2023
Những “tiêu chí” để phân định những cuộc hiện ra của Đức Mẹ là thật hay giả
Những “tiêu chí” để phân định những cuộc hiện ra của Đức Mẹ là thật hay giả
Hồng Thuỷ – Vatican News
Ngày nay, trên thế giới vẫn có rất nhiều sự việc được loan truyền là Đức Mẹ hiện ra và trong đó có những nơi có thể gieo rắc những sứ điệp tiêu cực, trái ngược với sứ điệp của Phúc Âm. Mẹ Maria là người đem lại hòa bình, Mẹ đến để hướng dẫn chúng ta gặp gỡ Thiên Chúa, Mẹ hiến dâng con Mẹ để cứu độ người tội lỗi. Theo cha Stefano Cecchin, chủ tịch của Học viện Giáo hoàng về Thánh Mẫu học, có những tiêu chí để thiết lập tính trung thực của những lần Đức Mẹ hiện ra và tính xác thực của chúng.
Ngày 15/4/2023, Học viện Giáo hoàng về Thánh Mẫu học ở Roma đã chính thức thành lập một uỷ ban để nghiên cứu và theo dõi các trường hợp được cho là Đức Mẹ hiện ra và các hiện tượng thần bí khác nhưng chưa được Giáo hội công nhận tính xác thực.” (Vatican News 21/04/2023)
Giáo hội xác nhận tính xác thực của các lần Đức Mẹ hiện ra
Thật ra, các sự việc được cho là Đức Mẹ hiện ra đã có từ những thế kỷ đầu trong lịch sử Giáo hội. Tin tức đầu tiên được lịch sử xác nhận về một cuộc hiện ra của Đức Mẹ bắt nguồn từ Thánh Gregorio thành Nissa (335 392); ngài đã kể về thị kiến của một giám mục Hy Lạp, Đức cha Gregorio thành Taumaturgô, nhìn thấy Đức Mẹ vào năm 231. Một trong những chuyên gia về các sự kiện Đức Mẹ hiện ra là viện phụ René Laurentin, trong tác phẩm “Tự điển về các lần hiện ra của Đức Trinh nữ Maria”, được xuất bản tại Ý vào năm 2010, đã thu thập hơn 2.000 sự kiện lạ thường về Đức Mẹ từ thời đầu Kitô giáo cho đến ngày nay. Trong số này, chỉ có khoảng 15 sự kiện được Giáo hội chính thức nhìn nhận là những lần Đức Mẹ hiện ra, nghĩa là Giáo hội đã ban các sắc lệnh nhìn nhận các sự kiện này. Điều này không có nghĩa là tất cả những trường hợp khác đều bị Giáo hội phủ nhận tính xác thực.
Quy tắc do Bộ Giáo lý Đức tin ban hành năm 1978
Nhà nghiên cứu về thánh mẫu học Antonino Grasso, giáo sư tại Viện Khoa học Tôn giáo Cao cấp ở Catania, tác giả của cuốn sách “Tại sao Đức Mẹ hiện ra? Để hiểu các cuộc hiện ra của Đức Mẹ,” được xuất bản năm 2012, giải thích: “Theo các quy tắc do Bộ Giáo lý Đức tin ban hành năm 1978, Giáo hội ủy quyền cho Giám mục kiểm tra các sự kiện, với một phân tích chính xác được giao cho một ủy ban gồm các chuyên gia, sau đó, Đấng bản quyền giáo phận là người tuyên bố. Tùy thuộc vào tính chất đặc biệt của cuộc hiện ra và ‘ảnh hưởng’ của nó, một Hội đồng Giám mục hoặc Tòa Thánh cũng có thể trực tiếp giải quyết sự việc”. Sau khi kiểm tra phân tích, có thể có ba phán đoán được đưa ra: không được công nhận, ‘chờ xem’ và chấp nhận.
Những lần Đức Mẹ hiện ra được công nhận dù không có sắc lệnh
Chuyên gia Thánh Mẫu học này cũng nhắc lại khả năng xảy ra một tình huống “trung gian”, trong đó một Giám mục không chính thức tuyên bố về các cuộc hiện ra nhưng công nhận “sự tốt lành” của lòng sùng kính xuất phát từ những sự việc này và cho phép thờ phượng. Cuối cùng, cũng có hai lần hiện ra đã được công nhận trên thực tế. Thứ nhất là cuộc hiện ra ở Guadalupe ở Mexico. Không có sắc lệnh chính thức, nhưng vị giám mục lúc bấy giờ đã xây dựng một nhà nguyện nơi ngài đã cầu xin Đức Trinh Nữ và thị nhân Juan Diego đã được phong thánh. Sau đó là trường hợp của Thánh Catarina Labouré ở Paris: chỉ có một lá thư mục vụ từ giám mục cho phép sử dụng ảnh phép lạ, chứ không phải sắc lệnh của ngài. (Avvenire 31/07/2015)
“Uỷ ban quan sát” về các cuộc hiện ra của Đức Mẹ
Ngày nay, trên thế giới vẫn có rất nhiều sự việc được loan truyền là Đức Mẹ hiện ra và trong đó có những nơi có thể gieo rắc những sứ điệp tiêu cực, trái ngược với sứ điệp của Phúc Âm. Hồi tháng 4 năm nay, trong một thông cáo báo chí về việc thành lập “Uỷ ban quan sát” các sự việc Đức Mẹ hiện ra, cha Stefano Cecchin là chủ tịch của Học viện Giáo hoàng về Thánh Mẫu học, nơi đã thành lập “Uỷ ban quan sát” về các cuộc hiện ra của Đức Mẹ và các hiện tượng thần bí trên thế giới (OISA), nói rằng “Điều quan trọng là phải cung cấp sự rõ ràng, vì các thông điệp thường tạo ra sự nhầm lẫn, lan truyền các viễn cảnh về ngày tận thế gây lo lắng hoặc thậm chí là các cáo buộc chống lại Đức Giáo hoàng và Giáo hội.”
Cha đặt câu hỏi: “Làm sao Đức Maria, Mẹ của Giáo hội, mẹ của lòng thương xót và là Nữ Vương hòa bình, lại có thể làm suy yếu sự toàn vẹn của (Giáo hội) hoặc gieo rắc sợ hãi và xung đột?” Do đó, theo cha, mục đích của “Uỷ ban quan sát” là “cung cấp sự hỗ trợ cụ thể cho việc nghiên cứu, xác thực và tiết lộ chính xác những sự kiện như vậy, luôn phù hợp với giáo huấn của Giáo hội, các cơ quan hữu trách và các quy tắc hiện hành của Tòa Thánh.” Uỷ ban sẽ chuyên về các trường hợp như các lần được cho là Đức Mẹ hiện ra, các tượng Đức Mẹ “khóc”, các mặc khải tư và các dấu thánh.
“Uỷ ban quan sát” sẽ bao gồm các chuyên gia thuộc các lĩnh vực khác nhau, bao gồm một luật sư chuyên bảo vệ những người dễ bị tội phạm thao túng, gian lận hoặc lừa dối.
Cha Cecchin cho biết cơ quan này sẽ thành lập các ủy ban ở cấp quốc gia và quốc tế để “đánh giá và nghiên cứu các cuộc hiện ra và các hiện tượng thần bí được báo cáo ở nhiều nơi trên thế giới” và để thúc đẩy các cơ hội giúp mọi người cập nhật và giáo dục về các sự kiện cũng như “ý nghĩa thiêng liêng và văn hóa” của chúng. Các ủy ban địa phương cũng sẽ giúp Giáo hội địa phương và các giám mục trong vai trò cố vấn và cung cấp thông tin chính xác.
Cha Cecchin đề cập đến sự việc xảy ra ở Trevignano Romano ở Ý, nơi Đức Mẹ được cho là hiện ra vào các ngày thứ ba của mỗi tháng cho một người được cho là thị nhân, nghĩa là người được nhìn thấy Đức Mẹ hiện ra. Để nghiên cứu kỹ hiện tượng này, Đức cha Marco Salvi, Giám mục của Civita Castellana, đã thành lập một ủy ban, đồng thời khuyên không nên tham gia các cuộc tụ họp hàng tháng. Và Cha Cecchin giải thích: “Nhưng chúng tôi không liên quan gì đến hiện tượng này. Chúng tôi là một tổ chức liên ngành, nghiên cứu, thu thập tài liệu và cung cấp tài liệu đó cho việc đào tạo những người thuộc các ủy ban địa phương này. Nó giống như những gì xảy ra trong các trường đại học y khoa: phân khoa thì giảng dạy nhưng chính bệnh viện cung cấp các phương pháp điều trị. Chúng tôi là phân khoa, giáo phận là bệnh viện.”
Chỉ riêng ở Ý, hiện có khoảng một trăm trường hợp Đức Mẹ tỏ mình và hiện ra đang diễn ra. Cha Cecchin giải thích: “Chúng tôi làm việc để giúp mọi người có nhận thức phê bình về những hiện tượng này, để biết cách tự bảo vệ mình khỏi những kẻ muốn thao túng đức tin của họ.”
Mối nguy lợi dụng thao túng các tín hữu
Theo cha Cecchin, trên thực tế, nguy cơ có những người lợi dụng việc Đức Mẹ hiện ra để thao túng các tín hữu là điều rất cụ thể. “Đặc biệt trong giai đoạn vừa qua, chúng ta phải đối mặt với những hiện tượng thần bí trên thế giới, đề cập đến những chủ đề không liên quan chặt chẽ đến sứ điệp Tin Mừng, là lời loan báo niềm vui, là nhận ra Thiên Chúa yêu thương nhân loại đến nỗi hy sinh con của Người.”
Thật vậy, người ta chờ đợi những cuộc hiện ra của Đức Mẹ sẽ giải quyết những chủ đề “thánh thiêng”. Cha Cecchin nói: “Theo nghĩa này, chúng tôi cố gắng phân tích mọi thứ một cách hợp lý, bắt đầu từ những gì Tin Mừng dạy. Và do đó, chúng tôi nghiên cứu những gì được nói trong những lần hiện ra này, đâu là những trò chơi chính trị hoặc kinh tế có thể ẩn sau những dạng hiện tượng này.”
“Câu hỏi đặt ra là: những hiện tượng này vì lợi ích chung hay vì lợi ích của nhóm hay cá nhân? Và một lần nữa: tại sao ngày nay người ta muốn đặt Đức Giáo hoàng, Giáo hội, các tổ chức dân sự vào cuộc khủng hoảng? Mẹ Maria là người đem lại hòa bình, Mẹ đến để hướng dẫn chúng ta gặp gỡ Thiên Chúa vì Chúa yêu thương chúng ta, Mẹ hiến dâng con Mẹ cho những người tội lỗi, chứ không phải để trừng phạt thế gian.”
Hai tiêu chí để xác định tính trung thực
Về vấn đề này, cha Cecchin cho biết có những tiêu chí để thiết lập tính trung thực của những lần Đức Mẹ hiện ra và tính xác thực của chúng.
Lời Chúa
“Điều đầu tiên, điều nền tảng, là Lời Chúa. Không sứ điệp nào trong những sự việc được gọi là những cuộc hiện ra riêng tư được trái ngược với sự mặc khải chứa đựng trong Kinh Thánh, trong Sách Thánh. Như chúng ta có thể hiểu, quay trở lại công việc của ‘Đài quan sát’, vai trò của học giả Kinh Thánh là cơ bản.”
Sự khiêm tốn của thị nhân
Một yếu tố khác của việc đánh giá liên quan đến người nhận được các sứ điệp. Cha Cecchin giải thích: “Con người của thị nhân phải là một người vô cùng khiêm tốn. Kinh Magnificat đọc: ‘Chúa đã đoái đến phận nữ tỳ khiêm nhường của Người’. Tôi nhận ra rằng có những thị nhân hiện đại cần luật sư như thế nào. Nếu tôi có đức tin, nếu Mẹ Maria thực sự hiện ra với tôi, thì tôi không cần phải có chính quyền dân sự để bảo vệ tôi.”
Và phải nói rằng trong quá khứ chắc chắn không thiếu sự tương phản về số liệu của các thị nhân. “Nhưng trong lịch sử của những cuộc hiện ra và các hiện tượng thần bí, những người đã nhận được những món quà này chưa bao giờ chống lại Giáo hội. Đức Mẹ không đến để tán gẫu hay nói chống lại Đức Giáo Hoàng và Giám mục nhưng để hướng dẫn tôi đi theo Chúa Giêsu: hãy làm những gì Người nói, như Mẹ yêu cầu tại Tiệc Cưới Cana.”
Chúa Kitô là trung tâm
Nói tóm lại, thật vô nghĩa nếu chỉ chiêm ngắm Đức Mẹ. “Như chúng ta đã nói, Mẹ Maria luôn dẫn chúng ta đến với Chúa Giêsu; nếu tất cả hoàn tất nơi Mẹ, chúng ta đang thờ ngẫu tượng.” “Trong ảnh icona Đức Mẹ Vô nhiễm Nguyên tội của dòng Phanxicô, Mẹ Maria bồng Chúa Hài Nhi trên tay và chân đặt lên con rắn nhưng chính Hài Nhi đã nghiền nát nó bằng ngọn giáo hình chữ thập. Chúa Kitô là trung tâm.”
Các trình bày sứ điệp
Cha Cecchin giải thích thêm: Nếu như trọng tâm của Sứ điệp không thay đổi, thì phong cách mà nó được trình bày sẽ được thích nghi với thời đại. “Trong những lần hiện ra, qua Mẹ Maria, Thiên Chúa nhìn vào nhu cầu của thời đại, não trạng, văn hóa hiện tại. Ví dụ, trong quá khứ, nổi bật là sự sợ hãi Chúa và sự trừng phạt của Người.”
Tuy nhiên, trọng tâm của Tin Mừng không phải là nỗi kinh hoàng của hỏa ngục. “Sứ điệp Tin Mừng trước hết là một lời loan báo niềm vui. Thiên thần nói với Mẹ Maria, ‘hãy vui mừng.’”
Sứ điệp Tin Mừng trước hết là một lời loan báo niềm vui
Vẫn cần phải hiểu tại sao chúng ta cần vui mừng. “Vì Thiên Chúa yêu thương, tha thứ và hiến dâng con mình cho mọi người dù họ là kẻ tội lỗi.” Nói tóm lại, không phải là một hình ảnh sợ hãi. “Vấn đề là ma quỷ muốn chia rẽ Giáo hội. Và để đạt được điều này, nó cũng sử dụng các mặc khải giả tạo.”
Sự hỗ trợ của “Uỷ ban quan sát”
Từ đó, cha Cecchin xác định rằng “Uỷ ban quan sát” được thành lập chính là để nhận ra các cuộc hiện ra thật hay giả. “Chính vì lý do này mà phương pháp tiếp cận này mang tính đa ngành, nó sử dụng các kỹ năng khác nhau và được chấp nhận, và có trình độ với tính khoa học cao.”
“Chúng tôi muốn trở thành một công cụ thông tin và đào tạo, không hề mong muốn thay thế các ủy ban giáo phận, mà ngược lại bằng cách hỗ trợ họ. Lý tưởng là trong mỗi Giáo hội địa phương đều có một nơi, một môi trường mà một nhóm người liên ngành, từ bác sĩ đến bác sĩ tâm thần, luật gia, v.v. có thể là điểm quy chiếu để phân định hồng ân thiêng liêng mà Thiên Chúa ban cho con người. Sau đó, tôi xin nhắc lại, việc thu thập tài liệu về các trường hợp cụ thể sẽ tùy thuộc vào Giám mục và Ủy ban giáo phận cho đến khi công bố tài liệu cuối cùng.”
“Nhiều chuyên ngành cùng nhau ủng hộ một cách tiếp cận hoàn chỉnh và do đó an toàn hơn. ‘Chúng tôi hoạt động để giúp những người đặc biệt mong manh có lương tâm phê bình, biết cách tự bảo vệ mình trước những gian dối, lừa đảo của những kẻ muốn lợi dụng những khó khăn về kinh tế, tinh thần, vật chất để thao túng họ. Đức Thánh Cha Phanxicô muốn một ngôi nhà chung được tạo ra nơi mọi người tự chủ, độc lập, không bị điều kiện hóa.’ Trong việc tìm kiếm sự thật, con đường duy nhất, ngay cả trong lĩnh vực hiện ra, có khả năng giải thoát chúng ta.” (Avvenire 17/06/2023)
Nguồn: vaticannews.va/vi
2023
Các Giám mục trên thế giới chào mừng Tài liệu làm việc của Thượng hội đồng
Các Giám mục trên thế giới chào mừng Tài liệu làm việc của Thượng hội đồng
Ngọc Yến – Vatican News
Các Hội đồng Giám mục trên thế giới, trong đó có các Giám mục Úc, Canada và Hoa Kỳ chào mừng việc công bố Tài liệu làm việc, làm cơ sở hướng dẫn các cuộc thảo luận tại Thượng hội đồng bắt đầu vào tháng 10/2023.
Như Đức Hồng Y Mario Grech, Tổng Thư ký Thượng hội đồng đã lưu ý trong buổi họp báo công bố, Tài liệu làm việc là kết quả của giai đoạn lắng nghe đầu tiên của Thượng hội đồng, bắt đầu vào năm 2021. Đồng thời, Tài liệu đánh dấu “một điểm xuất phát” cho giai đoạn thứ hai, giai đoạn phổ quát của Thượng hội đồng, sẽ tập trung vào Giám mục đoàn.
Ngài nói: “Không cần phải sợ rằng việc lắng nghe Dân Chúa sẽ làm tổn hại đến chức năng mục vụ của các Giám mục. Ngược lại, tiến trình hiệp hành đã khôi phục một thừa tác vụ hiệu quả cho các Giám mục, với cả tư cách là Mục tử của Giáo hội lẫn là thành viên của các đoàn thể, được kêu gọi thực hiện việc phân định một cách cẩn thận những đóng góp của cuộc tham vấn”.
Việc công bố Tài liệu làm việc đã được chào mừng tại Hoa Kỳ bởi Đức cha Daniel Flores của Brownsville, Texas, người đã hướng dẫn tiến trình hiệp hành tại Hoa Kỳ. Ngài nói: “Tài liệu làm việc mang đến cho Dân Chúa một cơ hội đáng chú ý để suy tư về những gì chúng ta đã học được cho đến nay về bản chất của một Giáo hội hiệp hành và cách chúng ta có thể nắm bắt điều đó một cách trọn vẹn hơn”. Ngài khuyến khích mọi người đọc, cầu nguyện và thảo luận về tài liệu quan trọng này, dưới ánh sáng của những hiểu biết nhận được từ các giai đoạn trước trong tiến trình hiệp hành.
Đức Tổng Giám Mục Timothy Costelloe, Chủ tịch Hội đồng Giám mục Úc lưu ý rằng việc công bố này là “một cột mốc cực kỳ quan trọng” trong tiến trình Thượng hội đồng. Ngài nói: “Tài liệu thể hiện một lời mời và một cơ hội để tiếp tục tham gia vào việc cầu nguyện, suy tư và phân định liên tục với tất cả những gì đã xuất hiện cho đến nay trong một cuộc tham vấn chưa từng có trên toàn thế giới”.
Trong một tuyên bố chào mừng việc công bố Tài liệu làm việc, các Giám mục Canada nhận định rằng tài liệu “được trình bày như một công cụ để phân định hơn là như một tuyên bố lập trường hoặc một giải pháp cho các câu hỏi cụ thể”. Các mục tử mời tất cả người Công giáo “cầu nguyện cho sự thành công của Thượng hội đồng, sẽ bắt đầu vào tháng 10 này, để bằng cách lắng nghe tiếng nói của Chúa Thánh Thần, những người theo Chúa Kitô sẽ được hướng dẫn để tôn vinh Cha của tất cả chúng ta”.
Nguồn: vaticannews.va/vi
2023
Đức Hồng y Hollerich: “Học cách nhìn giáo hội hoàn vũ trong các giáo hội địa phương”
Đức Hồng y Hollerich: “Học cách nhìn giáo hội hoàn vũ trong các giáo hội địa phương”
Vatican News
Đức Tổng Giám mục Luxembourg, Jean-Claude Hollerich, Tổng tường trình viên của Hội nghị Thượng hội đồng vào tháng Mười tới, nói về công việc giúp cho việc soạn thảo Tài liệu làm việc, được giới thiệu vào ngày 20/6/2023 tại Vatican. Đối với ngài, “Giáo hội hiệp hành chỉ có ý nghĩa nếu đó là một Giáo hội hiệp hành truyền giáo”.
Tài liệu làm việc (Instrumentum Laboris) của Hội nghị Thượng hội đồng sắp đến vào tháng 10/2023 đã được giới thiệu vào ngày 20/6 tại phòng báo chí của Tòa Thánh. Một tài liệu vững chắc khoảng năm mươi trang, tổng hợp gần hai năm làm việc tại các giáo phận trên khắp thế giới. Cho dù nó liên quan đến chỗ đứng của nữ giới, phụng vụ, sự tham gia của các nhóm thiểu số vào đời sống của Giáo hội hay mối tương quan với quyền bính, thì các chủ đề là rất nhiều, và phản ảnh những vấn đề được các Giáo hội địa phương đặt ra. Tài liệu này ra đời từ một quá trình lắng nghe và nó sẽ là cơ sở cho công việc của các tham dự viên của Hội nghị mùa Thu, như giải thích của Đức Hồng y Hollerich, Tổng Giám mục Luxembourg và là Tổng tường trình viên của Thượng hội đồng:
Thật là một niềm vui khi có thể bước đi cùng nhau trong Giáo hội, và điều đó thật là tuyệt vời. Điều đó được thực hiện trước hết ở cấp địa phương, rồi ở cấp quốc gia và cấp lục địa. Bây giờ, giai đoạn hai sắp bắt đầu, giai đoạn cử hành trong Thượng hội đồng Giám mục.
Chúng ta đã thấy các chủ đề giống nhau với các sắc thái khác nhau nơi các lục địa khác nhau. Chúng ta đã thấy sự phong phú của Giáo hội Công giáo và điều khiến tôi ngạc nhiên, đó là thấy làm thế nào trong các nền văn hóa khác nhau, cho dù đó là Giáo hội Công giáo ở Á Châu, ở Phi Châu, ở Châu Mỹ Latinh, chúng ta đều nhận thấy niềm khao khát về một hình thái lớn hơn để bước đi cùng nhau với tư cách là những người được rửa tội.
Olivier Bonnel: Đó có phải là một tiến trình đã làm cho Giáo hội hiểu rõ hơn về chính mình?
Đức Hồng y (ĐHY) Hollerich: Vâng, gần như thế. Chúng ta cần điều đó vì Giáo hội đang gặp khủng hoảng sâu xa với tất cả các vụ lạm dụng tính dục. Mỗi ngày, ngay cả ở Âu Châu, chúng ta nhận được từ nước này hay nước kia những tin xấu. Cần phải luôn khiêm tốn. Điều đó không được ngăn cản chúng ta chấp nhận cách vui tươi sứ mạng mà Chúa Kitô trao cho Giáo hội của Người và cùng nhau tiến bước cách khiêm tốn.
Olivier Bonnel: Tài liệu làm việc này không phải là một bản thảo của văn kiện chung kết của Thượng hội đồng vào tháng Mười, nhưng đúng hơn là một sự hiểu biết đầu tiên về chiều kích hiệp hành của Giáo hội. Làm thế nào tóm tắt chiều kích này?
ĐHY Hollerich: Nếu tôi dùng tài liệu bằng tiếng Anh, thì có 24 trang sau phần giới thiệu về chủ đề của sứ mạng vốn hiện diện khắp tài liệu cùng với sự hiệp thông và tham gia. Tiếp đến, chúng ta có năm hồ sơ làm việc cho mỗi trong ba chủ đề này. Những hồ sơ làm việc này đặt ra các câu hỏi và bao gồm các yếu tố để cầu nguyện cá nhân và cộng đồng. Hơn nữa, chúng tôi nêu rõ và chúng ta đã thấy trong suốt tiến trình này tầm quan trọng của cuộc đối thoại trong Chúa Thánh Thần. Đó là một cách cùng nhau nói với tư cách Kitô hữu để tránh rơi vào chính trị, đối đầu. Thượng hội đồng cũng sẽ phải làm việc hay chúng ta sẽ tiếp tục có phương pháp này về việc đối thoại trong Chúa Thánh Thần.
Chúng tôi đặt ra những câu hỏi, chúng tôi không yêu cầu các câu trả lời. Vả lại, tôi không biết liệu tất cả các câu hỏi sẽ có các câu trả lời. Đó là bởi vì chúng tôi đã ý thức về một bước đi mà chúng ta đang thực thi cùng nhau, dần dần, vì Giáo hội sẽ thành công trong việc tìm ra các câu trả lời. Nếu chúng ta bước đi, điều đó sẽ dấn đến Chúa Thánh Thần.
Olivier Bonnel: Con trở lại với “cuộc đối thoại trong Chúa Thánh Thần” này, một chiều kích rất quan trọng của tài liệu làm việc này. Cuộc đối thoại này chính xác hệ tại điều gì?
ĐHY Hollerich: Trước hết, đó là lắng nghe, đó là lắng nghe một người chị em, một người anh em, với ý muốn hiểu tại sao người chị em này, tại sao người anh em này lại nói như vậy, điều gì đã là lý do của các ý kiến này….
Và rồi tôi phải cầu nguyện cho điều đó, tôi phải thực sự đón nhận điều đó trong Chúa Thánh Thần, trong sự lắng nghe khiêm tốn và đầy cảm thông. Tiếp đến, có một cuộc đối thoại bắt đầu và kết quả của cuộc đối thoại này: chẳng hạn, chúng tôi đã thấy khi chúng tôi ở Á Châu, ở Bangkok, người ta đã yêu cầu rằng tất cả các bàn tròn đều bỏ phiếu, từng bàn một, do đó không phải là việc bỏ phiếu cá nhân. Chúng ta có thể nói rằng điều đó mạo hiểm, nhưng nó tiến triển. Các bàn tròn đã đi đến những kết luận vốn không phải là một sự đồng nhất, nhưng cho thấy Chúa Thánh Thần đang thúc đẩy theo hướng này hay hướng kia như thế nào. Và tôi hy vọng rằng chúng ta sẽ có thể làm điều tương tự tại Thượng hội đồng. Hơn nữa, theo nghĩa này, thật tốt khi thấy rằng chúng ta sẽ bắt đầu với cuộc tĩnh tâm ba ngày sau khi cùng nhau cầu nguyện với thánh Phêrô vào buổi sáng. Thượng hội đồng không phải là một nghị viện. Đó không phải là đưa ra những lập trường chính trị ủng hộ điều này, chống điều này. Đó không phải là Giáo hội.
Olivier Bonnel: Đôi khi có những cám dỗ chính trị hóa, phân cực hóa. Chúng ta biết được điều đó rằng ở cấp độ của một số Giáo hội địa phương, như ở Đức, nhưng không chỉ ở Đức, có thể đã có những lúc “dao động đôi chút”. Làm thế nào trong công việc chuẩn bị của Đức Hồng y, Đức Hồng y đã cố gắng tập trung lại công việc một chút?
ĐHY Hollerich: Có những mưu toan của cánh tả và cánh hữu, nhưng đó là điều bình thường vì nếu Giáo hội cùng nhau tiến bước với Chúa Giêsu, thì nhất thiết có những người đi bên phải và những người đi bên trái của Chúa Giêsu, có những người đi nhanh hơn một chút, có những người tụt lại phía sau một chút. Nhưng nếu tất cả mọi người đều tập trung nhìn vào Chúa Giêsu, thì chúng ta không bao giờ thấy Chúa Giêsu một mình, chúng ta thấy Người với những người đang bước đi phía bên kia.
Và tôi nghĩ, thật rất lành mạnh khi biết rằng tất cả chúng ta đều là Giáo hội. Chúng ta phải tìm được sự đồng thuận. Về điều đó, cần phải có suy tư và cầu nguyện. Giáo hội hiệp hành chỉ có ý nghĩa nếu đó là một Giáo hội hiệp hành truyền giáo.
Olivier Bonnel: Giai đoạn suy tư để soạn thảo tài liệu làm việc này đã đặt các Giáo hội địa phương ở trung tâm trong tất cả sự đa dạng của họ. Những Giáo hội này có gì để dạy cho Giáo hội hoàn vũ?
ĐHY Hollerich: Tôi nghĩ rằng tôi đã học cách nhìn Giáo hội hoàn vũ trong các Giáo hội địa phương, nghĩa là Giáo hội hoàn vũ không tồn tại mà không có các Giáo hội địa phương. Thật đẹp khi được nghe, được nhìn những thứ giống nhau với những sắc thái, màu sắc khác nhau, với những mùi hương khác nhau.
Olivier Bonnel: Việc nhấn mạnh cũng nhắm đến việc việc đào tạo dân Thiên Chúa, đến nỗ lực đổi mới ngôn ngữ dùng trong Phụng vụ, trong việc rao giảng, trong việc dạy giáo lý. Thượng hội đồng này có phải là một cách soạn thảo một ngôn ngữ mới của Giáo hội cho thế giới ngày nay không?
ĐHY Hollerich: Vâng, Giáo hội luôn cần một ngôn ngữ thần học, nhưng ngôn ngữ thần học đang thay đổi. Tôi không nói rằng yếu tính của đức tin thay đổi, nhưng những soạn thảo thần học này đang thay đổi. Ngày nay, tôi không thể nói cách chính xác cũng một điều như thánh Tôma Aquinô, cho dù tôi có thể được truyền cảm hứng bởi thánh Tôma Aquinô. Tôi nghĩ rằng chúng tôi, các Giám mục và các thần học gia, chúng tôi hơi có khuynh hướng sử dụng ngôn ngữ đào tạo thần học của mình, và rất thường, ngôn ngữ đó không thuyết phục được các tín hữu đang sống trong một thế giới rất khác biệt, đang trải qua những thách thức để rao giảng, để làm chứng cho đức tin, và theo nghĩa này, chính từ chúng mà một ngôn ngữ đối thoại với thế giới xuất hiện.
Olivier Bonnel: Đức Hồng y đã đi đây đó rất nhiều trong hai năm qua. Đức Hồng y đã nghe được gì về sự mong đợi của các Giáo hội này đối với đại hội nghị sắp khai mạc vào tháng Mười?
ĐHY Hollerich: Có những mong đợi khác nhau, nhưng cũng có những nét chung, tôi hình dung, trong niềm hy vọng này của Giáo hội đang tiếp tục hành trình lắng nghe này. Có một niềm vui trong việc tiến bước cùng nhau. Chẳng hạn, khi chúng tôi chuẩn bị cuộc họp của Âu Châu ở Praha, chúng tôi có hai Âu Châu hoàn toàn khác nhau, Tây Âu và Trung Âu hay Đông Âu, và người ta hẳn có thể trông chờ những cuộc đối đầu khủng khiếp. Nhưng không, chúng tôi đã nói những điều từ cả hai phía, nhưng chúng tôi đã cảm thấy rằng Chúa Thánh Thần đang làm việc, rằng chúng tôi muốn cùng nhau tiến bước. Tôi đã tìm thấy cùng một ý chí trong tất cả các hội nghị lục địa.
Trong quá trình chuẩn bị, chúng tôi cũng nhận thấy rất nhiều điều. Chẳng hạn ở Frascati, khi chúng tôi thực hiện tài liệu cho giai đoạn lục địa Âu Châu, chúng tôi đã chọn hình ảnh của chiếc lều phải được mở rộng. Khi tôi ở Phi Châu, tôi thấy rằng một hình ảnh mà thôi thì không đủ, rằng một hình ảnh luôn có tính văn hóa và hình ảnh cái lều gợi lên sự tạm bợ, sự nghèo khổ, tỵ nạn. Ở Phi Châu, người ta thích nói về gia đình hơn, về “Giáo hội-gia đình”, và chắc chắn Giáo hội ở Âu Châu phải học hỏi từ hình ảnh này. Sự phong phú của Giáo hội được cảm nhận nếu chúng ta cố gắng lắng nghe nhau với sự khiêm tốn và tình huynh đệ nhiều hơn.
Tý Linh
2023
Tính lai ghép – Một cách nhận thức và mô tả hội họa Việt Nam
Tính lai ghép – Một cách nhận thức và mô tả hội họa Việt Nam
TÍNH LAI GHÉP –
MỘT CÁCH NHẬN THỨC VÀ MÔ TẢ HỘI HỌA VIỆT NAM
Lm. Phạm Trung, S.J (Seattle University)
– Linh mục Phạm Hoàng Trung là một tu sĩ Dòng Tên (tỉnh dòng Miền Tây, California và Oregon, Hoa Kỳ), đồng thời là họa sĩ, thạc sĩ mỹ thuật (MFA) – giảng viên Khoa nghệ thuật Trường Đại học Seattle University, Tiểu bang Washington, Hoa Kỳ.
Bài viết “tính lai ghép – một cách nhận thức và mô tả hội họa Việt Nam” được linh mục Phạm Hoàng Trung soạn bằng tiếng Anh, nhân chuyến về thăm, triển lãm một số tranh- tượng, và gặp gỡ giới họa sĩ Công giáo Việt Nam tại hai cuộc triển lãm diễn ra trên địa bàn TGP. Tp.HCM: Triển lãm tranh “Loan báo Tin mừng yêu thương” tại Tu viện Đa Minh Mai Khôi (5-12.8.2014) và triển lãm chum chóe cổ & triển lãm mỹ thuật “lời ru” tại Nhà truyền thống TGP. Tp.HCM (từ ngày 16/8 đến 15.10.2014).
Bản tiếng Việt dưới đây do Thành Thi chuyển ngữ. (Ban biên tập Hiệp Thông)
| DẪN NHẬP
1. NGHỆ THUẬT HỘI HỌA VIỆT NAM 3. KHÁI NIỆM TÍNH LAI GHÉP, MỘT CÁCH NHẬN THỨC VÀ MÔ TẢ HỘI HỌA VIỆT NAM |
DẪN NHẬP
Mục đích của bài nghiên cứu này là giới thiệu mảng sáng tác về đề tài tôn giáo của các nghệ sĩ Việt Nam trong thế kỷ XX và từ những tác phẩm hội họa này, lý giải cách thức Kitô giáo đưa giáo huấn thần học đi vào và hội nhập văn hóa Việt Nam.
Bài viết này gồm ba phần, trình bày sự phong phú và những ý nghĩa thần học của nghệ thuật Việt Nam về đề tài Đức Mẹ. Phần thứ nhất, điểm qua một cách ngắn gọn tình hình lịch sử nghệ thuật Việt Nam đã được Nora Taylor mô tả về phương diện dân tộc học. Nỗ lực này nhằm khơi lên ý thức về nghệ thuật Việt Nam và đặt nó vào bản đồ mỹ học Đông Nam Á. Phần thứ hai cố gắng đưa ra câu trả lời vì sao phần lớn các tranh trong bộ sưu tập đều vẽ Đức Mẹ và Chúa Hài Nhi. Sự phát hiện này đặt người nghiên cứu phải tiếp cận tìm hiểu về đạo Mẫu trong tín ngưỡng dân gian. Phần thứ ba, từ bối cảnh đa dạng và phức tạp của văn hóa Việt Nam, thử đưa ra khái niệm lai ghép (hybridity) như một cách nhận thức và mô tả đối với hội họa Việt Nam.
1. NGHỆ THUẬT HỘI HỌA VIỆT NAM
Sự quan tâm đến hội họa Việt Nam trên thị trường tranh tại châu Á bắt đầu từ năm 1990 và hiện vẫn đang tăng lên. Sự bùng nổ này là kết quả của cuộc cải cách kinh tế vào năm 1986, được gọi là cuộc “đổi mới”, được dịch sang tiếng Anh là “new change”. Đảng Cộng sản, sau 15 năm nắm quyền lãnh đạo trên toàn lãnh thổ Việt Nam, đã chấp nhận nền kinh tế thị trường mở cửa, chào đón sự đầu tư của nước ngoài và thành lập các doanh nghiệp tư nhân, trái với tập thể hóa và sở hữu nhà nước trong các ngành công nghiệp và sản xuất hàng hóa[1]. Cuộc cải cách kinh tế đã thu hút ngành du lịch và đầu tư nước ngoài, nhờ đó, đã thúc đẩy tăng trưởng thị trường tranh Việt Nam. Quốc tế đã đầu tư ồ ạt vào nền nghệ thuật hội họa Việt Nam.
Sự bùng nổ của thị trường tranh Việt Nam cũng đã lôi cuốn giới học giả viết về mỹ thuật Việt Nam. Nora Taylor là người đi đầu trong công việc này, tuy nhiên, việc nghiên cứu cũng đã diễn ra hết sức khó khăn vì thiếu tài liệu, không nhận được sự quan tâm từ cộng đồng các nghệ sĩ Việt Nam cũng như giới học giả nước ngoài và không có ngân sách hỗ trợ. Với nỗ lực đưa nền nghệ thuật Việt Nam vượt khỏi phạm vi quốc gia, được biết đến và lưu tâm về phương diện học thuật, Taylor sử dụng cách tiếp cận theo phương pháp mô tả dân tộc học để theo đuổi việc nghiên cứu của mình, bằng cách trao đổi với các họa sĩ, xem tranh và chụp hình các họa phẩm tại xưởng vẽ của các họa sĩ, tại các viện bảo tàng và tại tư gia của các nhà sưu tập tranh. Nỗ lực của bà nhằm hai điều: đặt hội họa Việt Nam vào bản đồ Đông Nam Á, nhằm xóa bỏ tình trạng Việt Nam bị gạt ra ngoài lề lịch sử nghệ thuật châu Á; thứ hai, khắc phục tình trạng khái quát hóa chung chung về khung cảnh nghệ thuật, coi đây là vấn đề “toàn cầu hóa” hoặc “hậu dân tộc chủ nghĩa” và khuyến khích loại nghệ thuật hậu thuộc địa vốn xu thế chung không còn ủng hộ.
Nhằm mang lại sự chú ý đối với nghệ thuật tôn giáo Việt Nam trong bối cảnh hình thành nền nghệ thuật đương đại Việt Nam, tôi muốn tập trung vào mảng sáng tác chưa được phương Tây lưu tâm và đề cập. Việc sưu tập tranh này là một cố gắng của cha Trần Thái Hiệp, người đã có dự định sưu tập tranh tôn giáo cho Giáo Hội. Những tác phẩm hội họa này được sáng tác trong giai đoạn 1970-1990. Chúng gồm nhiều khổ khác nhau và được vẽ bằng màu nước thực hiện trên lụa, sơn mài, do các họa sĩ nổi tiếng, trong số đó có các họa sĩ bậc thầy như Nguyễn Gia Trí, Lê Văn Đệ… Hiện những họa phẩm này được lưu giữ tại Nhà Truyền thống TGP. TPHCM.
Điều đáng nói là những bức tranh này chủ yếu thể hiện đề tài về Mẹ và Con. Đồng thời phần nhiều gần như được bố cục để diễn tả mối tương tác giữa Mẹ và Con. Đặc điểm hội họa trong nghệ thuật thánh của Việt Nam là chọn Đức Mẹ Việt Nam làm chủ đề chính và ít vẽ về Chúa đã phản ánh sâu sắc một đặc điểm văn hóa tinh thần của người Việt Nam. Để hiểu đặc điểm này, cần phải tiếp cận nền tảng văn hóa, tôn giáo của người Việt Nam.
2. TÔN GIÁO TẠI VIỆT NAM
Tục thờ thần Nữ
Văn hóa Việt Nam là văn hóa đa tôn giáo. Ba tôn giáo chính là Phật, Nho, Lão, gọi là Tam Giáo. Phật giáo là tôn giáo chính thời Lý-Trần, nhưng chỉ kéo dài trong bốn trăm năm[2]. Dưới thời Lê, Nho giáo là quốc giáo. Thiên Chúa giáo cũng đã là một hiện tượng vào thế kỷ XVI với việc sáng tạo chữ quốc ngữ. Tóm lại, tại Việt Nam, tôn giáo có nhiều ảnh hưởng và các tôn giáo đều được du nhập từ nước ngoài như Trung Hoa, Ấn Độ và châu Âu. Vậy trong văn hóa Việt Nam, tôn giáo nào là tôn giáo bản địa?
Người Việt có truyền thống thờ thần Nữ. Sự thực hành tôn giáo này là kết quả của lối sống nông nghiệp, động cơ chính của các hoạt động kinh tế. Việc thờ 75 nữ thần cùng các tín ngưỡng dân gian và truyền thuyết về nguồn gốc dân tộc Việt Nam đã tạo ra một hệ thống tôn giáo được gọi là tục thờ thần Mẫu tại Việt Nam[3]. Tục thờ này bắt nguồn từ tín ngưỡng cổ xưa đặt niềm tin vào các thần linh[4]. Tín ngưỡng đa thần duy linh này thờ các thần như mặt trời, mặt trăng, các hiện tượng thiên nhiên và nhiều thần khác được tôn thờ vì được coi là nguồn sống của trái đất. Các nữ thần này lấy sức nóng của mình sưởi ấm mặt đất ẩm ướt, chiếu sáng và mang lại sự sống cho Trái Đất. Hoạt động sản xuất nông nghiệp khiến người Việt đến với tục thờ cúng đất, nước, núi non, lúa gạo vốn mang tính nữ. Người mẹ vốn có thuộc tính che chở, sinh sôi, sáng tạo[5].
Các nữ thần này có đền thờ ở nhiều nơi và được vua ban sắc phong làm thần hoàng của nhiều làng; ví dụ bà liễu Hạnh là thành hoàng làng Phố Cát, Thanh Hóa, Hai Bà Trưng ở Mê Linh, Bà Đanh ở Nghệ An, Bà Đá ở Hải Hưng, Linh Sơn Mị Nương ở Bắc Ninh…[6]. Các nữ thần cũng là những vị tổ của các hoạt động thuộc nghề nông cổ truyền như gieo hạt, trồng tỉa, làm bánh.
Một trong những gương mặt quan trọng nhất là Mẹ Âu Cơ. Theo truyền thuyết, Âu Cơ sinh ra dân tộc Việt Nam. Người Việt hãnh diện nhận mình là con Rồng cháu Tiên – hậu duệ của rồng và nữ thần/bà chúa. Họ tin mình được sinh ra từ bào thai trong lòng Âu Cơ. Dù chỉ là một truyền thuyết, nhưng Âu Cơ là trở thành biểu tượng vị Thần Mẫu linh thiêng trong tâm khảm người Việt. Trong truyền thuyết này, bà là một người mẹ tuyệt vời không chỉ thể hiện một tình yêu vô bờ đối với con cái, mà còn dạy họ biết khai phá đất đai, phát triển các nghề, may quần áo che thân[7]. Người Việt đã nói lên niềm tin của mình qua việc dựng ngôi đền đầu tiên thở Mẹ Âu Cơ gần Sông Thao, một thành phố nhỏ ở miền Bắc Việt Nam[8].
Kitô giáo
Kitô giáo đến Việt Nam vào đầu thế kỷ XVI. Việc du nhập muộn này đã gặp mảnh đất tâm linh đã thấm sâu triết lý của các tôn giáo truyền thống bao gồm Phật, Lão Khổng đã có hằng ngàn năm. Việt thiết lập Kitô giáo tại Việt Nam đồng nghĩa với Giáo Hội cần đưa giáo thuyết và tư tưởng thích nghi với những tập quán bản địa. Tiến trình dưa sứ điệp Kitô giáo vào văn hóa Việt Nam phải đối mặt với nhiều cuộc xung đột về tư tưởng với ba tôn giáo lớn cũng như tập quán văn hóa của việc thờ cúng tổ tiên. Thách đố chủ yếu là sự khác biệt trong việc nhận biết Thiên Chúa. Đối với người Việt Nam, quan niệm về Thiên Chúa (Ông Trời) khá mơ hồ, khó xác định[9]. Thiên Chúa Ba Ngôi của Kitô giáo thì cụ thể và rõ ràng. Thiên Chúa của Kitô giáo là Đấng toàn năng, toàn trí, toàn ái và toàn mỹ, còn Đức Kitô là bằng chứng cho một Thiên Chúa đầy lòng từ bi nhân hậu. Trái lại, Thiên Chúa (Ông Trời) trong tín ngưỡng truyền thống Việt Nam thì thánh thiêng và quyền năng nhưng lại không bao giờ xác định được. Thần thánh hiện diện trong cõi linh thiêng, vô hình. Ngoài ra, tập quán văn hóa thờ cúng tổ tiên có lẽ đã khiến người Việt Nam ngoảnh quay đi trước điều răn trong Giáo Hội là chỉ tôn thờ một Thiên Chúa duy nhất. Các vị thừa sai phải tìm cách giữ đúng giáo thuyết của Hội Thánh vốn chưa uyển chuyển với thực tế văn hóa. Giải quyết thách đố này, các vị thừa sai chọn phương pháp bán linh hoạt. Một ví dụ cụ thể là Cha Đắc Lộ, một tu sĩ Dòng Tên người Pháp, người đã được ghi nhận là người đầu tiên soạn ra chữ quốc ngữ. Đôi khi cha cũng đã thích nghi giáo thuyết Kitô giáo với tập quán văn hóa nhưng cũng đã từng từ chối những phong tục tùy theo những thực hành thuận hay nghịch lại giáo huấn của Giáo Hội. Mục đích của cha là nhằm giải thích rõ Kitô giáo, tôn giáo mới, trong bối cảnh có những tôn giáo khác. Cha không muốn pha trộn đức Tin Kitô giáo với niềm tin trong các tôn giáo khác.
Đến nay việc bàn thảo vẫn chỉ tập trung vào vấn đề đưa sứ điệp Kitô giáo đi vào văn hóa Việt Nam, trong khi đó, tiến trình Phúc âm hóa đòi hỏi hai khía cạnh: thích nghi và tiếp nhận. Người Công giáo Việt Nam lãnh nhận sứ điệp Kitô giáo với sự tự do như thế nào? Họ đã đáp lại như thế nào khi đã lãnh nhận đức Tin Kitô giáo? Trả lời những câu hỏi này sẽ góp phần làm rõ vì sao đa số họa phẩm được lưu trữ tại Nhà Truyền thống TGP.TPHCM lại vẽ về Đức Maria.
Đức Mẹ Việt Nam
Một trong những lý do có thể nêu lên liên quan đến nhãn quan triết lý văn hóa Việt Nam. Người Việt Nam thường tư duy theo lối nhị nguyên, đối lập giữa thiêng và phàm. Cái bên ngoài hoặc ở ngoài là cái thánh thiêng, còn cái bên trong hoặc bản địa thì phàm tục. Thanh khiết là sự đòi hỏi cần phải có đối với thánh thiêng. Thánh thiêng nghĩa là thanh khiết. Thiên Chúa vượt trên hết thảy. Để có một Thiên Chúa siêu việt, thánh thiện và toàn năng, thì Ngài cần phải ở ngoài bước vào, là người từ ngoài mà đến. Đối với người Việt Nam, những đường nét nơi khuôn mặt Thiên Chúa phải có dáng dấp nước ngoài, bởi đường nét Việt Nam sẽ làm giảm đi tính chất thánh thiêng[10]. Hơn nữa, về mặt lịch sử, Chúa Giêsu không phải là người Việt Nam. Mô tả một Thiên Chúa không có dáng dấp người bản địa là một cách giữ sự trung thành với truyền thống lịch sử vốn là một nét tính cách chủ yếu của người Công giáo Việt Nam.
Còn với Đức Mẹ lại là một chuyện khác. Mẹ là người có phúc vì được chọn để cưu mang Con Thiên Chúa. Việc Đức Maria được nâng lên làm Mẹ của Con Thiên Chúa cho thấy đó là ân phúc từ trời cao. Miêu tả Đức Mẹ mang tính cách Việt Nam sẽ không làm giảm quyền thế của Mẹ nhưng thêm sức cho con người vươn đến sự linh thánh. Khắc họa hình ảnh Đức Mẹ mang tính cách Việt Nam sẽ đưa hình ảnh của Người đến gần với dân chúng và khơi niềm ước ao nên thánh. Ánh mắt mang sắc thái dân tộc Việt Nam của Mẹ giúp con người thấy con đường nên thánh gần gũi dễ dàng hơn vì nhận ra Mẹ cũng mang bản tính nhân loại. Hơn nữa, cảm nhận Mẹ là Đấng thánh thiện cũng nằm trong mạch truyền thống thờ nữ thần của người Việt Nam. Tục thờ thần nữ dễ dàng tiếp nhận việc tôn sùng Đức Mẹ. Sở dĩ có hiện tượng sùng mộ Đức Mẹ La Vang, theo linh mục Phan Đình Cho, vì Mẹ là biểu tượng của lòng từ bi[11]. Thể hiện Đức Mẹ với những đường nét Việt Nam không những không gặp phải sự chống đối mà còn nhận được sự ủng hộ, tôn kính, tôn sùng.
Ngoài những ý nghĩa về phương diện tâm linh, có thể nghiên cứu đề tài Mẹ và Con nơi những bức tranh trong bộ sưu tập này dưới lăng kính xã hội và tâm lý học.
Trong bối cảnh một đất nước chịu đau khổ vì chiến tranh và ách thống trị của ngoại bang, vai trò của người mẹ quan trọng hơn bao giờ hết. Các bà mẹ ở lại nhà và nuôi dạy con cái. Họ là chỗ dựa cho gia đình và thông truyền các giá trị văn hóa và lẽ khôn ngoan cho thế hệ sau khi đàn ông ra trận chiến đấu bảo vệ đất nước.
Bối cảnh xã hội và tôn giáo giải thích được vì sao Đức Mẹ Việt Nam đã trở thành đề tài được giới sáng tác nghệ thuật tôn giáo tại Việt Nam ưa thích. Nền hội họa này khác biệt ra sao về phương diện nghệ thuật với những nền hội họa khác ở phương Đông cũng như phương Tây?
3. KHÁI NIỆM TÍNH LAI GHÉP, MỘT CÁCH NHẬN THỨC VÀ MÔ TẢ HỘI HỌA VIỆT NAM
Người Việt Nam vốn luôn làm nghệ thuật nhưng nghệ thuật của họ đã từng bị coi chỉ là thứ nghề thủ công của người bản xứ. Nhờ nỗ lực của họa sĩ người Pháp Victor Tardieu, trường Mỹ thuật đầu tiên được thành lập tại Hà Nội vào năm 1925, dưới thời Pháp thuộc. Nhiệm vụ của trường Mỹ nghệ Đông Dương là “biến những người thợ thủ công bản xứ thành các nghệ sĩ chuyên nghiệp”[12]. Các nghệ sĩ Việt Nam bắt đầu được học và tin rằng nền hội họa Pháp cao cấp hơn hội họa Đông Dương. Học và làm chủ kỹ thuật hội họa phương Tây, trước hết là tranh sơn dầu, giúp họ đạt được trình độ học vấn cao và thấy mình bớt tự ti hơn. Việc thành lập trường đánh dấu một bước quan trọng đối với người họa sĩ trong việc phát triển phong cách sáng tác của mình. Thậm chí sự phát triển còn trở nên rõ rệt hơn khi chế độ thực dân Pháp kết thúc vào năm 1945. Ở miền Bắc, trường Mỹ nghệ Đông Dương trở thành trường Cao đẳng Mỹ thuật Việt Nam, và hiện nay là trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam. Ở miền Nam, trường Mỹ thuật Gia Định được thành lập. Trường phối hợp hội họa tranh lụa Trung Hoa và kỹ thuật vẽ chân dung và khái niệm về bố cục của phương Tây. Kết quả là tạo ra được vẻ mềm mại và trong trẻo của mực nước vẽ trên lụa. Sự độc đáo là đã kết hợp được hai phương pháp hội họa. Đó là sự độc đáo của pha trộn. Sự độc đáo của việc không cần viền mép và phát sinh một đường hướng và thể loại mới.
Bây giờ xin nói về sự cách tân và ý nghĩa đích thực của tính lai ghép. Tính lai ghép hay không gian thứ ba là sự hợp nhất giữa các yếu tố khác biệt và đối chọi nhau. Như vậy, không gian thứ ba khu trú ở một vị trí không dành cho những đối chọi mang tính cực đoan, không mưu tìm bất kỳ sự chắc chắn hoặc ổn định nào. Mô hình này khước từ việc trở thành môn đệ của yếu tính luận (essentialist) và chấp nhận sự tồn tại giữa các đối cực. Do đó cần phải có ngay một không gian mới, đó là một không gian “khác biệt trong tương đồng” (sự dị biệt của cái tương đồng)[13]. Người nào nhìn nhận tính mơ hồ của thực trạng, người ấy không tìm cách phủ định mà chọn sự thương thảo. Nhà thờ chính tòa Phát Diệm tiêu biểu cho một dự phóng về văn hóa. Nhà thờ chính tòa Phát Diệm là một không gian khác biệt trong tương đồng.
Sự tồn tại đồng thời của cả hai mặt đối lập trong Không gian thứ ba, giữa cái tương đồng và cái khác biệt, hoặc cái mới, cái không chịu đóng khung cách này cách khác, đang vận hành như một hành động đối lập với chính mình. Tiến trình thương thảo và sản phẩm của sự lai ghép (hybridity) đặt ra thách thức đối với những cố gắng mang tính thực dân nhằm chia cắt giữa “trung tâm” và “ngoại vi”, hoặc nỗ lực của chủ nghĩa bản địa nhằm xây dựng một quá khứ thuần túy bản địa. Sự pha trộn trong Không gian thứ ba gây thất vọng cho mọi thẩm quyền, cho kẻ bảo vệ tính chính thống và những người nồng nhiệt chạy theo chủ nghĩa bản địa. Không gian thứ ba phá vỡ kiểu thống trị tuyến tính thuần túy và kiểu dùng thủ đoạn, vì nó bẻ cho gãy loại chính trị đơn cực giả tạo mà nhà cầm quyền thực dân và nhà cầm quyền bản địa chủ nghĩa cố gắng duy trì[14]. Nói cách khác, sự thương thảo và sự pha trộn chính là những hạt mầm gieo sự hủy diệt đối với những diễn ngôn độc quyền của thực dân, bởi sản phẩm của sự pha trộn không phải là một bắt chước hoặc một bản sao mờ nhạt do “trung tâm” kiểm soát, mà sự bắt chước này “chẳng hề xa sự nhạo báng bao giờ”[15].
Hội họa Việt Nam, đặc biệt nghệ thuật tranh lụa và sơn mài, chưa bao giờ mang nhãn hiệu là nghệ thuật khởi thủy, nhưng đã được nhìn nhận là nguyên tuyền, thuần khiết, không bị hư hoại[16]. Hội họa Việt Nam là một nền nghệ thuật “chính danh”, không lai căng, tái chế, không phải là bản sao mệt mỏi của hội họa châu Âu và Mỹ[17]. Tính chính danh của nền hội họa mang lại cho các họa sĩ một chỗ đứng vinh dự để đổi mới phương pháp sáng tạo nghệ thuật. Sự phối hợp hai luồng ảnh hưởng sẽ tạo ra một vị thế mới và xóa đi cái gọi là trên và dưới, trong và ngoài, ngoại vi và trung tâm. Quả thật đó là một vị thế dám đưa ra thách thức.
KẾT LUẬN
Bài viết này giới thiệu mảng tranh được sưu tập và lưu trữ tại Nhà truyền thống TGP. TP.HCM vốn chưa được các nhà nghiên cứu đề cập và thảo luận. Bài viết cũng đã tìm hiểu căn nguyên và cảm hứng của những hình ảnh sáng tạo này cũng như khám phá cách giải thích mới về phong cách của những họa phẩm này. Đặt trong bối cảnh xã hội hậu thực dân, những họa phẩm này cho thấy một cái nhìn tươi mới về cách làm thế nào đánh giá và điều chỉnh câu chuyện về lịch sử hội họa, ít nhất tại vùng Đông Nam Á. Nghệ thuật là đời sống. Khám phá nghệ thuật sẽ luôn gợi ra con đường “hội nhập”.
Thành Thi chuyển ngữ
Trích Bản tin Hiệp Thông / HĐGMVN, Số 84 (Tháng 9 & 10 năm 2014)
[1] Nora A. Taylor, Painters in Hanoi : an ethnography of Vietnamese art, Honolulu: University of Hawaii Press, 2004, 109.
[2] Đặng Việt Bích, Tìm hiểu Văn hóa Dân tộc, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội 2006, 265.
[3] Đỗ Thị Hảo-Mai Thị Ngọc Chúc, Các nữ thần Việt Nam, Nxb Phụ nữ (Hà Nội, 1984).
[4] Nguyễn Minh San, Những thần nữ danh tiếng trong văn hóa tín ngưỡng Việt Nam, Nxb Phụ nữ, Hà Nội, 1996, 18.
[5] Đinh Gia Khánh, Tục thờ Mẫu và những truyền thống văn hóa dân gian ở Việt Nam, Tạp chí Văn học, số 5-1992.
[6] Ngô Đức Thịnh, Đạo Mẫu ở Việt Nam, Nxb Thông tin, Hà Nội 1996, 10.
[7] Nguyễn Minh San, Những thần nữ danh tiếng trong văn hóa tín ngưỡng Việt Nam, Nxb Phụ nữ, Hà Nội, 1996, 18.
[8] Nguyễn Minh San, Tiếp cận tín ngưỡng dân gian Việt Nam, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội 1994, 103.
[9] Đặng Việt Bích, Tìm hiểu Văn hóa Dân tộc, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội 2006, 284.
[10] Vấn đề này cần được nghiên cứu thêm dưới khía cạnh tâm lý học.
[11] Peter C. Phan, Vietnamese-American Catholics, New York: Paulist Press, 2005, 113.
[12] Nora A. Taylor, Painters in Hanoi : an ethnography of Vietnamese art, Honolulu: University of Hawaii Press, 2004, 13.
[13] Homi K. Bhabha, The Location of Culture, New York: Routledge, 1994, 32.
[14] Homi K. Bhabha, The Location of Culture, New York: Routledge, 1994, 56.
[15] Bill Ashcroft, Grareth Griffiths and Helen Tiffin, Post-Colonial Studies: The Key Concepts, New York: Routledge, 2004, 139-142.
[16] Nora A. Taylor, Painters in Hanoi : an ethnography of Vietnamese art, Honolulu: University of Hawaii Press, 2004, 7.
[17] Nora A. Taylor, Painters in Hanoi : an ethnography of Vietnamese art, Honolulu: University of Hawaii Press, 2004, 7.
