Aenean nec eros. Vestibulum ante ipsum primis in faucibus orci luctus et ultrices posuere cubilia curae. Suspendisse sollicitudin velit sed leo.

Chuyên mục
  • Bài giảng
  • Các loại khác
  • Chia sẻ
  • Chưa phân loại
  • GH Hoàn Vũ
  • GH Việt Nam
  • Giáo dục
  • Hạnh các Thánh
  • HĐGM Việt Nam
  • Kinh Thánh
  • Phim giáo dục
  • Phụng vụ
  • Sách
  • Suy niệm Chúa nhật
  • Suy niệm hàng ngày
  • Tài liệu giáo dục
  • Tài liệu phụng vụ
  • Thần học
  • Thánh ca
  • Thánh lễ
  • Thánh lễ trực tuyến
  • Thư chung
  • Thư viện
  • Tin tức
  • Triết học
  • Tư liệu
  • UBGD Công giáo
  • Video
From Gallery
Stay Connected
UyBanGiaoDucHDGM.net
  • Trang chủ
  • Thư chung
    • HĐGM Việt Nam
    • UBGD Công giáo
  • Tin tức
    • GH Việt Nam
    • GH Hoàn Vũ
  • Phụng vụ
    • Thánh lễ
    • Thánh lễ trực tuyến
    • Suy niệm hàng ngày
    • Suy niệm Chúa nhật
    • Tài liệu phụng vụ
  • Giáo dục
    • Chia sẻ
    • Tài liệu giáo dục
  • Thư viện
    • Sách
      • Kinh Thánh
      • Triết học
      • Thần học
      • Các loại khác
    • Video
      • Bài giảng
      • Thánh ca
      • Phim giáo dục
      • Hạnh các Thánh
      • Tư liệu
  • Liên hệ
Give Online

Tác giả: Anmai

Home / Anmai
27Tháng Ba
2023

Giáo hội có thêm 6 Đấng Đáng kính: 5 phụ nữ và 1 linh mục

27/03/2023
Anmai
GH Hoàn Vũ, Tin tức
0

Trong cuộc tiếp kiến dành cho Đức Hồng y Marcello Semeraro, Tổng trưởng Bộ Phong Thánh, vào sáng ngày 23/3/2023, Đức Thánh Cha đã phê chuẩn các sắc lệnh nhìn nhận nhân đức anh hùng của 3 nữ tu, 2 nữ giáo dân và 1 linh mục dòng Salêdiêng.

Teresa Enríquez de Alvaredo
Nữ giáo dân đầu tiên là cô Teresa Enríquez de Alvaredo, sống ở Tây Ban Nha vào giữa thế kỷ 15 và 16. Từ khi còn nhỏ cô đã được nuôi dưỡng trong một gia đình giàu đức tin. Cô kết hôn và có bốn người con, nhưng sau đó trở thành góa phụ. Đức tin và tình yêu kiên vững của cô dành cho Chúa Giêsu trong Bí tích Thánh Thể đã khiến cô tách mình ra khỏi sự hào nhoáng của cung đình Tây Ban Nha để chuyên tâm cầu nguyện và hoạt động bác ái. Nghỉ hưu ở Torrijos, gần Toledo, cô sống một cuộc sống khổ hạnh và hoạt động vì những người nghèo và bị gạt ra ngoài lề xã hội.
Cô đóng vai trò là một người mẹ và nhà giáo dục cho những bé trai mồ côi vì bệnh dịch và nạn đói, chăm sóc các thiếu nữ và phụ nữ đường phố, chăm sóc người bệnh và làm việc để phục hồi việc tôn thờ Bí tích Thánh Thể. Cô cũng quản lý tài sản của gia đình mình một cách thông minh và thận trọng, phân bổ phần lớn cho các hoạt động từ thiện và xây dựng những nơi thờ phượng. Cô cũng sử dụng nó để giúp thành lập một số hội đoàn, một đan viện và bốn tu viện. Cô qua đời năm 1529. Trong thời gian gần đây, gương mẫu của cô đã được nhắc lại tại các Đại hội Thánh Thể.
Maria Domenica Lazzeri
Giáo dân thứ hai là cô Maria Domenica Lazzeri, sinh tại tỉnh Trento của Ý, là một nữ giáo dân sống ở Capriana vào những năm 1800. Gia đình cô rất sùng đạo và đã dạy cô những chân lý của đức tin cũng như những công việc lao động trên cối xay và trên cánh đồng.
Khi còn nhỏ, cô đã cống hiến hết mình để giúp đỡ những người nghèo khó và đau khổ, và cùng mẹ chăm sóc những người bị ốm vì một trận dịch nghiêm trọng và truyền nhiễm, chính cô cũng mắc phải căn bệnh này. Cô bắt đầu bỏ ăn, khó thở, sốt và run, đến mức co giật.
Vào tháng 1/1835, cô nhận được dấu thánh trên hai bàn tay, bàn chân và ở bên phải lồng ngực. Một tháng sau, cô nhận được dấu mão gai trên đầu, máu chảy ra vào mỗi thứ Sáu. Cô đã biến trải nghiệm của mình về những hiện tượng phi thường như vậy thành một cơ hội để cầu nguyện và dâng hiến bản thân. Cô chịu đau đớn khi mang dấu thánh và không muốn thu hút sự chú ý của công chúng. Cô cảm thấy mình thuộc về Chúa và Thánh Giá của Người một cách đặc biệt và làm chứng cho tình yêu của Người. Cô qua đời năm 1848, hưởng dương 33 tuổi.


Hồng Thủy – Vatican News

Read More
27Tháng Ba
2023

Cơn mưa kỳ diệu

27/03/2023
Anmai
Chưa phân loại
0

 

Thánh tích được rước giữa lòng sông mưa ở  Perpignan, nước Pháp. © Giáo xứ Thánh Gioan Tẩy giả

Ngày thứ bảy 18 tháng 3 một cuộc rước kiệu để cầu mưa ở  Perpignan, Pyrénées-Orientales vùng hạn hán lịch sử đã thành công.

Ngày 18 tháng 2 khi ông Georges Puig, người trồng nho ở Passa đi qua cầu Joffre ở Perpignan, ông không thể không dừng lại để đo lường mức độ của thảm họa: sông La Têt, nơi cây cầu bắc qua, gần như khô cạn. Trong nhiều năm, hạn hán đã tàn phá khu vực, nhưng đặc biệt vài tháng gần đây tình trạng hết sức khắc nghiệt. Hai ngày sau, ông đến nhà thờ chính tòa Thánh Gioan Tẩy giả ở Perpignan để cầu nguyện gần di tích Thánh Gaudérique, một vị thánh địa phương vào thế kỷ thứ 9.

Ông nhớ lại: “Các gia đình ở Roussillon có thói quen cầu nguyện với Thánh Gaudérique khi hạn hán.” Ông gặp cha sở Christophe Lefebvre, ông nói: “Chúng ta có thể trưng bày thánh tích được không, trong quá khứ, chúng ta có thói quen rước kiệu xin mưa xuống.” Quyết định được đưa ra để cầu nguyện xin mưa từ Trời rơi xuống. Ngày được ấn định là ngày 18 tháng 3, chúng tôi chưa biết dự báo thời tiết ngày đó.

Ba giờ mưa liên tục

Phần còn lại của câu chuyện đơn giản như trong Kinh thánh: cuộc rước kiệu tiến hành như dự tính và ngay tối hôm đó, lượng mưa rơi xuống trong ba giờ tương đương với ba tuần mưa, vượt xa dự báo trong ngày. Linh mục Lefebvre nói: “Chúa ban cho chúng tôi những gì chúng tôi hy vọng!” Về phần giáo dân, họ tin chắc mưa là kết quả trực tiếp của lời cầu nguyện. Gần 600 người đi kiệu từ sân nhà thờ đến con sông La Têt cách đó vài trăm mét. Xông hương thánh tích, bài thánh ca catalan, kinh cầu các thánh đã cùng với những người khiêng kiệu thánh tích đi giữa dòng sông La Têt, mực sông không quá 20 xăngtimét. Kết thúc buổi rước kiệu là ban phép lành cho khu vực với thánh tích và đọc một đoạn Tin Mừng ở bốn điểm chính.

Những người gièm pha xem đây là mê tín dị đoan. Cha Benoỵt de Roeck của nhà thờ chính tòa, không nghi ngờ tác động của lời cầu nguyện, ngài nói, “mưa rơi xuống ngay là câu trả lời từ Trời”, ngài nhấn mạnh: “Đặc biệt cơn mưa làm mọi người ngạc nhiên, đây không phải là mưa phùn hay dòng nước lũ làm ngập đồng bằng, nhưng là cơn mưa tưới mát trái đất.”

Đối với người công giáo cũng như một số người đã rời đạo, cuộc rước là biểu hiện cho lòng mộ đạo bình dân đích thực. Linh mục De Roeck ngạc nhiên trước lòng mộ đạo tự nhiên này của người dân, khi hiện nay họ rất ngại công khai bày tỏ đức tin của mình, ngài nói: “Trong hai hoặc ba năm, thế giới vốn tự cho mình là toàn năng đã bắt đầu thấy tính dễ bị tổn thương, nhận ra sự mong manh của mình trước thiên nhiên và từ đó là trước Đấng Tạo Hóa. Lòng mộ đạo bình dân này đã dẫn dắt các dân tộc qua nhiều thế kỷ và không phải không có lý do mà ngày nay chúng ta tìm thấy lại. Nó đã bị phỉ báng, nhưng không gì có thể thay thế đức tin bình dân này, vì nó đơn sơ và vì thế nó đúng.”

Vào cuối cuộc rước, khi mười người khiêng thánh tích vào nhà nguyện của nhà thờ chính tòa, cha xứ quyết định khởi động lại nhóm huynh đệ Thánh Gaudérique, đã bị giải tán trong thời Cách mạng. Về phía giáo xứ, giáo dân đang nghĩ đến việc tổ chức rước kiệu hàng năm. Đây là lợi ích đôi của Thánh Gaudérique: xin mưa rơi, không chỉ tưới mát trái đất mà còn tưới mát cho đức tin của người dân địa phương.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

 

Read More
27Tháng Ba
2023

Các bằng chứng về sự tồn tại của Chúa: “Nghi ngờ là cấu thành của khoa học cũng như của tôn giáo”

27/03/2023
Anmai
GH Hoàn Vũ, Tin tức
0

 

 

“Người tin không cần đến ‘bằng chứng’ và Chúa lại càng không!” Câu chắc nịch này được tác giả Jacques Arnould đưa ra trong quyển sách của ông khi ông so sánh lịch sử khoa học và đức tin kitô giáo. Một cách có phương pháp, tác giả tố cáo những người theo thuyết tạo dựng đã lợi dụng các khám phá khoa học để biện hộ cho chủ thuyết của họ.

Ông đặt tựa cho quyển sách mới nhất Chúa không cần có ‘bằng chứng’ để ám chỉ đến quyển sách “Chúa. Khoa học, bằng chứng” của hai tác giả Michel-Yves Bolloré và Olivier Bonnassies được xuất bản tháng 10 năm 2021, quyển sách bán chạy và là một thành công lớn với công chúng. Làm thế nào ông đề cập đến vấn đề này?

Jacques Arnould: Con người tin tưởng nhưng cần bằng chứng: con người cần kinh nghiệm để đặt lòng tin nơi bạn bè, tài xế xe buýt, đồng nghiệp, phi công… Nhưng vì sao khi tin tưởng một cái gì cao siêu, siêu hình, tôn giáo thì con người lại không có cùng ước muốn chứng minh? Về phần tôi, tôi không bao giờ quên, liên quan đến vấn đề Thiên Chúa, chúng ta không khựng lại ở thuyết tạo dựng, nhưng chúng ta vấp ở: đau khổ, bệnh tật, cái chết của người thân, đó là những thử thách khó khăn hơn cho chúng ta.

Làm thế nào để giải thích có một số tín hữu tìm cách củng cố đức tin của họ với khoa học?

Quyển sách của hai tác giả Michel-Yves Bolloré và Olivier Bonnassies là một minh họa tốt cho điều này: muốn khoa học cung cấp cho chúng ta bằng chứng cái mà chúng ta gọi là thuyết hòa hợp. Với những người theo thuyết này, các khám phá khoa học sẽ xác nhận các quan điểm tôn giáo. Đây là cám dỗ của Đức Piô XII, năm 1951, trước các thành viên của Giáo hoàng Học viện Khoa học, ngài khẳng định khoa học và vật lý thiên văn xác nhận sự tồn tại của một Thiên Chúa tạo dựng.

Vụ nổ lớn? Quá lý tưởng để thành sự thật, đó là dấu vết của thần thánh. Và chúng ta quên, khoa học trước hết là công việc của nghi ngờ, hiếu kỳ, giả thuyết, thử nghiệm, quan sát, những chuyện không bao giờ ngừng thay đổi để tiến lên phía trước. Trong tiến trình khoa học, bằng chứng là thứ phải bị phá hủy hoàn toàn để tiến lên phía trước…

Điều gì thúc đẩy những người đương thời của chúng ta đến kiểu đơn giản hóa này, thậm chí như một biếm họa của khoa học?

Tôi còn muốn đi xa hơn, tôi gọi đây là giả mạo. Có một đam mê khoa học mang đến cho chúng ta những phát minh công nghệ ngày nay, nhưng đồng thời khoa học bị công cụ hóa để có thể giới thiệu các hệ tư tưởng. Một số đi xa đến mức phát triển một khoa học sáng tạo sai lầm, mâu thuẫn với kết quả hữu hình. Nhưng nghiên cứu là con đường suy tư phi thường không trái ngược với đức tin: Tôi lớn lên mỗi ngày nhờ tôi gặp các nhà nghiên cứu cống hiến trí tuệ, thời gian của họ.

Darwin và những người khác cho chúng ta biết chúng ta đang sống ở thế giới nào, chúng ta là gì, chúng ta đến từ đâu… Cùng với đó, chúng ta vẫn phải phát triển về mặt nhân bản, kể cả trong đức tin.

Nhưng làm thế nào Giáo hội công giáo có thể kết hợp đức tin và kiến thức khoa học?

Chúng ta phải nhớ những gì Đức Gioan Phaolô II đã nói trong bài phát biểu “Về sự tiến hóa” trước Học viện Giáo hoàng Khoa học ngày 22 tháng 10 năm 1996. Về tất cả các công trình khoa học, chúng ta phải xác định các sự kiện – có những hóa thạch, những thế giới trên trái đất này – và không nghi ngờ gì về chúng.

Sau đó, ngài nói, có những lý thuyết khoa học, những xuất phát từ đầu óc con người, mà chúng ta phải tôn trọng và biết những lý thuyết này có thể bị ảnh hưởng bởi một khái niệm của con người, thậm chí là một hệ tư tưởng. Cuối cùng, một khi chúng ta tập trung vào con người là gì, thì khoa học không thể nói mọi điều về con người.

Vì vậy, không có sự lựa chọn giữa đức tin và khoa học?

Chúng ta ở trong hai lãnh vực bị chủ nghĩa tín điều đe dọa. Vấn đề lớn với các phi hành gia là họ luôn ở trong tình trạng vô trọng lực và không thể dựa vào bất cứ gì. Còn chúng ta cần điểm dựa. Trong lãnh vực khoa học cũng như trong đức tin, chúng ta có những quy chiếu, những tín điều, là những hỗ trợ để tiến tới. Nhưng nếu chúng ta không nhúc nhích nữa, nó sẽ trở thành chủ nghĩa giáo điều. Chuyển động là tìm kiếm, nghiên cứu, nghi ngờ, là cấu thành của khoa học cũng như  tôn giáo. Tất cả những gì khoa học mang lại cho tôi về kiến thức thực tại, từ xa xôi nhất đến gần gũi nhất, đều làm cho tôi phải suy nghĩ.

Làm thế nào để các truyền thống tôn giáo và thiêng liêng, vốn có một di sản kiến thức về con người, lại bỏ qua những gì khoa học mang lại? Người ta có thể ngạc nhiên trước những gì các nhà khoa học đang nói ngày nay. Chúng ta, những người chỉ là hạt bụi, chúng ta lại có thể nhìn thấy không gian và thời gian lên đến hàng tỷ năm. Hãy để chúng ta được mê hoặc.

Trong một xã hội được đánh dấu bởi tinh thần khoa học, làm thế nào để định nghĩa đức tin?

Đó là một sự hiếu kỳ vô cùng. Trí tò mò luôn hướng về phía trước, nó tiếp tục làm cho tôi có năng lực. Và khoa học gia là người tò mò. Khoa học nuôi dưỡng sự tò mò của riêng tôi. Bằng chứng sẽ ngăn chặn đầu óc tò mò, và như thế thật đáng sợ. Có những lúc đức tin đến để trấn an, để an ủi… để là chỗ dựa. Nhưng chúng ta phải tiến về phía trước. Đức tin đang chuyển động.

Tác giả Jacques Arnould, thần học gia, kỹ sư nông nghiệp, tiến sĩ về lịch sử khoa học. Cựu tu sĩ Dòng Đa Minh, giám đốc dự án tại Trung tâm Nghiên cứu Không gian Quốc gia (Cnes), hỗ trợ cho các nhà nghiên cứu và kỹ sư về các vấn đề đạo đức.

Marta An Nguyễn dịch

 

Read More
27Tháng Ba
2023

Rượu mùi Dòng Thánh Brunô Chartreuse chắt lọc hương vị của lịch sử

27/03/2023
Anmai
GH Hoàn Vũ, Tin tức
0

 

Di chúc thiêng liêng của linh mục Dysmas, người muốn hạn chế sự phát triển rượu mùi vì lý do sinh thái

Tìm hiểu công ty duy nhất có chương trình cho 200 năm sắp tới của họ, lại quyết định chặn sự phát triển vì “sự tăng trưởng vô hạn không còn khả thi”

Rượu mùi Dòng Thánh Brunô Chartreuse chắt lọc hương vị của lịch sử

Trong hơn bốn thế kỷ, các tu sĩ Dòng Thánh Brunô đã giữ bí mật công thức pha chế rượu mùi Chartreuse, một pha trộn tài tình của 130 loại thực vật và gia vị. Với nhà máy chưng cất mới, khánh thành  cuối tháng 8 năm 2018, công ty muốn đảm bảo tương lai của mình trong 200 năm sắp tới, nhưng không quên di sản tu viện của họ.

la-croix.com, Julien Da Sois, ở Voiron và Entre-deux-Guiers, 2018-09-26

Ở trung tâm vùng rừng rậm Chartreuse, Isère, giữa những đỉnh núi  được bao phủ bởi rừng cây xanh dày đặc là bí quyết được lưu giữ từ hơn 400 năm nay. Cho đến bây giờ, công thức rượu mùi Chartreuse, với hương thơm của hoa hồi, dầu chanh và cây cối với những tên không quen thuộc đã thành loại rượu khó ai địch nổi. Ông Emmanuel Delafon, giám đốc điều hành công ty mặc áo có logo Chartreuse cười nói: “Trên mỗi hóa đơn, sư huynh Jean-Jacques dùng hệ sửa lỗi tự động xóa các tên thực vật được dùng trong công thức sản xuất rượu mùi!”

“Thần dược” của 130 loại cây

Chỉ có hai tu sĩ – thầy Jean-Jacques và cha Benoỵt – là biết công thức của thức uống huyền ẩn có nguồn gốc từ năm 1605 này. Ông Emmanuel Delafon nói: “Khi họ có công việc cần đi ra ngoài, họ không bao giờ đi cùng máy bay hoặc cùng xe hơi.”

Công thức vẫn còn tồn tại, được giữ trong thư viện của tu viện Grande-Chartreuse, ở Saint-Pierre-de-Chartreuse, nhưng hai tu sĩ này là những người duy nhất biết tỷ lệ của từng loại cây!

Công việc này được thầy Jean-Jacques làm trong “phòng thực vật” của tu viện. Một mình trước hàng chục bao, thầy tỉ mỉ hái, ngửi và chọn từng chiếc lá, từng loại gia vị. Hàng năm có không dưới 24 tấn thực vật được chuyển đến tu viện trong các bao nặng 150 kí lô.

Du khách bình thường không thể đơn giản vào tu viện. Đạo diễn người Đức, Philip Grưning, đã phải chờ 16 năm trước khi được đặc quyền quay bộ phim Im lặng Cao cả, Le Grand Silence ở đó. Phim đã trở thành cuốn phim nổi tiếng được chiếu tại Pháp năm 2006.

Độ rượu, 69 độ

Trên đồng cỏ của tu viện rộng lớn có khoảng ba mươi tu sĩ sinh sống. Từ đó chúng ta có thể thấy các tịnh cốc của các tu sĩ ở dãy nhà nhỏ lợp mái đen.

Chính tại tu viện thế kỷ 16 này, Rượu Thực vật của Dòng Thánh Brunô ra đời lần đầu tiên năm 1737, sau hơn một thế kỷ tìm tòi không kết quả, với nồng độ cồn 69% được dùng để điều trị rối loạn tiêu hóa. Ông Emmanuel Delafon nói: “Từ thuốc tiên này đã làm rượu mùi Chartreuse. Sản phẩm màu xanh lục của thương hiệu Chartreuse cồn 55 độ, được phát triển gần ba mươi năm sau năm 1764, và màu vàng với 40 độ cồn năm 1838.

Nhưng lịch sử của rượu mùi không phải là lịch sử của một dòng sông dài êm đềm. Bị phân tán trong cuộc Cách mạng Pháp năm 1789, các tu sĩ chỉ trở lại vùng đất của họ năm 1816. Công việc sản xuất rượu chiếm quá nhiều chỗ trong tu viện, năm 1860 họ xây nhà máy chưng cất ở Fourvoirie gần chỗ ở của họ vài cây số, và đây là lần đầu tiên những người không có chuyên môn tham gia vào quá trình sản xuất.

Trục xuất lần thứ hai và một quyết định khó khăn

Năm 1903, hai năm trước khi Giáo hội và Nhà nước tách ra, các tu sĩ bị trục xuất lần thứ hai. Nhà máy chưng cất Fourvoirie và tu viện bị giao cho Nhà nước. Ông Emmanuel Delafon nói: “Vào thời điểm đó, hai trường hợp đã thành đề tài trên các báo: vụ Dreyfus và việc trục xuất các tu sĩ Dòng Thánh Brunô. Họ về ẩn ở Tarragona, Tây Ban Nha, tại đây họ xây một nhà máy chưng cất mới.

Mãi đến năm 1930, họ mới về Fourvoirie. Nhưng cũng không kéo dài bao lâu. Năm năm sau, một trận lở đất đã phá hủy nhà máy chưng cất nằm trên sườn núi. Ngày nay, tàn tích là nhân chứng cho hoạt động kinh tế hưng thịnh trong quá khứ. Vì thế năm 1935, các tu sĩ gấp rút chuyển cơ sở sản xuất của họ đến Voiron, cách đó 15 cây số, nơi họ đã có một căn hầm và nhà kho.

Từ đó không còn cuộc phiêu lưu nào trong hơn 75 năm. Cho đến năm 2011. Ông Emmanuel Delafon cho biết: “Năm đó, các quy định của châu Âu phân loại rượu này là hydrocacbon, vì nó là chất lỏng rất dễ cháy.”

Ông Delafon là cựu kiểm toán viên của hãng Gucci đảm nhận chức vụ năm 2013, ngay lập tức ông đối diện với một lựa chọn khó khăn: đầu tư để bảo vệ di tích lịch sử Voiron, nơi lưu trữ hai triệu lít rượu ở trung tâm thành phố, hay phải dọn đi. Quyết định là phải dọn đi. Ông giải thích: “Quá tốn kém để làm cho nhà máy chưng cất đạt tiêu chuẩn.”

Vì thế công ty phải tìm một địa điểm sản xuất mới. Lựa chọn là vùng  Aiguenoire, một ngôi làng ở thị trấn nhỏ Entre-deux-Guiers, nằm giữa đồng cỏ bát ngát. Ông Emmanuel Delafon cho biết: “Đó là nơi về nhà của các tu sĩ, họ đã ở đây từ năm 1618 đến năm 1791, thời đó họ làm nghề nông và đánh cá.”

Nồi chưng được dùng để chưng cất rượu xanh hoặc rượu vàng. / Stephane/Couchet

Sau 18 tháng làm việc và đầu tư 10 triệu âu kim, tháng 11 năm 2017, nhà máy chưng cất thứ bảy trong lịch sử của các tu sĩ Dòng Thánh Brunô bắt đầu hoạt động. Lễ khánh thành ngày 30 tháng 8, đây là ngày mang tính biểu tượng vì kỷ niệm 400 năm các tu sĩ đến vùng đất này.

Dịp này, các tu sĩ tìm thấy lịch sử của họ ở đây. Trước mặt họ là nhà máy chưng cất đã được xây theo một kiến trúc tương tự, tạo hiệu ứng như tấm gương soi. Bên trong là ba nồi chưng cất, một bằng đồng đem từ Voiron đến, được giữ gìn rất tốt dù tuổi đời đã cao. Ông Bertrand de Nève, cựu thương gia rượu, người quản lý nhà máy chưng cất giải thích: “Các túi chứa hỗn hợp thảo mộc, công thức được mã hóa được đem đến đây để vào ba quy trình sản xuất: chưng cất, ngâm và chiết xuất.”

Để tránh cho hai tu sĩ phải liên tục đi lại giữa tu viện và nhà máy chưng cất, một hệ thống liên kết máy tính đã được lắp đặt. Cứ ba tuần các tu sĩ thu được gần 42.000 lít rượu mùi.

Dự án di tích lịch sử

Sau khi xong giai đoạn chưng cất, rượu được các ống đồng chuyển đến hầm ủ lâu năm, tại đây có các thùng gỗ sồi khổng lồ được xếp thành hàng có thể chứa đến hai triệu lít. Sau đó rượu nằm yên nghỉ trong nhiều năm. Và thời gian ủ thì ông Bertrand de Nève trả lời vòng vòng: “Khoảng, có khi nhiều hơn một chút…” Bí mật!

Nhưng không có chuyện từ bỏ di tích lịch sử ở Voiron. Đây là một phần không thể thiếu trong dự án “Tương lai lớn” của công ty, một hành trình “trong 200 năm tới”. Việc đóng chai vẫn làm ở Voiron, và chuyển giao cho Aiguenoire năm 2020. Nhưng hầm ủ rượu, “dài nhất thế giới với 164 mét” sẽ tiếp tục cung cấp 10% sản lượng, trong hàng chục thùng cũ được cất cạnh nhau trong bóng tối.

Ông Emmanuel Delafon nói: “Mục đích là biến di tích lịch sử Voiron thành nơi du lịch tâm linh đích thực. Một trong các dự án của chúng tôi là bày biện các bàn ăn chung quanh tu viện.”

Nhưng, theo cách nói của ông chủ trẻ, lợi nhuận không phải là chuyện công ty phải chạy theo: “Chúng tôi muốn chúng tôi vẫn là công ty lớn nhất của những nhà sản xuất rượu mùi nhỏ làm theo kiểu  thủ công. Năm ngoái, doanh thu của công ty là 17 triệu âu kim.”

Ông nói: “Ngày nay chúng tôi bán ở nước ngoài nhiều hơn ở Pháp, đặc biệt là ở Hoa Kỳ. Bằng chứng cho sự nổi tiếng ở nước ngoài của rượu Dòng Thánh Brunô: đạo diễn Quentin Tarantino đã dùng rượu của Dòng trong các cảnh quay của hai phim Boulevard de la mort (Đại lộ Tử thần) và Inglourious Basterds (Những người khốn kiếp không vinh hạnh) của ông.

Các con số của rượu Dòng Thánh Brunô

10.000 du khách mỗi năm

Có hai công ty riêng biệt: Công ty Pháp Grande Chartreuse, quản lý việc sản xuất và công ty Chartreuse Diffusion bán rượu từ những năm 1970.

Hai công ty này có 70 nhân viên, trong đó có hai tu sĩ được trả bằng tiền bản quyền.

Sản xuất 1,5 triệu chai mỗi năm. Xuất cảng trên hơn 50 quốc gia, chính yếu ở Hoa Kỳ, Đức, Tây Ban Nha, Canada và Mexico.

Hiện nay rượu Chartreuse màu xanh lá cây chiếm 80% doanh số bán của công ty, vào cuối thế kỷ 19, nó chỉ là một phần ba.

Một chai 70 cl khoảng 30 âu kim. Rượu sưu tập được sản xuất tại Tarragona, Tây Ban Nha trong những năm 1960, bây giờ có giá từ 2.000 đến 2.500 âu kim.

Trung tâm rượu mùi Chartreuse ở Voiron đón 100.000 du khách mỗi năm.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

 

Read More

Điều hướng bài viết

  • Previous page
  • Page 1
  • …
  • Page 519
  • Page 520
  • Page 521
  • …
  • Page 2.058
  • Next page
Bài viết mới nhất
TÂM SỰ NGƯỜI LINH MỤC.
23/07/2026
Di chúc thiêng liêng của Linh mục Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp
11/07/2026
Hoa trái thiêng liêng hậu tuần Cửu nhật
11/07/2026
Video nổi bật
https://www.youtube.com/watch?v=Td144YDsaGo
Sự kiện sắp tới

There are no upcoming events at this time.

Ủy ban Giáo dục Công giáo – Trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.

Liên hệ

72/12 Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, TP.HCM Get Directions

Phone: +84 931 436 131

Email: [email protected]

Ban chuyên môn
  • Ban Tài liệu và Truyền thông
  • Ban Giáo chức
  • Ban Kỹ năng và Giá trị sống
  • Ban Khuyến học
  • Ban Học viện Thần học
  • Ban Hội Học sinh – Sinh viên
Chuyên mục
  • Tin tức
  • Thư chung
  • Giáo dục
  • Phụng vụ
  • Thư viện
Bản quyền © 2020 thuộc về Ủy Ban Giáo Dục HĐGM VN. Design by JT.