Aenean nec eros. Vestibulum ante ipsum primis in faucibus orci luctus et ultrices posuere cubilia curae. Suspendisse sollicitudin velit sed leo.

Chuyên mục
  • Bài giảng
  • Các loại khác
  • Chia sẻ
  • Chưa phân loại
  • GH Hoàn Vũ
  • GH Việt Nam
  • Giáo dục
  • Hạnh các Thánh
  • HĐGM Việt Nam
  • Kinh Thánh
  • Phim giáo dục
  • Phụng vụ
  • Sách
  • Suy niệm Chúa nhật
  • Suy niệm hàng ngày
  • Tài liệu giáo dục
  • Tài liệu phụng vụ
  • Thần học
  • Thánh ca
  • Thánh lễ
  • Thánh lễ trực tuyến
  • Thư chung
  • Thư viện
  • Tin tức
  • Triết học
  • Tư liệu
  • UBGD Công giáo
  • Video
From Gallery
Stay Connected
UyBanGiaoDucHDGM.net
  • Trang chủ
  • Thư chung
    • HĐGM Việt Nam
    • UBGD Công giáo
  • Tin tức
    • GH Việt Nam
    • GH Hoàn Vũ
  • Phụng vụ
    • Thánh lễ
    • Thánh lễ trực tuyến
    • Suy niệm hàng ngày
    • Suy niệm Chúa nhật
    • Tài liệu phụng vụ
  • Giáo dục
    • Chia sẻ
    • Tài liệu giáo dục
  • Thư viện
    • Sách
      • Kinh Thánh
      • Triết học
      • Thần học
      • Các loại khác
    • Video
      • Bài giảng
      • Thánh ca
      • Phim giáo dục
      • Hạnh các Thánh
      • Tư liệu
  • Liên hệ
Give Online

Tác giả: Anmai

Home / Anmai
14Tháng Năm
2023

ĐỨC GIÁO HOÀNG PHANXICÔ: YÊU TỐT ĐỂ NÓI TỐT – NHỮNG THÁCH THỨC NHÂN NGÀY THẾ GIỚI TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI 2023

14/05/2023
Anmai
GH Hoàn Vũ, Tin tức
0

ĐỨC GIÁO HOÀNG PHANXICÔ:
YÊU TỐT ĐỂ NÓI TỐT – NHỮNG THÁCH THỨC NHÂN NGÀY THẾ GIỚI TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI 2023

Sr. Hosea Rupprecht

Bạn đã có bao giờ nghe biết về Ngày Thế giới Truyền thông Xã hội chưa? Nếu chưa, thì cũng không sao, và đây là dịp để bạn trải nghiệm về ngày này.

Vào Chúa Nhật trước Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, Giáo hội cử hành việc nhìn nhận Truyền thông xã hội như là một món quà Thiên Chúa ban cho nhân loại, và như một tiềm năng tuyệt vời đối với việc Phúc âm hoá. Ngày này cũng nhắc nhở Giáo hội tận dụng các công nghệ truyền thông để loan báo Tin Mừng, truyền bá điều tốt đẹp, đồng thời giáo dục con cái mình suy tư cách nghiêm túc về những sứ điệp dành cho ngày này.

Năm nay ngày Thế giới Truyền thông Xã hội lần thứ 57 sẽ được cử hành vào Chúa nhật ngày 21. 5, và Đức Thánh Cha Phanxicô đã gửi sứ điệp với chủ đề “Nói bằng trái tim”.

Chúa Giêsu đã từng cảnh báo những người Pharisêu rằng điều khiến người ta ô uế là từ trong lòng, “Vì tự lòng phát xuất những ý định gian tà, những tội giết người, ngoại tình, tà dâm, trộm cắp, làm chứng gian và vu khống” (Mt 15, 19). Tất nhiên, nếu trái tim của chúng ta tràn ngập niềm vui, lòng trắc ẩn, tình yêu thương, lòng biết ơn và sự tha thứ, thì chính những phẩm chất đó sẽ lan toả trong cuộc sống và trong sự giao tiếp của chúng ta, như cách diễn tả của Tin Mừng Lc 6, 44: xem quả thì biết cây.

Để trở thành những người truyền đạt tình yêu của Thiên Chúa cách hữu hiệu hơn, cả trong lời nói và trong cuộc sống, Đức Thánh Cha đưa ra một vài thách thức đối với chúng ta trong thời đại kỹ thuật số này.

Thanh lọc con tim. Nếu muốn nói lên sự thật trong đức ái, chúng ta phải thanh lọc con tim của mình. Trong thân phận con người tội lỗi, tâm hồn chúng ta sẽ chẳng bao giờ là hoàn toàn tinh sạch, nhưng chúng ta cố gắng để lớn lên trong nhân đức mỗi ngày. Đức Thánh Cha nói:

Chỉ khi biết lắng nghe và nói bằng một trái tim trong sáng, chúng ta mới có thể nhìn xa hơn những vẻ bề ngoài và vượt qua được những tiếng ồn ào hỗn độn, cả trong lĩnh vực truyền thông, khiến chúng ta khó phân định được trong một thế giới phức tạp mà chúng ta đang sống.

Điều gì trong lòng tôi cần được thanh lọc để sự giao tiếp của tôi nâng đỡ người khác?

Giao tiếp thân tình. Điều này nghe có vẻ đơn giản, nhưng mới đây tôi có xem một đoạn tin tức về một hành khách của hãng hàng không phàn nàn một cách vô lý và vô lối về việc một em bé la khóc trên máy bay. Những cách ứng xử thô kệch của anh ta thực sự đã gây xáo trộn cho cả chuyến bay. Giao tiếp của anh ấy hoàn toàn không bằng trái tim. Đức Thánh Cha đưa ra mẫu gương của Chúa Giêsu phục sinh, Đấng đi bên cạnh và nói chuyện với các môn đệ đang phiền não trên đường Emmaus (Lc 24, 13-35). Chúa Giêsu nói với họ từ trái tim, tôn trọng sự đau khổ của họ, và không áp đặt suy nghĩ của Người lên họ. Những gì Chúa Giêsu làm là yêu thương mở trí cho họ hiểu được ý nghĩa sâu xa của những gì đã xảy ra. Chính sự giao tiếp thân tình của Chúa Giêsu đã làm cho tâm hồn họ bừng cháy lên.

Sự giao tiếp của tôi có thân tình, có toát lên niềm cảm hứng và lòng trắc ẩn không?

Giao tiếp chân thực. Đức Thánh Cha giới thiệu Thánh Phanxicô Salêsiô như một mẫu mực của sự giao tiếp xuất phát từ tình yêu thương. Vị tu sĩ Dòng Tên ở thế kỷ XVII đã xác tín rằng, “Cứ thương yêu cho tốt đẹp thì sẽ biết diễn tả cách tốt đẹp”, vì “chúng ta giao tiếp thế nào thì chúng ta là như thế”. Sự giao tiếp chân thực đã bị ảnh hưởng trong nền văn hóa được đánh dấu bằng hành vi thái quá. Thật vậy, nhiều người thể hiện những gì họ mong muốn trên mạng xã hội chứ không phải là con người thật của họ. “Nói từ trái tim” có nghĩa là chân thực trong giao tiếp của chúng ta.

Tôi có chân thực trong các giao tiếp của mình không, nhất là trực tuyến?

Hãy nói theo “cung cách của Thiên Chúa”. Thách thức này chạm đến tiến trình Hiệp hành. Đức Phanxicô nói: “Trong Giáo hội, chúng ta rất cần một nền truyền thông vỗ về các tâm hồn, đó là dầu xoa dịu những vết thương và soi sáng hành trình của anh chị em chúng ta”. Điều này đòi hỏi, trước hết là lắng nghe người khác mà không thành kiến, được nuôi dưỡng bằng sự gần gũi, cảm thông và dịu dàng, và sau đó mới lên tiếng. Nếu chúng ta có thể mô hình hóa cách giao tiếp này trong một thế giới phân cực, thì đó thực sự là một món quà cho nền văn hóa của chúng ta.

Tôi có mô hình hóa việc lắng nghe trong giao tiếp của mình hay tôi chỉ chú tâm tới việc mình được nghe?

Với những thách thức này, Đức Thánh Cha kêu gọi mọi người phát triển theo cách giao tiếp nói lên sự thật từ trái tim, vốn là “điều cần thiết để nuôi dưỡng một nền văn hóa hòa bình”. Chỉ khi nào chúng ta nói từ trái tim thì “phép lạ của sự gặp gỡ”, như cách gọi của Đức Thánh Cha, mới có thể xảy ra.

Đức Thánh Cha kết thúc sứ điệp dành cho Ngày Thế giới Truyền thông Xã hội năm nay bằng lời cầu nguyện mà chúng ta có thể cầu xin cho chính mình và cho thế giới:

Xin Chúa Giêsu – Lời tinh tuyền tuôn trào từ trái tim Chúa Cha – giúp chúng con thực hiện việc truyền thông một cách rõ ràng, cởi mở và chân thành.

Xin Chúa Giêsu – Lời nhập thể – giúp chúng con lắng nghe nhịp đập của con tim, để tái khám phá chúng con là anh chị em của nhau, và giải trừ sự thù địch gây chia rẽ.

Xin Chúa Giêsu – Lời của sự thật và tình yêu – giúp chúng con nói lên sự thật trong đức ái, để chúng con cảm thấy mình là những người bảo vệ lẫn nhau.

Nt. Anna Ngọc Diệp, OP
Dòng Đa Minh Thánh Tâm

Read More
13Tháng Năm
2023

Mười cách mừng kính tháng năm của Đức Mẹ

13/05/2023
Anmai
Phụng vụ, Tài liệu phụng vụ
0

Mười cách mừng kính tháng năm của Đức Mẹ

Tháng 10 là tháng Rất Thánh Mân Côi; Tháng 11, tháng cầu nguyện cho các tín hữu đã qua đời; Tháng Sáu chúng ta dìm mình trong đại dương thương xót của Thánh Tâm Chúa Giêsu; Tháng Bảy chúng ta ngợi khen và tôn thờ Máu Châu Báu Chúa Giêsu, giá cứu chuộc chúng ta. Tháng Năm là tháng của Mẹ Maria.
Mẹ Maria là Nữ Tử của Chúa Cha, Mẹ của Chúa Con và là Hiền Thê mầu nhiệm của Chúa Thánh Thần, Nữ Vương các thiên thần, các thánh, trời đất. Và Thánh Louis de Montfort tôn vinh Mẹ là Nữ Vương của mọi tâm hồn và là kiệt tác tạo dựng của Thiên Chúa.

Các thánh tung hô vinh quang của Đức Trinh Nữ Maria bằng những lời lẽ mạnh mẽ, đầy cảm hứng và thơ mộng.

Chúng ta có thể bày tỏ tình yêu và lòng sùng kính của mình đối với Đức Trinh Nữ Maria trong tháng của Mẹ như thế nào? Có mười cách.

  1. Tận hiến.

Cử chỉ đầu tiên chúng ta nên làm mỗi sáng là cầu nguyện – lời cầu nguyện tận hiến cho Chúa Giêsu qua Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria. Bắt đầu ngày mới nhờ Mẹ Maria!

Thánh Têrêsa Calcutta cảm động trước tình yêu lớn lao dành cho Mẹ Maria đã nói:

“Lạy Mẹ Maria, xin ban cho con trái tim của Mẹ: thật đẹp, thật tinh tuyền, vô nhiễm; Trái tim của Mẹ tràn đầy tình yêu và sự khiêm nhường để con có thể tiếp nhận Chúa Giêsu trong Bánh sự sống và yêu mến Người như Mẹ yêu mến Người và phục vụ Người trong hình dáng đau khổ của người nghèo.”

  1. Kinh Truyền tin / Kinh Nữ Vương Thiên đàng

Theo truyền thống, lời kinh này được đọc vào buổi trưa, nhưng kinh đó cũng được đọc bất cứ lúc nào. Tại sao không cầu nguyện ba lần một ngày – lúc 9 giờ sáng, 12 giờ trưa và 6 giờ chiều. Bằng cách này, chúng ta sẽ thánh hóa những giờ buổi sáng, những giờ buổi chiều và những giờ buổi tối nhờ sự hiện diện thánh thiện và ngọt ngào của Mẹ Maria.

Những lời kinh kính Đức Mẹ này gợi nhớ đến sự hiện diện quan trọng của Mẹ Maria trong các Mầu nhiệm cứu rỗi chúng ta – Sự Nhập thể, Cuộc khổ nạn, cái chết và Sự Phục sinh của Chúa Giêsu Kitô và là Đấng Cứu độ! Cha xứ Ars, Thánh Gioan Vianney, nhắc nhở chúng ta về sự hiện diện và hành động thường xuyên của Mẹ Maria trong cuộc đời chúng ta:

“Chỉ sau Ngày phán xét cuối cùng, Mẹ Maria mới được nghỉ ngơi; từ giờ đến lúc đó, Mẹ quá bận rộn với con cái. Để phục vụ nên Nữ Vương Thiên đàng ngự trị ở địa vị đó, và sống dưới sự chỉ huy của Mẹ thì còn tốt hơn cả cai trị.”

  1. Dâng Hiến Ngôi Nhà và Gia Đình cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria

Chuẩn bị cho lễ thánh hiến bằng một tuần chín ngày lần hạt Mân Côi và những lời cầu nguyện và kết thúc bằng việc xin linh mục ban phép lành cho bức ảnh cũng như ngôi nhà và các thành viên trong gia đình. Từ phép lành và sự thánh hiến này, Thiên Chúa Cha sẽ tuôn đổ muôn vàn ơn lành xuống trên bạn và mọi thành viên trong gia đình bạn.

  1. Dâng Mình. 

Chính thức dâng hiến toàn bộ con người bạn cho Chúa Giêsu nhờ Mẹ Maria. Bạn có thể chọn nhiều hình thức khác nhau. Việc dâng mình này có thể thay đổi đáng kể cả cuộc đời bạn.

Nếu bạn đã làm việc đó rồi thì bạn có thể làm mới lại việc tận hiến hàng năm và tiến sâu hơn vào kho chứa vô tận của tình yêu Thiên Chúa đã mang đến cho chúng ta qua sự chuyển cầu của Mẹ Maria! Mẹ Maria có quyền lực đối với chúng ta bằng những cách thế vượt xa trí tưởng tượng mãnh liệt nhất của chúng ta. Thánh Louis de Montfort nhắc nhở chúng ta:

“Vì Thiên Chúa, khi đã ban quyền năng trên Người Con duy nhất của Ngài, thì cũng ban quyền năng trên các nghĩa tử của Ngài – không chỉ những gì liên quan đến thể xác, vốn không đáng kể – mà còn cả những gì liên quan đến linh hồn nữa”.

  1. Noi gương Mẹ Maria

Nếu chúng ta thực sự yêu ai đó, thì chúng ta muốn hiểu họ hơn, theo sát họ hơn và cuối cùng là bắt chước những phẩm chất tốt đẹp của họ mà chúng ta gọi là đức tính tốt. Thánh Louis de Montfort trong tác phẩm kinh điển Lòng sùng kính đích thực dành cho Mẹ Maria cho chúng ta một danh sách mười nhân đức chính của Mẹ Maria. Hãy noi theo các nhân đức ấy và bạn sẽ đi trên con đường thánh thiện.

– Đức khiêm tốn sâu xa của Mẹ,

– Đức tin sống động,

– Lòng vâng phục trọn vẹn,

– Cầu nguyện không ngừng,

– Liên tục từ bỏ chính mình,

– Sự tinh khiết vượt trội,

– Tình yêu mãnh liệt,

– Nhẫn nại anh hùng,

– Ân cần như thiên thần,

– và Đức khôn ngoan của trời cao!

Thánh Louis dạy chúng ta:

“Các vị thánh vĩ đại nhất, những người giàu ân sủng và nhân đức nhất sẽ là những người siêng năng nhất trong việc cầu nguyện với Đức Trinh Nữ Rất Thánh, nhìn lên Mẹ như một mẫu gương hoàn hảo để bắt chước và như một trợ thủ đắc lực để trợ giúp các ngài.”

  1. Những cám dỗ ư? Hãy kêu cầu Mẹ Maria.

Cuộc sống của chúng ta là một vùng chiến trận liên tục, cho đến khi chết! Chúng ta không nên chiến đấu một mình chống lại ma quỷ, xác thịt và thế gian. Thay vào đó, trong cơn cám dỗ như lửa đốt, khi tất cả dường như bị mất hết, hãy kêu cầu Thánh Danh Đức Maria; hãy đọc Kinh Kính Mừng! Làm được như thế, tất cả quyền lực của địa ngục sẽ bị đánh bại.

Mẹ Maria là “Tướng Lĩnh Đạo Binh”. Theo mệnh lệnh của Mẹ, kẻ thù – những thần dữ xấu xa – bỏ chạy, biến mất và bị đánh bại! Khi thánh Phanxicô Salê bị cám dỗ tuyệt vọng nhưng nhờ lời kinh dâng lên Mẹ Maria, “Memorare – Xin hãy nhớ” – được cho là của Thánh Bênađô – sự cám dỗ đã bị khuất phục.

Thánh Antôn Maria Claret đã bị cám dỗ dữ dội đầu hàng trước sự cám dỗ lỗi phạm đức trong sạch. Chính nhờ những lời cầu nguyện tha thiết của ngài với Mẹ Maria mà ma quỷ ô uế đã bị trục xuất và người thanh niên Antôn đã được ban cho những ân sủng đặc biệt để sống khiết tịnh, thành lập một Dòng tu, rao giảng liên tục và viết nhiều cuốn sách làm nhiều điều tốt đẹp. Như Thánh Bonaventura khẳng định:

“Người ta sợ một đội quân thù địch hùng mạnh không bằng quyền lực hỏa ngục sợ danh thánh và sự che chở của Mẹ Maria.”

  1. Đức Maria và Năm Phụng Vụ

Hãy nhận biết sự hiện diện mạnh mẽ của Mẹ Maria trong Nhiệm Thể Chúa Kitô là Giáo Hội. Đặc biệt là nhận biết sự hiện diện của Mẹ Maria trong Năm Phụng Vụ – các Thánh Lễ. Mục đích cuối cùng của Thánh lễ là ca tụng và tôn thờ Thiên Chúa Cha, nhờ việc dâng Chúa Con làm của lễ và nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần. Tuy nhiên, Mẹ Maria có một vị trí đặc biệt trong Năm Phụng Vụ.

Mẹ Maria là Mẹ Thiên Chúa, Mẹ Giáo Hội và là Mẹ chúng ta xét theo hệ trật ân sủng! Hãy đọc và suy niệm một cách chăm chú Tông Thư của Đức Thánh Cha Phaolô VI Marialis Cultus, giải thích rõ ràng về sự hiện diện của Mẹ Maria trong lịch Phụng Vụ. Đây là một kiệt tác tâm linh. Bạn phải đọc Tông thư này!

  1. Đọc sách viết về Mẹ Maria

Để có một nền Thánh Mẫu học được hình thành tốt đẹp và toàn diện, chúng ta nên trau dồi cả giáo lý và lòng sùng kính. Giáo lý không có lòng sùng kính có thể trở nên khô khan và cằn cỗi. Trong khi đó, lòng sùng kính mà không có giáo lý có thể dễ dàng biến thành chủ nghĩa đa cảm!

Tại sao không đọc Tông Thư của Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II Rosarium Virginis Mariae – Đức Trinh Nữ Maria Đầy Ơn Phúc và Kinh Mân Côi. Viên ngọc thiêng liêng này kết hợp cả giáo lý Công giáo vững chắc (Mariology – Thánh Mẫu học) với tình yêu dịu dàng và lòng sùng kính đối với Mẹ Maria. Vị thánh giáo hoàng khuyên toàn thế giới hãy chiêm ngưỡng dung nhan Chúa Giêsu qua đôi mắt và trái tim của Mẹ Maria. Mẹ Maria là con đường nhanh nhất, ngắn nhất, dễ dàng nhất và hiệu quả nhất để đến với Chúa Giêsu.

  1. Tông đồ cho Mẹ Maria

Hãy trở thành một Tông đồ nồng nhiệt và nhiệt thành của Mẹ Maria. Một trong những vị thánh hiện đại nổi tiếng nhất của Mẹ Maria là thánh Maximilian Kolbe. Tình yêu của ngài dành cho Mẹ Maria không thể giữ lại được. Một trong những phương pháp tông đồ mà thánh Kolbe đã sử dụng là truyền bá lòng sùng kính Đức Mẹ Vô nhiễm Nguyên tội bằng Ảnh đeo Phép lạ (Miraculous Medal) hay còn gọi là Ảnh đeo có hình Đức Mẹ Vô nhiễm Nguyên tội (Medal of the Immaculate Conception).

Bất cứ khi nào có cơ hội, thánh Maximilian sẽ trao ảnh đeo miễn phí cho người đó. Ngài gọi đó là những “viên đạn tinh thần”. Sau đó, ngài sẽ giải thích về Đức Mẹ, về ý nghĩa giáo lý của ảnh đeo có tính bùng nổ này. Ảnh đeo được gọi là “làm Phép lạ” vì lý do đơn giản là nhiều phép lạ đã được quy cho những người sử dụng ảnh đeo đó với đức tin, tình yêu lớn lao và tin tưởng vào sự chuyển cầu của Mẹ Maria.

Tại sao không trở thành một tông đồ hiện đại của Đức Mẹ ngày nay, theo bước chân của thánh Kolbe? Vị thánh vĩ đại này của Mẹ Maria đã khẳng định với niềm xác tín:

“Chỉ có Đấng Vô Nhiễm mới có được từ Thiên Chúa lời hứa chiến thắng Satan. Mẹ tìm kiếm những linh hồn sẽ dâng mình hoàn toàn cho Mẹ, những linh hồn sẽ trở thành những công cụ mạnh mẽ trong tay Mẹ để đánh bại Satan và mở rộng Nước Chúa.”

  1. Kinh Rất Thánh Mân Côi

Tại Fatima, Mẹ đã hiện ra sáu lần với các trẻ chăn cừu – Lucia, Giacinta và Phanxicô. Trong mỗi lần hiện ra, Mẹ đều nhấn mạnh đến việc lần chuỗi Mân Côi.

Thánh Gioan Phaolô II trong Tông Thư Rosarium Virginis Mariae về Đức Trinh Nữ Maria và Kinh Mân Côi đã nhấn mạnh, nài xin toàn thế giới hãy lần chuỗi Mân Côi để cứu rỗi các gia đình và cho hòa bình thế giới.

Linh mục nổi tiếng cổ võ Kinh Mân Côi, Cha Patrick Peyton đã nói một cách ngắn gọn: “Gia đình cầu nguyện cùng nhau sẽ ở bên nhau”… và “Một thế giới cầu nguyện là một thế giới hòa bình.” Tại sao không vâng lời Thánh Gioan Phaolô II? Tại sao không vâng lời Mẹ Thiên Chúa, Mẹ Fatima yêu cầu? Nếu thực hiện được như thế, gia đình sẽ được cứu và sẽ có hòa bình mà cõi lòng con người hằng khao khát.

Phêrô Phạm Văn Trung
Chuyển ngữ từ: 
catholicexchange.com

 

Read More
11Tháng Năm
2023

ĐÂU LÀ PHÂN ĐỊNH LUÂN LÝ ĐỐI VỚI CÁC VIỆC BÁC ÁI ?

11/05/2023
Anmai
Giáo dục, Tài liệu giáo dục
0

ĐÂU LÀ PHÂN ĐỊNH LUÂN LÝ ĐỐI VỚI CÁC VIỆC BÁC ÁI ?

ĐÂU LÀ PHÂN ĐỊNH LUÂN LÝ ĐỐI VỚI CÁC VIỆC BÁC ÁI ?

Lòng bác ái có thể được biểu lộ như thế nào? Xuyên qua những công việc bác ái. Nhưng đối với nhiều người, bác ái bị nghi ngờ, từ ngữ “bác ái” gợi lên một khuôn mẫu lỗi thời, che giấu tồi một sự tiếp tay đối với một trật tự xã hội bất công. Trong Deus Caritas est, số 26, Đức Bênêđíctô XVI đã nhắc lại phong trào chống đối hoạt động bác ái của Giáo hội từ thế kỷ 19, được tư tưởng Marxít triển khai cách rõ ràng. “Việc chống đối này cho rằng người nghèo không cần đến những công việc bác ái, nhưng đòi hỏi công bằng. Những việc bác ái – việc bố thí – trong thực tế chỉ là cách thức để người giàu bỏ qua việc tái lập công bằng, ru ngủ lương tâm, bảo vệ vị trí riêng của mình và tước đi quyền lợi của người nghèo….”. Đức Bênêđíctô XVI nhìn nhận “vài điểm trong lập luận này, nhưng nhiều điểm sai lệch”.

Quả đúng là bác ái luôn bị đe dọa bởi sự đồi bại. Nhưng điều đó không có nghĩa rằng cần phải chối bỏ nó. Do đó, làm thế nào khôi phục danh dự cho nhân đức này?  Đâu là phân định luân lý được thực hiện trên các việc bác ái?

1. Bác ái đích thực

Đâu có thể là ý nghĩa của cử chỉ đúng đắn này mà rõ ràng sẽ không giải quyết số phận của người nghèo? Chính cử chỉ bố thí không tránh khỏi ngờ vực. Người cho phải chăng không được đền trả lại? Do đó, một cử chỉ như thế không thể là nhưng không thuần túy. Quả thật, bác ái luôn dễ bị làm méo mó và phục vụ cho những lợi ích thầm kín.

Nhưng cho dù những động cơ ít nhiều vô thức của cử chỉ được thực hiện là gì, thì chắc chắn rằng thế giới hẳn phi nhân hơn nếu mỗi người không chịu chìa tay ra. Đôi bàn tay đưa ra đã diễn tả một khởi đầu ân cần. Nó là dấu của một thái độ không dửng dung. Nó đón nhận sự hiện diện của người khác. Nó biến lề đường, quán xá…thành những nơi gặp gỡ tha nhân. Nó là sự khởi đầu của bác ái: “Bác ái bắt đầu bằng những cử chỉ sơ đẳng tìm cách làm giảm cơn khát của con người mệt nhoài, tìm cách chìa tay ra cho người bị ruồng bỏ…[1]”

Nhưng sẽ là cái nhìn thiển cận về bác ái khi chỉ dừng lại ở việc bố thí. Vậy đâu là những tiêu chí của một bác ái đích thực? Sự liên kết giữa bác ái và công bằng cho chúng ta một tiêu chí đầu tiên: bác ái đích thực cần quan tâm đến công bằng. Việc bố thí làm phúc không miễn chuẩn một sự dấn thân cho công bằng[2]. Ngược lại, sự dấn thân cho công bằng không miễn trừ cử chỉ cá nhân đối với người nghèo. Đức Gioan-Phaolô II cung cấp cho chúng ta một tiêu chí khác về bác ái đích thực này vốn trái ngược với não trạng thời đại tìm kiếm một cử chỉ thuần túy vô vị lợi, hoàn toàn một chiều. Ngài biến sự hỗ tương thành điều kiện của bác ái đích thực: “Tình yêu thương xót, trong các tương quan của con người, không phải là một hành vi hay là một tiến trình đơn phương. Ngay cả trong các trường hợp mà tất cả dường như rằng chỉ một bên tặng và cho và bên kia chỉ lấy và nhận (chẳng hạn trong trường hợp bác sĩ chăm sóc, thầy dạy, cha mẹ nuôi dưỡng và giáo dục con cái, ân nhân giúp đỡ những người túng thiếu), thế nhưng, trên thực tế, ngay cả người cho vẫn luôn hưởng ích từ đó” (Dives in misericordia, số 14).

Xem xét lòng thương xót cách đơn phương, rốt cục đó là duy trì một khoảng cách giữa người làm việc thiện và người được hưởng. “Từ đó phát sinh tham vọng giải phóng các tương quan nhân loại và xã hội khỏi lòng thương xót và xây dựng chúng trên công bằng” (số 14). Công việc thanh tẩy các hành vi và ý hướng của chúng ta do đó hệ tại bước vào một sự hiểu biết song phương các thực hành của chúng ta, chứ không chỉ như là một thiện ích được làm cho người khác. Vì lòng thương xót “thực sự là một hành vi tình yêu thương xót chỉ khi, khi thực thi nó, chúng ta xác tín sâu xa rằng chúng ta lãnh nhận nó đồng thời từ những ai chấp nhận nó từ chúng ta. Nếu khía cạnh song phương và tính hỗ tương này thiếu đi, thì các hành động của chúng ta không còn là những hành vi thương xót đích thực nữa; sự hoán cải, mà con đường của nó được Chúa Kitô dạy cho chúng ta trong lời nói và mẫu gương của Ngài, cho đến thập giá, vẫn còn chưa được hoàn toàn thực hiện nơi chúng ta; và chúng ta vẫn còn chưa tham dự hoàn toàn vào nguồn mạch kỳ diệu của tình yêu thương xót, được mạc khải cho chúng ta nơi Ngài” (số 14). Chúa Kitô chịu đóng đinh được đề nghị cho chúng ta như là khuôn mẫu và “khi xây dựng cuộc đời chúng ta trên khuôn mẫu cảm động này, thì chúng ta, bằng tất cả lòng khiêm nhường, có thể biểu lộ lòng thương xót đối với những người khác, biết rằng Ngài đón nhận nó như thể nó được làm chứng cho chính Ngài (x. Mt 25, 34-40)” (ibid.).

Như thế, thay vì theo đuổi một cử chỉ làm phúc “thuần khiết về mặt luân lý”, hoàn toàn vô vị lợi, Đức Gioan-Phaolô II mời gọi chúng ta khám phá rằng chúng ta luôn hưởng ích lợi từ cử chỉ mà chúng ta thực hiện đối với những người túng thiếu. Các hành vi bác ái từ nay có thể được xem như là một ân sủng hơn là một nghĩa vụ: để “trả lại con người cho chính nó” (Dives in misericordia, số 14), để làm cho thế giới nhân bản hơn (x. GS số 40).

Như thế, tính đặc thù của Kitô giáo không hệ tại trong việc phục vụ tha nhân cách vô vị lợi – cái quan niệm vị tha của tương quan với tha nhân vốn có nguy cơ chuyển sang những hình thức óc gia trưởng hay chủ nghĩa luân lý (x. Piô XI, Divini Redemptoris, số 46: “Nhưng vẫn còn một phương dược hữu hiệu hơn, mà phải tác động cách trực tiếp hơn đến sự dữ hiện nay, đó là giới luật đức ái. Chúng tôi muốn nói đến đức ái Kitô giáo « kiên nhẫn và tốt lành » (1 Cor 13, 4), vốn biết tránh những dáng vẻ bảo vệ làm mất thể diện và mọi sự phô trương; đức ái mà, từ ban đầu của Kitô Giáo, đã chinh phục được cho Chúa Kitô những nghèo nhất giữa những người nghèo, những người nô lệ). “Trái lại, nên suy nghĩ sự đảo ngược sâu xa và sự lật đổ tận căn qua đó chính chủ thể được hiểu như là một người khác[3]”. Vấn đề không phải là chúng ta chăm lo cho người khác, chú ý đến hoàn cảnh của họ, nhưng là nhìn nhận bản thân chúng ta như họ, nhìn nhận họ như là những người khác “chính mình như một người khác”, khám phá ra họ là những bạn bè huynh đệ.

Du ngôn người Samaritanô nhân hậu (Lc 10, 29-36) cung cấp một mình họa tốt cho sự đảo ngược này. “Quả thế, chìa khóa hệ tại trong cách thức lật ngược hoàn cảnh mà nó thực hiện. Đối với luật sĩ hỏi Ngài – về việc giải thích giới răn yêu thương kép – ai là tha nhân của ông, Chúa Giêsu, sau khi đã kể câu chuyện về người bất hạnh bị bỏ rơi bởi hai người đạo đức và được cứu giúp bởi một người Samaritanô, đã hỏi: “Theo ý ông, ai trong ba người này đã tỏ ra là tha nhân của người bị rơi vào tay bọn cướp? (câu 36). Như thế, Ngài đã dẫn người đối thoại của Ngài đến chỗ tự đồng hóa, không phải với người này hay người kia có thể cứu giúp, nhưng với người đang cần được cứu giúp. Quả thế câu hỏi “ai là tha nhân mà tôi phải yêu mến?” không bao giờ có thể là “óc gia trưởng” và, do đó, trái ngược với thực tại sâu xa của tình yêu. Tình yêu này chỉ thực sự có thể nảy sinh ở đâu người ta chấp nhận không phải trước tiên yêu mến và giúp đỡ, nhưng là được yêu mến và được giúp đỡ…ngay cả bởi một người Samaritanô, tức là một kẻ thù và là một người chẳng ra gì[4]”. Sự lật ngược này là nguồn mạch và là điều kiện của sự gần gũi của chúng ta với những người nghèo nhất, với những người bị tổn thương của cuộc sống. Như thế, chìa tay cho người nghèo, đó là một cách nào đó nhớ đến các nạn nhân và các người cùng khổ như là những chủ thể bình đẳng và nhớ đến sự cùng quẫn của chúng ta. Đức Gioan-Phaolô II cho thấy quà tặng được cho và được nhận biểu dương phẩm giá con người và củng cố mối liên hệ xã hội và tinh thần: “Người cho trở nên quảng đại hơn khi nó cảm thấy được đáp trả lại bởi người chấp nhận quà tặng; cách hỗ tương, người nào biết nhận quà tặng với ý thức rằng bản thân mình cũng làm việc thiện khi chấp nhận quà tặng, thì, về phần mình, phục vụ cho sự nghiệp cao cả nhất của phẩm giá con người, và do đó đóng góp vào việc hiệp nhất con người cách sâu xa hơn” (Dives in misericordia, số 14).

2. Một đức ái sáng suốt

Tuy nhiên, lòng nhân từ, sự tử tế đối với người ăn xin không được chìm đắm trong sự mù quáng. Chắc chắn cần phải dè chừng “những lý do tốt lành” sai lạc của chúng ta về việc không cho mà rốt cục đi đến chỗ lên án người nghèo khổ. Truyền thống tông đồ đã soạn thảo các tiêu chí trong việc phân cấp trợ giúp cho người nghèo. Bởi vì là vô hạn, nên bác ái có nguy cơ đưa đến việc khai thác những tâm hồn quảng đại. Bác ái do đó phải sáng suốt. Về vấn đề này, France Quéré đã cho thấy trong Didachè, một cuốn giáo lý luân lý cổ xưa, một giáo huấn mà các Giáo Phụ sẽ không ngừng lặp lại: “Có óc thực tế, tập sách Didachè đề phòng những lạm dụng có thể xảy ra, bằng cách xác định những giới hạn cho bác ái…Để sống yêu thương, nó không được nhượng bộ cho sự mù quáng. Đó sẽ là tự buộc mình phải bị sụp đổ, do những chi tiêu thái quá đối với những kẻ thiếu tế nhị và như thế chỉ phục vụ cho cái xấu. Cần phải đọc tập khảo luận luân lý thực hành thú vị này. Tác giả của nó bảo vệ những người cho mà thu nhập của họ nói chung là khiêm tốn, nhưng lại có ưu tư đối với phẩm giá của những người hưởng nhận: cảnh khổ cực thoáng qua của họ không miễn cho họ các bổn phận đối với cộng đồng mà họ không ngừng thuộc về. Do đó, sách Didachè dạy phân biệt người túng thiếu thực sự và kẻ bịp bợm:  nó giữ cân xứng sự trợ giúp cho công việc mà vị khách chấp nhận làm, khi anh ta có sức khỏe tốt. Sau cùng, nó đề phòng các cộng đoàn Kitô hữu chống lại việc lưu trú dài ngày: “Nếu anh ta cố chấp làm biếng, thì đó là một kẻ bịp bợm của Chúa Kitô. Hãy đuổi những người như thế”. Nhưng cuốn sách cũng khuyên tiếp đón mọi người xa lạ, ít ra thời gian của một chặng đường[5]”.

XII. 1. Bất cứ ai « đến » với bạn « nhân danh Chúa » đều phải được lãnh nhận (Mt 21, 9 ; Tv 117, 26) ; nhưng tiếp đến, sau khi đã thử người ấy, bạn sẽ biết phân định phải với trái : bạn có phán đoán của bạn. 2. Nếu người đến với bạn chỉ là qua đường, thì hãy giúp anh ta như bạn có thể. Nhưng anh ta chỉ ở lại nhà bạn hai hay ba ngày, nếu cần thiết. 3. Nếu anh ta muốn ở luôn nơi nhà bạn và anh ta là thợ, thì anh ta phải làm việc và tự nuôi sống. 4. Nhưng nếu anh ta không có nghề nghiệp, thì sự khôn ngoan của bạn phải bù vào đó, để một Kitô hữu không được sống nhàn cư nơi nhà bạn. 5. Nếu anh ta không muốn hành động như thế, thì đó là một kẻ bất chính của Chúa Kitô ; bạn hãy giữ mình khỏi những hạng người đó » ( « La Didachè », in Les Pères Apostoliques, Coll. Foi Vivante, Cerf, Paris, 1990, p. 60.)

Người xin, dù đó là ai, phải luôn được tôn trọng. « Bởi vì mọi người đều là hình ảnh hữu hình của Thiên Chúa vô hình và là người em của Chúa Kitô, nên người Kitô hữu nhận thấy nơi mỗi người chính Thiên Chúa với đòi hỏi tuyệt đối của Ngài về công bằng và tình yêu » (Justitia in Mundo, số 49).

3. Một đức ái sáng tạo

Sắc lệnh về Tông đồ Giáo Dân dành một đoạn cho hoạt động bác ái : « Ngày nay, hoạt động bác ái có thể và phải nhắm tới tất cả mọi người và mọi nhu cầu. Ở đâu có người thiếu ăn, thiếu uống, thiếu mặc, thiếu nhà ở, thiếu thuốc men, thiếu việc làm, thiếu giáo dục, thiếu những phương tiện cần thiết để sống xứng danh con người, ở đâu có người bị đau khổ vì nghịch cảnh, ốm yếu, chịu cảnh lưu đày, tù ngục, thì ở đó bác ái Kitô giáo phải tìm gặp, ân cần săn sóc, ủi an và xoa dịu họ bằng những trợ giúp thích đáng. Thi hành bổn phận này trước hết là bổn phận của những người giàu và các dân tộc giàu » (số 8). Như thế, các giáo dân có trách nhiệm hàng đầu trong việc thực thi và biểu lộ bác ái : tìm kiếm và khám phá những ai đang sống trong sự khốn quẫn, an ủi họ, nâng đỡ họ. « Từ đó, bác ái sẽ có ý nghĩa xã hội là trao lại cho họ những người đối thoại[6] ».

Trong bối cảnh hiện nay,  vấn đề đối với các tổ chức Giáo Hội là biết làm thế nào chúng có thể còn làm chiếu sáng bác ái Kitô giáo. Những khai triển trên đây cho phép chỉ ra một vài đường hướng cho việc suy tư rộng rãi hơn.

a. Các tổ chức bác ái tôn giáo theo cách của mình phải biểu lộ sự biện chứng giữa công bằng và bác ái. Sứ mạng của chúng không thể khép mình vào việc phân phối các trợ giúp đủ loại khác nhau. Chúng phải làm cho bác ái lên tiếng nhưng cũng nhắc nhở những đòi hỏi công bằng. Vì các hoàn cảnh mà chúng gặp cũng là những hậu quả của một số bất công. Điều này cũng cho chúng một trách nhiệm đối với các cấp chính trị và kinh tế để nói lên những gì thuộc về công bằng.

Do đó, chúng cũng phải đóng góp vào việc tố giác và làm cho luật pháp tiến triển khi luật pháp này tỏ ra bất công hay bất lực. Trong trường hợp trái lại, đó sẽ là biến bác ái thành một phạm trù phụ so với công bằng. Thế nhưng, đối với chúng, trước hết vấn đề là diễn tả xuyên qua các hành động của chúng rằng tình yêu thương xót là nguồn mạch sâu xa nhất của công bằng.

b. Các tổ chức bác ái có một vai trò đặc thù phải thực hiện, một vai trò không được lẫn lộn với vai trò của các cấp kinh tế và xã hội. Trước hết, chúng không tồn tại để sửa chữa những rối loạn chức năng của kinh tế hay của chính trị. Nhưng xuyên qua các hành động của mình, chúng phải biểu lộ ý nghĩa của con người, « trả lại con người cho chính nó » theo kiểu nói của Đức Gioan-Phaolô II. Bởi thế, các tổ chức bác ái của Giáo hội được mời gọi cập nhật những hình thức nghèo khổ và sáng tạo nên những hình thức hiện diện và gần gũi mới mẻ nhằm khôi phục lại một tương quan nhân bản với những ai cách này hay cách khác đang sống trong sự túng thiếu. Vì thế, đức ái phải sáng tạo và làm nổi lên những hình thức can thiệp mới mẻ mỗi khi « Thiên Chúa bị đe dọa nơi con người và con người như là hình ảnh của Thiên Chúa bị đe dọa [7]».

c. Một đe dọa đè nặng trên mọi tổ chức : các việc thực hành trở thành lề thói. Các tổ chức bác ái phải canh chừng đừng để chìm đắm trong các thực hành hành chính, đừng nhượng bộ cho một lo-gíc cửa giao dịch hay một lo-gíc hiệu năng trong việc xem xét và cư xử các hoàn cảnh. Điều đó có nguy cơ làm biến mất chứng tá về « tình yêu thương xót ».

d. Các tổ chức bác ái cũng phải biết diễn tả sự biết ơn của chúng đối với các ân nhân giúp họ hành động và đối với các thụ nhân chấp nhận sự trợ giúp của chúng. Chính với điều kiện này mà các ân nhân sẽ có thể nhận ra ân huệ mà họ được đổ đầy khi đáp lại những lời cầu xin và các thụ nhân cũng sẽ có thể được mời gọi sống quảng đại đối với những người còn nghèo khổ hơn họ. Chính ở đó mà « không gian nên thánh » được mở ra cho họ và cho hết mọi người.

Tác giả: Dominique Greiner

(Tý Linh chuyển ngữ)

 ————————————————-

[1]C. Chalier, « Equité et bonté », art. cit., p. 35.

[2] Về vấn đề này, Catherine Chalier nói đến “cái bẫy ngộ đạo thuyết » trong đó các Kitô hữu đôi khi vấp ngã : một bác ái quá nhanh chóng rời bỏ công bằng : « Bác ái đích thực, bác ái mà không bao giờ quên sự cần thiết của công bằng, thật khó nghĩ và khó sống, biết bao nhiêu lần, viện cớ đến một lòng nhân từ được coi như là được cưu mang bởi lý tưởng imitatio Dei (bắt chước Thiên Chúa), con người có nguy cơ đầu hàng trước cám dỗ của một bác ái bất công, chẳng hạn nó cho kẻ tội phạm cư trú mà không đòi hỏi nó phải trả lẽ cho luật pháp của một nước » (Catherine Chalier, « Equité et bonté », Autrement, série Morale n° 11, avril 1993, p. 29).

[3]Denis Müller, « Estime et respect de soi, justice, reconnaissance » in Les passions de l’agir juste, EditionsUniversitaires, Fribourg, Cerf, Paris, 2000, p.112

[4]J.-F. Collange, « Foi, espérance, amour et éthique », art. cit., p. 43.

[5]France Quéré, « Un mot qui prend feu », Autrement, série Morale n° 11, avril 1993, pp. 43-44.

[6] Ibid., tr. 26.

[7]Règle de vie de la Congrégation des Augustins de l’Assomption, Rome, 1984, Chapitre 1, n° 4.

Tác giả bài viết: (Tý Linh chuyển ngữ)

Read More
11Tháng Năm
2023

Đức Maria trong âm nhạc

11/05/2023
Anmai
Phụng vụ, Tài liệu phụng vụ
0

Đức Maria trong âm nhạc

Đức Maria trong âm nhạc

Sergio Militello
Phân khoa Thần học “Marianum” – Roma
Ngôn ngữ âm nhạc là một tổng hợp của nghệ thuật,
Thánh Mẫu học và linh đạo
“Sự hiện diện” của Đức Maria trong âm nhạc rộng lớn đến độ để có được một nghiên cứu chuyên sâu cần phải viết rất nhiều tập. Thật vậy, trải qua các thời đại, không có nhạc sĩ nào mà không bày tỏ lòng tôn kính Mẹ Thiên Chúa bằng âm nhạc. Vì thế, nếu không thể điểm lại lịch sử của hàng thế kỷ, người ta không thể không nhận ra lời tiên tri “từ nay hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc” (Lc 1,48) đã được khẳng định đúng lúc trong tác phẩm âm nhạc, những tác phẩm bác học lẫn bình dân, nơi mà lòng đạo đức, lòng sùng kính và thần học đan xen với nhau.
Trong phạm vi bài viết này, tôi giới hạn trong việc khảo sát về mối tương quan giữa lòng sùng kính Đức Mẹ và âm nhạc, bằng cách nêu bật những lý do đầy cảm hứng để ca tụng Đức Maria, như những trọng điểm của sự kết hợp chặt chẽ qua nhiều thế kỷ đã tạo ra một di sản âm nhạc vô giá về Đức Maria và khó định lượng, rất rộng lớn và hấp dẫn đến mức biện minh cho một khóa trình hàn lâm, chẳng hạn về “Đức Maria trong âm nhạc”, do người ký tên dưới đây tổ chức tại Học viện Thần Học “Marianum”, của các sư huynh dòng Tôi tớ Đức Bà, ở Rôma
Nguồn gốc và xuất xứ
Chúng ta biết rằng việc cầu nguyện và tôn sùng Đức Trinh Nữ có một lịch sử lâu dài, bắt nguồn từ Kinh Thánh và đã được thể hiện nơi thế hệ Kitô hữu đầu tiên, và qua các thời kỳ đã tạo thuận lợi cho chuỗi các biểu hiện ca ngợi, cầu khẩn, yêu mến và tín thác nơi Mẹ, cho những yếu tố làm nên cứ liệu thường xuyên của lòng tôn sùng Đức Mẹ.
Nguồn gốc của việc ca ngợi Đức Maria trong Tân Ước có thể được tóm tắt trong hai đoạn được thánh sử Luca ghi lại: lời chào của thiên thần (Lc 1,28) và lời chào của bà Êlisabét (Lc 1,42.45). Từ những nguồn Kinh thánh này – bao hàm những hình ảnh báo trước của Cựu Ước – đã nảy sinh vô số thuộc tính ngợi khen và cầu khẩn, làm nên “những lời nguyện về Đức Mẹ” và do đó, đã trở thành những động cơ truyền cảm hứng cho các tác phẩm âm nhạc.
Vì thế, Giáo Hội đã ca tụng Mẹ Maria qua những kinh nguyện đầy tráng lệ, qua các bài giảng lễ, những bài ca tụng, kinh cầu, điệp ca, thánh ca… qua tác phẩm của những tác giả vô danh hay nổi tiếng, ở Đông phương cũng như Tây phương. Trong vùng biển bao la (mare magnum) này, việc nghiên cứu âm nhạc về lòng tôn sùng Đức Mẹ phải đề cập đến cả các sự kiện lịch sử và phụng vụ, kể cả lòng sùng kính và những tác phẩm ngoài phụng tự.
Như chúng ta đã biết, không có ký hiệu âm nhạc nào của thế hệ kitô giáo đầu tiên còn tồn tại, một thế hệ vốn sử dụng lối hát của người Do Thái. Cho đến nay, lời kinh đầu tiên về Đức Mẹ được biết đến là Sub Tuum praesidium, một bài thánh ca ngắn dành riêng cho Mẹ của Chúa Giêsu, có từ thế kỷ thứ 3 và được phát hiện ở Ai Cập.
Bản văn này có thể phát xuất từ bài hát của phụng vụ Giáng sinh thuộc giáo hội Coptic, vẫn còn sử dụng cho đến ngày nay như một đối ca trong mọi nghi thức phụng vụ chính yếu.
Với chứng từ đầu tiên này, chúng ta thấy bài ca phụng vụ gắn liền với lịch sử như thế nào: việc biên soạn lời cầu khẩn chung này thực tế đã diễn ra vào thời kỳ bách hại, các Kitô hữu đã hướng về Mẹ Maria để tìm nơi Mẹ một nơi ẩn náu an toàn khi gặp nguy hiểm. Hình ảnh dưới bóng cánh (sub umbra alarum) thân thương đối với người Sêmít và người Ai Cập, được nhắc lại như một biểu tượng diễn tả sự che chở của Thiên Chúa (Is 49,2; 51,16; x. Tv 16,8), một đề tài thường xuyên trong các sáng tác về Đức Mẹ.
Ngay cả các soạn tác âm nhạc sau này, Byzantine và cả Đông phương nói chung, đều thể hiện niềm phó thác vào sự chuyển cầu của Mẹ Thiên Chúa (Theotòkos), được cộng đồng kitô giáo khẩn cầu ngay từ buổi đầu, là tước hiệu mà Công đồng Êphêsô chính thức công nhận vào năm 431.
Do đó, chủ đề về sự chuyển cầu của Mẹ Thiên Chúa trở thành nền tảng trong biểu thức ca tụng Đức Maria. Ngoài ra, qua dòng lịch sử, còn có những chủ đề về lòng tôn sùng và noi gương Mẹ, hiện diện trong các nhạc phẩm của mọi thời đại.
Tuy nhiên, tôi muốn chỉ ra rằng đôi khi âm nhạc ca ngợi dành riêng cho Đức Maria không tìm thấy nền tảng nơi Lời Chúa cũng như trong suy tư thần học, do đó nó tạo ra một chủ đề ca ngợi xa lạ so với trước đó và có thể được định nghĩa như là chủ nghĩa sùng kính chung chung, đề cập nhiều đến những khơi gợi về con người Đức Maria hơn là vai trò của Mẹ trong nhiệm cục cứu độ.
Ở Đông phương
Quay trở lại lịch sử, chương quan trọng để khám phá những bước đầu của việc tôn sùng Đức Maria bằng âm nhạc nảy sinh từ các ngày lễ kính Mẹ, vốn được du nhập từ Đông sang Tây.
Mặc dù nảy sinh vào những thời điểm cụ thể, liên quan đến các câu chuyện địa phương hoặc các cuộc hiện ra ra cụ thể, nhưng các bản văn được chuyển tải trong phụng vụ đề cập đến nguồn mặc khải, nơi người Mẹ Chí Thánh Vẹn Sạch của Thiên Chúa có một vị trí trung tâm bên cạnh người Con của mình.
Chúng ta đang ở trong giai đoạn của những hình thức thi ca cao nhất và những lối ca hát có liên quan đến phụng vụ Byzantine: Thánh ca và Chuẩn mực (những hình thức sáng tác đầu tiên do Thánh Basiliô và Thánh Gioan Kim Khẩu định hướng trong phụng vụ) được định hình như một phản ứng đối với cuộc tranh luận bài trừ ảnh tượng, liên quan đến nghệ thuật tượng ảnh, nhằm mục đích tấn công và triệt tiêu khả năng sáng tạo âm nhạc. Đó là thời đại của những tuyển tập về Đức Maria, trong đó giai điệu (thơ phổ nhạc) cố gắng diễn tả những tình cảm của tôn giáo Đông phương được trình bày bằng dấu ấn khổ hạnh sâu đậm, nhắm đến sự chiêm niệm và chiều sâu tâm linh. Qua việc gán nhiều “danh hiệu” cho Đức Trinh Nữ, nền thần học được thực hiện dưới hình thức thơ ca, bằng cách sử dụng các phản luận và hình ảnh. Theo cách này, phụng vụ ca hát đã hoàn thành nhiệm vụ tạo ra suy tư thần học qua các tác phẩm âm nhạc, trong đó các chủ đề dành riêng cho Đức Maria có sự tham chiếu kitô học rõ ràng và có mặt ở khắp mọi nơi. Để tìm ra những lý do ca ngợi mới dành cho Đức Trinh Nữ, chúng ta phải đặt mình vào giữa thế kỷ thứ 4 và thứ 11, thời của các nhạc sĩ lớn ở Đông phương, trong số đó có ít nhất là: Ephrem người Syria (306-373), người đã viết ra những bài thánh ca của mình như bài giáo huấn và giáo lý, đặc biệt nhấn mạnh đến Mẹ Chúa Giêsu trong vai trò “cộng tác viên”; Romanus il Mèlode (490-556 ca), tác giả của Akathist, bài thánh ca về Đức Mẹ nổi tiếng nhất mọi thời đại được coi là một kiệt tác văn chương và thần học, đồng thời diễn tả sự chiêm ngắm và tán dương cao nhất của lòng tôn sùng Mẹ Thiên Chúa; Andrea di Creta (khoảng 660-740), người được cho là đã phát minh ra Canon; Giovanni Damasceno (676 ca-749), một trong những giọng ca Đông phương về Đức Trinh Nữ vĩ đại nhất, những bài thánh ca được sáng tác như những luận thuyết thực sự về thần học; Teodoro (759-826) và những người khác.
Các chủ đề thường xuyên ca ngợi Đức Maria trong thánh ca Byzantine là lời cầu khẩn và đòi hỏi lòng tôn sùng Đức Trinh Nữ để được cứu rỗi: đây là cách nó xuất hiện, chẳng hạn như trong Paraklisis (kêu xin cứu giúp), một bài thánh ca phổ biến đến nỗi nó có thể được hát trong mọi hoàn cảnh và mọi thời điểm trong năm; hơn nữa, Mẹ Maria được tôn vinh vì sự thánh thiện của Mẹ, được trình bày như khí cụ của ơn cứu rỗi trái ngược với Evà và Mẹ được hát lên trong mầu nhiệm Mẹ được nâng lên vinh quang trên trời, nơi đó Mẹ không quên loài người và không ngừng giúp đỡ họ.
Ở Tây phương
Vai trò trung gian của Đức Maria và tình mẫu tử thiêng liêng của Mẹ đối với con người cũng được tìm thấy ở Tây phương, trong các bài thánh ca và trong các kinh nguyện được đưa vào trong Kinh Nhật tụng và trong Thánh lễ. Việc sử dụng các bài thánh ca trong số này (ra đời ở Tiểu Á vào thế kỷ thứ 2-3) lan rộng ở phương Tây bắt đầu từ thế kỷ thứ 4, trước hết là nhờ Thánh Ambrôsiô, vì nó dễ hát và phù hợp với mọi tín hữu.
Từ đây, sự phát triển nhạc Bình Ca dẫn đến việc tạo ra một di sản đáng kể về những bài ca kính Đức Mẹ, bao gồm bốn điệp ca “chính” được hát trong các giờ kinh phụng vụ hoặc khi kết thúc thánh lễ: Alma Redemptoris Mater, Ave Regina Caelorum, Regina Caeli, Salve Regina.
Do đó, đối với Đông phương cũng như ở Tây phương, các lý do để hát mừng Đức Maria đó là lý do chuyển cầu, tôn kính và bắt chước. Vì vậy, việc xây dựng một lộ trình có hệ thống liên quan đến sự hiện diện của Đức Maria trong lịch sử âm nhạc có ích biết bao và liệu âm nhạc dành riêng cho phụng vụ người ta có thực sự chú ý đến các lý do đầy cảm hứng nói trên của những bài thánh ca về Đức Mẹ hay không.
Tôn sùng Đức Maria và âm nhạc.
Việc phân tích các sáng tác về Đức Mẹ được nảy sinh qua nhiều thế kỷ cần phải bắt đầu trở lại với nguồn gốc, nghĩa là, trở lại với các thúc đẩy lịch sử và thần học của thánh ca về Đức Mẹ. Vì lý do này, một giáo trình về “Đức Maria và âm nhạc” không những phải trình bày hình ảnh của Đức Maria trong lịch sử âm nhạc, mà còn phải đưa ra những tiêu chuẩn đánh giá để hiểu đúng về việc sùng kính Đức Mẹ được thể hiện qua việc ca hát.
Nếu thần học đã sử dụng ngôn ngữ âm nhạc để diễn tả lòng sùng kính Đức Maria, điều đó có nghĩa là âm nhạc là phương tiện ưu tiên cho việc dạy giáo lý về Đức Mẹ. Thực vậy, ca hát được hình thành như một trong những yếu tố tự nhiên đầu tiên của các ngày lễ về Mẹ và là một phương tiện dễ dàng để diễn tả suy tư thần học trong việc thờ phượng, khi nó diễn tả phẩm giá của Đức Maria, vị trí và vai trò của Mẹ trong mầu nhiệm Chúa Kitô, trong lịch sử cứu độ và trong lịch sử Giáo hội.
Mỗi giai đoạn lịch sử đã trình bày một cách tốt nhất có thể những nội dung cơ bản của bài nhạc về Đức Mẹ: tình mẫu tử thiêng liêng của Đức Maria và sự liên kết của Đức Maria với mầu nhiệm Chúa Kitô.
Tôi tin rằng bắt đầu từ những ngày lễ về Mẹ, lịch sử âm nhạc có thể được vẽ lại, bằng cách làm nổi bật nơi chốn và thời đại mà trong đó nội dung của bài ca về Đức Maria được nhấn mạnh hoặc bị phản bội nhiều nhất. Ngay cả một danh sách đơn giản và ngắn gọn của các ngày lễ cũng rất quan trọng.
Các ngày lễ về Đức Mẹ có thể được tóm lược như sau: ở Đông phương, có Lễ Sinh nhật Đức Mẹ (được cử hành tại Giáo hội Giêrusalem), Maria Mẹ Thiên Chúa; Dâng Con Trong Đền Thờ hoặc Lễ Nến (Đức Maria là người đã kết hợp với những đau khổ cứu chuộc của Chúa Kitô, được tiên tri bởi ông già Simeon), Lễ Truyền Tin của Mẹ Thiên Chúa và Đức Maria Trọn Đời Đồng Trinh (Đức Maria là Eva mới kết hợp cách bất khả phân ly với Chúa Kitô là Ađam mới), Lễ Acathistus (được cử hành long trọng bằng bài thánh ca nổi tiếng, một bản tóm tắt thực sự về Thánh Mẫu học), Lễ Đức Mẹ Ngủ (Mẹ đã chiến thắng tội lỗi, đã bước theo Con của Mẹ đến sự sống; Mẹ cũng đã bước theo người Con của mình đến sự thánh thiện bằng sự vâng phục hoàn toàn của Mẹ) và các ngày lễ mang tính sùng mến hơn; ở phương Tây, các ngày lễ được cô đọng qua Lễ Giáng Sinh (ra đời ngay sau khi xây dựng đền thờ Liberia ở Roma), Lễ Dâng Mình, Lễ Truyền Tin, Lễ Mông Triệu và Sinh nhật Đức Maria.
Sự tiến triển tiếp theo
Những kinh nghiệm đầu tiên đề cập đến “hai lá phổi thiêng liêng” giữa Đông và Tây xác định mức độ sâu rộng của ý hướng hát mừng Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa, gắn liền với mầu nhiệm Cứu Chuộc, trong khi ở các thời đại tiếp theo, chúng ta cũng tìm thấy một cách thức để cầu nguyện và xây dựng mối liên hệ với Thiên Chúa, và nhờ đó mà Đức Maria được tôn sùng và gần gũi hơn. Vì thế, nếu ở Đông phương có thánh ca Byzantine và nhạc Bình Ca ở Tây phương thì chúng vẫn duy trì những điểm trọng tâm là luôn quy chiếu đến sự phong phú và tính vững chắc về nội dung. Các ngôn ngữ âm nhạc sau này đã dần dần bộc lộ một “khuôn mặt” mới hoặc khác của Đức Maria, có khi tương phản và có khi bổ túc cho nhau.
Chẳng hạn như Ars Antiqua, vào khoảng thế kỷ IX-X trong môi trường văn hóa của Pháp và Tây Ban Nha, và môi trường dân gian ở thế kỷ XIII, tác phẩm âm nhạc rất đặc thù được thực hiện bằng tiếng bản ngữ, tiếng Ý, ​​nơi mà hình ảnh Đức Trinh Nữ hiện diện tầng suất cao với những hình ảnh đầy thi vị (viên ngọc quý, người phụ nữ đội vương miện, nguồn suối nước v.v.), nhưng không phải lúc nào cũng liên quan đến Kinh thánh.
Tuy nhiên, vào thế kỷ 15, trong các bản chép tay quan trọng nhất, các bài hát thể hiện lòng nhiệt thành đối với Đức Mẹ vẫn chiếm ưu thế, gây bất lợi cho suy tư thần học.
Thời Phục hưng đã chứng kiến ​​sự gia tăng thực sự của âm nhạc dành cho Đức Mẹ trong phụng vụ (bốn đối ca kết thúc, Magnifcat, Litanies, Motets, Messa).
Giai đoạn Barốc, nhiều tác phẩm âm nhạc về Đức Mẹ nhìn thấy ánh sáng trong các hình thức đặc thù và hoa mỹ nơi các oratorio và cantata, với những sáng tác tự do đầy chất thơ.
Thời kỳ cổ điển ca ngợi Đức Maria với nền âm nhạc tinh tế và sự quý giá qua đó nó thêu dệt nên bản văn (chẳng hạn như tác phẩm nổi tiếng Litanies Lauretane của Mozart), trước khi nhường chỗ cho “thời lãng mạn”, đã lồng vào âm nhạc về Đức Mẹ một cảm giác chủ quan và không đúng cách của giáo hội, ngay cả khi nó được hỗ trợ bởi một tôn giáo sống động và chân thành.
Thế nhưng, thời hiện đại, không thiếu những tác phẩm xuất sắc dành riêng cho Đức Maria, với sự trở lại với các bản văn phụng vụ và những nội dung chân thực hơn về lòng tôn sùng Đức Mẹ.
Do đó, mỗi tác giả, tùy theo bối cảnh, đã ca ngợi Đức Maria với cảm thức tôn giáo đặc trưng của thời đại của mình. Vì vậy, chúng ta không thể luôn luôn và trong mọi tình huống nói về “sự phát triển” của thánh ca về Đức Mẹ, đặc biệt là nơi lòng sùng kính đã thất bại trong việc đan kết danh Đức Mẹ với bài ca về các mầu nhiệm của Chúa Kitô.
Kết luận
Việc phân tích sự hiện diện của Đức Maria trong lịch sử âm nhạc không thể thiếu tham chiếu Kitô học và Giáo hội học, để sao cho Đức Maria cùng được chiêm ngắm cách hòa hợp trong mầu nhiệm Chúa Kitô và Giáo hội.
Dưới ánh sáng này, tôi hy vọng rằng một Lịch sử “mới” đối với âm nhạc về Đức Mẹ có thể được viết ra, không có nghĩa là đưa ra một danh sách các tác giả và tác phẩm, nhưng đúng hơn là làm nổi bật tầm quan trọng vị trí của Đức Maria trong kế hoạch cứu độ. Điều này có thể được viết, bằng cách làm nổi bật và phân biệt các lý do truyền cảm hứng và nội dung cơ bản của bài ca về Đức Mẹ, thông qua một cuộc nghiên cứu lịch sử-mỹ học dành riêng cho con người Đức Trinh Nữ Maria trong tài liệu âm nhạc, từ khởi đầu cho đến ngày nay, nhằm nắm bắt các mô hình văn hóa – những hạn chế hoặc đôi khi bị biến dạng – ở mọi thời đại và mọi miền lãnh thổ.
G. Võ Tá Hoàng chuyển ngữ
Từ tạp chí Riparazione Maria; 2/2019; Trang 4-6

Tác giả bài viết: Giuse Võ Tá Hoàng chuyển ngữ

Read More

Điều hướng bài viết

  • Previous page
  • Page 1
  • …
  • Page 454
  • Page 455
  • Page 456
  • …
  • Page 2.058
  • Next page
Bài viết mới nhất
TÂM SỰ NGƯỜI LINH MỤC.
23/07/2026
Di chúc thiêng liêng của Linh mục Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp
11/07/2026
Hoa trái thiêng liêng hậu tuần Cửu nhật
11/07/2026
Video nổi bật
https://www.youtube.com/watch?v=Td144YDsaGo
Sự kiện sắp tới

There are no upcoming events at this time.

Ủy ban Giáo dục Công giáo – Trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.

Liên hệ

72/12 Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, TP.HCM Get Directions

Phone: +84 931 436 131

Email: [email protected]

Ban chuyên môn
  • Ban Tài liệu và Truyền thông
  • Ban Giáo chức
  • Ban Kỹ năng và Giá trị sống
  • Ban Khuyến học
  • Ban Học viện Thần học
  • Ban Hội Học sinh – Sinh viên
Chuyên mục
  • Tin tức
  • Thư chung
  • Giáo dục
  • Phụng vụ
  • Thư viện
Bản quyền © 2020 thuộc về Ủy Ban Giáo Dục HĐGM VN. Design by JT.