2026
[TÔNG DU ALGERIA] ĐỨC THÁNH CHA GẶP GỠ CHÍNH QUYỀN, XÃ HỘI DÂN SỰ VÀ NGOẠI GIAO ĐOÀN
[TÔNG DU ALGERIA] ĐỨC THÁNH CHA GẶP GỠ CHÍNH QUYỀN, XÃ HỘI DÂN SỰ VÀ NGOẠI GIAO ĐOÀN
Tại Dinh El Mouradia, Đức Thánh Cha đã thăm hữu nghị Tổng thống Abdelmadjid Tebboune – người vừa tái đắc cử nhiệm kỳ thứ hai vào năm 2024. Cuộc gặp gỡ này đánh dấu một bước tiến mới trong mối quan hệ giữa Tòa Thánh và Algeria, sau lần Tổng thống Tebboune được Đức Thánh Cha tiếp kiến tại Vatican vào tháng 7 năm ngoái.
Sau đó, Đức Thánh Cha đến Trung tâm Hội nghị Djamaa el Djazair để gặp gỡ khoảng 1.400 đại diện giới chức chính quyền, xã hội dân sự và ngoại giao đoàn. Trong diễn văn đáp từ sau lời chào mừng của Tổng thống Tebboune, Đức Thánh Cha đã nhấn mạnh đến tinh thần đối thoại và khát vọng hòa hợp giữa các dân tộc. Ngài nói:
Thưa Ngài Tổng thống,
Quý Quan chức, các Thành viên Ngoại giao đoàn, cùng tất cả Quý vị,
Tôi hết lòng cảm ơn lời mời đến thăm Algeria, một lời mời đã đến ngay từ khi tôi vừa bắt đầu Sứ vụ Phêrô, và tôi cảm ơn quý vị vì sự đón tiếp nồng hậu này! Quý vị biết rằng, với tư cách là một người con tinh thần của Thánh Augustinô, tôi đã từng hai lần đến thăm Annaba: vào năm 2001 và 2013. Tôi tạ ơn kế hoạch mầu nhiệm mà Thiên Chúa quan phòng đã sắp đặt cho tôi được trở lại nơi đây với tư cách là Đấng Kế vị Thánh Phêrô. Tôi hiện diện giữa quý vị như một người hành hương của hòa bình, khao khát được gặp gỡ người dân Algeria cao quý. Chúng ta là anh chị em với nhau, vì chúng ta có cùng một Cha trên trời. Cảm thức tôn giáo sâu sắc của người dân Algeria nuôi dưỡng một nền văn hóa gặp gỡ và hòa giải, mà chuyến thăm của tôi cũng mong muốn trở thành một dấu chỉ cho điều đó. Trong một thế giới đầy rẫy những xung đột và hiểu lầm, chúng ta hãy gặp gỡ và nỗ lực để hiểu biết lẫn nhau, nhìn nhận rằng chúng ta là một gia đình! Ngày nay, sự giản đơn của nhận thức này chính là chìa khóa để mở ra nhiều cánh cửa đang đóng kín.
Thưa anh chị em thân mến, tôi cũng hiện diện nơi đây giữa quý vị như một chứng nhân cho hòa bình và hy vọng mà thế giới đang khao khát mãnh liệt, và là điều mà nhân dân quý vị luôn tìm kiếm. Thật vậy, dân tộc quý vị chưa bao giờ bị khuất phục trước những thử thách vì họ thấm đẫm tinh thần đoàn kết, lòng hiếu khách và tính cộng đồng vốn được dệt nên trong đời sống hàng ngày của hàng triệu tâm hồn khiêm nhường và chính trực. Họ là những người thực sự mạnh mẽ, những người mà tương lai thuộc về họ: đó là những người không để mình bị mù quáng bởi quyền lực hay giàu sang, và những người từ chối hy sinh phẩm giá của đồng bào mình vì lợi ích cá nhân hay tập thể. Về khía cạnh này, tôi đã được nghe nhiều người kể về việc người dân Algeria thể hiện sự hào phóng to lớn đối với cả đồng bào lẫn người nước ngoài. Tinh thần này phản ánh lòng hiếu khách bén rễ sâu xa trong các cộng đồng người Ả Rập và Berber, một nghĩa vụ thiêng liêng mà chúng ta hy vọng sẽ tìm thấy ở mọi nơi như một giá trị xã hội nền tảng. Tương tự như vậy, việc bố thí (sadaka) là một thực hành phổ biến và tự nhiên giữa quý vị, ngay cả đối với những người có phương tiện hạn chế. Từ sadaka cũng có thể mang nghĩa là công lý, theo nghĩa là chúng ta không giữ mọi thứ cho riêng mình, nhưng chia sẻ những gì mình có như một vấn đề của công lý. Kẻ tích trữ của cải và dửng dưng với người khác là kẻ bất công. Cách nhìn này về công lý vừa đơn sơ vừa triệt để vì nó nhận ra hình ảnh của Thiên Chúa nơi người khác. Thật vậy, một tôn giáo thiếu lòng thương xót và một xã hội thiếu sự liên đới là một sự xúc phạm trước mắt Thiên Chúa. Vậy mà nhiều xã hội tự coi mình là tiên tiến lại đang lún sâu hơn bao giờ hết vào sự bất bình đẳng và loại trừ. Châu Phi biết quá rõ rằng những con người và tổ chức thống trị kẻ khác sẽ phá hủy thế giới này, thế giới mà Đấng Tối Cao đã tạo ra để chúng ta có thể chung sống cùng nhau.
Những trải nghiệm gian khó mà quý vị đã đối mặt trong suốt lịch sử đã mang lại cho đất nước quý vị một tầm nhìn đặc biệt quan trọng về sự cân bằng quyền lực toàn cầu. Nếu quý vị có thể tham gia vào cuộc đối thoại liên quan đến những mối bận tâm của tất cả mọi người và thể hiện sự liên đới với nỗi đau khổ của biết bao quốc gia gần xa, thì quý vị sẽ có thể góp phần vào việc hình dung và mang lại sự công bằng lớn hơn giữa các dân tộc. Bằng cách tôn trọng phẩm giá của mọi người và để mình được rung cảm trước nỗi đau của người khác, thay vì làm gia tăng những hiểu lầm và xung đột, quý vị chắc chắn có thể trở thành những nhân vật chính của một chương mới trong lịch sử. Ngày nay, trước bối cảnh của những vi phạm luật pháp quốc tế liên tục và các khuynh hướng thực dân mới, điều này càng trở nên khẩn thiết hơn bao giờ hết.
Các vị tiền nhiệm của tôi đã nhận thức rõ ràng ý nghĩa mang tính thời đại của thách thức này. Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI đã nhận thấy rằng: “Các tiến trình toàn cầu hóa, nếu được hiểu và định hướng một cách phù hợp, sẽ mở ra khả năng chưa từng có cho việc tái phân phối của cải ở quy mô toàn thế giới; tuy nhiên, nếu bị định hướng sai lạc, chúng có thể dẫn đến sự gia tăng nghèo đói và bất bình đẳng, thậm chí có thể kích hoạt một cuộc khủng hoảng toàn cầu” (Thông điệp Caritas in Veritate, số 42). Đức Giáo hoàng Phanxicô, với những kinh nghiệm sâu rộng của Ngài về những căng thẳng hiện diện ở các nước Nam Bán cầu, đã nhấn mạnh tầm quan trọng của những gì chỉ có thể thấu hiểu được từ các vùng ngoại vi của các trung tâm quyền lực và quyết sách lớn. Ngài đã viết: “Điều cần thiết là một mô hình tham gia về xã hội, chính trị và kinh tế ‘có thể bao hàm các phong trào quần chúng và tiếp thêm sinh lực cho các cấu trúc quản trị địa phương, quốc gia và quốc tế bằng dòng thác năng lượng đạo đức nảy sinh từ việc đưa những người bị loại trừ vào công cuộc xây dựng một định mệnh chung’” (Thông điệp Fratelli Tutti, số 169).
Vì vậy, tôi mời gọi quý vị – những người đang nắm giữ các vị trí thẩm quyền của quốc gia đừng lo sợ viễn cảnh này, nhưng hãy thúc đẩy một xã hội dân sự năng động, tràn đầy sức sống và tự do, nơi mà cách riêng những người trẻ được ghi nhận là có khả năng giúp mở rộng chân trời hy vọng cho tất cả mọi người. Sức mạnh thực sự của một quốc gia nằm ở sự hợp tác của mọi người trong việc theo đuổi công ích. Các cấp chính quyền được kêu gọi không phải để thống trị, mà là để phục vụ nhân dân và thúc đẩy sự phát triển của họ. Do đó, hoạt động chính trị tìm thấy tiêu chí định hướng nơi công lý – mà nếu thiếu nó thì không thể có hòa bình đích thực – và được thể hiện qua việc thúc đẩy các điều kiện công bằng và xứng đáng cho tất cả mọi người. Giáo hội Công giáo, thông qua các cộng đồng và các sáng kiến của mình, cũng mong muốn đóng góp vào lợi ích chung của Algeria, củng cố bản sắc đặc thù của quốc gia này như một nhịp cầu giữa phương Bắc và phương Nam, giữa phương Đông và phương Tây.
Địa Trung Hải một bên, và sa mạc Sahara bên kia, đại diện cho những giao thoa địa lý và tâm linh có ý nghĩa to lớn. Nếu chúng ta đi sâu vào lịch sử của chúng, tách biệt khỏi những sự giản lược hóa hay hệ tư tưởng, chúng ta sẽ khám phá ra những kho tàng nhân văn bao la ẩn giấu nơi đó. Bởi biển cả và sa mạc đã là những nơi mà các dân tộc và các nền văn hóa làm giàu lẫn nhau qua hàng thiên niên kỷ. Khốn cho chúng ta nếu biến chúng thành những nghĩa trang nơi hy vọng cũng lụi tàn! Chúng ta hãy giải phóng những kho dự trữ khổng lồ của lịch sử và tương lai này khỏi cái ác! Chúng ta hãy nhân thêm nhiều những ốc đảo hòa bình; tố cáo và loại bỏ những nguyên nhân gây ra sự tuyệt vọng; và chống lại những kẻ trục lợi từ nỗi bất hạnh của người khác! Vì những lợi nhuận của những kẻ bóc lột sự sống con người – vốn có phẩm giá bất khả xâm phạm – là bất chính. Vậy, chúng ta hãy hiệp nhất sức mạnh, năng lượng tinh thần, trí tuệ và nguồn lực của mình, để đất và biển có thể trở thành những nơi của sự sống, của gặp gỡ và của sự kỳ diệu. Ước gì vẻ đẹp hùng vĩ của chúng chạm đến trái tim chúng ta; ước gì sự bao la vô tận của chúng thúc đẩy chúng ta suy ngẫm về sự siêu việt. Địa Trung Hải, sa mạc Sahara và bầu trời rộng lớn phía trên chúng đang thầm thì với chúng ta rằng thực tại vượt xa chúng ta về mọi phương diện, rằng Thiên Chúa thực sự vĩ đại, và mọi sự đều sống trong sự hiện diện mầu nhiệm của Người.
Nhận thức này có những hệ quả to lớn đối với cách chúng ta hiểu về thực tại, tuy vậy, nhiều người ngày nay lại đánh giá thấp tầm quan trọng của nó. Xem xét kỹ hơn, xã hội Algeria cũng quen thuộc với sự căng thẳng giữa tính nhạy cảm tôn giáo và đời sống hiện đại. Tại đây, cũng như trên khắp thế giới, các năng động đối lập giữa chủ nghĩa cực đoan và sự thế tục hóa có xu hướng tự biểu hiện, khiến nhiều người đánh mất cảm thức đích thực về Thiên Chúa và về phẩm giá của các tạo vật của Người. Hệ quả là, các biểu tượng và ngôn từ tôn giáo, một mặt, có thể trở thành ngôn ngữ phạm thượng của bạo lực và áp bức, hoặc mặt khác, trở thành những dấu chỉ sáo rỗng trong thị trường tiêu thụ khổng lồ vốn không làm chúng ta thỏa mãn.
Tuy nhiên, những sự phân cực phi lý này không được làm chúng ta nản lòng. Chúng phải được đối diện bằng trí tuệ. Chúng là dấu hiệu cho thấy chúng ta đang sống trong một thời đại phi thường của sự canh tân lớn lao, trong đó những ai giữ cho trái tim mình tự do và lương tâm tỉnh thức có thể rút ra từ các truyền thống tâm linh và tôn giáo vĩ đại những cách nhìn mới về thế giới và một mục đích sống không thể lay chuyển. Chúng ta phải giáo dục con người về tư duy phản biện và sự tự do, về sự lắng nghe và đối thoại, và về sự tin cậy giúp chúng ta nhìn nhận những người khác biệt là những người bạn đồng hành chứ không phải là những mối đe dọa. Chúng ta phải nỗ lực để chữa lành ký ức và hòa giải với những ai đã từng là đối thủ. Đây chính là món quà tôi mong ước cho quý vị, cho Algeria, và cho toàn thể nhân dân nơi đây, những người mà tôi khẩn cầu muôn vàn phúc lành từ Đấng Tối Cao.
Sau cuộc gặp gỡ với chính quyền, xã hội dân sự và ngoại giao đoàn, Đức Thánh Cha đã trở về Tòa Khâm sứ Tòa Thánh để dùng bữa trưa và nghỉ ngơi.
Nguồn: vaticannews.va/vi
2026
[TÔNG DU ALGERIA] ĐỨC THÁNH CHA GẶP GỠ CỘNG ĐOÀN ALGERIA TẠI VƯƠNG CUNG THÁNH ĐƯỜNG ĐỨC BÀ CHÂU PHI
[TÔNG DU ALGERIA] ĐỨC THÁNH CHA GẶP GỠ CỘNG ĐOÀN ALGERIA TẠI VƯƠNG CUNG THÁNH ĐƯỜNG ĐỨC BÀ CHÂU PHI
Từ Trung tâm đón tiếp và tình bạn của các nữ tu Dòng Truyền giáo Augustinô, Đức Thánh Cha đã di chuyển đến Vương cung Thánh Đường Đức Bà Châu Phi cách đó hơn 1 km để gặp gỡ cộng đoàn Algeria.
Vương cung Thánh Đường Đức Bà Châu Phi tọa lạc trên mũi đất cao 124m nhìn ra biển. Nguồn gốc gắn với tượng Đức Mẹ bằng đồng được tặng cho Đức Cha Antoine-Louis-Adolphe Dupuch, Giám mục đầu tiên của giáo phận Algiers vào năm 1840. Sau tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội (1854), vương cung thánh đường được xây từ 1858, hoàn tất năm 1872. Công trình bị hư hại nặng do động đất năm 2003 và được trùng tu suốt bảy năm. Bàn thờ chính của nhà thờ có tôn kính tượng Đức Mẹ Đen, được bao quanh bởi hai nhà nguyện: một kính Thánh Augustinô và một kính Thánh Monica và tưởng niệm 19 vị tử đạo Algeria. Nhà thờ là nơi gặp gỡ đối thoại, cả tín hữu Hồi giáo cũng hành hương đến đây.
Vào nhà thờ, trước hết Đức Thánh Cha dừng lại chầu Thánh Thể trong giây lát và sau đó dâng hoa kính Đức Mẹ.
Chào đón Đức Thánh Cha, Đức Hồng y Jean Vasco, Tổng Giám mục của Algiers nhận định rằng từ Vương cung Thánh đường Đức Bà Châu Phi, Tin Mừng được loan báo đến nhiều quốc gia châu Phi. Do đó, việc Đức Thánh Cha bắt đầu chuyến tông du đầu tiên tại châu Phi từ nơi đây mang ý nghĩa đặc biệt.
Đức Hồng y cho biết nhà thờ này là không gian gặp gỡ và tình huynh đệ, nơi mà chín trong số mười người bước qua ngưỡng cửa nhà thờ là người Hồi giáo. Đức Maria, được gọi cách thân thương là “Đức Bà Châu Phi”, được ghi khắc trong di sản và tâm hồn người Algeria. Dòng chữ “xin cầu cho chúng con và cho người Hồi giáo” diễn tả ơn gọi mẫu tử phổ quát của Đức Mẹ và sứ mạng của thánh đường trong việc đón tiếp, đối thoại và tổ chức các sinh hoạt liên tôn.
Ngài nói thêm rằng Giáo hội tại đây được ví như một bức khảm đa dạng, gồm nhiều quốc tịch, vừa thuộc về Algeria vừa mang tính hoàn vũ. Các cộng đoàn sống tinh thần hiệp nhất đại kết với nhiều hệ phái Kitô giáo và duy trì tình huynh đệ với các tôn giáo khác, kể cả Do Thái giáo.
Đức Hồng y cũng nhắc đến những người vắng mặt, đặc biệt là các tù nhân và người di cư, những người tìm kiếm một tương lai tốt đẹp hơn. Họ cần lời cầu nguyện của Đức Thánh Cha, đồng thời chắc chắn cũng cầu nguyện cho ngài.
Tiếp tục cuộc gặp gỡ, Đức Thánh Cha và cộng đoàn đã lắng nghe các chứng từ, của một nữ tu, một nữ sinh viên Tin Lành, một người hướng dẫn các du khách viếng nhà thờ, và cuối cùng là một người Hồi giáo.
Và Đức Thánh Cha ngỏ lời với cộng đoàn:
Nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần.
Bình an ở cùng anh chị em!
Anh em trong hàng Giám mục thân mến,
các linh mục và phó tế, tu sĩ nam nữ
và các con yêu dấu của Giáo Hội tại Algeria,
Với niềm vui sâu xa và tình phụ tử, hôm nay tôi được gặp gỡ anh chị em, những người hiện diện âm thầm nhưng quý giá trên mảnh đất này, một sự hiện diện được ghi dấu bởi một di sản cổ kính và bởi những chứng nhân rạng ngời của đức tin.
Lời mời gọi trở nên những dấu chỉ đích thực của hiệp thông, đối thoại và hòa bình
Cộng đoàn của anh chị em thực sự có những cội rễ sâu xa. Anh chị em là những người thừa kế của biết bao chứng nhân đã hiến dâng mạng sống mình, được thúc đẩy bởi tình yêu đối với Thiên Chúa và tha nhân. Tôi đặc biệt nhớ đến mười chín tu sĩ nam nữ đã tử đạo tại Algeria, những người đã chọn ở lại bên cạnh dân tộc này trong niềm vui cũng như nỗi buồn của họ. Máu của các ngài là hạt giống sống động không ngừng sinh hoa kết trái.
Anh chị em cũng là những người thừa kế của một truyền thống còn cổ xưa hơn nữa, bắt nguồn từ những thế kỷ đầu của Kitô giáo. Trên mảnh đất này đã vang lên tiếng nói nhiệt thành của Thánh Augustinô thành Hippo, được đi trước bởi chứng tá của thân mẫu ngài, Thánh Monica, và của nhiều vị thánh khác. Ký ức về các ngài tỏa sáng như một lời mời gọi hôm nay hãy trở nên những dấu chỉ đích thực của hiệp thông, đối thoại và hòa bình.
Với tất cả anh chị em, những người bạn thân mến, và cả những người không thể hiện diện nhưng đang theo dõi cuộc gặp gỡ này từ xa, tôi bày tỏ lòng biết ơn vì sự dấn thân hằng ngày của anh chị em trong việc biểu lộ trái tim hiền mẫu của Giáo Hội. Tôi cảm ơn Đức Hồng y vì những lời chia sẻ của ngài, cũng như Rakel, Ali, Monia và Sơ Bernadette vì những gì họ đã chia sẻ. Dựa trên những gì chúng ta đã nghe, tôi muốn cùng anh chị em dừng lại và suy tư về ba khía cạnh của đời sống Kitô hữu mà tôi cho là thiết yếu, đặc biệt trong bối cảnh sự hiện diện của anh chị em nơi đây: cầu nguyện, bác ái và hiệp nhất.
“Con người không thể sống mà không cầu nguyện”
Trước hết là cầu nguyện. Tất cả chúng ta đều cần cầu nguyện. Thánh Gioan Phaolô II đã nhấn mạnh điều này khi nói với các bạn trẻ: “Con người không thể sống mà không cầu nguyện, cũng như không thể sống mà không thở” (Cuộc gặp gỡ với các bạn trẻ Hồi giáo tại Casablanca, 19 tháng 8 năm 1985, số 4). Ngài trình bày cuộc đối thoại với Thiên Chúa như điều không thể thiếu, không chỉ cho đời sống của Giáo Hội mà còn cho mỗi cá nhân. Thánh Charles de Foucauld cũng nhận ra điều này và đã sống ơn gọi của mình như một sự hiện diện cầu nguyện. Ngài viết: “Tôi hạnh phúc, hạnh phúc được ở trước Thánh Thể mọi lúc” (Thư gửi Raymond de Blic, 9 tháng 12 năm 1907) và khuyến khích người khác: “Hãy cầu nguyện nhiều cho tha nhân. Hãy tận hiến mình cho phần rỗi của tha nhân bằng mọi phương thế trong khả năng của bạn: bằng cầu nguyện, bằng lòng tốt, bằng gương sáng” (Thư gửi Louis Massignon, 1 tháng 8 năm 1916).
Nói về nhu cầu cầu nguyện, Ali đã chia sẻ kinh nghiệm phục vụ tại nhà thờ Đức Bà Châu Phi, nơi nhiều người đến để đi vào thinh lặng, để bày tỏ những ưu tư của mình, để cầu nguyện cho những người thân yêu, và để gặp một người sẵn sàng lắng nghe họ hầu họ có thể chia sẻ những gánh nặng trong lòng. Anh nhận thấy rằng nhiều người tìm được bình an nơi đây và vui mừng vì đã đến. Cầu nguyện hiệp nhất, nhân bản hóa, củng cố và thanh luyện tâm hồn. Qua cầu nguyện, Giáo Hội tại Algeria gieo vãi lòng nhân đạo, sự hiệp nhất, sức mạnh và sự tinh tuyền, vươn tới những nơi chỉ một mình Thiên Chúa biết.
Hành động bác ái là cơ hội của ân sủng
Khía cạnh thứ hai của đời sống Giáo Hội mà tôi muốn suy tư là bác ái. Sơ Bernadette đã đặc biệt nói với chúng ta về điều này khi chia sẻ kinh nghiệm hỗ trợ các trẻ em khuyết tật và cha mẹ của các em. Qua những gì sơ chia sẻ, chúng ta hiểu rằng lòng thương xót và sự phục vụ không chỉ đơn thuần là cung cấp trợ giúp vật chất cho những người yếu đuối nhất giữa chúng ta. Trên hết, những hành động ấy trở thành cơ hội của ân sủng, giúp mọi người liên hệ được tăng trưởng và được phong phú hơn. Sơ Bernadette đã giải thích làm thế nào một cử chỉ gần gũi đơn sơ ban đầu, là thăm viếng người bệnh, đã nảy nở, trước hết, thành một trung tâm cộng đồng, rồi thành một tổ chức chăm sóc ngày càng có cơ cấu. Hiện nay, nơi ấy đã trở thành một cộng đoàn đích thực, nơi nhiều người cùng chia sẻ những khoảnh khắc vui buồn, liên kết với nhau bằng lòng tín nhiệm, tình bạn và sự hiệp thông. Một môi trường như thế mang lại sự sống và chữa lành, và không lạ gì khi những người đau khổ có thể tìm thấy nơi đó những nguồn lực giúp cải thiện sức khỏe, đồng thời mang lại niềm vui cho người khác, như trường hợp của Fatima.
Quả thật, chính tình yêu đối với anh chị em đã thúc đẩy chứng tá của các vị tử đạo mà chúng ta đã tưởng nhớ. Trước hận thù và bạo lực, các ngài vẫn trung thành với đức ái cho đến hiến dâng chính mình cùng với nhiều người nam nữ khác, cả Kitô hữu lẫn Hồi giáo. Các ngài đã làm điều đó không phô trương, không ồn ào, nhưng trong sự thanh thản và kiên vững, không rơi vào tự phụ cũng không tuyệt vọng, vì các ngài biết Đấng mà mình đã đặt trọn niềm tin (x. 2 Tm 1,12). Nhân danh tất cả các ngài, chúng ta có thể nhắc lại những lời đơn sơ của thầy Luc, vị tu sĩ cao tuổi và là bác sĩ của cộng đoàn Notre-Dame de l’Atlas. Khi được đề nghị rời đi để tự cứu mình khỏi những nguy hiểm có thể xảy ra, với cái giá là bỏ lại các bệnh nhân và bạn hữu, thầy đã trả lời: “Tôi muốn ở lại với họ” (C. Henning – T. Georgeon, Fratel Luc di Tibhirine. Monaco, medico e martire, Vatican City 2025, Lời mở đầu), và thầy đã làm như vậy. Nhân dịp lễ tuyên phong chân phước cho các ngài, Đức Giáo hoàng Phanxicô đã nói về thầy và tất cả các vị khác: “Chứng tá can đảm của họ là nguồn hy vọng cho cộng đoàn Công giáo tại Algeria và là hạt giống đối thoại cho toàn xã hội. Ước gì việc tuyên phong chân phước này trở nên nguồn cảm hứng cho mọi người cùng nhau xây dựng một thế giới huynh đệ và liên đới” (8 tháng 12 năm 2018).
Ngôi thánh đường này là dấu chỉ của ước muốn hòa bình và hiệp nhất
Và như thế chúng ta đến điểm thứ ba trong suy tư: dấn thân cổ võ hòa bình và hiệp nhất. Khẩu hiệu của chuyến thăm này được lấy từ lời của Đức Giêsu Phục Sinh: “Bình an cho anh em!” (x. Ga 20,21). Trong một bản khắc giữa các bức tranh khảm ở Tipasa, người ta đọc thấy: “In Deo, pax et concordia sit convivio nostro”, có thể dịch là: “Trong Thiên Chúa, ước gì bình an và hòa hợp ngự trị trong đời sống chung của chúng ta”. Bình an và hòa hợp đã là những đặc tính căn bản của cộng đoàn Kitô hữu ngay từ thuở ban đầu (x. Cv 2,42-47), theo đúng ước muốn của chính Đức Giêsu (x. Ga 17,23), Đấng đã nói: “Cứ dấu này mà mọi người nhận biết anh em là môn đệ của Thầy, là anh em yêu thương nhau” (Ga 13,35). Thánh Augustinô, trong bối cảnh này, khẳng định rằng Giáo Hội “sinh ra những dân tộc khác nhau, nhưng họ là chi thể của Đấng mà Giáo Hội là thân thể” (Bài giảng 192, 2), và thánh Cyprianô viết: “Bình an và sự hiệp nhất huynh đệ của chúng ta là hy lễ cao cả hơn dâng lên Thiên Chúa, và một dân được hiệp nhất nên một, trong sự hiệp nhất của Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần” (Kinh Lạy Cha, 23). Thật đẹp khi hôm nay chúng ta được nghe nhiều lời nói và chứng từ khác nhau vang vọng trong những gì chúng ta đã được nghe.
Như Đức Hồng y đã nhắc đến, chính ngôi thánh đường này là dấu chỉ của ước muốn hòa bình và hiệp nhất của chúng ta. Nơi đây tượng trưng cho một Giáo Hội gồm những viên đá sống động, nơi sự hiệp thông giữa Kitô hữu và người Hồi giáo được hình thành dưới tà áo của Đức Bà Châu Phi. Tại đây, tình mẫu tử của Lalla Meryem quy tụ mọi người như những người con, trong sự đa dạng phong phú của chúng ta, trong khát vọng chung về phẩm giá, tình yêu, công lý và hòa bình. Tất cả con cái của Mẹ đều khao khát cùng nhau bước đi, cùng sống, cầu nguyện, làm việc và mơ ước, bởi vì đức tin không cô lập nhưng mở ra; đức tin hiệp nhất chúng ta nhưng không gây xáo trộn; đức tin đưa chúng ta lại gần nhau mà không đồng nhất hóa, và nuôi dưỡng một tình huynh đệ đích thực. Đó chính là điều Monia đã nói với chúng ta. Rakel cũng chia sẻ cùng một tâm tình ấy trong chứng từ về kinh nghiệm của chị tại tổ chức Tlemcen Fellowship. Trong một thế giới nơi chia rẽ và chiến tranh gieo rắc đau khổ và cái chết giữa các dân tộc, trong các cộng đoàn, và cả trong các gia đình, kinh nghiệm hiệp nhất và hòa bình của anh chị em là một dấu chỉ mạnh mẽ. Cùng nhau, anh chị em lan tỏa tình huynh đệ và khơi dậy một khát vọng sâu xa về hiệp thông và hòa giải bằng một sứ điệp rõ ràng và mạnh mẽ, được diễn tả trong sự đơn sơ và khiêm tốn.
Chúng ta cần đến nhau, và chúng ta cần đến Thiên Chúa
Phần lớn lãnh thổ của quốc gia này là sa mạc, và trong sa mạc, không ai có thể sống một mình. Môi trường khắc nghiệt xóa tan mọi ảo tưởng rằng chỉ tự mình là đủ, nhắc nhở chúng ta rằng chúng ta cần đến nhau, và chúng ta cần đến Thiên Chúa. Khi chúng ta nhìn nhận sự mong manh của mình, lòng chúng ta mở ra để nâng đỡ nhau và để kêu cầu Đấng có thể ban điều mà không sức mạnh nhân loại nào bảo đảm được: đó là sự hòa giải sâu xa của các tâm hồn và, cùng với đó, là nền hòa bình đích thực.
Vì thế, anh chị em thân mến, tôi khích lệ anh chị em tiếp tục công việc của mình tại Algeria như một cộng đoàn đức tin hiệp nhất và cởi mở, như một sự hiện diện sống động của Giáo Hội, “bí tích phổ quát của ơn cứu độ” (Hiến chế Tín lý về Giáo Hội Lumen Gentium, 48). Tôi cảm ơn anh chị em vì tất cả những gì anh chị em đang thực hiện, vì lời cầu nguyện, vì lòng bác ái và chứng tá hiệp nhất của anh chị em. Tôi bảo đảm nhớ đến anh chị em trong lời cầu nguyện của tôi trước mặt Chúa, và khi phó thác anh chị em cho Đức Maria, Đức Bà Châu Phi, tôi thân ái ban phép lành cho anh chị em.
Cầu nguyện trước tượng đài tưởng niệm các nạn nhân của những vụ đắm tàu
Rời khỏi Vương cung thánh đường, Đức Thánh Cha dừng lại cầu nguyện trước đài tưởng niệm các nạn nhân của những vụ đắm tàu. Sau đó, ngài trở về Tòa Sứ thần cách đó khoảng 200 m và gặp riêng các Giám mục Algeria.
Nguồn: vaticannews.va/vi
2026
QUY ĐỊNH VỀ THỦ TỤC HÔN PHỐI ÁP DỤNG CHO TOÀN GIÁO HỘI TẠI VIỆT NAM
2026
NẾN PHỤC SINH: LỊCH SỬ VÀ Ý NGHĨA
NẾN PHỤC SINH: LỊCH SỬ VÀ Ý NGHĨA
Trong toàn bộ năm phụng vụ, có những dấu chỉ vừa đơn sơ vừa hùng hồn đến mức chỉ cần nhìn thấy thôi, lòng người tín hữu đã như được kéo vào một mầu nhiệm lớn hơn chính mình. Nến Phục sinh là một trong những dấu chỉ như thế. Đó không chỉ là một cây nến lớn được thắp lên trong đêm Vọng Phục sinh rồi đặt nơi cung thánh hay bên giếng rửa tội. Đó là một biểu tượng phụng vụ rất sâu xa, một bản tóm lược sống động của đức tin Kitô giáo, một lời loan báo âm thầm nhưng mạnh mẽ rằng: Đức Kitô đã sống lại thật, Người đã chiến thắng bóng tối, tội lỗi và sự chết, và từ ánh sáng của Người, toàn thể Hội Thánh nhận được sự sống mới.
Nến Phục sinh là một dấu chỉ hữu hình và bền vững nhắc nhớ niềm vui và hy vọng ấy, nhắc nhớ Chúa nhật Phục sinh, nhắc nhớ chiến thắng của Đức Kitô trên sự chết: “Hỡi tử thần, chiến thắng của ngươi đâu? Hỡi tử thần, nọc độc của ngươi ở đâu?” (1 Cr 15,55). Mỗi lần bước vào nhà thờ, chúng ta thấy cây nến được đặt bên cạnh giếng rửa tội, nhắc cho chúng ta nhớ rằng nhờ bí tích Thánh tẩy, chính chúng ta cũng sẽ được sống lại. Cây nến này được dành để luôn ở lại nơi danh dự của nó, như dấu chỉ huy hoàng của Đấng Cứu Thế phục sinh, khẳng định rằng Người đang sống.
Muốn hiểu trọn vẹn ý nghĩa của Nến Phục sinh, trước hết phải đi vào nền tảng sâu xa của biểu tượng ánh sáng trong toàn bộ mạc khải Kinh Thánh. Ngay từ những dòng đầu tiên của sách Sáng Thế, khi thế giới còn trong tình trạng hỗn mang và tối tăm, lời đầu tiên đầy quyền năng của Thiên Chúa đã vang lên: “Phải có ánh sáng.” Ánh sáng xuất hiện như một công trình mở đầu của công cuộc sáng tạo, như điều kiện để sự sống được hiển lộ, như dấu hiệu trật tự chiến thắng hỗn loạn. Ánh sáng vì thế không chỉ là một hiện tượng vật lý, mà còn là một biểu tượng thần học. Ánh sáng thuộc về Thiên Chúa, diễn tả sự hiện diện, chân lý, sự thánh thiện, sự sống và ơn cứu độ của Người.
Trong Cựu Ước, ánh sáng gắn liền với hành trình giải phóng dân Chúa. Khi Israel đi qua đêm tối của kiếp nô lệ Ai Cập để tiến vào tự do, chính Thiên Chúa dẫn đường bằng cột lửa trong đêm. Ánh sáng ấy không chỉ để soi đường, mà còn để bảo đảm rằng Thiên Chúa đang ở giữa dân Người, đang bảo vệ, hướng dẫn và đưa họ vượt qua cảnh tối tăm. Các Thánh vịnh nhiều lần nói đến Chúa như ánh sáng: “Chúa là nguồn ánh sáng và ơn cứu độ của tôi.” Các ngôn sứ cũng dùng hình ảnh ánh sáng để báo trước thời đại Đấng Mêsia: dân đang lần bước giữa tối tăm sẽ thấy ánh sáng huy hoàng; trên những ai sống trong vùng bóng tối tử thần, ánh sáng đã bừng lên.
Tất cả những dòng chảy ấy quy tụ nơi Đức Giêsu Kitô. Chính Người đã công bố: “Ta là ánh sáng thế gian. Ai theo Ta sẽ không đi trong tối tăm, nhưng sẽ nhận được ánh sáng đem lại sự sống.” Ở đây, ánh sáng không còn chỉ là một hình ảnh bên ngoài, mà là chính con người và sứ mạng của Đức Kitô. Nơi Người, chân lý của Thiên Chúa được bày tỏ. Nơi Người, bóng tối của tội lỗi bị vạch trần. Nơi Người, con người nhận được khả năng bước ra khỏi tình trạng mù lòa thiêng liêng để bước vào sự sống. Nhưng nghịch lý lớn của mầu nhiệm cứu độ lại nằm ở chỗ: Ánh Sáng ấy đã bị thế gian khước từ; Con Thiên Chúa đã đi vào chính bóng tối sâu nhất của khổ nạn và cái chết. Đồi Canvê là giờ phút dường như bóng tối thắng thế. Ngôi mộ là nơi dường như mọi hy vọng đã tắt. Nhưng chính từ nơi tưởng như tận cùng của đêm tối ấy, ánh sáng Phục sinh bừng lên. Và Nến Phục sinh chính là dấu chỉ phụng vụ diễn tả mầu nhiệm ấy.
Về phương diện lịch sử, Nến Phục sinh được hình thành trong đời sống phụng vụ của Hội Thánh qua một tiến trình khá dài. Những cộng đoàn Kitô hữu đầu tiên đặc biệt coi trọng đêm Vọng Phục sinh, vì đó là đêm canh thức tưởng niệm cuộc Vượt Qua của Chúa, đêm Hội Thánh chờ đợi và cử hành biến cố Chúa sống lại. Ngay từ rất sớm, đêm ấy đã gắn liền với chủ đề ánh sáng. Sau khi bước qua sự thinh lặng của Thứ Sáu Tuần Thánh và sự chờ đợi của Thứ Bảy Tuần Thánh, cộng đoàn quy tụ trong đêm để đón nhận ánh sáng mới. Nghi thức thắp đèn, thắp nến, hay mang lửa vào nơi cử hành trở thành một phần rất tự nhiên của phụng vụ đêm đó.
Ban đầu, người ta chưa nhất thiết có một cây nến lớn với hình thức chặt chẽ như ngày nay. Nhưng ý tưởng về “ánh sáng Phục sinh” đã rất rõ. Dần dần, trong phụng vụ Latinh, Hội Thánh phát triển một cây nến đặc biệt, lớn hơn, nổi bật hơn, được thắp lên từ lửa mới trong đêm Vọng Phục sinh và mang tính biểu tượng rõ rệt hơn như biểu tượng của chính Đức Kitô phục sinh. Theo thời gian, nghi thức này ngày càng được phong phú hóa: có nghi thức làm phép lửa mới, chuẩn bị nến, ghi các dấu thánh trên nến, rước nến vào nhà thờ tối, công bố lời tung hô “Ánh sáng Chúa Kitô”, và sau đó là bài ca Exsultet, tức bài công bố Phục sinh, ca ngợi đêm hồng phúc khi Đức Kitô phá tan xiềng xích tử thần.
Một số yếu tố của việc tôn kính Nến Phục sinh được định hình rõ nét vào thời các thế kỷ đầu Trung Cổ. Khi phụng vụ Tây phương phát triển mạnh, cây nến Phục sinh trở thành một trong những trung tâm biểu tượng của đêm Vọng Phục sinh. Ở nhiều nơi, nến được làm rất lớn, được chạm khắc công phu, thậm chí mang cả những hình ảnh thần học diễn tả cuộc chiến thắng của Đức Kitô. Từ đó, Nến Phục sinh không còn là một phương tiện chiếu sáng đơn thuần, nhưng là một “biểu tượng được tuyên xưng”, tức một dấu chỉ có khả năng giảng dạy, công bố và khắc ghi đức tin.
Trong truyền thống phụng vụ Rôma, Nến Phục sinh được chuẩn bị với những dấu chỉ đặc biệt. Trên thân nến, người ta ghi hình thánh giá. Thánh giá ấy nhắc rằng ánh sáng Phục sinh không tách rời thập giá. Chúa Kitô không chiến thắng sự chết bằng cách né tránh đau khổ, nhưng bằng cách đi xuyên qua đau khổ trong tình yêu và sự vâng phục trọn vẹn. Người ta còn ghi các chữ Alpha và Omega, tức chữ đầu và chữ cuối trong mẫu tự Hy Lạp, để tuyên xưng rằng Đức Kitô là khởi nguyên và cùng tận, là Chúa của thời gian và lịch sử. Người ta cũng ghi năm hiện tại, để nói rằng mầu nhiệm Phục sinh không phải là chuyện của một quá khứ xa xôi, mà là biến cố cứu độ đang hiện diện hôm nay, trong năm này, trong đời sống này, giữa cộng đoàn này. Rồi năm hạt hương được gắn vào cây nến dưới dạng năm dấu đinh, gợi nhớ năm thương tích thánh của Chúa. Đây là một chi tiết rất cảm động: thân xác phục sinh của Đức Kitô không xóa bỏ các dấu thương, nhưng mang lấy chúng trong vinh quang. Ánh sáng phục sinh vì thế không phải là một ánh sáng rẻ tiền, quên mất đau khổ; đó là ánh sáng đã đi qua thập giá.
Nghi thức làm phép lửa mới và thắp Nến Phục sinh mở đầu đêm Vọng Phục sinh là một trong những khoảnh khắc đẹp nhất của năm phụng vụ. Nhà thờ đang chìm trong bóng tối. Cộng đoàn đứng chờ. Một ngọn lửa mới được thắp lên. Từ ngọn lửa ấy, Nến Phục sinh được đốt sáng. Cử chỉ ấy diễn tả một chân lý rất lớn: ánh sáng cứu độ không phát xuất từ sức con người, không phải là sản phẩm của sự lạc quan nhân loại, nhưng là quà tặng đến từ Thiên Chúa. Chính Thiên Chúa khơi lên ánh sáng mới trong đêm tối thế gian.
Sau đó là cuộc rước nến vào nhà thờ tối om. Vị chủ sự hoặc thừa tác viên nâng cây nến và hát: “Ánh sáng Chúa Kitô”, cộng đoàn đáp: “Tạ ơn Chúa.” Lời tung hô ấy thường được lặp lại ba lần, với ánh sáng lan dần khắp cộng đoàn. Từ một ngọn nến duy nhất, các cây nến nhỏ nơi tay các tín hữu được châm lên. Đây là một hình ảnh vô cùng hùng hồn về Hội Thánh. Đức Kitô là nguồn sáng duy nhất, nhưng ánh sáng của Người không giảm đi khi được chia sẻ; trái lại, càng lan tỏa càng làm tan bóng tối. Kitô hữu không tự mình phát sáng; họ nhận ánh sáng từ Chúa và mang ánh sáng ấy vào đời.
Bài công bố Phục sinh, tức Exsultet, tiếp theo đó, là một trong những bản văn phụng vụ giàu chất thơ và thần học nhất của Hội Thánh. Bài ca ấy mời gọi trời đất vui lên vì vinh quang của Vua muôn đời, ca ngợi đêm cực thánh, ca ngợi cột lửa không bao giờ tắt, ca ngợi con ong đã làm nên sáp nến, và trên hết, ca ngợi Đức Kitô đã phá tan xiềng xích tử thần. Khi nghe bài ca ấy trước Nến Phục sinh đang cháy rực, Hội Thánh không chỉ kể lại một biến cố, nhưng đang sống lại chính đêm cứu độ. Nến ở đây không phải là phông nền, mà là một “nhân chứng thinh lặng” cho toàn bộ lời ca tụng đó.
Ý nghĩa thần học đầu tiên và sâu nhất của Nến Phục sinh là: Nến tượng trưng cho chính Đức Kitô phục sinh. Nến đứng đó như một sự hiện diện biểu tượng của Chúa đang sống. Sáp nến gợi đến nhân tính của Người, thực sự mang lấy thân phận con người. Ngọn lửa gợi đến thần tính và vinh quang phục sinh. Cây nến bị tiêu hao dần khi cháy sáng cũng có thể được hiểu như hình ảnh của tình yêu tự hiến: Đức Kitô trao ban chính mình để soi sáng và cứu độ nhân loại. Người không giữ lại mạng sống cho riêng mình, nhưng tiêu hao chính mình trong tình yêu. Vì thế, cây nến vừa là biểu tượng của sự sống chiến thắng, vừa là biểu tượng của tình yêu hiến tế.
Ý nghĩa thứ hai là Nến Phục sinh biểu tượng cho chiến thắng của ánh sáng trên bóng tối. Bóng tối trong Kinh Thánh không chỉ là đêm tối vật lý, mà còn là biểu tượng của tội lỗi, lầm lạc, tuyệt vọng, sự chết và quyền lực sự dữ. Khi Nến Phục sinh được mang vào nhà thờ tối, Hội Thánh tuyên xưng rằng bất kể bóng tối dày đặc đến đâu, nó không phải là tiếng nói cuối cùng. Ánh sáng nhỏ bé kia đủ sức xé toang đêm tối. Đó là niềm hy vọng căn bản của đức tin Kitô giáo. Không có mồ nào giữ được Đức Kitô. Không có đêm nào dài đến mức ngăn cản được bình minh Phục sinh. Không có vực thẳm nào sâu đến mức ân sủng của Thiên Chúa không thể chạm tới.
Ý nghĩa thứ ba là Nến Phục sinh gắn chặt với bí tích Thánh tẩy. Đây là lý do tại sao sau mùa Phục sinh, cây nến thường được đặt gần giếng rửa tội. Trong đêm Vọng Phục sinh, sau phần phụng vụ Lời Chúa, Hội Thánh bước vào phụng vụ Thánh tẩy: làm phép nước, cử hành bí tích Rửa tội cho dự tòng, và lặp lại lời hứa khi lãnh nhận phép Rửa cho toàn thể cộng đoàn. Điều đó cho thấy mầu nhiệm Phục sinh không chỉ là điều Đức Kitô đã trải qua, mà là điều người tín hữu được dự phần. Nhờ bí tích Thánh tẩy, chúng ta được mai táng với Đức Kitô trong cái chết để rồi cùng Người bước vào sự sống mới. Vì vậy, khi nhìn Nến Phục sinh bên cạnh giếng rửa tội, người tín hữu được nhắc nhớ về căn tính sâu nhất của mình: mình là người đã được thắp sáng bởi Đức Kitô, đã được kéo ra khỏi bóng tối để sống như con cái sự sáng.
Ý nghĩa thứ tư của Nến Phục sinh liên hệ đến toàn bộ đời sống Kitô hữu từ lúc sinh ra trong đức tin cho đến lúc bước vào cõi vĩnh cửu. Trong nghi thức Rửa tội, nhất là rửa tội trẻ em, người ta trao cho cha mẹ hoặc người đỡ đầu một ngọn nến được thắp từ Nến Phục sinh. Điều đó rất đẹp. Ánh sáng đức tin không do gia đình tự phát minh, nhưng được đón nhận từ Đức Kitô qua Hội Thánh. Trẻ được mời gọi giữ ngọn lửa ấy luôn cháy sáng. Ở đầu đời Kitô hữu là ánh sáng này. Và ở cuối hành trình trần thế, trong phụng vụ an táng, Nến Phục sinh thường được đặt gần linh cữu. Cử chỉ ấy nói lên một niềm xác tín rất mạnh: người tín hữu đã chết trong Đức Kitô thì cũng sẽ sống lại với Người. Như vậy, từ giếng rửa tội đến quan tài, từ khởi đầu đến kết thúc hành trình dương thế, Nến Phục sinh luôn nhắc rằng đời Kitô hữu nằm trọn trong mầu nhiệm Vượt Qua của Chúa.
Ý nghĩa thứ năm là Nến Phục sinh diễn tả chiều kích cộng đoàn của Hội Thánh. Trong đêm Vọng Phục sinh, không ai tự thắp nến mình từ một nguồn sáng riêng. Mọi người nhận lửa từ một cây nến duy nhất. Hình ảnh ấy diễn tả rất rõ: Hội Thánh sống nhờ một Chúa, một đức tin, một phép Rửa. Tất cả được quy tụ trong cùng một ánh sáng. Mỗi người có thể cầm một cây nến nhỏ, có thể ở một vị trí khác nhau trong cộng đoàn, nhưng ánh sáng lại là một. Điều đó mời gọi Hội Thánh vượt qua chia rẽ, đố kỵ, tự tôn, cục bộ, để trở thành cộng đoàn thực sự phát xuất từ Đức Kitô và phản chiếu ánh sáng của Người.
Về mặt phụng vụ, Nến Phục sinh có một vị trí rất đặc biệt. Từ đêm Vọng Phục sinh cho đến hết mùa Phục sinh, nến được thắp sáng trong các cử hành phụng vụ trọng thể như dấu chỉ rõ ràng của Chúa phục sinh hiện diện giữa cộng đoàn. Sau mùa Phục sinh, cây nến không còn được sử dụng như trước trong mọi Thánh lễ quanh năm, nhưng vẫn được giữ lại nơi danh dự, thường là bên cạnh giếng rửa tội. Nến được thắp trong các cử hành Rửa tội và an táng, vì hai thời khắc ấy liên kết rất sâu với mầu nhiệm vượt qua: sinh ra cho đời sống mới trong Đức Kitô, và hoàn tất hành trình để chờ ngày sống lại.
Điều quan trọng là phải hiểu Nến Phục sinh không chỉ là một đồ vật trang trí đẹp trong nhà thờ. Nếu chỉ nhìn như một cây nến lớn được trưng bày cho đẹp, ta sẽ đánh mất chiều sâu thần học của nó. Hội Thánh không dùng biểu tượng một cách tùy tiện. Mỗi cử chỉ, mỗi vật phẩm phụng vụ đều mang một sứ điệp. Nến Phục sinh là một “bài giảng không lời”. Nó nói với người đang mỏi mệt rằng vẫn còn hy vọng. Nó nói với người đang mang tội rằng lòng thương xót mạnh hơn quá khứ. Nó nói với người đang khóc trước cái chết rằng ngôi mộ không phải là điểm kết thúc. Nó nói với người vừa bước vào nhà thờ trong một ngày bình thường rằng Đức Kitô vẫn đang sống, không phải như một kỷ niệm, nhưng như Đấng hiện diện.
Cũng phải nói rằng truyền thống dùng nến trong đời sống Kitô giáo không phải là mê tín hay một hình thức “thần linh hóa” vật chất. Ánh sáng của nến không có ma thuật nào tự thân. Giá trị của nến nằm ở chỗ nó quy hướng tâm hồn con người về một thực tại cao hơn. Trong phụng vụ, con người không chỉ nghe bằng tai, mà còn học bằng mắt, bằng thân xác, bằng những dấu chỉ cảm nhận được. Đức tin Kitô giáo là đức tin nhập thể, nên các biểu tượng vật chất có vai trò rất quan trọng. Nến Phục sinh vì thế giúp đưa mầu nhiệm vô hình đến gần cảm nghiệm hữu hình của cộng đoàn.
Nếu đào sâu thêm, chúng ta còn thấy Nến Phục sinh gắn với một linh đạo sống rất cụ thể. Đức Kitô là ánh sáng thế gian, nhưng Người cũng nói với các môn đệ: “Chính anh em là ánh sáng cho trần gian.” Điều ấy không có nghĩa chúng ta tự mình trở thành nguồn sáng độc lập, nhưng là nhờ kết hợp với Chúa Kitô, đời sống chúng ta cũng có thể trở thành ánh sáng phản chiếu. Nhìn Nến Phục sinh, người tín hữu được mời gọi tự hỏi: đời mình có đang mang ánh sáng của Chúa vào gia đình, vào cộng đoàn, vào xã hội hay không? Hay mình đang sống như một cây nến chưa bao giờ được thắp? Hay tệ hơn, như một người đã nhận ánh sáng mà lại lấy bóng tối để che đi?
Một cây nến muốn chiếu sáng thì phải chấp nhận bị đốt cháy. Đó là một hình ảnh đánh động. Không có ánh sáng Kitô giáo nếu không có hy sinh. Không có chứng tá thật nếu không có tự hiến. Một người cha, người mẹ âm thầm hy sinh cho con cái, một tu sĩ bền bỉ sống trung tín, một linh mục tận tụy với đoàn chiên, một người trẻ dám sống trong sạch giữa một thế giới buông thả, một tín hữu biết tha thứ giữa những tổn thương sâu nặng: tất cả những điều ấy là những tia sáng nhỏ phát xuất từ ánh sáng Phục sinh. Nói cách khác, Nến Phục sinh không chỉ ở trên chân nến trong nhà thờ; nó còn phải tiếp tục cháy trong đời sống thường ngày của mỗi Kitô hữu.
Trong bối cảnh thế giới hôm nay, biểu tượng Nến Phục sinh càng trở nên cấp thiết. Con người hiện đại có nhiều loại ánh sáng: ánh sáng công nghệ, ánh sáng màn hình, ánh sáng thành phố không ngủ, ánh sáng của tri thức, của kỹ thuật, của quyền lực. Nhưng giữa rất nhiều ánh sáng ấy, người ta vẫn có thể sống trong một bóng tối tinh thần sâu thẳm: mất phương hướng, cô đơn, trống rỗng, bất an, tuyệt vọng. Nến Phục sinh nhắc rằng ánh sáng thật không chỉ giúp mắt nhìn thấy, mà giúp linh hồn có thể sống. Đức Kitô không chỉ soi sáng trí óc, mà cứu cả con người khỏi đêm tối của sự vô nghĩa. Vì thế, cây nến ấy vẫn có khả năng nói với con người thời nay, có khi còn mạnh hơn bao giờ hết.
Cũng vậy, trong những lúc Hội Thánh đi qua khủng hoảng, bị thử thách, bị hiểu lầm, bị thương tích vì tội lỗi của con cái mình, Nến Phục sinh vẫn là lời nhắc rằng nền tảng sâu nhất của Hội Thánh không nằm ở sự hoàn hảo nhân loại, nhưng ở Đức Kitô phục sinh. Hội Thánh vẫn đứng được là nhờ ánh sáng của Người. Mỗi năm, đêm Vọng Phục sinh lại trở về như một cuộc canh tân ký ức thiêng liêng, giúp cộng đoàn nhớ rằng mình không thuộc về bóng tối, không được phép quen với bóng tối, và không được đầu hàng bóng tối.
Một chi tiết thật đẹp nữa là Nến Phục sinh vừa mang tính long trọng vừa mang tính bền bỉ. Nó không chỉ bừng cháy một thoáng rồi thôi. Nó được giữ lại, được đặt ở vị trí trang trọng như một sự hiện diện lâu dài. Điều đó rất hợp với mầu nhiệm Chúa phục sinh. Biến cố Phục sinh không phải là một khoảnh khắc hưng phấn chóng qua. Đó là một thực tại bền vững, một trật tự mới đã khai mở trong lịch sử. Đức Kitô đã sống lại không để rồi chết nữa. Ánh sáng của Người không tắt. Khi Hội Thánh giữ cây nến ở nơi danh dự, Hội Thánh như muốn nói với mọi thời đại rằng: Chúa vẫn đang sống; ánh sáng ấy vẫn còn đó; hy vọng ấy vẫn chưa hề bị lấy đi khỏi thế gian.
Có thể nói, trong tất cả các biểu tượng phụng vụ, Nến Phục sinh là một trong những biểu tượng diễn tả cách trọn vẹn nhất toàn bộ trung tâm đức tin Kitô giáo. Nó chứa đựng thần học về sáng tạo, về xuất hành, về Đức Kitô là ánh sáng, về thập giá và phục sinh, về bí tích Thánh tẩy, về đời sống Hội Thánh, về niềm hy vọng cánh chung. Nó nối kết khởi đầu và cùng đích, cá nhân và cộng đoàn, hiện tại và vĩnh cửu. Một cây nến, nhưng là cả một bản tuyên xưng đức tin.
Vì thế, khi bước vào nhà thờ và nhìn thấy Nến Phục sinh, người Kitô hữu không nên chỉ nhìn bằng thói quen. Hãy dừng lại một chút. Hãy nhớ rằng ánh sáng ấy tượng trưng cho Chúa đang sống. Hãy nhớ rằng mình đã được thắp sáng từ nguồn sáng ấy. Hãy nhớ rằng mình cũng được mời gọi sống lại từ những tăm tối của tội lỗi, nguội lạnh, thất vọng và sợ hãi. Hãy nhớ rằng dù đời mình có đi qua Thứ Sáu Tuần Thánh nào chăng nữa, thì lời cuối cùng vẫn là Phục sinh.
Nến Phục sinh đứng đó như một tiếng nói không lời: Đức Kitô đã sống lại. Sự chết không thắng nổi Người. Tội lỗi không khóa được con đường cứu độ. Bóng tối không dập tắt được ánh sáng. Và nếu chúng ta thuộc về Người, nếu chúng ta ở lại trong Người, thì ngay cả giữa những đêm sâu nhất của đời mình, chúng ta vẫn có thể bước đi trong hy vọng.
Đó chính là lịch sử và ý nghĩa của Nến Phục sinh: không chỉ là lịch sử của một nghi thức phụng vụ, nhưng là lịch sử của ánh sáng Thiên Chúa đi vào đêm tối nhân loại; không chỉ là ý nghĩa của một biểu tượng, nhưng là ý nghĩa của cả đời Kitô hữu. Bởi từ Nến Phục sinh, Hội Thánh không ngừng nghe lại sứ điệp nền tảng nhất của mình: Chúa đang sống. Và vì Người đang sống, con người vẫn còn có thể hy vọng.
Lm. Anmai, CSsR
