được Thiên Chúa gọi mời và biến đổi thành người cộng tác đắc lực với Chúa trong công cuộc rao giảng Tin mừng. Cụ thể, trong bài Tin mừng ngày hôm nay, tác giả Mác-cô trình bày cho chúng ta, một Mát-thêu, kẻ làm nghề thu thuế, bị coi là người tội lỗi, bị dân chúng khinh bỉ, là người cộng tác với ngoại bang để hành hạ đồng bào. Thế nhưng, chính “ngôn hành” của Chúa đã biến đổi và giúp ông trở thành Tông đồ cho Ngài.
Quả vậy, Thiên Chúa không chấp nhất quá khứ, Ngài kêu gọi Mát-thêu từ bỏ quá khứ tội lỗi và hướng tới tương lai. Không phụ lòng tin tưởng nơi Chúa, Mát-thêu đã rũ bỏ tất cả, tiền tài, địa vị, quyền bính và thậm chí cả những dị nghị, nghi nan. Chính sự đáp trả, niềm tin và sự phó thác vào Thiên Chúa đã biến đổi ông. Nói cách khác, chính tình yêu Chúa đã thay đổi và nâng ông dậy. Từ một con người chỉ biết tích cóp, ăn chặn và bóc lột đồng bào. Giờ đây Mát-thêu trở thành kẻ “lưới người”, kéo những “mẻ cá người” về cho Chúa, cho Hội thánh bằng sự nhiệt thành và hăng say. Bên cạnh đó, Mát-thêu còn trở thành tác giả Tin mừng viết về dòng dõi và sứ mạng của Ngôi Hai Thiên Chúa. Ông dùng chính đôi tay thu thuế trước đây của mình, giờ đây cũng với đôi bàn tay ấy, ông chia sẻ cho đồng bào và hậu thế về sứ mạng của Đấng Tình Yêu. Sở dĩ Mátthêu có đặc ân ấy là vì sự toàn năng và yêu thương của Chúa dành riêng cho ông. Ngài muốn, Ngài yêu và Ngài tin tưởng vào sự thay đổi nơi ông và biến ông thành người cộng tác đắc lực trong sứ mạng rao giảng Tin mừng.
Thiên Chúa toàn năng và rất mực yêu thương nhân loại như vậy. Thế nhưng, hôm nay chứng kiến việc Chúa Giêsu kêu gọi Mátthêu và Ngài còn về nhà ông để mừng tiệc, để được ông thiết đãi, những người kinh sư thuộc nhóm Biệt phái tỏ vẻ không hài lòng, nghi kị và muốn kết án. Suy nghĩ và cái nhìn của những người Biệt phái ngày xưa, dường như cũng đang là não trạng và cách hành xử của con người thời nay.
Trong một xã hội vô cảm, đặt nặng những giá trị bên ngoài nhưng thiếu ý thức nhân bản và chiều sâu đời sống nội tâm. Dường như con người hiểu nhau qua vật chất, qua vẻ hào nhoáng của địa vị mà bỏ quên giá trị và ý nghĩa nhân bản hay đời sống đức tin. Khác hẳn với cách cư xử và hành động của con người. Thiên Chúa hứa là Ngài giữ lời. Ngài chậm giận và giàu tình thương. Thiên Chúa không giữ quá khứ của chúng ta nhưng Ngài kêu gọi chúng ta hướng tới tương lai, từ bỏ tội lỗi và tín thác nơi Ngài. Như một bác sĩ rành nghề, hôm nay Chúa Giêsu biết rõ bệnh tình của Mátthêu, Ngài đã trị dứt cơn bệnh của ông, đồng thời Ngài sử dụng tài năng linh hoạt có sẵn nơi ông để dùng ông trong sứ vụ rao giảng Tin mừng.
Việc Chúa Giêsu chọn một người thu thuế như Lêvi làm môn đệ đã đem lại sự vui sướng chẳng những cho chính Lêvi, mà còn cho những người thu thuế khác. Vì thế họ dọn một bữa tiệc để ăn mừng. Xưa nay họ chỉ thấy mới có một mình Chúa Giêsu không chê họ, mà còn chọn một người trong bọn họ làm môn đệ.
Bữa ăn hay bữa tiệc thường được diễn tả sự gần gũi thân tình. Ở đây Đức Giêsu và các môn đệ đến dùng bữa tại nhà ông Lêvi cùng với nhiều người thu thuế và các người tội lỗi, chứng tỏ Chúa bày tỏ tình thương đối với những người tội lỗi. Chính tinh thần này lôi kéo những người tội lỗi đến với Người.
Việc Chúa Giêsu gọi Lêvi là người thu thuế đi theo Người lại là cớ gây ra sự phê bình và chỉ trích của người Do thái, nhất là các luật sĩ và biệt phải.
Họ vốn có quan niệm chật hẹp, khép kín và khinh rẻ đối với những người tội lỗi, nên khi thấy Chúa Giêsu và các môn đệ tiếp xúc thân tình với những người tội lỗi, thì họ đã tỏ ra khó chịu nên họ đã phê bình và chỉ trích Chúa. Họ đã hỏi các môn đệ: “Sao! Ông ấy ăn uống với bọn thu thuế và quân tội lỗi ?” (Mc 2, 16)
Để sửa lại quan niệm hẹp hòi của luật sĩ, Chúa Giêsu đã trả lời cho họ: “Người khỏe mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần. Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi” (Mc 2, 17). Chính vì Lêvi ý thức thân phận tội lỗi bất xứng của mình cho nên anh rất mừng khi được Chúa gọi, và quảng đại bỏ tất cả để theo Người.
