2023
Kamil, Người thanh niên khuyết tật làm đạo diễn phim tại Lộ Đức
Kamil, Người thanh niên khuyết tật làm đạo diễn phim tại Lộ Đức
Paulina Guzik
– Vóc người mảnh khảnh, giọng nói yếu ớt, nhẹ nhàng và điều khiển chiếc xe lăn chạy điện bằng một ngón tay, Kamil Cierniak đã sống với căn bệnh nan y teo cơ tuỷ sống (SMA- spinal muscular atrophy) trong 26 năm. Nhưng có một điều không thể bị đánh bại trong cuộc đời anh, đó là niềm tin. Chính niềm tin này đã đưa anh đến Thánh địa Lộ Đức vào tháng 5. 2015. Điều đặc biệt là, dù bị khuyết tật, chàng sinh viên trẻ người Ba Lan đã đạo diễn một phim tài liệu về những người khuyết tật hành hương đến Lộ Đức vào tháng 5 hàng năm cùng với Hội Hiệp sĩ Malta.
Bà Krystyna Cierniak, mẹ của Kamil, nói với OSV News rằng, Kamil sinh ngày 28. 8. 1993, “là một em bé nhỏ xíu và rất trầm tĩnh. Chúng tôi nghĩ chắc đây chỉ là tính cách của thằng bé”.
Biết Kamil mắc bệnh khi được 8 tháng tuổi, nhưng với bà Krystyna:
“Tôi chưa bao giờ coi căn bệnh của con là một thánh giá. Bạn chẳng thể mong đợi rằng mọi thứ trong cuộc sống của mình sẽ luôn tuyệt vời, bởi vì như thế chẳng khác nào hy vọng rằng người khác sẽ bị ốm bệnh. Đây sẽ là điều chẳng thể chấp nhận được đối với một Kitô hữu”.
Bà Krystyna đã làm hết sức để cuộc sống của con trai mình trở nên bình thường bao nhiêu có thể. “Kamil cực kỳ thông minh”, nên khi đến lúc cậu phải vào đại học, bà không ngần ngại chút nào.
Kamil định theo học từ xa nhưng sau khi nhìn thấy một sinh viên khuyết tật sống trong ký túc xá với mẹ của cô ấy, Kamil đã nở một nụ cười và nói ‘Mẹ ơi, chúng ta cũng có thể làm như vậy!’
Khi các anh trai của Kamil khôn lớn, bà Krystyna đã chuyển đến ký túc xá của trường đại học cùng với cậu con út. Krystyna đã trải qua 8 năm sống trong một căn phòng ký túc xá nhỏ với con trai mình, khi trước hết cậu học khoa học chính trị tại Đại học Jagiellonian, sau đó nghiên cứu nhận thức trong lãnh vực tâm lý học, và cuối cùng là triết học tại Đại học Giáo hoàng Gioan Phaolo II ở Krakow, Ba Lan.
Với niềm đam mê là biên tập báo chí, Kamil đã lập một blog để chia sẻ những suy tư mang tính hài hước về cuộc sống của một sinh viên khuyết tật.
Có lần Kamil mô tả việc anh xin làm tiếp viên hàng không. Kamil viết trong đơn xin việc như sau: “Có một vấn đề, tôi là người khuyết tật. Nhưng nhờ điều này, nếu điều gì đó tồi tệ chẳng may xảy ra trong chuyến bay, tôi sẽ là một hình mẫu của sự bình tĩnh và tự chủ”.
Anh nhớ lại một cách trìu mến một chuyến bay của mình, đó là chuyến bay đến Lộ Đức, để viếng đền thánh Đức Mẹ.
Vào tháng 4. 2015, Đại học Giáo hoàng Gioan Phaolo II đã đề nghị Kamil làm đạo diễn của một phim tài liệu về cuộc hành hương của những người khuyết tật đến Lộ Đức. Kamil và người bạn quay phim, Jakub Stoszek, đã nhận thử thách để sản xuất một phim tài liệu dài 30 phút.
Hàng năm vào đầu tháng 5, mà theo truyền thống là tháng dành riêng cho Đức Maria, các hiệp hội quốc gia của Hội Hiệp sĩ Malta tổ chức hành hương đến Lộ Đức cùng với những người khuyết tật, vốn là nơi nổi tiếng với những phép lạ chữa bệnh, mà đôi khi được cho là kết quả của việc chạm vào nước của suối Đức Mẹ.
Bà Krystyna cho biết:
Nếu không có sự giúp đỡ của hội Hiệp sĩ Malta và sự hỗ trợ của trường đại học, chuyến đi sẽ không bao giờ có thể thực hiện được. Chuyến hành hương này có tác động rất lớn đến Kamil, và việc Kamil có mặt ở nơi thánh thiêng này thật thấm thía làm sao!
Như thường lệ, Kamil đi du lịch cùng mẹ. Chiếc xe lăn của Kamil quá lớn, không thể đưa qua cửa máy bay, nên hãng hàng không đã chuyển nó đến vào ngày hôm sau. Điều này có nghĩa là, trong ngày đầu tiên ở Lộ Đức, Kamil phải nằm trên giường.
Khi trở về từ chuyến hành hương, Kamil viết trên blog:
Nhờ có các Hiệp sĩ Malta, dù nằm trên giường bệnh, tôi đã có thể đến viếng Grotto, nơi đã xảy ra các cuộc hiện ra của Đức Trinh Nữ Maria. Điều này thật sự rất có ý nghĩa đối với tôi, đặc biệt là một tháng trước đó tôi đã không bao giờ nghĩ rằng mình sẽ có thể tận mắt nhìn thấy nơi này.
Cũng trên chiếc giường đó, tôi được đưa tới để tham dự Thánh lễ tại nhà nguyện của bệnh viện-khách sạn. Vào cuối Thánh lễ, trong phần thông báo, tôi được giới thiệu là thành viên của một nhóm báo chí. Những người có mặt trong Thánh lễ hẳn đã thực sự ngạc nhiên khi thấy một phóng viên đang nằm trên giường bệnh.
Kamil nói đùa, “Chắc hẳn đây phải là người có óc sáng tạo lắm đây!”.
Theo bà Krystyna,
“Chuyến hành hương đến Lộ Đức đối với Kamil là một sự củng cố đời sống tâm linh, một nơi để nạp năng lượng cho cậu. Con trai tôi đã có một mối tương quan tuyệt vời với Thiên Chúa. Và Kamil cảm thấy cầu nguyện ở Lộ Đức là một trải nghiệm tâm linh rất đặc biệt”.
Kamil đã phỏng vấn nhiều phụ nữ, nhiều hiệp sĩ của Hội Hiệp sĩ Malta và nhiều bệnh nhân khi sản xuất phim tài liệu này. Kamil kể chuyện về cuộc hành hương quốc tế đầu tiên do Hội Hiệp sĩ Malta tổ chức vào năm 1958 (kỷ niệm 100 năm Đức Mẹ hiện ra với Bernadette), trong đó phụ nữ mặc đồng phục y tá kiểu cổ xưa và đàn ông mặc đồng phục dân tộc truyền thống giống như những bộ quân phục. Tất cả những người tham gia chăm sóc những nhóm lớn bệnh nhân đồng hành với họ, biến Lộ Đức thành một bức tranh khảm đầy màu sắc của những người hiệp nhất trong lời cầu nguyện và phục vụ người khác.
Kamil viết trên blog: “Chuyến hành hương quốc tế của Hội Hiệp sĩ Malta tại Lộ Đức thực sự, thực sự rất ấn tượng”.
Với khiếu hài hước như thường thấy, Kamil kết luận bài đăng trên blog về Lộ Đức:
Theo một cách nào đó, tôi đã được ban cho một phép lạ khi trở về Ba Lan mà không cần xe lăn. Thật không may, hai ngày sau, nó đã về tới nhà bằng xe buýt!
Phim tài liệu do Kamil sản xuất đã được Đài truyền hình Ba Lan, một kênh công cộng quốc gia, phát sóng trong Năm Lòng Thương Xót của Giáo hội vào năm 2016.
Bà Krystyna nói với OSV News,
Vào tháng 11. 2019, cha của Kamil bị chẩn đoán mắc bệnh ung thư não và qua đời chỉ vài tuần sau đó. Dù không bao giờ oán trách, nhưng điều này thật sự quá tàn khốc đối với Kamil; chỉ một tháng sau khi bố qua đời, vào đêm Giáng sinh, tình trạng của Kamil xấu đi nghiêm trọng.
Kamil đã trải qua 3 tháng cuối đời trên giường bệnh, được đặt nội khí quản và không thể tự thở. Dù thế, bà Krystyna cho biết thêm,
Kamil vẫn luôn khích lệ các nhân viên bệnh viện, cả khu đầy ắp tiếng cười của những người bạn trực ca đêm để tôi có thể chợp mắt.
Kamil diễn tả bằng ánh mắt trên màn hình như để hỏi xem các y tá có ổn không, và họ có quá mệt không. Kamil luôn quan tâm đến người khác hơn là quan tâm đến bản thân mình.
Bà Krystyna nhớ lại,
Một trong những tin nhắn cuối cùng Kamil viết cho tôi là: ‘Mẹ ơi, mẹ hãy kê đầu vào gối và nghỉ ngơi chút đi’
Hôm ấy, Kamil hỏi tôi: ‘Mẹ ơi, mẹ có thể chạy ra cửa hàng để mua một ít kẹo cho bác sĩ và y tá không?’ Tôi nghĩ, đây chỉ là một việc vặt, và cửa hàng cũng rất gần, nên tôi đã chạy đi. Ít phút sau, khi tôi trở về, một y tá lao ra khỏi phòng và nói với tôi rằng con trai tôi đã chết!”
Tôi không thể tin được điều đó! Nhưng sau này tôi được bác sĩ cho biết rằng, thường thì những đứa trẻ hiếm khi muốn để cha mẹ chứng kiến cái chết của chúng.
Kamil qua đời vào ngày 18. 4. 2020, lễ Vọng Chúa Nhật Lòng Chúa Thương Xót.
Bà Krystyna tâm sự:
Tôi biết giờ đây Kamil đang hưởng nhan Chúa, vì tôi luôn cảm thấy sự hiện diện của Kamil ở bên tôi.
Kamil có một đức tin vững mạnh mà tất cả chúng tôi đều đã học được từ cậu.
Nt. Anna Ngọc Diệp, OP
Dòng Đa Minh Thánh Tâm
2023
Đức Giáo hoàng Phanxicô: Yêu tốt để nói tốt – Những thách thức nhân Ngày Thế giới Truyền thông Xã hội 2023
Đức Giáo hoàng Phanxicô: Yêu tốt để nói tốt – Những thách thức nhân Ngày Thế giới Truyền thông Xã hội 2023
Sr. Hosea Rupprecht
Bạn đã có bao giờ nghe biết về Ngày Thế giới Truyền thông Xã hội chưa? Nếu chưa, thì cũng không sao, và đây là dịp để bạn trải nghiệm về ngày này.
Vào Chúa Nhật trước Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, Giáo hội cử hành việc nhìn nhận Truyền thông xã hội như là một món quà Thiên Chúa ban cho nhân loại, và như một tiềm năng tuyệt vời đối với việc Phúc âm hoá. Ngày này cũng nhắc nhở Giáo hội tận dụng các công nghệ truyền thông để loan báo Tin Mừng, truyền bá điều tốt đẹp, đồng thời giáo dục con cái mình suy tư cách nghiêm túc về những sứ điệp dành cho ngày này.
Năm nay ngày Thế giới Truyền thông Xã hội lần thứ 57 sẽ được cử hành vào Chúa nhật ngày 21. 5, và Đức Thánh Cha Phanxicô đã gửi sứ điệp với chủ đề “Nói bằng trái tim”.
Chúa Giêsu đã từng cảnh báo những người Pharisêu rằng điều khiến người ta ô uế là từ trong lòng, “Vì tự lòng phát xuất những ý định gian tà, những tội giết người, ngoại tình, tà dâm, trộm cắp, làm chứng gian và vu khống” (Mt 15, 19). Tất nhiên, nếu trái tim của chúng ta tràn ngập niềm vui, lòng trắc ẩn, tình yêu thương, lòng biết ơn và sự tha thứ, thì chính những phẩm chất đó sẽ lan toả trong cuộc sống và trong sự giao tiếp của chúng ta, như cách diễn tả của Tin Mừng Lc 6, 44: xem quả thì biết cây.
Để trở thành những người truyền đạt tình yêu của Thiên Chúa cách hữu hiệu hơn, cả trong lời nói và trong cuộc sống, Đức Thánh Cha đưa ra một vài thách thức đối với chúng ta trong thời đại kỹ thuật số này.
Thanh lọc con tim. Nếu muốn nói lên sự thật trong đức ái, chúng ta phải thanh lọc con tim của mình. Trong thân phận con người tội lỗi, tâm hồn chúng ta sẽ chẳng bao giờ là hoàn toàn tinh sạch, nhưng chúng ta cố gắng để lớn lên trong nhân đức mỗi ngày. Đức Thánh Cha nói:
Chỉ khi biết lắng nghe và nói bằng một trái tim trong sáng, chúng ta mới có thể nhìn xa hơn những vẻ bề ngoài và vượt qua được những tiếng ồn ào hỗn độn, cả trong lĩnh vực truyền thông, khiến chúng ta khó phân định được trong một thế giới phức tạp mà chúng ta đang sống.
Điều gì trong lòng tôi cần được thanh lọc để sự giao tiếp của tôi nâng đỡ người khác?
Giao tiếp thân tình. Điều này nghe có vẻ đơn giản, nhưng mới đây tôi có xem một đoạn tin tức về một hành khách của hãng hàng không phàn nàn một cách vô lý và vô lối về việc một em bé la khóc trên máy bay. Những cách ứng xử thô kệch của anh ta thực sự đã gây xáo trộn cho cả chuyến bay. Giao tiếp của anh ấy hoàn toàn không bằng trái tim. Đức Thánh Cha đưa ra mẫu gương của Chúa Giêsu phục sinh, Đấng đi bên cạnh và nói chuyện với các môn đệ đang phiền não trên đường Emmaus (Lc 24, 13-35). Chúa Giêsu nói với họ từ trái tim, tôn trọng sự đau khổ của họ, và không áp đặt suy nghĩ của Người lên họ. Những gì Chúa Giêsu làm là yêu thương mở trí cho họ hiểu được ý nghĩa sâu xa của những gì đã xảy ra. Chính sự giao tiếp thân tình của Chúa Giêsu đã làm cho tâm hồn họ bừng cháy lên.
Sự giao tiếp của tôi có thân tình, có toát lên niềm cảm hứng và lòng trắc ẩn không?
Giao tiếp chân thực. Đức Thánh Cha giới thiệu Thánh Phanxicô Salêsiô như một mẫu mực của sự giao tiếp xuất phát từ tình yêu thương. Vị tu sĩ Dòng Tên ở thế kỷ XVII đã xác tín rằng, “Cứ thương yêu cho tốt đẹp thì sẽ biết diễn tả cách tốt đẹp”, vì “chúng ta giao tiếp thế nào thì chúng ta là như thế”. Sự giao tiếp chân thực đã bị ảnh hưởng trong nền văn hóa được đánh dấu bằng hành vi thái quá. Thật vậy, nhiều người thể hiện những gì họ mong muốn trên mạng xã hội chứ không phải là con người thật của họ. “Nói từ trái tim” có nghĩa là chân thực trong giao tiếp của chúng ta.
Tôi có chân thực trong các giao tiếp của mình không, nhất là trực tuyến?
Hãy nói theo “cung cách của Thiên Chúa”. Thách thức này chạm đến tiến trình Hiệp hành. Đức Phanxicô nói: “Trong Giáo hội, chúng ta rất cần một nền truyền thông vỗ về các tâm hồn, đó là dầu xoa dịu những vết thương và soi sáng hành trình của anh chị em chúng ta”. Điều này đòi hỏi, trước hết là lắng nghe người khác mà không thành kiến, được nuôi dưỡng bằng sự gần gũi, cảm thông và dịu dàng, và sau đó mới lên tiếng. Nếu chúng ta có thể mô hình hóa cách giao tiếp này trong một thế giới phân cực, thì đó thực sự là một món quà cho nền văn hóa của chúng ta.
Tôi có mô hình hóa việc lắng nghe trong giao tiếp của mình hay tôi chỉ chú tâm tới việc mình được nghe?
Với những thách thức này, Đức Thánh Cha kêu gọi mọi người phát triển theo cách giao tiếp nói lên sự thật từ trái tim, vốn là “điều cần thiết để nuôi dưỡng một nền văn hóa hòa bình”. Chỉ khi nào chúng ta nói từ trái tim thì “phép lạ của sự gặp gỡ”, như cách gọi của Đức Thánh Cha, mới có thể xảy ra.
Đức Thánh Cha kết thúc sứ điệp dành cho Ngày Thế giới Truyền thông Xã hội năm nay bằng lời cầu nguyện mà chúng ta có thể cầu xin cho chính mình và cho thế giới:
Xin Chúa Giêsu – Lời tinh tuyền tuôn trào từ trái tim Chúa Cha – giúp chúng con thực hiện việc truyền thông một cách rõ ràng, cởi mở và chân thành.
Xin Chúa Giêsu – Lời nhập thể – giúp chúng con lắng nghe nhịp đập của con tim, để tái khám phá chúng con là anh chị em của nhau, và giải trừ sự thù địch gây chia rẽ.
Xin Chúa Giêsu – Lời của sự thật và tình yêu – giúp chúng con nói lên sự thật trong đức ái, để chúng con cảm thấy mình là những người bảo vệ lẫn nhau.
Nt. Anna Ngọc Diệp, OP
Dòng Đa Minh Thánh Tâm
2023
Thông dịch viên Lời Chúa
Gm. Phêrô Nguyễn Văn Khảm
Than phiền bài giảng của các linh mục đã trở thành chuyện dài nhiều tập đến nỗi đi vào cả Tông huấn của Giáo hoàng: “Tôi đặc biệt chú ý đến bài giảng lễ và việc chuẩn bị bài giảng vì có quá nhiều lời ta thán về phận vụ quan trọng này, và chúng ta không thể không biết đến… Chúng ta biết rằng người giáo dân dành cho bài giảng tầm quan trọng đặc biệt, nhưng cả họ cũng như các thừa tác viên có chức thánh đều phải khổ sở vì các bài giảng: giáo dân khổ vì phải nghe, còn người giảng thì khổ vì phải giảng” (Evangelii Gaudium, 135). Trong câu trích dẫn trên, Đức Thánh Cha Phanxicô không chỉ nói đến nỗi khổ của giáo dân khi phải nghe giảng, mà còn nói đến nỗi khổ của các linh mục khi phải giảng! Mà đây lại là điều ít người để ý đến.
Trong thực tế, các linh mục có những khó khăn khi giảng Lời Chúa, những khó khăn mà các diễn giả khác không phải đối diện. Chẳng hạn cử tọa không thay đổi. Một giáo sư dạy một môn học, ông biên soạn một giảng trình và cử tọa của ông là các sinh viên, mỗi năm là một lớp sinh viên mới nên tuy giảng trình vẫn thế (có thay đổi chút đỉnh) mà người nghe vẫn thấy mới. Hoặc một diễn giả được mời thuyết trình trong hội nghị, ông biên soạn bài diễn văn công phu, và vẫn bài ấy, ông trình bày tại những hội nghị khác với cử tọa khác, bài thuyết trình của ông lúc nào cũng được người nghe coi là mới mẻ. Còn linh mục giảng Lời Chúa thì sao? Cũng một cử tọa ấy, ngày này qua ngày khác, năm này qua năm khác, và nếu linh mục ấy phục vụ tại giáo xứ từ 5 năm trở lên thì lấy đâu ra cái mới! Có khi vừa nghe mấy câu thì người ta đã xầm xì “Biết rồi, khổ lắm, nói mãi”!
Chưa hết, cử tọa của một giáo sư trên giảng đường là các sinh viên cùng trình độ, cử tọa của một diễn giả về một đề tài là những người quan tâm đến đề tài đó, vì thế họ có thể trình bày cách thích hợp với cử tọa. Còn cử tọa của linh mục tại giáo xứ thì sao? Thưa, đủ mọi lứa tuổi, đủ mọi trình độ, làm sao để thích hợp với mọi người? Trong Triết Kinh viện có câu: “Bất cứ điều gì được đón nhận đều được đón nhận theo thể thức của người đón nhận”. Nếu lấy câu đó áp dụng cho việc giảng lễ của các linh mục, sẽ thấy rất phức tạp.
Nói thế không phải để than thở, cũng không phải để bênh nhau nhưng để có thể nói với nhau cách chân thành rằng dù có những khó khăn như thế, anh em linh mục phải luôn cố gắng chu toàn trách nhiệm cao quý đã lãnh nhận, và bài viết này mong được là sự chia sẻ thân tình trong bầu khí huynh đệ ấy.
Thông dịch viên
Để tìm một hình ảnh diễn tả việc giảng lễ của linh mục, tôi nhớ đến một linh mục đàn anh đã qua đời. Có lần ngài kể cho tôi nghe chuyện một người bạn cùng lớp ở chủng viện nhưng đã xuất tu, sau đó anh dồn sức học tiếng Anh để làm thông dịch viên cho người Mỹ. Vị linh mục đàn anh ấy nói với tôi: hắn học đến nỗi ho ra máu để làm thông dịch viên cho Mỹ, thế còn chúng ta học để làm thông dịch viên Lời Chúa thì sao! “Thông dịch viên Lời Chúa”, tôi nhớ mãi cụm từ ấy và muốn mượn hình ảnh này để suy nghĩ về nhiệm vụ giảng lễ của các linh mục.
Khi đất nước mở ra với các nước ngoài về hoạt động thương mại cũng như giao lưu văn hóa, thông dịch viên trở thành một ngành nghề cần thiết. Vậy, đâu là những phẩm chất cần thiết của một thông dịch viên giỏi?
Thông dịch viên giỏi là người phải thông thạo cả hai ngôn ngữ, ngoại ngữ và ngôn ngữ bản xứ. Giỏi ngôn ngữ bản xứ nhưng kém ngoại ngữ đương nhiên không thể thông dịch, nhưng giỏi ngoại ngữ mà yếu về ngôn ngữ bản xứ cũng không thể là thông dịch viên tốt. Do đó, sở hữu vốn từ vựng rộng lớn trong cả hai ngôn ngữ sẽ giúp thông dịch viên nhanh nhạy trong việc dùng từ chính xác và sinh động.
Cùng với sự thông thạo ngôn ngữ, thông dịch viên giỏi còn phải có kiến thức tổng quát và hiểu biết về văn hóa. Ngôn ngữ là phương tiện diễn tả tư tưởng, tâm tình, cảm xúc bên trong, và ngôn ngữ gắn liền với văn hóa. Vì thế nếu có sự hiểu biết rộng về lịch sử và văn hóa bản xứ cũng như nước ngoài, thông dịch viên có thể hiểu sâu về những điều người ta muốn diễn tả và truyền đạt cho người khác.
Ngoài ra, cũng như trong bất cứ lãnh vực nào khác, đạo đức nghề nghiệp là đòi hỏi tất yếu. Trong ngành thông dịch, đạo đức nghề nghiệp trước hết đòi hỏi sự trung thực, chuyển tải đúng những điều người khác muốn, không tự ý thêm bớt điều gì. Cùng với sự trung thực là bảo mật thông tin, tác phong lịch sự, nghiêm túc trong công việc.
Cuối cùng, thông dịch viên giỏi là người phải không ngừng trau dồi khả năng. Ngôn ngữ và kiến thức là biển cả mênh mông và không ngừng tiến triển, vì thế để là thông dịch viên giỏi, phải không ngừng trau dồi ngôn ngữ và sự hiểu biết, nhờ đó mới có thể đáp ứng nhu cầu cách thích đáng.
Thông dịch viên Lời Chúa
Lời của Chúa và lời của đời
Thông dịch viên là cầu nối cho cuộc đối thoại giữa hai người không cùng ngôn ngữ. Cũng thế, thông dịch viên Lời Chúa là cầu nối cho cuộc đối thoại giữa Thiên Chúa và dân của Người. Để phục vụ cuộc đối thoại ấy, linh mục phải hiểu biết Lời Chúa, cụ thể là các bài đọc trong Thánh Lễ. Thông thường các linh mục giảng lễ hay tự hỏi: “Tôi sẽ giảng điều gì để người nghe thấy hấp dẫn?” nhưng thực ra câu hỏi đầu tiên phải là: “Lời Chúa muốn nói gì với dân của Chúa?”, vì thế việc đầu tiên là phải đọc và tìm hiểu Lời Chúa qua các bài đọc. Đức Phanxicô trong Tông huấn Evangelii Gaudium (EG) cũng như Đức Bênêđictô XVI trong Verbum Domini (VD) đều nhấn mạnh đến phần việc quan trọng này và đưa ra những chỉ dẫn cụ thể (x. EG 150; VD 59):
– Phải đọc kỹ, chậm rãi, không vội vã, để ý đến những từ ngữ được lặp lại nhiều lần cũng như để ý cấu trúc của bản văn, mục đích là để tìm hiểu đâu là sứ điệp chính của trích đoạn mà ta đang đọc.
– Phải liên hệ bản văn ta đang đọc với giáo huấn của toàn bộ Kinh Thánh vì Chúa Thánh Thần không chỉ linh hứng một phần nhưng là toàn bộ Kinh Thánh.
– Đồng thời bản thân linh mục phải đọc bản văn Kinh Thánh như Lời Chúa nói với chính mình. Ai muốn rao giảng, phải sẵn sàng để cho Lời chạm đến và làm cho Lời hình thành cụ thể trong đời sống của mình, như thế mới có thể truyền đạt cho người khác điều mình chiêm ngắm; nếu không sẽ có nguy cơ chỉ là tiên tri giả. “Người giảng dạy Lời Thiên Chúa ở bên ngoài mà không nghe Lời ấy ở bên trong thì không thể mang lại hoa trái” (Augustino).
Tiếp đến, giảng không chỉ là giảng cái gì nhưng còn là giảng cho ai, vì thế cùng với việc hiểu biết Lời Chúa, linh mục còn cần phải hiểu biết cử tọa và đời sống của họ: “Người giảng phải có khả năng nối kết sứ điệp của bản văn Kinh Thánh với hoàn cảnh sống của con người, với một trải nghiệm đang kêu gào ánh sáng Lời Chúa. Đây không phải là chuyện tính toán cơ hội nhưng là đòi hỏi tôn giáo và mục vụ sâu xa” (EG 154). Chính điều này làm cho bài giảng lễ khác với bài chú giải Kinh Thánh, và cũng có thể nói là thách đố lớn nhất của việc giảng lễ, đòi hỏi linh mục phải vừa lắng nghe Lời Chúa vừa lắng nghe lời của đời, nhất là tâm tư của những người mình được sai đến công bố Lời Chúa cho họ. Chính vì thế, “Bài giảng là viên đá thử để đánh giá việc gần gũi của mục tử với giáo dân” (EG 135).
Soạn giảng
Thông dịch viên là một nghề và đòi hỏi phải có đạo đức nghề nghiệp, huống chi thông dịch viên Lời Chúa là một ơn gọi, thì linh mục giảng lễ lại càng phải có tinh thần trách nhiệm lớn hơn, trách nhiệm trước mặt Chúa và trách nhiệm với dân Chúa. Trách nhiệm ấy đòi hỏi linh mục phải chuẩn bị bài giảng lễ cho chu đáo hết sức có thể: “Mỗi tuần nên dành một thời gian cá nhân hay tập thể rất cần thiết cho trách nhiệm này, dù phải bớt thời giờ cho những công việc khác, kể cả những việc thật quan trọng” (EG 145). Nếu không chuẩn bị bài giảng cho tốt, linh mục giảng lễ sẽ làm mất thời giờ của cộng đoàn, tệ hơn nữa, còn làm cho cộng đoàn chán ngán Lời Chúa và đời sống đức tin sa sút.
Lý do thường được viện dẫn để biện minh cho việc thiếu chuẩn bị bài giảng là “không có giờ, quá nhiều việc phải lo”! Tuy nhiên nếu chúng ta chân thành nhìn lại đời sống của mình, có lẽ vấn đề không phải là không có giờ nhưng “đâu là ưu tiên hàng đầu của chúng ta?” Nếu ưu tiên hàng đầu là giảng Lời Chúa thì chúng ta sẽ có thể sắp xếp thời gian thích hợp cho công việc này.
Lý do khác cũng hay được viện dẫn là “các bài đọc đã quá quen, chẳng có gì mới nên không cần chuẩn bị”! Chúng ta quên rằng Lời Chúa luôn mới mẻ và cuộc sống con người cũng không ngừng thay đổi. Hãy thử đọc những bài giảng của Đức Bênêđictô XVI hoặc của Đức Phanxicô xem, cũng cùng một bài Tin Mừng ấy, các ngài giảng nhiều năm và lần nào cũng cung cấp cái nhìn mới về Lời Chúa. Vì thế viện dẫn lý do “đã quá quen” thực ra chỉ là để biện minh cho sự lười biếng của mình.
Một bài giảng tốt là bài giảng tác động trên con người toàn diện: soi sáng trí khôn, đánh động tâm hồn, thúc đẩy hành động. Vì vậy cần có thời giờ chuẩn bị kỹ lưỡng bằng việc cầu nguyện, suy nghĩ, đào sâu, tìm kiếm cách diễn tả. Nên tập trung vào một chủ đề hơn là trình bày quá nhiều ý tưởng rải rác, thiếu liên kết, khiến người nghe khó lĩnh hội. “Một ý tưởng, một tâm tình, một hình ảnh” là lời khuyên cụ thể của Đức Thánh Cha Phanxicô. Nếu được, nên viết ra vì khi viết, chúng ta có thể chọn những từ ngữ và cách diễn đạt thích hợp và giúp người nghe dễ đón nhận hơn.
Thuyết giảng
Biên dịch chỉ cần dịch cho đúng và hay, thông dịch còn đòi hỏi thêm là phải nói, phát âm chuẩn để người ta hiểu. Linh mục giảng lễ cũng thế, phải nói sao cho người ta nghe được, hiểu được, cảm được: “Một số người nghĩ rằng họ có thể trở thành những nhà giảng thuyết tốt vì họ biết phải nói cái gì, nhưng lại chểnh mảng về việc phải nói thế nào, cách cụ thể là khi trình bày bài giảng. Họ than phiền là người ta không chịu lắng nghe hoặc không đánh giá họ cao, nhưng có thể là họ đã không chú tâm đến cách trình bày sứ điệp” (EG 156). Vì thế, linh mục giảng lễ nên quan tâm đến một số điều về thuyết giảng:
– Giọng nói: phát âm chuẩn, không nói ngọng hoặc nói sai, không quá nhanh vì sẽ khó nghe, không quá chậm vì sẽ tạo cảm giác mệt mỏi, hơn nữa là giọng nói có khả năng diễn đạt cảm xúc và chạm đến tâm hồn người nghe.
– Ngôn ngữ thích hợp: không dung tục vì đây là lời rao giảng trong khung cảnh phụng vụ, cũng không quá chuyên môn, xa lạ với cử tọa. Ngôn ngữ giảng là ngôn ngữ đơn sơ, rõ ràng, tích cực: “Điều thường xảy ra là các vị giảng thuyết sử dụng những ngôn từ có tính học thuật nhưng không phải là ngôn từ thông dụng của người nghe. Đó là những thuật ngữ đặc thù của thần học và giáo lý, nhưng phần đông các tín hữu lại không hiểu… Để có thể giúp họ tiếp cận Lời Chúa, vị giảng thuyết phải lắng nghe, chia sẻ đời sống của họ và chú tâm đến họ nhiều hơn” (EG 158).
– Thời lượng: giảng lễ là giảng trong cử hành phụng vụ chứ không phải trong một giờ học hoặc hội thảo, vì thế bài giảng lễ không thể quá dài. Hơn nữa, bài giảng quá dài có thể làm mất đi sự hòa hợp giữa các phần phụng vụ cũng như nhịp điệu phụng vụ (x. EG 138). Không thể ấn định cách quá máy móc về thời lượng bài giảng lễ, tuy nhiên cách chung vì các linh mục làm việc tại các giáo xứ phải giảng thường xuyên mỗi Chúa nhật (chưa kể hằng ngày) nên có thể chọn khung thời gian cho một bài giảng lễ Chúa nhật là 7 – 10 phút.
– Tác phong: linh mục giảng lễ mang trên người phẩm phục phụng vụ, giảng trong bầu khí cử hành phụng vụ, sau bài giảng lễ là Phụng vụ Thánh Thể … tất cả những điều đó bày tỏ ý nghĩa đặc biệt của bài giảng lễ và vai trò đặc biệt của vị giảng lễ. Chính ý nghĩa và vai trò ấy đòi hỏi vị giảng lễ phải có tác phong thích hợp. Nói cách khác, linh mục giảng không chỉ bằng lời nói mà còn bằng ngôn ngữ không lời, và tác phong của ngài trong toàn bộ cử hành phụng vụ đóng vai trò quan trọng. Một bài giảng tốt cùng với việc cử hành sốt sắng và trang nghiêm chắc chắn sẽ mang lại ơn ích thiêng liêng cho cộng đoàn dân Chúa.
Vun trồng vốn liếng
Trong chương trình đào tạo ở các đại chủng viện, Giảng thuyết là môn học thường được xếp vào năm cuối của chương trình. Như thế, cách nào đó, việc giảng lễ của các linh mục vừa là kết quả vừa thể hiện ra bên ngoài tất cả những điều linh mục đã tiếp thu trong chương trình đào tạo. Nói như thế có nghĩa là bài giảng lễ của các linh mục được hình thành trên nền tảng đã có trước, tức là kiến thức Kinh Thánh và thần học, kinh nghiệm thiêng liêng và mục vụ, vốn sống và khả năng suy tư của mỗi người. Đây là lý do giải thích tại sao cũng dựa trên cùng các bài đọc nhưng các bài giảng lại được khai triển khác nhau.
Nền tảng ấy đã có nhưng không phải là một món hàng thủ đắc một lần là xong, nền tảng ấy cần phải tiếp tục được củng cố và phát triển trong suốt đời sống linh mục. Chính vì thế các linh mục được khuyến khích không ngừng học hỏi: “Những kiến thức của các thừa tác viên thánh cũng phải thánh vì phát xuất từ nguồn mạch thánh và quy hướng về cùng đích thánh. Vì thế kiến thức đó trước hết được kín múc từ việc đọc và suy gẫm Thánh Kinh, đồng thời cũng tăng thêm hiệu quả nhờ việc nghiên cứu những tài liệu của các Giáo phụ, các thánh Tiến sĩ và các chứng từ khác của Thánh Truyền. Ngoài ra, để trả lời thỏa đáng cho những vấn nạn của con người thời nay, các linh mục phải tìm hiểu thấu đáo những tài liệu của Huấn Quyền, nhất là của các Công đồng và các Giáo hoàng, cũng như phải tham khảo những tác giả thần học thời danh đã được Giáo Hội thừa nhận” (Presbyterorum Ordinis, 19).
Hơn thế nữa, chúng ta đang sống trong một thời đại mà tri thức nhân loại phát triển rất nhanh, vì thế linh mục lại càng cần tự trau dồi: “Trong thời đại ngày nay, văn hóa nhân loại và ngay cả các ngành học thánh đã có những bước tiến mới, vì thế các linh mục phải không ngừng trang bị thật đầy đủ kiến thức về Thiên Chúa và về con người, đó là cách tự chuẩn bị để có thể đối thoại cách thích hợp hơn với những người đương thời” (Presbyterorum Ordinis, 19). Đây là lý do các Giáo phận cố gắng tổ chức các khóa thường huấn hằng năm cho các linh mục. Tuy nhiên điều cần thiết không kém là mỗi linh mục phải tự đào tạo, dành thời giờ để đọc sách và học hỏi thêm.
* * *
Giảng lễ là tác vụ cao quý được trao ban cho các thừa tác viên có chức thánh: “Mỗi người đều có bổn phận và nhiệm vụ liên quan tới Lời Thiên Chúa: các tín hữu phải lắng nghe và suy niệm Lời; còn chỉ những ai đã nhận được nhiệm vụ giáo huấn do Bí tích Truyền chức thánh hoặc những ai đã được trao phó thi hành thừa tác vụ này, tức là các Giám mục, linh mục và các phó tế, thì mới trình bày Lời Chúa” (VD 59). Câu trích dẫn này cho thấy giảng lễ vừa là đặc ân dành riêng cho các linh mục và cũng là trách nhiệm nặng nề. Trách nhiệm ấy đòi hỏi linh mục phải gắn bó mật thiết với Lời Chúa: “Chúa muốn sử dụng chúng ta như những con người sống động, tự do và sáng tạo, hoàn toàn để cho Lời của Người thấm nhập chúng ta, trước khi chúng ta truyền đạt Lời này; sứ điệp của Chúa phải đi ngang qua vị giảng thuyết, không chỉ ngang qua lý lẽ của ngài nhưng chiếm hữu trọn vẹn cuộc sống của ngài” (EG 151).
Câu hỏi mỗi linh mục phải đặt ra cho mình không phải là “tôi giảng có hay không, có được người ta ca tụng không?” nhưng là “tôi đã cố gắng làm hết sức mình chưa?” Hãy làm hết sức như thể kết quả hoàn toàn là do mình, và phó thác nơi Chúa như thể mọi kết quả là từ nơi Chúa.
Nguồn: giaophanmytho.net (08.5.2023)
Đọc thêm bài trong mục “Câu chuyện đầu tuần” của Đức cha Phêrô Nguyễn Văn Khảm:
| 17 – Thông dịch viên Lời Chúa
16 – Thánh Giuse và nhiệm vụ rao giảng Lời Chúa 14 – Mầu nhiệm Phục Sinh và giá trị thân xác 13 – Giới trẻ và Chúa nhật Lễ Lá 12 – Những nấm mồ trên mạng xã hội |
2023
Ý nghĩa huy hiệu của Đức cha tân cử Giuse Huỳnh Văn Sỹ
Ý nghĩa huy hiệu của Đức cha tân cử Giuse Huỳnh Văn Sỹ
Văn phòng Tòa Giám mục Nha Trang
Khấu hiệu: Vâng Lời Thầy, Con Thả Lưới – In Verbo Tuo, Laxabo Rete (Lc 5,5)
Lời này diễn tả: niềm xác tín, lòng yêu mến và sự đáp trả lời mời gọi “ra khơi”.
- Con thuyền có cột buồm (Thánh giá) với cánh buồm no gió đang lướt mạnh mẽ trên con sóng hình cuốn sách mở (Lời Chúa) muốn diễn tả một sự xác tín vào sức mạnh của Lời Chúa, vì “cả gió và biến cũng tuân lệnh Người” (Mc 4,41), đặc biệt vì Lời Chúa còn là “là Thần khí và là sự sống” (Ga 6, 63). Do đó “phải vâng lời Thiên Chúa hơn là vâng lời người phàm” (Cv 5,29).
- Hình ảnh con thuyền nằm khá mềm mại không rời cuốn sách (Lời Chúa), muốn nói lên sự vâng lời và lòng yêu mến Chúa phải đi đôi với nhau vì “Ai yêu mến thầy sẽ giữ lời thầy… Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy” (Ga 14,23).
- Tấm lưới với 5 đường dọc và 5 đường ngang (ám chỉ Lc 5,5) được thả xuống chỗnước sâu đánh bắt cá, muốn nói lên sự đáp trả lời mời gọi dấn thân “ra khơi” (Lc 5,4). Tấm lưới thả xuống tựa dọc theo trụ buồm (Thánh giá) mà không có bóng dáng ai, vừa diễn tả sự cậy trông, vừa nói lên kết quả đánh cá dù ít dù nhiều (2 con cá) không do công lao con người nhưng là nhờ Chúa và là của Chúa.
