2023
Đức Trinh Nữ Maria – Mẹ Hội Thánh
“Đứng gần thập giá Đức Giê-su, có thân mẫu Người, chị của thân mẫu, bà Maria vợ ông Cơlôpát, cùng với bà Maria Mácđala. Khi thấy thân mẫu và môn đệ mình thương mến đứng bên cạnh, Đức Giêsu nói với thân mẫu rằng: “Thưa Bà, đây là con của Bà.” Rồi Người nói với môn đệ : “Đây là mẹ của anh.” Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình. (Ga 19, 25-27).
Chính đoạn Tin Mừng này chỉ cho thấy tước hiệu Đức Maria, Mẹ Hội Thánh. Ở đây, Chúa Giêsu ủy thác thánh Gioan cho Đức Mẹ như người con được tái sinh vào đời sống thiêng liêng mà chỉ có Mẹ mới làm được. Như thế đây không phải đơn giản là lòng sùng kính Mẹ, cầu nguyện với Đức Trinh Nữ với tước hiệu này, nhưng là tuân theo ý muốn của Chúa Giêsu, vì điều này được truyền lại cho chúng ta từ Kinh thánh: Chúa Giêsu, với những lời tuyên bố ngay lúc cận kề cái chết, xin Đức Maria chăm sóc mỗi người. Nhưng Chúa Giêsu cũng đòi hỏi mỗi người phải cảm thấy được ở trong mối tương quan tình con thảo với Mẹ.
Đức Maria trung tâm giáo lý về ơn Cứu độ
Lòng sùng kính đối với Đức Maria – giống như tôn kính Thánh giá và Bí tích Thánh Thể – luôn luôn là một trụ cột cơ bản của đức tin, nhưng với lễ nhớ Đức Maria, Mẹ Hội Thánh được thiết lập vào năm 2108, Đức Thánh Cha Phanxicô muốn làm nhiều hơn nữa. Trước hết, ĐTC muốn làm thế nào để lòng sùng kính này có thể là điều tốt cho Giáo hội và có thể làm gia tăng ý nghĩa vai trò làm Mẹ trong Hội Thánh của Đức Maria, nhưng trên tất cả là đặt Đức Maria ở trung tâm giáo lý về ơn cứu độ. Thực tế, trong mối tương quan với Chúa Kitô, lòng đạo đức đối với Đức Maria xuất phát trực tiếp từ đức tin vào Chúa Ba Ngôi. Bởi vì Chúa muốn Mẹ, một người phụ nữ, là Mẹ của Con Thiên Chúa, qua mẹ, con người có thể đạt tới lòng thương xót của Thiên Chúa. Vai trò làm mẹ của Đức Maria bắt đầu bằng việc Truyền tin: Với lời xin vâng, Đức Mẹ ưng thuận để Chúa đi vào lịch sử. Và vì thánh ý Thiên Chúa, việc làm mẹ của Đức Maria không kết thúc dưới chân Thánh giá, mà trở nên vĩnh cửu. Hơn nữa, trong ngày Lễ Ngũ Tuần Mẹ còn hiện diện cùng với các tông đồ – các tín hữu đầu tiên chờ đợi Chúa Thánh Thần: đây là mối liên kết giữa việc kính nhớ Mẹ Hội Thánh với Lễ Chúa Thánh Thần mà Đức Giáo hoàng Phanxicô muốn nhấn mạnh.
Lòng sùng kính Đức Trinh Nữ trong giáo huấn của các Giáo hoàng
Tước hiệu Đức Maria Mẹ Hội Thánh có nguồn gốc xa xưa và đã hiện diện trong Giáo Hội thời của Thánh Augustinô và Thánh Leo Cả. Trong nhiều thế kỷ, lòng sùng kính Đức Mẹ với nhiều tước hiệu, nhưng với tước hiệu Mẹ Hội Thánh xuất hiện trong một số văn bản của các tác giả thiêng liêng và trong giáo huấn của ĐTC Benedict XIV và Leo XIII. Tuy nhiên, phải đợi đến ĐTC Phaolô VI mới có bước ngoặt; đó là ngày 21 tháng 11 năm 1964, khi kết thúc phiên thứ ba của Công đồng Vatican II, Đức Giáo hoàng tuyên bố Đức Trinh Nữ Maria “Mẹ Hội Thánh”, nghĩa là của mọi Kitô hữu”. Với quyết định này, ĐTC Phaolô VI lấy nội dung chủ yếu trong Tín điều của Công đồng Nicea năm 325 và trên hết là các quyết định của các giáo phụ Công đồng Êphêsô (430), xác định Đức Maria là “Mẹ Thiên Chúa”.
Trong Năm Thánh (1975), có Thánh lễ tạ ơn sùng kính Đức Maria, Mẹ Hội Thánh, sau đó lễ này được đưa vào Sách lễ Rôma, nhưng chưa phải là lễ nhớ bắt buộc trong lịch phụng vụ. Tuy nhiên, ở một số quốc gia – ví dụ Ba Lan và Argentina – và trong một số hội dòng, lễ Đức Maria, Mẹ Hội Thánh được đưa vào lịch riêng. Vào năm 1980 ĐTC Gioan Phaolô II đưa lòng sùng kính Đức Maria, Mẹ Hội Thánh vào trong kinh nguyện. Và đến ngày 11 tháng 02 năm 2018, kỷ niệm 160 năm lần đầu tiên Đức Trinh Nữ hiện ra tại Lộ Đức. Nhân dịp này, Đức Giáo hoàng Phanxicô đã ấn định lễ nhớ Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Giáo hội, được ghi vào Lịch Rôma và được cử hành hàng năm, vào thứ hai sau Chúa Thánh Thần hiện xuống.
Ngọc Yến – Vatican
2023
Đan viện ở Przemyśl – mái ấm cho người di tản từ Ucraina
Đan viện ở Przemyśl – mái ấm cho người di tản từ Ucraina
Paweł Rytel-Andrianik
Các nữ tu dòng Nữ tỳ Đức Mẹ Vô nhiễm Nguyên tội ở Stary Wieś sống ở Przemyśl, cách biên giới Ucraina 12 km. Ngay từ những giờ đầu tiên sau khi chiến tranh bùng nổ, họ đã tham gia giúp đỡ những người tị nạn từ Ucraina.
Sơ Ewa Mehal thuật lại: “Vào ngày đầu tiên của cuộc chiến, chúng tôi bắt đầu phân phát bánh mì, bigos – một món ăn của Ba Lan – và đồ uống nóng ở biên giới, ở nhà ga và ở trung tâm dành cho người tị nạn. Nhiều người mang thức ăn cho những người tị nạn, nhưng chúng tôi nhận ra rằng những người tị nạn này đang ngủ ở nhà ga. Chúng tôi đặc biệt quan tâm đến việc đảm bảo chỗ ở qua đêm cho các bà mẹ có con nhỏ, người già và người khuyết tật. Chúng tôi đi đến ga xe lửa, nơi những người tị nạn đang cắm trại chờ xe, và chúng tôi đề nghị họ trọ qua đêm tại cơ sở của chúng tôi. Bằng chiếc xe của mình, chúng tôi đã đưa họ đến nhà của chúng tôi”.
Tuy nhiên, Sơ Ewa nhớ lại, điều đó không dễ dàng vì những người tị nạn nhận được lời mời từ những người hoàn toàn xa lạ với họ. “Chúng tôi phải chiếm được lòng tin của họ. Chúng tôi phải phá bỏ những bức tường, chiếm được lòng tin của những người này, vì không phải tất cả họ đều muốn ngủ ở một nơi xa lạ. Họ lo lắng về những gì sẽ xảy ra tiếp theo, cách xa nhà ga, vì họ muốn ở gần biên giới”.
Sự trợ giúp đầu tiên
Sơ Ewa Mehal mô tả việc cung cấp những hình thức viện trợ đầu tiên cho những người tị nạn đói khát và sợ hãi đến từ Ucraina: “Điều đầu tiên là một bữa ăn nóng sốt; đó là điểm khởi đầu. Sau đó, một phòng tắm để tắm rửa và một nơi để qua đêm. Đồng thời chúng tôi cũng thành lập một kho lưu trữ để dự trữ những thứ cần thiết, vì có nhiều nhà hảo tâm từ Ba Lan và nước ngoài. Chúng tôi sẽ hỏi những người này xem họ cần gì nhất để tiếp tục cuộc hành trình của họ. Một số người đến nơi trong tình trạng kiệt sức, họ nói với chúng tôi rằng họ đã không tắm trong nhiều ngày. Một số đến trực tiếp từ các khu trú ẩn.”
Các bà mẹ có con nhỏ
Sơ Mehal chia sẻ: “Các bà mẹ có con nhỏ rơi vào hoàn cảnh khó khăn nhất. Đứa trẻ bé nhất được ba tuần tuổi. Chúng tôi phải tạo điều kiện đặc biệt cho những bà mẹ này và những đứa trẻ sơ sinh cần được chăm sóc đặc biệt. Chúng tôi đã xây dựng một sân chơi trong sân. Đôi khi các gia đình đến muộn vào buổi tối, và bọn trẻ không muốn vào nhà mà ngay lập tức bắt đầu chơi ở trong sân.”
Sơ cũng nhớ lại những lần đi ra ngoài vào ban đêm: “Đôi khi chúng tôi đi đến nhà ga vào nửa đêm nếu có ai đó cần giúp đỡ. Những trường hợp này thường liên quan đến trẻ nhỏ. Các tình nguyện viên sẽ gọi cho chúng tôi từ nhà ga và nói rằng có một gia đình hoặc một bà mẹ với những đứa con không có chỗ ngủ. Chúng tôi sẽ mang họ về nhà. Sau đó, chúng tôi sẽ đưa họ trở lại chuyến tàu mà họ muốn đón để tiếp tục hành trình”.
Tất cả các nữ tu đều tham gia giúp đỡ những người tị nạn
Sơ Mehal chia sẻ thêm: “Do số lượng người tị nạn liên tục đến nhà Przemyśl rất đông (khoảng 40 người mỗi ngày), các nữ tu của chúng tôi từ các nhà khác của Hội dòng đã hỗ trợ chúng tôi. Họ đến Przemyśl để giúp đỡ những người tị nạn. Trong số đó có ba nữ tu làm việc ở Ucraina và là những người bị chiến tranh gây bất ngờ ở Ba Lan; đó là Sơ Krystyna, Sơ Łucja và Sơ Irina. Nhờ biết tiếng Ucraina, họ đã giúp giao tiếp với những người tị nạn.”
Việc tổ chức viện trợ nhanh chóng và hiệu quả như vậy là nhờ có sự tham gia của nhiều người. Sơ Ewa Mehal nhấn mạnh rằng “tất cả các nữ tu – dù ở Ba Lan hay nước ngoài, kể cả ở Ucraina – đều tham gia giúp đỡ những người tị nạn thông qua cầu nguyện và phục vụ, quyên góp tiền và của cải vật chất, tổ chức quyên góp và tham gia vào các sáng kiến. Họ cũng phối hợp vận chuyển thực phẩm, quần áo, thuốc men, vật tư y tế và các dụng cụ vệ sinh”.
Lòng biết ơn
Những người nhận được sự trợ giúp này rất biết ơn các nữ tu. Sau đây là một trong những email mà một số người trong số họ đã gửi cho các nữ tu ở Ucraina, những người đầu tiên đề nghị giúp đỡ họ:
“Chúng tôi muốn chân thành cảm ơn các nữ tu vì sự giúp đỡ các chị đã dành cho chúng tôi trên hành đường đi tới ngôi nhà mới của chúng tôi ở nước Anh. Cơ hội sống với các chị đã củng cố niềm tin của chúng tôi vào con người. Bất chấp những khoảnh khắc khó khăn mà chúng tôi đã trải qua, chúng tôi đã có thể thoáng thấy một bàn tay dang rộng. Chúng tôi, cả gia đình, rất biết ơn các chị vì sự giúp đỡ mà các chị đã dành cho chúng tôi. Đối với chúng tôi, đó cũng là một kinh nghiệm về tình yêu của Thiên Chúa và sự hiện diện của Người trong cuộc sống của chúng tôi. Người không bỏ rơi chúng tôi, nhưng đặc biệt là trong những thời điểm khó khăn, Người đã gửi cho chúng tôi những thiên thần của Người để chăm sóc chúng tôi. Taras”. Có rất nhiều lời cảm ơn như thế này.
Sự trợ giúp của nữ tu ở Ba Lan
Hơn 1.000 ngôi nhà do các nữ tu điều hành ở Ba Lan đã tham gia vào việc cung cấp một số hình thức hỗ trợ cho người tị nạn kể từ khi bắt đầu cuộc xung đột ở Ucraina. Ngoài các hoạt động ở Ba Lan, 154 nữ tu Ba Lan – tức là 40 phần trăm tổng số nữ tu hiện diện ở Ucraina – thi hành sứ vụ của họ ở Ucraina. Dữ liệu gần đây được thu thập bởi Hội đồng các dòng nữ cho thấy người Ucraina hiện đang có mặt trong 213 nhà và trung tâm của các dòng tu. Những ai muốn hỗ trợ các nữ tu để cung cấp viện trợ cho người dân Ucraina có thể liên hệ với Hội đồng các dòng nữ.
Vatican News
Nguồn: https://www.vaticannews.va
2023
Ngành ngoại giao Tòa Thánh
Thực vậy, không có tôn giáo nào dấn thân về mặt nhân đạo và hòa bình qua các hoạt động ngoại giao như trường hợp Giáo Hội Công Giáo.
Vài dòng lịch sử lịch sử
Nhìn lại lịch sử, sau những thế kỷ đầu tiên bị bách hại, các vị Giáo Hoàng vẫn thường gửi các sứ giả của các ngài đến gặp các chính quyền cũng như các cộng đoàn Giáo Hội địa phương. Tuy nhiên thói quen gửi các vị Sứ Thần Tòa Thánh ổn định cạnh các chính phủ chỉ bắt đầu với Đức Giám Mục Angelo Leonini tại Venezia từ ngày 30/04/1500. Thói quen này dần dần được thực hiện tại các nước khác.
Cách đây 153 năm, tức là vào năm 1870, khi nước Tòa thánh bị Ý chiếm và sáp nhập, Đức Giáo Hoàng Piô IX quyết định không ra khỏi nội thành Vatican nữa. Lúc đó, nhiều người nghĩ rằng 4 cường quốc bấy giờ là đế quốc Áo Hung, Pháp, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, sẽ rút đại sứ khỏi Roma, như vẫn thường xảy ra khi một quốc gia không hiện hữu nữa, bởi lẽ duy trì một đại sứ cạnh vị giáo hoàng tự coi mình là “tù nhân” ở Vatican thì có ý nghĩa gì đâu? Thế nhưng các cường quốc ấy đã không làm như vậy và các chính phủ liên hệ mau lẹ xác nhận rằng các đại sứ của họ không được ủy nhiệm nơi Quốc gia của Giáo Hội, nhưng là nơi Tòa Thánh. Đây là nguyên tắc vẫn được duy trì từ đó đến nay.
Thực vậy, hiện nay không có nước nào lập quan hệ ngoại giao với Quốc gia Thành Vatican, một khu đất nhỏ 44 hecta. Nhưng các nước lập quan hệ ngoại giao với Tòa thánh, như một cơ quan đầu não của Giáo Hội Công Giáo với hơn 1 tỷ 300 triệu tín hữu trên thế giới.
Từ 4 nước có quan hệ ngoại giao trên cấp đại sứ với Tòa Thánh hồi năm 1870, đến đầu năm nay có 183 quốc gia có quan hệ này, trong đó có 92 vị đại sứ thường trú ở Roma. Điều này chứng tỏ uy tín tinh thần của Đức Thánh Cha và Tòa thánh đã gia tăng đáng kể qua dòng thời gian, với nỗ lực phục vụ công ích của các dân tộc, phục vụ hòa bình thế giới và bênh vực các quyền con người.
Ảnh hưởng tinh thần của Tòa Thánh
Một câu hỏi thường được nói đến khi nói về đoàn ngoại giao các nước cạnh Tòa thánh, đó là các nước này được lợi gì khi thiết lập hoặc duy trì quan hệ ngoại giao với Tòa thánh, bởi vì vị đại sứ của họ tại Vatican không nói chuyện với Tòa thánh về vấn đề tài chánh, kinh tế, mậu dịch, hoặc các hiệp định liên minh quân sự hay phòng thủ.
Câu trả lời là: các nước giàu mạnh, khi lập quan hệ ngoại giao với Tòa Thánh, thường muốn chứng tỏ cho thế giới thấy họ cùng theo đuổi những lý tưởng cao thượng mà Tòa thánh cổ võ. Tiếp đến, ai cũng phải nhận rằng Vatican là một nguồn tin tức phong phú từ các nơi trên thế giới gửi về, hay nói theo ông Thomas Melady, một trong những đại sứ đầu tiên của Mỹ cạnh Tòa thánh, thì “Vatican là một đài quan sát” quan trọng mà không cường quốc nào có thể bỏ qua.
Đối với những nước nhỏ, việc thiết lập quan hệ ngoại giao với Tòa thánh, càng làm cho họ thấy thế đứng của mình trong cộng đồng quốc tế được bảo đảm và được biết tới hơn. Nhiều chính phủ còn nuôi ý tưởng thầm kín và nghĩ rằng với quan hệ ngoại giao với Tòa thánh, họ có thể nói chuyện thẳng với Tòa thánh và tạo sức ép trên những giám mục ở trong nước đang gây khó khăn cho họ.
Trong nội bộ Giáo Hội
Trong công đồng chung Vatican II, Đức Hồng Y Suenens, bấy giờ là Tổng Giám Mục giáo phận Bruxelles bên Bỉ, đã lên tiếng đề nghị bãi bỏ ngành ngoại giao Tòa Thánh vì cho rằng các vị sứ thần và khâm sứ chẳng qua chỉ là những người do Tòa Thánh gửi đến để canh chừng, kiểm soát Giáo Hội địa phương và làm cho các giám mục mất tự do. Ngoài ra, trong một khóa họp của THĐGM thế giới, Đức Hồng Y Basil Hume, Tổng Giám Mục Westminster kiêm chủ tịch HĐGM Anh quốc, dưới ảnh hưởng của trào lưu nữ quyền, đã đề nghị Tòa Thánh chọn các phụ nữ làm sứ thần Tòa Thánh, thay vì chỉ chọn các Tổng Giám Mục.
Những đề nghị của các vị này đi ngược quy định của Đức Giáo Hoàng Piô XII và được Thánh Giáo hoàng Gioan XXIII tái khẳng định hồi năm 1962, rằng các vị sứ thần Tòa Thánh, hay khâm sứ, cả khi mới bắt đầu sứ vụ, chứ không phải vài năm sau đó, được ban phẩm vị Giám Mục, không phải đây là một vinh dự, nhưng đúng hơn để nhấn mạnh chức năng liên hệ giữa Đức Giáo Hoàng và các Giám Mục của các Giáo Hội địa phương.
Giáo Luật
Giáo luật hiện hành dành 6 điều khoản, từ số 362 đến 367, để nói về các vị sứ thần và các phái viên của Đức Thánh Cha. Theo đó, Đức Thánh Cha có quyền bổ nhiệm các phái viên làm đại diện cho ngài và gửi họ tới các Giáo Hội địa phương ở các nước, hoặc tới các chính phủ hoặc quốc gia. Nhiệm vụ chính yếu của các vị sứ thần hay khâm sứ là lo liệu để mối dây hiệp nhất giữa Tòa Thánh với các Giáo Hội địa phương mỗi ngày được thêm bền chặt và hiệu quả hơn. Công tác của các vị là thông tri cho Tòa Thánh về tình hình Giáo Hội địa phương và về tất cả những gì liên hệ tới chính đời sống của Giáo Hội và thiện ích của các linh hồn. Tiếp đến là giúp đỡ các giám mục địa phương, tuy phải tôn trọng việc hành sử hợp lệ quyền bính của các ngài. Thứ ba là đề nghị danh sách các ứng viên cho Tòa Thánh để bổ nhiệm làm giám mục. Thứ tư là cùng với các giám mục bênh vực tất cả những gì liên quan tới sứ mệnh của Giáo Hội và của Tòa Thánh trước mặt chính phủ, vân vân.
Đức Thánh Cha Phanxicô và các Sứ thần Tòa Thánh
Trong kế hoạch cải tổ Giáo triều và Giáo Hội, Đức Thánh Cha Phanxicô cũng đặc biệt quan tâm các đại diện của ngài tại các quốc gia và Giáo Hội địa phương.
Trong bối cảnh đó và trong khuôn khổ Năm Thánh Lòng thương xót, sáng ngày 17/9/2016, Đức Thánh Cha đã đồng tế thánh lễ với 106 vị Đại diện Tòa Thánh và sau đó đã gặp gỡ các vị để nhắn nhủ về việc chu toàn sứ mạng được ủy thác.
Trong bài huấn dụ dài tại cuộc gặp gỡ, Đức Thánh Cha nhiệt liệt cám ơn các vị Đại diện Tòa Thánh vì lòng quảng đại, tận tụy và hy sinh trong việc chu toàn sứ mạng liên kết giữa Người Kế Vị Thánh Phêrô và các Giáo Hội địa phương, kiến tạo và thăng tiến tình hiệp thông là “nhựa sống cho đời sống Giáo Hội và cho việc loan báo sứ điệp của Giáo Hội”.
Đức Thánh Cha đặc biệt nhắc nhở các vị Đại diện Tòa Thánh hãy “phục vụ trong tinh thần hy sinh như những sứ giả khiêm tốn, như Thánh Giáo Hoàng Phaolô VI đã nói: ‘Hoạt động của vị Đại diện Tòa Thánh trước tiên là một việc phục vụ quý giá cho các Giám mục, linh mục, tu sĩ và mọi tín hữu Công Giáo ở địa phương, họ tìm được nơi vị Đại diện Tòa Thánh một sự nâng đỡ và bảo vệ, trong tư cách ngài đại diện một quyền bính cao hơn, để mưu ích cho tất cả mọi người”.
Đức Thánh Cha cũng khẳng định rằng: “Nếu không có lòng khiêm tốn thì không dịch vụ nào có thể thực hiện được hoặc có đặc tính phong phú. Sự khiêm tốn của một Sứ Thần Tòa Thánh được biểu lộ qua lòng yêu mến đối với đất nước và Giáo Hội nơi ngài được kêu gọi phục vụ”.
Đức Thánh Cha khuyến khích các vị Đại diện Tòa Thánh không những chỉ “quan sát, phân tích và tường trình”, nhưng còn cần “gặp gỡ, lắng nghe, đối thoại, chia sẻ, đề nghị và cộng tác, để làm nổi bật lòng yêu mến chân thành, thiện cảm và cảm thông đối với dân chúng và Giáo Hội địa phương”.
Ngài cũng nhận xét: “Ngày nay, những đe dọa từ bên ngoài của sói, bắt cóc và tấn công đoàn chiên, làm cho đoàn chiên hoang mang, phân tán và bị phá hủy vẫn còn là điều thời sự. Sói ngày nay vẫn có những điểm giống như trước, đó là sự thiếu thông cảm, đố kỵ, gian ác, bách hại, xóa bỏ sự thật, chống lại sự tốt lành, khép kín đối với tình yêu, đố kỵ về văn hóa, và nghi kỵ…”
Đức Thánh Cha không quên nhắc các vị Đại diện Tòa Thánh hãy dành thời giờ cho các Giám Mục, linh mục, tu sĩ, các giáo xứ, các tổ chức văn hóa và xã hội… Hãy tháp tùng Giáo Hội địa phương với tâm hồn của một vị mục tử. “Cần di động. Những thư từ và bá cáo lạnh lùng không đủ. Những điều nghe nói mà thôi không đủ. Còn cần phải nhìn tận mắt hạt giống tốt của Tin Mừng đang triển nở thế nào. Đừng đợi người ta đến gặp anh em để trình bày một vấn đề hoặc muốn giải quyết một việc. Anh em hãy đi tới các giáo dân, các dòng tu, các giáo xứ, các chủng viện, để hiểu Dân Chúa đang sống, suy nghĩ và thắc mắc thế nào. Nghĩa là anh em hãy thực sự biểu lộ một Giáo Hội ‘đi ra ngoài’, ‘một bệnh viện dã chiến’, có khả năng sống chiều kích của Giáo Hội địa phương, của đất nước và của tổ chức mà anh em được sai tới”.
Đức Thánh Cha cho biết một quan tâm sâu xa của ngài là việc tuyển chọn các Giám Mục tương lai và ngài đã nói với Bộ Giám Mục đề ra danh sách những đức tính và khả năng mà các vị Chủ Chăn của Giáo Hội ngày nay phải có: các Giám Mục phải là chứng nhân của Đấng Phục Sinh chứ không phải là những người theo lý lịch; các Giám Mục phải là người cầu nguyện, quen thuộc với những điều từ trên cao và không bị đè bẹp vì gánh nặng từ bên dưới; các Giám Mục phải có khả năng đi vào sự hiện diện của Thiên Chúa ‘trong kiên nhẫn’; các Giám Mục phải là mục tử, chứ không phải là những ông hoàng hoặc công chức”.
Giuse Trần Đức Anh O.P.
Vatican News
2023
Thần Khí giải thoát chúng ta khỏi sợ hãi
Thần Khí giải thoát chúng ta khỏi sợ hãi
Bài huấn dụ trước khi đọc kinh Lạy Nữ Vương Thiên Đàng
Anh chị em thân mến, chào anh chị em!
Hôm nay, Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, Tin Mừng đưa chúng ta đến Phòng Tiệc Ly, nơi các tông đồ đã trú ẩn sau khi Chúa Giêsu chịu chết (Ga 20:19-23). Vào chiều Phục Sinh, Đấng Phục Sinh hiện diện trong chính hoàn cảnh sợ hãi và đau khổ đó, và thổi hơi trên họ và nói: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần” (c. 22). Như vậy, với ơn Chúa Thánh Thần, Chúa Giêsu muốn giải thoát các môn đệ khỏi nỗi sợ hãi giam hãm họ trong nhà, để họ có thể ra đi trở thành chứng nhân và loan báo Tin Mừng. Vì thế, chúng ta hãy dừng lại suy tư đôi chút về điều này: Thần Khí giải thoát chúng ta khỏi sợ hãi.
Các môn đệ đã đóng cửa lại, Tin Mừng nói, “vì sợ hãi” (c. 19). Cái chết của Chúa Giêsu đã làm họ tan nát, những giấc mơ của họ đã vỡ vụn, những hy vọng của họ đã tan biến. Và họ nhốt mình trong nhà. Không chỉ là trong căn phòng, mà còn bên trong trái tim. Tôi muốn nhấn mạnh điều này: bị nhốt mình bên trong. Đã bao nhiêu lần chúng ta tự nhốt mình bên trong chính mình? Đã bao nhiêu lần, vì một hoàn cảnh khó khăn nào đó, một vấn đề cá nhân hay gia đình nào đó, nỗi đau khổ đang ghi dấu chúng ta hay sự dữ mà chúng ta hít thở quanh mình, chúng ta có nguy cơ dần dần rơi vào tình trạng mất hy vọng và thiếu can đảm để tiến tới? Điều này xảy ra nhiều lần. Và rồi, giống như các tông đồ, chúng ta tự nhốt mình, nhốt mình trong mê cung của những lo toan.
Anh chị em thân mến, việc “tự nhốt mình” này xảy ra khi, trong những tình huống khó khăn nhất, chúng ta để cho nỗi sợ hãi lấn át và tạo nên “tiếng vang dội” bên trong chúng ta. Do đó, nguyên nhân là sự sợ hãi: sợ không làm được, sợ đơn độc đối mặt với những trận chiến hàng ngày, sợ mạo hiểm và sau đó thất vọng, lựa chọn sai lầm. Nỗi sợ hãi làm tê liệt, bất động. Và nó làm cô lập: chúng ta hãy nghĩ đến nỗi sợ hãi của người khác, của những người ngoại quốc, của những người khác biệt, của những người suy nghĩ khác. Và thậm chí có thể có sự sợ hãi Chúa: rằng Người sẽ trừng phạt tôi, rằng Người nổi giận với tôi… Nếu chúng ta nhường chỗ cho những nỗi sợ hãi sai lầm này, những cánh cửa sẽ đóng lại: những cánh cửa của trái tim, của xã hội, và cả những cánh cửa của Giáo hội! Ở đâu có sự sợ hãi, ở đó cửa đóng lại. Và điều đó không tốt.
Tuy nhiên, Tin Mừng đưa ra cho chúng ta phương thuốc của Đấng Phục Sinh: Chúa Thánh Thần. Người giải phóng khỏi nhà tù của sự sợ hãi. Khi lãnh nhận Thần Khí, các tông đồ – chúng ta mừng lễ hôm nay – rời phòng tiệc ly và đi vào thế giới để tha tội và loan báo tin mừng. Nhờ Người, nỗi sợ hãi được khắc phục và các cánh cửa mở ra. Bởi vì đây là điều mà Thần Khí làm: Người làm cho chúng ta cảm thấy sự gần gũi của Thiên Chúa và vì thế tình yêu của Người xua tan sợ hãi, soi sáng con đường, an ủi và nâng đỡ trong nghịch cảnh. Vì thế, trước những nỗi sợ hãi và đóng cửa, chúng ta hãy cầu xin Chúa Thánh Thần cho chúng ta, cho Giáo hội và cho toàn thế giới: để một Lễ Hiện Xuống mới có thể xua đuổi những nỗi sợ hãi đang tấn công chúng ta và thắp lại ngọn lửa tình yêu của Thiên Chúa.
Xin Đức Maria Rất Thánh, Đấng đầu tiên được đầy tràn Thánh Thần, chuyển cầu cho chúng ta.
—-
Sau Kinh Lạy Nữ Vương Thiên Đàng, ĐTC mời gọi mọi người cầu nguyện cho những người dân sống ở biên giới giữa Myanmar và Bangladesh, bị ảnh hưởng nặng nề bởi một cơn bão: ảnh hưởng đến hơn tám trăm nghìn người, ngoài ra còn có nhiều người Rohingya đang sống trong những điều kiện bấp bênh. Đức Thánh Cha bày tỏ sự gần gũi với những người bị ảnh hưởng và ngài cũng kêu gọi những người có trách nhiệm tạo điều kiện để những người bị ảnh hưởng có thể tiếp cận được viện trợ nhân đạo, đồng thời ngài cũng kêu gọi tinh thần liên đới của con người và giáo hội để giúp đỡ những anh chị em này.
Đức Thánh Cha cũng nhắc lại và mời gọi cầu nguyện cho Thượng Hội Đồng sắp tới về hiệp hành vào Thứ Tư tới, 31/5, tại các đền thánh Đức Mẹ trên khắp thế giới. “Chúng ta xin Đức Trinh Nữ Maria đồng hành với giai đoạn quan trọng này của Thượng hội đồng với sự bảo vệ từ mẫu của Mẹ.”
Cuối cùng, ngài chúc mọi người một Chúa Nhật tốt lành và xin đừng quên cầu nguyện cho ngài.
