2023
Nhà Thương
Nhà Thương
Nữ tu Mary Therese
Dòng Chúa Quan Phòng Portieux.
Một buổi sáng nọ, khi vừa vào nhận ca trực, bác sĩ gọi tôi với giọng hối hả: “Sơ ơi, chuẩn bị máy thở nhanh lên, có một ca bị suy hô hấp nặng”.
Chuẩn bị máy thở vừa xong, tôi thấy bác sĩ điều dưỡng Khoa Sản đẩy lên một bệnh nhân nữ trong tình trạng lơ mơ, khó thở, tay chân lạnh, vã mồ hôi, mạch nhanh, huyết áp tuột… Tôi cùng đồng nghiệp lao vào cấp cứu.
Một lát sau, một đồng nghiệp khác lại gọi tôi: “Sơ ơi, Sơ ra bên ngoài nhìn kìa, nhìn đau lòng chịu không nổi luôn Sơ ơi!…”
Tôi mở cửa ra thấy trước mắt là chồng của bệnh nhân trên lưng cõng một bé gái khoảng 2 tuổi, trên tay lại bế em bé đỏ hỏn chỉ mới vài ngày tuổi, hỏi ra mới biết: gia đình vợ chồng này “ba không”: không nhà, không tiền và không bảo hiểm y tế. Tức tốc, cả khoa chúng tôi cùng tìm cách giúp đỡ bệnh nhân: bảo hiểm y tế, thuốc men, dinh dưỡng… Thật may mắn bệnh nhân ấy được cứu chữa kịp thời, sau 1 tuần đã được xuất viện.
“Đứa trẻ này rồi ra sẽ thế nào đây? Và quả thật có bàn tay Thiên Chúa phù hộ em.” Hàng xóm làng giềng đã thốt lên như thế khi thánh Gioan Tẩy giả chào đời. Ơn gọi và cuộc sinh hạ của Thánh Gioan tẩy giả đến từ Thiên Chúa, từ ngàn đời ngài nằm trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa.
Tôi cũng thế, dù tôi bất xứng, nhưng Chúa vẫn chọn gọi tôi để cộng tác vào chương trình cứu nhân độ thế của Chúa ngang qua ơn gọi đời sống nữ tu trong Dòng Chúa Quan Phòng.
Tôi được sinh ra trong một gia đình nghèo lại đông con, là chị cả của 7 đứa em, nhưng gia đình tôi may mắn được sống trong làng Trung Hòa, thuộc giáo xứ Vinh Hòa, Giáo phận Ban Mê Thuột. Ngày xưa chỉ có một giáo xứ Vinh Hòa, nay đã tách thành 3 giáo xứ và tôi là con chiên của giáo xứ Tân Hòa.
Ngày 20/7/1954, hiệp định Genève được ký kết, đất nước Việt Nam chia cắt làm hai, phân ranh tại vĩ tuyến 17, quy định chung cho đồng bào được tự do chuyển vùng làm ăn sinh sống.
Làng của tôi được thành lập nhờ công ơn của Cha Gioan Baotixita Phan Xuân Bang, một linh mục đạo đức, thánh thiện, lại có tầm nhìn xa trông rộng. Dịp này Cha đã dẫn con cái từ Vinh vào lập nghiệp nơi đây. Nhờ vị linh mục thánh thiện này, nơi này đã trổ sinh ra nhiều bông hạt.
Giáo xứ tôi có rất nhiều người đi tu, nhiều gia đình có con đi tu, có gia đình có thể gọi là dòng dõi tư tế: 6, 7 anh chị em ruột cùng đi tu và niềm vui hạnh phúc đó thể hiện rõ nét mỗi độ Tết đến Xuân về, các linh mục, tu sĩ các hội dòng từ khắp nơi quy tụ về với mọi sắc phục, nhìn các màu sắc với nhiều linh đạo nhiều hội dòng khác nhau thật đẹp và phong phú biết bao trong vườn hoa Giáo Hội.
Ơn gọi của tôi nhen nhúm khi tôi học lớp 6, sau khi được sinh hoạt vui chơi với các nữ tu Dòng Bác Ái Vinh Sơn. Từ đó trong tôi có ý nghĩ lớn lên mình sẽ đi tu làm “ma sơ”, để có thể làm gì đó giúp cho người nghèo.
Vì là xứ đạo toàn tòng, nên mỗi dịp Hè, tôi và các bạn đều “bị dụ” vào các Nhà Dòng chơi vài tuần. Tháng 9/2001 tôi và 4 bạn khác nữa cùng gia nhập Hội dòng Chúa Quan Phòng với linh đạo: “Thực hiện kế hoạch lòng thương xót Chúa trên những người nghèo nhất và bị bỏ rơi nhất.” Khác với các chị em khác trong Nhà Dòng, tôi được chọn thi hành sứ mệnh trong vai trò “nữ tu – điều dưỡng”, công tác trong môi trường bệnh viện.
Sự dấn thân trong bệnh viện của tôi và các nữ tu của các Hội dòng khác luôn là một câu hỏi lớn cho mọi người.
Nhiều người khi nhận ra tôi là nữ tu, họ ngạc nhiên: “Ủa, ủa, sao Sơ lại đi làm trong bệnh viện? Phải chăng Sơ cũng đi làm kiếm tiền như bao nhân viên khác”? Có đồng nghiệp khi thấy có nhiều Sơ làm trong nhiều khoa phòng thì thốt lên: “Chắc mấy bà sơ tính vô đây lập một nhà thờ?”
Tôi nghĩ, tôi đi làm việc bệnh viện chính là đi ra vùng ngoại biên để cảm thông với nỗi đau của bệnh nhân, để cảm thông chia sẻ với nhân viên y tế về những nỗi vất vả mưu sinh của họ. Làm việc lâu trong nghề, tôi cảm nghiệm ra rằng, chỉ khi đam mê và yêu nghề thì mới trụ nổi trong ngành.
Ngày ngày đi làm việc không chỉ như một nhân viên bình thường, tôi luôn cố gắng làm theo tinh thần của Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, được viết trong sách Đường Hy vọng: “Giữa tình yêu và bổn phận, con chọn bên nào? Con chọn bổn phận và làm với tất cả tình yêu”. Với tất cả tình thương và trách nhiệm, cùng với Chúa, vì Chúa, trong Chúa, tôi thi hành sứ mạng của Hội dòng qua công việc của mình ở bệnh viện. Về Nhà Dòng, trong giờ kinh nguyện, tôi dâng lên Chúa những bệnh nhân của mình và những vui buồn trong ngày, .
Ngoài việc chu toàn bổn phận trách nhiệm được giao, khi khoa phòng có những bệnh nhân khó khăn, tôi và đồng nghiệp tìm cách hướng dẫn họ các thủ tục giấy tờ, hỗ trợ những gì có thể, để họ nhận được sự giúp đỡ và điều trị bệnh. Bên cạnh đó, tôi giúp mời linh mục để lo phần tâm linh cho những bệnh nhân Công giáo khi họ khao khát và ban các bí tích sau cùng cho những bệnh nhân nguy tử.
Hiện tại, công việc tại khoa có phòng hồi sức để chăm sóc những bệnh nhân nặng, có đủ loại máy móc trang thiết bị hỗ trợ bệnh nhân như: máy thở, máy Ecmo, máy CRRT… Những bệnh nhân nặng gần như lệ thuộc hoàn toàn vào sự chăm sóc của ekíp chúng tôi, nên đòi hỏi chúng tôi phải hy sinh, tận tâm, tận tụy, không chỉ lo cho họ thuốc men, nhưng còn chăm sóc mọi thứ từ ăn uống, thuốc men cho đến vệ sinh.
Có những lúc bệnh nhân trở nặng nhanh quá, người nhà chưa kịp chuẩn bị tâm lý đón nhận, thì bác sĩ nhờ tôi an ủi động viên họ.
Có những lúc sự sống của bệnh nhân như ngàn cân treo sợi tóc, cần những thủ thuật nhanh, chính xác để kịp thời cứu sống họ, Bác sĩ thường bảo tôi: “Cầu nguyện cho ca này Sơ ơi, tội nghiệp họ còn trẻ quá”… Lúc đó, tôi cùng với đồng nghiệp tay làm thật nhanh và trong lòng thì kêu Chúa cứu giúp, cứu sống bệnh nhân.
Nỗ lực của chúng tôi đã cứu sống nhiều bệnh nhân. Cũng có khi nỗ lực đó chỉ giúp bệnh nhân sống thêm được vài giờ, hay một ngày, hai ngày và phải hoàn toàn lệ thuộc vào thuốc men, máy móc, nhưng người nhà cũng an lòng vì người thân của họ đã được hết lòng cứu chữa.
Nhớ lại trong đợt Covid khủng khiếp tại Sài Gòn năm 2021, tôi cảm nghiệm Chúa đã dùng tôi là nữ tu để làm rất nhiều việc khi cùng tham gia chống dịch. Tôi chứng kiến bao cảnh cô đơn, đau đớn tột cùng, những cái chết mà chỉ có tôi và đồng nghiệp là người thân của họ… Chúng tôi không thể nào quên trường hợp của một bệnh nhân nam 28 tuổi (em ấy là một Kitô hữu), nặng 140kg bị Covid và đã chiến thắng tử thần sau 84 ngày chạy Ecmo, và sau 4 tháng nằm viện, em đã được xuất viện trở về cuộc sống bình thường với vợ con và gia đình (xem “Thoát cửa tử sau 84 ngày chạy ECMO liên tục, anh chàng 140 kg xuất viện về nhà”)
Tôi cảm ơn Chúa đã dùng cuộc đời của tôi như là khí cụ thực thi lòng thương xót của Chúa nơi những người đau đớn bệnh tật, những người cô đơn, bị bỏ rơi. Điều ấy thật ý nghĩa biết bao! Nhưng để làm được như vậy không đơn giản chút nào. Phải cố gắng mỗi ngày để chiến đấu với bản thân, với những yếu đuối, với sự mệt mỏi của thân xác sau ca trực dài. Bù lại, Chúa ban cho tôi niềm vui khi thấy mình có thể giúp mọi người, có ý nghĩa cho đời qua sứ vụ ơn gọi nữ tu điều dưỡng.
Công việc của nữ tu nơi “Nhà Thương” kể hoài không hết về bao cảnh đời, với bao nhiêu căn bệnh và biết bao tâm trạng vui buồn, lo lắng, sợ hãi…
Cần, cần lắm để có thêm nhiều khối óc, nhiều cánh tay, nhiều trái tim chạnh thương, và nhiều người trẻ dám dấn bước vào sứ vụ đặc biệt này!
Lễ Cầu cho Ơn Thiên Triệu, tháng 4/2023
Nữ tu Mary Therese
Dòng Chúa Quan Phòng Portieux
2023
Một chút suy tư về vấn đề hát cộng đồng
Một chút suy tư về vấn đề hát cộng đồng
Hát cộng đồng là thực hành đúng đắn, phù hợp với những đòi hỏi của Giáo hội. Tuy nhiên khi quá đề cao việc hát cộng đồng sẽ có hai mặt tích cực và tiêu cực. Tích cực, vì tất cả mọi người khi tham gia phụng vụ đều có thể góp phần mình vào việc giúp người khác cầu nguyện, ca ngợi và thờ phượng Chúa. Tuy nhiên, nếu chỉ đề cao việc hát cộng đồng mà loại trừ ca đoàn hoặc ít nhiều lên án họ quá tham lam hoặc nói rằng họ dành hết phần của cộng đoàn thì cũng nên xét lại.
Chúng ta thường đồng hóa việc hát cộng đồng và bài hát cộng đồng thành một, nên nhiều cha sở cứ bắt phải hát chừng đó bài mà không bao giờ có thêm một bài mới nào khác hoặc nếu có thì cũng rất hạn chế. Tại một giáo xứ nọ trong giáo phận, lễ sáng Chúa nhật, bài ca nhập lễ duy nhất là bài Hát Lên Bài Ca của cha Kim Long. Điều này xảy ra rất thường xuyên. Sở dĩ như vậy là vì cha sở muốn cho cả cộng đoàn giáo xứ của ngài, từ lớn đến nhỏ có thể cùng hát rập ràng, mạnh mẽ và hơn nữa đó là bài hát cộng đồng.
Thực ra, không có tiêu chuẩn nào quyết định cho một bài hát trở thành bài hát cộng đồng ngoài tiêu chuẩn nó được nhiều người biết đến và hát lên trong buổi cử hành phụng vụ hoặc cầu nguyện. Thế nhưng người ta thường quên rằng, để được như vậy nó cần phải được hát lên, không chỉ một lần mà nhiều lần. Nhưng ai sẽ làm việc này nếu không phải là ca đoàn, thường là điểm xuất phát làm cho bài ca trở nên phổ quát.
Một giáo sư của nhạc viện Rôma, chuyên về các văn kiện của Giáo hội liên quan đến thánh nhạc nói rằng: người ta hiểu sai về việc hát cộng đồng được đề cập trong Hiến chế Phụng vụ của Công đồng Vatican II. Thật vậy, khi quá đề cao việc hát cộng đồng có thể làm cho thánh ca phụng vụ trở nên nghèo nàn, làm lu mờ vai trò của ca đoàn[1], lấy đi cảm hứng sáng tác của các nhạc sĩ, vẻ đẹp, nghệ thuật và sự tiến bộ của âm nhạc từ đó cũng tuột dần.
Trong khi đó một số văn kiện của Giáo hội “kêu gọi các nhạc sĩ sáng tác đưa ra những tác phẩm mới để làm phong phú kho tàng Thánh nhạc”. Và “Hội Thánh vui mừng thúc giục các nhà sáng tác và các nhà soạn lời sử dụng tài năng đặc biệt của mình hầu Hội Thánh có thể tiếp tục làm tăng thêm kho tàng nghệ thuật Thánh Nhạc” (x.HDMV 76-77).
Về mặt lịch sử, không kể thời gian trước đó, nhưng trong khoảng thời gian giữa những năm 1600 và 1800, thánh nhạc bị ô nhiễm bởi phong cách của nhạc thính phòng và sau là opera. Trong thời kỳ này người tín hữu đến nhà thờ để “xem lễ”, “nghe nhạc” hơn là “tham dự” thánh lễ như ngôn ngữ chúng ta nói ngày nay. Với Tự sắc TRA LE SOLLECITUDINI của Đức Giáo hoàng Piô X, ngày 22 tháng 11 năm 1903, đã lên án việc lạm dụng trầm trọng, xem phụng vụ là thứ yếu và chỉ chú trọng đến âm nhạc, trong khi âm nhạc chỉ là nữ tỳ khiêm tốn của phụng vụ (x. số 23). Với tự sắc này bước đầu đã vạch ra những quy định rõ ràng và dứt khoát cho việc sử dụng âm nhạc trong phụng vụ, đồng thời định hình lại ca đoàn – Scholae Cantorum.
Tiếp bước Công đồng Vatican II, Huấn thị Musicam Sacram đưa ra những nguyên tắc rõ ràng hơn cho các lễ nghi phụng vụ khi được “cử hành kèm theo ca hát […] và khi có dân chúng tham dự (x. số 5). Đặc biệt trong số 16, huấn thị nói:
“Thật không có gì tưng bừng và vui vẻ hơn trong một buổi cử hành phụng vụ mà toàn thể cộng đoàn biểu lộ đức tin và lòng đạo đức của mình ra bằng lời ca tiếng hát. Bởi vậy, sự tham gia linh động của toàn thể giáo dân bằng lời ca tiếng hát phải được triển khai kỹ lưỡng theo thứ tự sau đây:
a/ Việc tham gia này trước hết gồm có những lời tung hô, những câu đáp lại lời chào của linh mục hay thừa tác viên hoặc đáp lại lời kinh dưới hình thức đối đáp, ngoài ra lại có những câu đối ca và những thánh vịnh cũng như những câu xướng xen kẽ, hoặc những điệp ca, những thánh thi và thánh ca.
b/ Nhờ một nền huấn giáo thích hợp và những buổi thực tập dần dần sẽ đưa giáo dân tới chỗ hát những bài dành cho họ, cho đến khi họ tham dự hoàn toàn.
c/ Tuy nhiên, nếu giáo dân chưa được tập luyện đủ, và nếu dùng những bài hát nhiều bè, thì có thể giao một số bài hát của cộng đoàn cho nguyên ca đoàn thôi, miễn là không loại họ ra, không cho hát những phần dành cho họ. Nhưng không được chấp nhận thói quen giao hết cho một mình ca đoàn hát Phần Riêng và Phần Thường lễ, mà loại hẳn không cho cộng đoàn hát”.
Trở lại với các bài thánh ca. Bài Ca Nhập lễ, Ca Tiến lễ và Ca Hiệp lễ (đừng nhầm lẫn với bài ca sau hiệp lễ x. SLRM số 88) là những bài ca mà từ ban đầu được hát bởi ca đoàn (chẳng hạn như Ca Tiến cấp (Graduale) mà bây giờ là Thánh vịnh đáp ca, Tratto, Ca Tiếp liên và Allêluia).
Qui chế Tổng quát sách lễ Rôma hiện nay, trong khi tiếp tục công nhận đầy đủ tính hợp lý đối với thực hành dành riêng cho ca đoàn, cũng quy định rằng các bài thánh ca trong cuộc rước có thể “được hát luân phiên giữa ca đoàn và cộng đoàn, hoặc giữa một ca viên và cộng đoàn, hoặc tất cả do cộng đoàn hay ca đoàn hát[2]”. Sự cởi mở này liên quan đến các bài hát vừa kể trên, là kết quả của việc áp dụng ý muốn của các nghị phụ công đồng trong Hiến Chế Phụng Vụ, số 121, được diễn tả bằng những từ sau:
“Các nhạc sĩ […] hãy soạn tác những bản có cung điệu thánh nhạc thực sự, để không những các ca đoàn lớn có thể hát được mà còn hợp với cả ca đoàn nhỏ và giúp cho toàn thể cộng đoàn tín hữu có thể tham dự một cánh linh động”[3].
Khi nói rằng cần khích lệ sự tham gia tích cực của toàn thể cộng đoàn và nói rằng các tín hữu luôn phải hát tất cả những gì được tiên liệu để hát, cả hai hoàn toàn khác nhau, mệnh đề thứ hai không có trong Hiến chế Phụng vụ thánh. Ngay cả trong huấn thị Musicam Sacram, với ý muốn áp dụng Hiến chế Công đồng, đào sâu chủ đề về việc tham dự của cộng đoàn đối với bài ca phụng vụ, đòi hỏi “việc tham dự tích cực của giáo dân, được thể hiện qua việc ca hát, cần được khích lệ”, đồng thời “không chấp nhận thói quen ủy thác toàn bộ cho một mình ca đoàn hát phần Riêng lễ và phần Thường lễ, mà loại hẳn cộng đoàn khỏi việc ca hát”[4]. Tuy nhiên, liên quan đến những bài hát phần Riêng lễ[5], huấn thị nói rằng “Thật tuyệt vời khi cộng đoàn tham gia, càng nhiều càng tốt, vào các bài hát Riêng; cách đặc biệt với những điệp khúc dễ hát hay những hình thức âm nhạc thích hợp”[6]. Mục đích của huấn thị Musicam Sacram là khuyến khích việc tham gia của cộng đoàn vào các bài thánh ca có cuộc rước, nhưng không bắt buộc phải làm như vậy bằng cách đưa ra nguyên tắc cho rằng tất cả các bài hát nhất thiết phải được hát bởi cộng đoàn[7].
Tóm lại, một mặt các văn kiện đề cao tầm quan trọng của sự hiện diện và vai trò không thể thiếu của ca đoàn trong các buổi cử hành phụng vụ; mặt khác lại hạn chế việc ủy thác toàn bộ cho ca đoàn hát trong thánh lễ để tránh lạm dụng, biến giáo dân thành những thính giả bất đắc dĩ.
Vậy làm sao có thể tạo ra sự cân bằng để mọi người có thể tham dự “tích cực, trọn vẹn và có ý thức”? Sự tham gia tích cực và trọn vẹn có nghĩa là các thành viên đều tham gia vào cùng một hành vi thờ phượng, bằng cử chỉ, lời nói, ca hát và phục vụ. Tuy nhiên sự tham gia tích cực không loại trừ sự im lặng, tĩnh lặng và lắng nghe. Chẳng hạn khi nghe những bài đọc, bài giảng, hiệp với lời nguyện của chủ tế. Vì lý do này, trong Phần Riêng lễ, cụ thể những bài hát thuộc về cuộc rước (Bài Ca Nhập lễ, Ca Tiến lễ và Ca Hiệp lễ) cộng đoàn được mời gọi tham gia càng nhiều càng tốt, nhưng cộng đoàn cũng được mời gọi dành những giây phút tĩnh lặng để lắng nghe, để suy nguyện khi ca đoàn hát một mình mà không cần phải ca thán hoặc lên án họ.
Dù sao nữa, khi thi hành đúng phận vụ của mình, ca đoàn cũng phải ý thức vai trò được Giáo hội trao phó là nâng đỡ cộng đoàn, giúp họ nâng tâm hồn lên tới vẻ đẹp siêu phàm của Thiên Chúa, thúc đẩy các hành động ca ngợi, chúc lành, tôn vinh và tạ ơn.
- Võ Tá Hoàng
2023
Giáo hội Công giáo dạy gì về an tử?
2023
Trà sữa cùng Teen ngày 27/04/2023 – Trung thành với ơn gọi
Trà sữa cùng Teen ngày 27/04/2023 – Trung thành với ơn gọi
TRÀ SỮA CÙNG TEEN
Media TGP Sài Gòn
Truyền thông Tổng Giáo phận Sài Gòn đồng hành với các bạn tuổi teen qua chuyên mục TRÀ SỮA CÙNG TEEN. Những câu chuyện khó nói, không biết giải bày cùng ai mà các bạn tuổi teen gặp phải như các vấn đề về: tâm lý, giới tính, tình bạn, tình yêu và nhiều câu chuyện khác nữa… sẽ được Trà sữa cùng teen giải đáp và chia sẻ cùng các bạn.
Sau đây là các chương trình đã được thực hiện:
(Cập nhật ngày 27/04/2023)

