2023
Thứ ba tuần XII thường niên
Thứ ba tuần XII thường niên
Ca nhập lễ
Chúa là mãnh lực của dân Người, là chiến luỹ bảo vệ mạng sống người Chúa đã xức dầu. Lạy Chúa là phần rỗi tôi, xin cứu sống dân Chúa, và chúc phúc cho phần gia nghiệp Chúa, xin hãy chăn dắt họ đến muôn đời.
Lời nguyện nhập lễ
Lạy Chúa, xin cho chúng con hằng trọn niềm tôn kính và ái mộ Thánh Danh, vì những ai được Chúa cho khăng khít với Chúa, Chúa sẽ chẳng bỏ rơi bao giờ. Chúng con cầu xin…
Bài Ðọc : St 13, 2. 5-18
“Bác không muốn có sự bất bình giữa bác và cháu: vì chúng ta là anh em với nhau”.
Trích sách Sáng Thế.
Bấy giờ Abram rất giàu, có nhiều vàng bạc. Ông Lót, người đi với Abram, cũng có nhiều đàn chiên, bò và lều trại. Miền đó không đủ chỗ cho cả hai cùng ở, vì họ có nhiều tài sản, nên không thể ở chung với nhau. Bởi thế các người chăn chiên của Abram và của Lót hay xảy ra cãi lẫy nhau. Khi ấy dân Canaan và dân Phêrêzê ở miền này.
Vậy Abram nói cùng Lót rằng: “Bác không muốn có sự bất bình giữa bác và cháu, giữa các người chăn chiên của chúng ta, vì chúng ta là anh em với nhau. Trước mặt cháu có cả một miền rộng rãi, xin cháu hãy lìa khỏi bác: nếu cháu đi bên tả, thì bác sẽ đi bên hữu; nếu cháu chọn phía tay phải, thì bác sẽ đi về phía tay trái”. Vậy Lót ngước mắt lên trông thấy cả miền đồng bằng sông Giođan, có nước dồi dào. (Trước khi Chúa huỷ diệt thành Sôđôma và Gômôra, cả miền ấy và phía Segor như vườn địa đàng của Chúa và như đất Ai-cập). Lót chọn miền đồng bằng sông Giođan và đi về phía đông. Thế là hai bác cháu lìa xa nhau. Abram ở lại đất Canaan, còn Lót ở các đô thị gần sông Giođan, và cư ngụ tại Sôđôma. Dân thành Sôđôma rất xấu xa, vì quá tội lỗi trước mặt Chúa.
Sau khi Lót đi rồi, Chúa phán cùng Abram rằng: “Hãy ngước mặt lên và từ nơi ngươi đang ở, hãy nhìn tứ phía: đông tây nam bắc. Tất cả đất mà ngươi trông thấy, Ta sẽ ban vĩnh viễn cho ngươi và dòng dõi ngươi. Ta sẽ làm cho con cháu ngươi đông như bụi đất. Nếu ai có thể đếm được bụi đất thì mới có thể đếm được con cháu ngươi. Hãy chỗi dậy và đi khắp miền này, vì chưng Ta sẽ ban miền này cho ngươi”. Bởi vậy Abram di chuyển lều trại đến ở thung lũng Mambrê, thuộc miền Hebron, và dựng bàn thờ kính Chúa ở đó.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 14, 2-3ab. 3cd-4ab. 5
Ðáp: Lạy Chúa, ai sẽ được ở trong đền tạm Chúa?
Xướng: Người sống thanh liêm và thực thi công chính, và trong lòng suy nghĩ điều ngay, và lưỡi không bịa lời vu khống.
Xướng: Người không làm ác hại đồng liêu, cũng không làm nhục cho ai lân cận. Người coi rẻ đứa bất nhân, nhưng kính yêu những ai tôn sợ Chúa.
Xướng: Người không xuất tiền đặt nợ thu lời, cũng không ăn hối lộ hại người hiền lương. Người thực thi những điều kể đó, thì muôn đời chẳng có lung lay.
Alleluia: Tv 118, 27
Alleluia, alleluia! – Xin Chúa cho con hiểu đường lối những huấn lệnh của Chúa, và con suy gẫm các điều lạ lùng của Chúa. – Alleluia.
Phúc Âm: Mt 7, 6. 12-14
“Tất cả những gì các con muốn người ta làm cho các con, thì hãy làm cho người ta”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: “Ðừng lấy của thánh mà cho chó, và đừng vất ngọc trai trước mặt heo, kẻo chúng giày đạp dưới chân, rồi quay lại cắn xé các con.
“Vậy tất cả những gì các con muốn người ta làm cho các con, thì chính các con hãy làm cho người ta như thế! Ðấy là điều mà lề luật và các tiên tri dạy.
“Các con hãy vào qua cửa hẹp, vì cửa rộng và đường thênh thang là lối đưa đến hư mất, và có nhiều kẻ đi lối ấy; cửa và đường đưa tới sự sống thì chật hẹp, và ít kẻ tìm thấy”.
Ðó là lời Chúa.
Lời nguyện tiến lễ
Lạy Thiên Chúa từ bi, chúng con hiến dâng những lễ vật này để tạ tội và ngợi khen Chúa; cúi xin Chúa vui lòng chấp nhận, và dùng của lễ này mà thanh tẩy chúng con, hầu chúng con có thể dâng lên những tâm tình làm đẹp lòng Chúa. Chúng con cầu xin…
Lời Tiền Tụng
Lạy Chúa là Cha chí thánh, là Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, chúng con tạ ơn Cha mọi nơi mọi lúc, thật là chính đáng, phải đạo và đem lại ơn cứu độ cho chúng con.
Chúa đã tác thành mọi sự trong vũ trụ, đã sắp đặt cho thời gian thay đổi tuần hoàn.
Còn loài người, Chúa đã dựng nên giống hình ảnh Chúa và bắt mọi sự kỳ diệu quy phục loài người để họ thay quyền Chúa thống trị mọi loài Chúa đã sáng tạo và luôn ca tụng Chúa vì muôn việc kỳ diệu Chúa đã làm, nhờ Ðức Kitô, Chúa chúng con.
Bởi vậy, trong khi cử hành lễ hân hoan này, cùng với toàn thể các Thiên thần, chúng con ca ngợi tung hô Chúa rằng:
Thánh! Thánh! Thánh!…
Ca hiệp lễ
Lạy Chúa, muôn loài để mắt cậy trông vào Chúa, và Chúa ban lương thực cho chúng đúng theo giờ.
Hoặc đọc:
Chúa phán: “Ta là mục tử tốt lành, và Ta thí mạng sống Ta vì các chiên Ta”.
Lời nguyện hiệp lễ
Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, Chúa đã cho chúng con rước Mình và Máu Con Chúa để đổi mới chúng con, xin cho chúng con được chắn chắn hưởng ơn cứu độ, nhờ mầu nhiệm cử hành trong thánh lễ này. Chúng con cầu xin…
2023
Giáo hội Công giáo Campuchia tôn kính các vị tử đạo bị Khmer Đỏ sát hại
Giáo hội Công giáo Campuchia tôn kính các vị tử đạo bị Khmer Đỏ sát hại
GIÁO HỘI CÔNG GIÁO CAMPUCHIA TÔN KÍNH CÁC VỊ TỬ ĐẠO BỊ KHMER ĐỎ SÁT HẠI
Ngọc Yến – Vatican News
– Hơn 3.000 người Công giáo, gồm giám mục, linh mục và giáo dân ở Campuchia đã tham dự Thánh lễ và sự kiện tưởng nhớ các giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân bị sát hại dưới chế độ Pol Pot từ năm 1970 đến 1977.
Dưới chế độ Pol Pot, các tôn giáo không được thực hành đạo. Từ năm 1975 đến năm 1979, chế độ này đã sát hại khoảng hai triệu người Campuchia, vì cho rằng họ là những người phản cách mạng.
Đối với Công giáo, Khmer Đỏ đã sát hại nhiều giáo dân, giáo lý viên và các nhà truyền giáo là thành viên của Hội Thừa sai Paris của Campuchia, và những vị đến từ Việt Nam và Pháp.
Vào năm 2015, Giáo hội Campuchia đã mở giai đoạn cấp giáo phận tiến trình phong chân phước cho Đức cha Joseph Chmar Salas và 34 vị tử đạo khác đã bị giết trong thời Khmer Đỏ. Đức cha Salas và các vị tử đạo khác đã bị giết trong khoảng thời gian từ 1970-1977 trong cuộc bách hại Công giáo của chế độ này.
Cha Paul Roeung Chatsirey, cáo thỉnh viên án phong chân phước và giám đốc Hội Thừa sai Paris (MEP) tại Lào và Campuchia, cho biết nhờ sự cộng tác của một số người Giáo hội đang chuẩn bị thủ tục, thu thập lời chứng, bằng chứng và biên soạn các tài liệu để trình lên Tòa Thánh.
Trong Thánh lễ được cử hành tại huyện Tang Kork, tỉnh Kampong Thom, cách thủ đô Phnom Penh khoảng 100 km, vào ngày 17/6 vừa qua, các vị mục tử gọi những người bị sát hại là “những người cha” của cộng đoàn Công giáo ngày nay ở Campuchia.
Đức cha Olivier Schmitthaeusler, Giám quản Tông tòa của Phnom Penh nói: “Chứng tá của các vị tử đạo hướng dẫn chúng ta trên con đường”. Ngài cho biết tình hình đã được cải thiện rất nhiều kể từ khi chấm dứt các hành động tàn bạo của Khmer Đỏ. Đức cha nói: “Hoàn cảnh ngày nay rất khác, Giáo hội được tái sinh với khoảng 23.000 tín hữu và một số cộng đoàn rất trẻ, hầu hết được thành lập bởi những người mới đón nhận đức tin Kitô giáo. Chúa đồng hành với chúng tôi, và chúng tôi luôn nhìn về tương lai đầy hy vọng”.
Trong dịp này, một số cổ vật từ thời Đức cha Salas được các tín hữu cất giữ cũng được trưng bày. Trong số đó có Thánh giá đeo trước ngực và một số đồ dùng của Đức cha. Thánh giá này được trao cho Đức cha Salas vào ngày 14/4/1975, chỉ ba ngày trước khi Pol Pot bắt đầu tiến hành cuộc khủng bố Khmer Đỏ ở Campuchia.
Nguồn: vaticannews.va/vi
2023
GUIDO D’AREZZO, ĐAN SĨ ĐÃ PHÁT MINH RA CÁC NỐT NHẠC
Thiên tài âm nhạc
Rất ít yếu tố cho phép tái tạo rõ ràng cuộc đời của ông, tuy nhiên đa số các sử gia đều đồng ý rằng ông sinh năm 993 tại làng Pomposa của ý và ông qua đời trong khoảng thời gian từ 1033 đến 1050, tại đan viện Fonte Avellana. Khi còn rất trẻ, ông vào đan viện Biển Đức Pomposa, nơi ông được học nhạc lần đầu tiên và nhanh chóng được chú ý nhờ khả năng hiểu được sự hòa âm của âm thanh và phương pháp sư phạm của nó.
Bị trục xuất khỏi đan viện Pomposa vì những lý do vẫn còn chưa rõ ràng, ông phải đến sống ở Arezzo, nơi ông nhận được sự bảo vệ của Giám mục Teodaldo, người đã bổ nhiệm ông làm giáo sư dạy hát và lý thuyết âm nhạc ở trường của nhà thờ chính tòa Arezzo.
Guido d’Arezzo đã phát triển trong một thời đại mà việc truyền tải âm nhạc chủ yếu bằng miệng. Các nhạc sĩ bắt chước thầy của mình và những người hát lễ khó hát với nhau với sự trợ giúp của các ký hiệu nhỏ được ghi trên các bản văn : các dấu nơm. Bắt nguồn từ ký hiệu âm nhạc Grégorien, các dấu nơm cho phép các nghệ sĩ nhớ lại một giai điệu được ghi nhớ trước đó, nhưng không có chỉ dẫn chính xác về quãng hay cao độ của các nốt nhạc.
Người báo trước việc xướng âm
Do đó, vào thế kỷ 11, người mà chúng ta ngày nay gọi là “cha đẻ của âm nhạc” đã cách mạng hóa hệ thống ký hiệu âm nhạc bằng cách hoàn thiện một phương pháp sư phạm mới giúp các nghệ sĩ không phải học thuộc lòng, bằng tai, các khúc nhạc và bài hát.
Lúc đó, ông đã phát triển một hợp âm lục, một thang âm bao gồm sáu nốt cố định trên năm dòng, tương đương với các bản dàn bè hiện tại của chúng ta. Với mỗi nốt nhạc này, Guido d’Arezzo sẽ gọi một cái tên, ut-ré-mi-fa-sol-la, mỗi tên tương ứng với âm tiết đầu tiên trong các câu của bài Thánh thi kính thánh Gioan Tẩy Giả, một bài hát tôn giáo rất yêu thích của Dòng Biển Đức.
Bài Thánh thi tiếng Latinh này, do Paul Diacre viết, có một điểm đặc biệt: nó tăng cao độ ở mỗi đầu câu. Lúc đó, ông quyết định liên kết một cách lôgíc từng nốt của thang âm với âm tiết đầu tiên của mỗi câu thơ, do đó tạo ra một phương tiện lý tưởng.
UT queant laxis –REsonare fibris – MIra gestorum –FAmili tuorum – SOLve pollutir –LAbii reatum – Sancte Ioannes.
“Để những dây đàn thanh bình trên môi miệng chúng con có thể vang lên những kỳ công trong hành động của ngài, xin cất bỏ tội lỗi của kẻ tôi tớ ô uế của ngài, ôi lạy Thánh Gioan”.
Một ảnh hưởng đặc biệt
Liên quan đến nốt Si, ban đầu không có, nó có được nhờ sự rút gọn của Sancte Ioannes và sẽ được Anselme de Flandres thêm vào vào cuối thế kỷ XVI. Nốt Ut được cho là quá khó để nghe, nên đã được chuyển thành Do bởi nhà soạn nhạc Bononcini vào năm 1673. Nốt Do này được gợi hứng từ “Domine”, có nghĩa là « Chúa ».
Rất nhanh chóng được phổ biến cho toàn bộ thế giới âm nhạc tây Phương, phương pháp của Guido d’Arezzo đã cách mạng hóa việc học và thực hành âm nhạc. Thậm chí ngày nay, ông vẫn được coi là một trong những nhà phát minh ra các nốt nhạc.
Một số nước không sử dụng cách đặt tên mới này và vẫn giữ một hệ thống cũ gọi tên các nốt nhạc bằng các chữ cái đầu tiên của bảng chữ cái, kế thừa từ Hy Lạp cổ đại : A (La), B (Si), C (Do), D (Ré), E (Mi), F (Fa) và G (Sol). Phương pháp này kéo dài lâu hơn nơi các nước Anglo-Saxon và Germanic.
2023
Toàn văn Tông thư của Đức Thánh Cha Phanxicô nhân kỷ niệm 400 năm ngày sinh của Blaise Pascal
Toàn văn Tông thư của Đức Thánh Cha Phanxicô nhân kỷ niệm 400 năm ngày sinh của Blaise Pascal
Hôm 19.06.2023, Đức Thánh cha Phanxicô đã ban hành Tông thư có tựa đề “Sublimitas et miseria hominis” (Sự cao cả và sự khốn khổ của con người) nhân kỷ niệm 400 năm sinh nhật của triết gia tôn giáo và nhà toán học Blaise Pascal người Pháp.
Đức Hồng y José Tolentino de Mendonça, Tổng trưởng Bộ Giáo dục Công giáo, cùng với Tiến sĩ Francois Xavier Adam, Giám đốc Học viện Pháp, Trung tâm thánh Louis, đã giới thiệu Tông thư trong cuộc họp báo tại Phòng Báo chí Tòa Thánh.
Sau đây là nội dung Tông thư của Đức Thánh Cha:
TÔNG THƯ
SUBLIMITAS ET MISERIA HOMINIS –
SỰ CAO CẢ VÀ SỰ KHỐN KHỔ CỦA CON NGƯỜI
CỦA ĐỨC THÁNH CHA PHANXICÔ
NHÂN KỶ NIỆM 400 NĂM NGÀY SINH CỦA BLAISE PASCAL
SỰ CAO CẢ VÀ SỰ KHỐN KHỔ CỦA CON NGƯỜI. Nghịch lý này là tâm điểm của tư tưởng và thông điệp bất hủ của Blaise Pascal, người sinh cách đây 4 thế kỷ, vào ngày 19.06.1623 tại Clermont miền trung nước Pháp. Từ thời thơ ấu, Pascal đã dành cả cuộc đời mình để tìm kiếm sự thật. Bằng cách sử dụng lý trí, ông lần theo dấu vết của sự thật, nhất là trong các lĩnh vực toán học, hình học, vật lý và triết học, thực hiện những khám phá phi thường và đạt được danh tiếng đáng kể ngay từ khi còn nhỏ. Nhưng Pascal không bằng lòng với những thành tích đó. Trong một thế kỷ với những tiến bộ vượt bậc trong nhiều lĩnh vực khoa học, cùng với tinh thần hoài nghi triết học và tôn giáo ngày càng tăng, Blaise Pascal đã cho thấy mình là một người tìm kiếm chân lý không biết mệt mỏi, một tinh thần “không ngơi nghỉ”, và luôn mở ra những chân trời mới và rộng lớn hơn.
Trí thông minh và ham học hỏi của Pascal không ngừng suy ngẫm về câu hỏi, tuy cổ xưa nhưng luôn mới mẻ, vang vọng trong tâm hồn con người: “Con người là chi, mà Chúa cần nhớ đến, phàm nhân là gì, mà Chúa phải bận tâm?” (Tv 8, 5). Câu hỏi này khắc sâu trong tâm khảm của mỗi con người, của mọi thời đại, mọi nơi, mọi nền văn hóa, ngôn ngữ và tôn giáo. “Con người trong tự nhiên là gì?” – Pascal tự vấn – “Không là gì đối với cái vô hạn, nhưng là tất cả đối với cái hư vô”[1]. Câu hỏi đã được tác giả Thánh Vịnh đặt ra trong bối cảnh lịch sử tình yêu giữa Thiên Chúa và dân Ngài, một lịch sử mà đỉnh cao là sự nhập thể nơi “Con Người”, Chúa Giêsu Kitô, Đấng mà Chúa Cha đã bỏ rơi để đội cho Người vinh quang và danh dự vượt lên trên mọi thụ tạo (x. c. 6). Câu hỏi này được đặt ra bằng một ngôn ngữ rất khác với ngôn ngữ toán học và hình học, Pascal chưa bao giờ khép lại với câu hỏi này.
Vì lý do này, tôi tin rằng thật phù hợp khi mô tả Pascal như một người tạo được ấn tượng bằng một thái độ cơ bản là kính sợ và cởi mở với mọi thực tại. Cởi mở với những chiều kích khác của tri thức và cuộc sống, cởi mở với người khác, cởi mở với xã hội. Ví dụ, vào năm 1661, ông là người khởi xướng hệ thống giao thông công cộng đầu tiên trong lịch sử, được thực hiện ở Paris với “Cỗ xe năm xu”. Nếu tôi đề cập đến điều này ở phần đầu của Tông thư, thì không phải là để nhấn mạnh rằng việc Pascal trở lại với Đức Kitô, bắt đầu từ “Đêm lửa” ngày 23.11.1654, cũng như nỗ lực trí tuệ phi thường của ông để bảo vệ đức tin Kitô giáo đã khiến ông trở thành một người bị cô lập trong thời đại của mình, mà là để cho thấy việc ông luôn quan tâm đến những vấn đề cấp bách nhất của thời đại, cũng như nhu cầu vật chất của mọi thành phần trong xã hội mà ông đang sống.
Sự cởi mở với thế giới xung quanh làm cho Pascal luôn quan tâm đến người khác ngay cả trong cơn bạo bệnh cuối cùng khi mới 39 tuổi. Tại thời điểm này, giai đoạn cuối cùng của cuộc hành trình trần thế, ông được cho là đã nói rằng: “Nếu điều các bác sĩ nói là đúng, và Thiên Chúa cho phép tôi thoát khỏi căn bệnh này, thì tôi quyết tâm không làm bất kỳ nghề nghiệp hoặc công việc nào khác trong những ngày còn lại của cuộc đời mình ngoài việc phục vụ người nghèo”[2]. Thật xúc động khi khi thấy rằng, trong những ngày cuối đời, một thiên tài vĩ đại như Blaise Pascal không thấy gì cấp bách hơn là cống hiến sức lực của mình cho những việc của lòng thương xót: “Đối tượng duy nhất của Kinh thánh là đức ái”[3].
Do đó, nhân kỷ niệm 400 năm ngày sinh của Pascal, tôi rất vui vì Chúa quan phòng đã cho tôi cơ hội để bày tỏ lòng kính trọng đối với ông, và nhớ lại tư tưởng và những khía cạnh trong cuộc đời của ông mà tôi cho là hữu ích để khuyến khích các Kitô hữu trong thời đại chúng ta, và những người thiện chí trong việc theo đuổi hạnh phúc đích thực. Vì “mọi người đều mưu cầu hạnh phúc. Điều này đúng không có ngoại lệ, bất kể họ sử dụng những phương tiện khác nhau ra sao. Tất cả đều hướng tới cùng một mục đích này”[4]. Bốn thế kỷ sau ngày sinh, Pascal vẫn là người bạn đồng hành của chúng ta, trên lộ trình tìm kiếm hạnh phúc đích thực và, nhờ hồng ân đức tin, chúng ta khiêm tốn và vui mừng nhận ra Chúa chịu đóng đinh và phục sinh.
|
Một người yêu Chúa Kitô, Đấng nói với mọi người
Hoán cải: cuộc thăm viếng của Chúa |
Một người yêu Chúa Kitô, Đấng nói với mọi người
Nếu Blaise Pascal có thể thu hút tất cả mọi người, thì trên hết, đó là vì ông đã nói về thân phận con người một cách rất thuyết phục. Tuy nhiên, sẽ là sai lầm nếu chỉ coi ông là một chuyên gia sâu sắc về hành vi của con người. Tác phẩm Pensées đồ sộ của ông, một số câu cách ngôn mang tính cá nhân của ông vẫn còn nổi tiếng, thực sự không thể hiểu được trừ khi chúng ta nhận ra rằng Chúa Giêsu Kitô và Kinh thánh vừa là trung tâm vừa là chìa khóa cho cách hiểu về chúng. Vì nếu Pascal đề nghị nói về con người và về Thiên Chúa, đó là bởi vì ông đã đạt đến sự chắc chắn rằng “chúng ta không những chỉ biết Thiên Chúa qua Chúa Giêsu Kitô, mà chúng ta còn chỉ biết chính mình qua Chúa Giêsu Kitô. Chúng ta không biết sự sống và cái chết ngoại trừ qua Chúa Giêsu Kitô. Ngoài Chúa Giêsu Kitô, chúng ta không hiểu sự sống, sự chết, Thiên Chúa, và bản thân mình là gì. Do đó, nếu không có Kinh thánh, vốn chỉ có Chúa Giêsu Kitô làm đối tượng, thì chúng ta chẳng biết gì và chỉ thấy bóng tối”[5]. Nếu tuyên bố táo bạo này được mọi người hiểu, và không bị coi là lời khẳng định mang tính thuần túy giáo điều và không thể hiểu được bởi những người không cùng chia sẻ đức tin của Giáo hội, hoặc không bị coi là sự hạ thấp các năng lực hợp lý của lý trí tự nhiên, thì tuyên bố này đáng được làm rõ.
Đức tin, tình yêu và sự tự do
Là Kitô hữu, chúng ta cần tránh xa cám dỗ trình bày đức tin của mình như một điều hiển nhiên chắc chắn không thể chối cãi đối với mọi người. Rõ ràng Pascal quan tâm đến việc làm cho mọi người nhận ra rằng “Thiên Chúa và sự thật không thể tách rời nhau”[6], nhưng ông cũng biết rằng đức tin chỉ có được nhờ ân sủng của Thiên Chúa, được lãnh nhận bởi một tâm hồn tự do. Nhờ đức tin, Pascal đã có cuộc gặp gỡ mang tính cá vị với “Thiên Chúa của Abraham, Thiên Chúa của Isaac, Thiên Chúa của Giacob, chứ không phải Thiên Chúa của các triết gia và học giả”[7], và nhìn nhận Chúa Giêsu Kitô “là Đường, là Sự thật, và là Sự sống” (Ga 14, 6). Đây là lý do tại sao tôi đề nghị tất cả những ai muốn kiên trì tìm kiếm chân lý – một nhiệm vụ không có hồi kết trong cuộc đời này – hãy lắng nghe Blaise Pascal, một người có trí thông minh phi thường, đã khẳng định rằng chẳng có chân lý nào đáng giá khi tách rời khỏi khát vọng để yêu. “Chúng ta biến chính chân lý thành một thần tượng, bởi vì chân lý mà tách rời khỏi đức ái thì không còn phải là Thiên Chúa, nhưng chỉ là hình ảnh của Ngài; hình ảnh đó là một thần tượng mà không nên được yêu mến hoặc tôn thờ”[8].
Vì thế, Pascal bảo vệ chúng ta khỏi những học thuyết sai lầm, mê tín dị đoan và chủ nghĩa tự do khiến nhiều người trong chúng ta xa rời niềm vui và bình an lâu bền của Đấng muốn chúng ta chọn “sự sống và hạnh phúc”, chứ không phải “cái chết và bất hạnh” (Đnl 30, 15.19 ). Tuy nhiên, bi kịch của cuộc đời là đôi khi chúng ta không nhìn thấy rõ ràng, và vì thế, chúng ta lựa chọn sai lầm. Thực vậy, chúng ta chỉ có thể cảm nếm được niềm vui của Tin Mừng nếu “Chúa Thánh Thần đổ đầy trong chúng ta sức mạnh của Ngài và giải thoát chúng ta khỏi sự yếu hèn, ích kỷ, tự mãn và kiêu ngạo của mình”[9]. Hơn nữa, “không có sự khôn ngoan phân định, chúng ta dễ dàng trở thành mồi ngon cho mọi trào lưu rẻ tiền”[10]. Đây là lý do tại sao trí thông minh và đức tin sống động của Blaise Pascal, người muốn chứng tỏ rằng: Kitô giáo “đáng kính vì nó thực sự biết con người” và “đáng yêu vì nó hứa hẹn hạnh phúc đích thật”[11], có thể giúp chúng ta vượt qua bóng tối và những bất hạnh của thế giới này.
Một bộ óc khoa học xuất chúng
Khi mẹ mất năm 1626, Blaise Pascal mới 3 tuổi. Étienne, cha của cậu bé, một luật gia nổi tiếng, cũng được biết đến với những tài năng khoa học vượt trội, nhất là trong lĩnh vực toán học và hình học. Quyết định tự mình nuôi dạy ba người con: Jacqueline, Blaise và Gilber, ông chuyển đến Paris vào năm 1632. Ngay từ rất sớm, Blaise đã bộc lộ một trí thông minh phi thường và sự kiên trì trong việc tìm kiếm chân lý. Theo lời kể của em gái Gilberte: “Từ thời thơ ấu, anh ấy chỉ có thể chấp nhận những gì mà anh ấy thấy rõ ràng là đúng; kết quả là, khi không được cung cấp lý do chính đáng, chính anh đã tự mình tìm kiếm sự thật”[12]. Một ngày nọ, người cha bắt gặp cậu con trai đang học hình học và chợt nhận ra rằng: dù không hề biết là những định lý tương tự có thể được tìm thấy trong những cuốn sách dưới những cái tên khác, thì Blaise, ở tuổi 12, vẫn hoàn toàn tự mình vẽ các hình trên mặt đất, và đã chứng minh 32 định đề đầu tiên của Euclid[13]. Gilberte sau đó nhớ lại rằng cha của họ đã “thực sự kinh ngạc trước chiều sâu và sức mạnh trí tuệ của Blaise“[14].
Trong những năm sau đó, Pascal đã làm việc cật lực để phát huy tối đa tài năng vĩ đại của mình. Năm 17 tuổi, cậu đã kết giao với những người uyên bác nhất trong thời đại của mình. Ngay sau đó là những khám phá và ấn phẩm nối tiếp nhau. Năm 1642, ở tuổi 19, cậu đã phát minh ra máy tính số học, tiền thân của máy tính hiện đại của chúng ta. Về điểm này, Pascal nói với chính thời đại của chúng ta, vì ông nhắc nhở chúng ta về sự vĩ đại của lý trí con người và khuyến khích chúng ta sử dụng lý trí để giải mã những bí ẩn của thế giới xung quanh. Khả năng nắm bắt toán học, khả năng hiểu chi tiết cách mọi thứ vận hành như thế nào, sẽ giúp ích cho Pascal trong suốt cuộc đời. Theo lời của nhà thần học lỗi lạc Hans Urs von Balthasar: “Pascal đã rèn luyện bản thân về độ chính xác phù hợp với toán học và khoa học tự nhiên, để đạt được độ chính xác hoàn toàn khác phù hợp với lĩnh vực hiện hữu nói chung và lĩnh vực Kitô giáo nói riêng”[15]. Sự tự tin của Pascal vào việc sử dụng lý trí tự nhiên, vốn liên kết ông với tất cả những người tìm kiếm chân lý, giúp ông vừa nhận ra những giới hạn của lý trí vừa mở lòng đón nhận những lý do siêu nhiên của Mạc khải thần linh, theo cảm thức của sự nghịch lý vốn là đặc thù trong chiều sâu triết học và là sức hấp dẫn văn chương trong Pensées của ông. “Giáo hội đã nỗ lực hết sức trong việc chứng minh rằng Chúa Giêsu Kitô là con người để chống lại những người phủ nhận điều này, và Giáo hội cũng đã nỗ lực như vậy khi chứng minh Chúa Giêsu Kitô là Thiên Chúa; và cả hai đều hiển nhiên như nhau”[16].
Các triết gia
Nhiều bài viết của Pascal thấm đẫm ngôn ngữ triết học. Điều này đặc biệt đúng với tác phẩm Pensées, tuyển tập các đoạn được xuất bản sau khi ông qua đời, là những ghi chú và bản thảo của ông đối với một triết lý được gợi hứng từ mối quan tâm thần học. Các học giả đã cố gắng, với nhiều thành quả khác nhau, để khôi phục lại thứ tự và sự mạch lạc nguyên thuỷ của bộ sưu tập. Tình yêu say đắm của Pascal dành cho Đức Kitô và việc phục vụ người nghèo, như tôi đã đề cập lúc đầu, không có dấu hiệu mất kết nối trong tâm trí của người môn đệ dũng cảm này. Tình yêu và việc phục vụ của Pascal như là một sự phát triển sâu xa hơn cho chủ nghĩa cấp tiến mang tính Phúc âm, một sự tiến bộ, và được ân sủng trợ giúp, nó hướng tới chân lý sống động của Chúa. Là người sở hữu sự chắc chắn siêu nhiên về đức tin và coi đức tin hoàn toàn tương thích với lý trí mặc dù đức tin vượt trội vô cùng so với lý trí, Pascal cố gắng tham gia đối thoại bao nhiêu có thể với những người không cùng đức tin với mình. Vì “đối với những người không có đức tin, chúng ta chỉ có thể trao đức tin cho họ bằng cách lý luận, trong khi chờ đợi Thiên Chúa ban cho họ bằng cách đánh động trái tim họ”[17]. Tại đây, chúng ta thấy một hình thức loan báo Tin Mừng hết sức tôn trọng và kiên nhẫn mà thế hệ chúng ta cần noi theo.
Do đó, để hiểu đúng tư tưởng của Pascal về Kitô giáo, cần phải chú ý đến triết lý của ông. Ông ngưỡng mộ sự khôn ngoan của các triết gia Hy Lạp cổ đại, vốn là những người đã tìm kiếm sự đơn giản và thanh thản để sống tốt đẹp với tư cách là công dân của một thành phố: “Chúng ta nghĩ về Plato và Aristotle chỉ như những người khoác lên mình chiếc áo choàng thướt tha của các học giả. Họ là những người bình thường, giống như bao người khác, vui vẻ cười đùa với bạn bè. Khi soạn thảo Luật pháp và Chính trị, họ đã làm điều đó vì niềm vui. Đó là phần ít triết lý nhất và ít nghiêm túc nhất trong cuộc sống của họ; phần triết lý nhất là sống đơn giản và yên bình”[18]. Tuy nhiên, bất chấp sự vĩ đại và hữu ích, Pascal vẫn nhận ra những giới hạn của những triết lý đó: Chủ nghĩa khắc kỷ dẫn đến kiêu ngạo[19]; chủ nghĩa hoài nghi dẫn đến tuyệt vọng[20]. Lý trí của con người là một kỳ công của tạo hóa, phân biệt con người với mọi sinh vật khác, vì “con người chỉ là một cây sậy, yếu ớt nhất trong tự nhiên, nhưng lại là một cây sậy biết tư duy”[21]. Do đó, chúng ta hiểu rằng giới hạn của các triết gia, đơn giản là giới hạn của lý trí được tạo dựng. Democritus có thể đúng khi nói: “Tôi sẽ nói về mọi thứ”[22], nhưng lý trí, tự nó, không thể giải quyết những vấn đề sâu sắc nhất và cấp bách nhất. Cuối cùng, đối với thời của Pascal cũng như thời nay, câu hỏi lớn nhất và cấp bách nhất vẫn là gì? Đó là ý nghĩa tổng thể của số phận, cuộc đời, và niềm hy vọng của chúng ta, hướng đến một hạnh phúc mà chúng ta không còn bị hạn chế để tưởng tượng như là vĩnh cửu, nhưng là hạnh phúc mà chính Thiên Chúa ban tặng: “Chẳng có gì quan trọng đối với một người cho bằng trạng thái của chính anh ta; chẳng gì đáng sợ đối với anh ta cho bằng sự vĩnh cửu”[23].
Khi suy ngẫm về tác phẩm Pensées của Pascal, chúng ta tìm thấy, theo một cách nào đó, nguyên tắc cơ bản này: “Thực tại lớn hơn ý tưởng”. Pascal dạy chúng ta tránh xa “những phương tiện khác nhau nhằm che giấu thực tại”, từ “các dạng tinh tuyền siêu phàm” đến “nghị luận trí thức không có minh triết”[24]. Không gì nguy hiểm hơn một lý luận quái gở: “Anh ta đã ước muốn hành động như một thiên thần, nhưng thực tế thì lại hành động như một ác thú”[25]. Những hệ tư tưởng tai hại mà chúng ta tiếp tục gánh chịu trong các lĩnh vực kinh tế, đời sống xã hội, nhân chủng học và đạo đức giam cầm những người theo chúng trong một thế giới ảo tưởng, nơi ý tưởng thay thế cho thực tế.
Tình trạng con người
Triết lý của Pascal, luôn luôn nghịch lý, được đặt nền tảng trên một cách tiếp cận vừa khiêm tốn vừa trong sáng: tìm cách đạt tới “thực tại được lý trí soi sáng”[26]. Ông bắt đầu nhận xét rằng, theo một cách nào đó, con người là một kẻ lạ lẫm với chính mình, vừa cao cả vừa khốn khổ. Cao cả nhờ lý trí và khả năng làm chủ đam mê, nhưng cũng cao cả ở chỗ “biết thừa nhận mình khốn khổ”[27]. Thật vậy, con người khao khát một điều gì đó khác hơn là thỏa mãn hoặc chống lại bản năng của mình, “bởi vì những gì là bản chất ở động vật, thì chúng ta gọi là sự khốn khổ ở con người”[28]. Có một sự bất cân xứng không thể chấp nhận được tồn tại giữa một bên là khát vọng hạnh phúc và hiểu biết chân lý vô hạn và bên kia là sự hữu hạn của lý trí và sự yếu đuối về thể chất, sẽ kết thúc bằng cái chết. Sức mạnh của Pascal còn nằm ở óc thực tế không ngừng nghỉ của ông: “Không cần phải có trí thông minh tuyệt vời để nhận ra rằng không có sự thỏa mãn thực sự và bền vững, rằng tất cả những thú vui của chúng ta chỉ là phù phiếm, rằng những điều xấu xa của chúng ta là vô tận, và cái chết luôn đe dọa chúng ta, nó chắc chắn sẽ đặt ra trước mắt chúng ta, trong một vài năm nữa, sự thay thế đáng sợ là bị hủy diệt hoặc bất hạnh mãi mãi. Chẳng có gì thật hơn thế, cũng chẳng có gì đáng sợ hơn thế. Chúng ta có thể hành động dũng cảm như chúng ta muốn: đó là sự kết thúc đang chờ đợi cuộc sống tốt đẹp nhất trên thế gian”[29]. Dĩ nhiên, trong tình trạng bi đát này, người ta không thể co cụm vào chính mình, vì sự khốn khổ và số phận bấp bênh của họ là không thể chịu đựng được. Do đó, họ cần phải đánh lạc hướng bản thân, điều mà Pascal dễ dàng thừa nhận: “Đó là lý do tại sao con người lại yêu thích sự ồn ào và huyên náo đến vậy”[30]. Bởi vì nếu một người không đánh lạc hướng khỏi tình trạng của mình – và tất cả chúng ta đều biết rất rõ cách đánh lạc hướng bản thân bằng công việc, các hình thức giải trí, các mối tương quan gia đình hoặc bạn bè, và thật không may, bằng cả những tật xấu mà các đam mê chắc chắn đưa đến – thì nhân tính của họ trải nghiệm “sự hư vô, sự bỏ rơi, sự thiếu sót, sự phụ thuộc, sự bất lực, và sự trống rỗng của mình. Và xuất hiện từ sâu thẳm tâm hồn họ sự chán nản, u ám, buồn bã, thất vọng, cay đắng, tuyệt vọng”[31]. Sự tiêu khiển không xoa dịu được, càng không thỏa mãn được ước muốn lớn lao của chúng ta về cuộc sống và hạnh phúc. Đây là điều mà tất cả chúng ta đều biết khá rõ.
Tại điểm này, Pascal đưa ra lập luận tuyệt vời của mình: “Vậy thì nỗi khao khát và cảm giác bất lực này là gì đối với chúng ta, nếu không phải là con người đã từng được hưởng một hạnh phúc thực sự, mà giờ đây chỉ còn lại một dấu vết trống rỗng mà họ cố gắng một cách vô ích để lấp đầy bằng mọi thứ xung quanh, tìm kiếm những thứ họ thiếu, những thứ họ không thể đạt được từ những thứ họ có. Tuy nhiên, không thứ gì trong số này có thể thỏa mãn được, vì vực thẳm vô tận này chỉ có thể được lấp đầy bởi một đối tượng vô tận và bất biến, đó là chính Thiên Chúa”[32].
Nếu con người giống như “một vị vua bị phế truất”[33], chỉ tìm cách khôi phục lại sự vĩ đại đã mất trong khi biết rằng mình không thể làm được điều đó, thì con người là gì? “Con người thật là một sinh vật kỳ diệu, một điều mới lạ, một điều quái dị, hỗn loạn, mâu thuẫn, phi thường, phán xét vạn vật, con giun đất yếu ớt, người mang sự thật, vũng lầy của sự không chắc chắn và sai lầm, vinh quang và rác rưởi của vũ trụ! Ai có thể tháo gỡ mớ rối rắm này?”[34]. Là một triết gia, Pascal thấy rõ rằng “càng thông tuệ, chúng ta càng khám phá ra sự cao cả và thấp hèn của con người”[35], và rằng những mâu thuẫn này là không thể dung hòa. Lý trí của con người không thể dung hòa chúng, cũng không thể giải quyết được điều bí ẩn.
Pascal tiếp tục lập luận rằng nếu Thiên Chúa hiện hữu, và nếu con người đã nhận được sự mặc khải thần linh – như nhiều tôn giáo tuyên bố – và nếu sự mặc khải này là đúng, thì nó phải chứa đựng câu trả lời mà chúng ta đang chờ đợi để giải quyết những mâu thuẫn đang dày vò chúng ta. “Sự cao cả và khốn khổ của con người rõ ràng đến nỗi tôn giáo chân chính nhất thiết phải dạy chúng ta rằng trong con người có một nguyên tắc vĩ đại về sự cao cả và một nguyên tắc vĩ đại về sự khốn khổ. Tôn giáo cũng cần phải giải thích cho chúng ta những mâu thuẫn đáng kinh ngạc này”[36]. Sau khi nghiên cứu các tôn giáo lớn, Pascal đi đến kết luận rằng, “không một hình thức tư duy hoặc thực hành khổ hạnh – thần bí nào có thể đưa ra một con đường cứu độ”, trừ khi bằng “tiêu chuẩn cao siêu của chân lý được tìm thấy nơi sự soi sáng của ân sủng”[37]. Khi tưởng tượng điều mà Thiên Chúa chân thật có thể nói với chúng ta, Pascal viết: “Hỡi con người, thật vô ích, bạn tự tìm kiếm phương thuốc cho những đau khổ của mình. Tất cả sự thông tuệ của bạn chỉ có thể đạt được sự hiểu biết rằng bạn sẽ không tìm thấy chân lý và sự tốt lành nơi chính bản thân mình. Các triết gia đã hứa với bạn điều đó nhưng họ đã không thể thực hiện được. Họ không biết đâu là hạnh phúc thực sự của bạn, cũng không biết tình trạng thực sự của bạn là gì?”[38].
Với trí thông minh phi thường, và sau đã nghiên cứu kỹ lưỡng thân phận con người, Thánh kinh và thánh truyền của Giáo hội, Pascal tự thể hiện mình với sự đơn sơ trẻ thơ như một chứng nhân khiêm tốn của Tin Mừng. Là một Kitô hữu, Pascal muốn nói về Chúa Giêsu Kitô cho những người vội vã kết luận rằng không có lý do vững chắc nào để tin vào những chân lý của Kitô giáo. Do kinh nghiệm bản thân, Pascal biết rằng nội dung của Mạc khải thần linh không những không đối lập với những đòi hỏi của lý trí, mà còn cống hiến câu trả lời tuyệt vời mà không triết lý nào có thể tự mình đạt được.
Hoán cải: cuộc thăm viếng của Chúa
Vào ngày 23.11.1654, Pascal đã có một trải nghiệm rất mạnh mẽ mà cho đến nay người ta vẫn gọi đó là “Đêm lửa” của ông. Trải nghiệm thần bí này, khiến ông rơi nước mắt vì sung sướng, mãnh liệt và dứt khoát đến nỗi ông đã viết về nó trên một mảnh giấy có ghi ngày tháng chính xác, tựa đề là “Tưởng niệm“, rồi nhét vào trong lớp lót áo khoác của mình, và chỉ được phát hiện sau khi ông qua đời. Mặc dù không thể biết chính xác bản chất của những gì đã diễn ra trong tâm hồn Pascal đêm hôm đó, nhưng dường như đó là một cuộc gặp gỡ mà chính ông thừa nhận như có sự tương đồng với cuộc gặp gỡ, nền tảng cho toàn bộ lịch sử mặc khải và cứu độ, mà Môsê đã trải nghiệm trước bụi gai rực cháy (x. Xh 3). Thuật ngữ “LỬA”[39], mà Pascal đặt làm tiêu đề cho “Tưởng niệm”, theo một cách nào đó, mời chúng ta thực hiện sự so sánh này. Sự tương đồng dường như đã được chính Pascal chỉ ra: sau sự bùng cháy của lửa, chính ông đã lặp lại danh hiệu mà Chúa đã tự đặt cho mình trước mặt Môsê – “Thiên Chúa của Abraham, Thiên Chúa của Isaac, Thiên Chúa của Jacob” (Xh 3, 6.15) – rồi ông nói thêm: “không phải của các triết gia và các nhà hiền triết. Sự chắc chắn. Sự chắc chắn. Cảm giác. Niềm vui. Bình an. Thiên Chúa của Chúa Giêsu Kitô”.
Thiên Chúa của chúng ta thực sự là niềm vui, và Blaise Pascal làm chứng điều này với toàn thể Giáo hội và với tất cả những ai tìm kiếm Thiên Chúa. “Ngài không phải là vị Thiên Chúa trừu tượng hay vị Thần của vũ trụ, không! Ngài là Thiên Chúa của một con người, của một tiếng gọi, Thiên Chúa của Abraham, của Isaac và của Jacob, Thiên Chúa của sự chắc chắn, của cảm xúc, của niềm vui”[40]. Cuộc gặp gỡ đêm đó, đã khẳng định với Pascal về “sự cao cả của tâm hồn con người”, khiến ông tràn ngập niềm vui sống động và khôn lường: “Niềm vui, niềm vui, niềm vui, những giọt nước mắt của niềm vui”. Và niềm vui thiêng liêng này đã trở thành một cơ hội để Pascal xưng thú và cầu nguyện: “Chúa Giêsu Kitô. Tôi đã tách ra khỏi Người. Tôi đã chạy trốn Người, từ chối Người, đóng đinh Người. Xin cho tôi đừng bao giờ xa cách Người”[41]. Chính trải nghiệm về tình yêu của Thiên Chúa, Đấng trong Chúa Giêsu Kitô đã đích thân trở thành một phần lịch sử của chúng ta và không ngừng can dự vào cuộc sống của chúng ta, đã đặt Pascal đi trên con đường hoán cải sâu xa, một đời sống bác ái và do đó là một “sự từ bỏ hoàn toàn và thanh thản”[42] “con người cũ với nếp sống xưa, là con người phải hư nát vì bị những ham muốn lừa dối” (Ep 4, 22).
Như Thánh Gioan Phaolô II đã lưu ý trong Thông điệp của ngài về mối tương quan giữa đức tin và lý trí, “các triết gia như Pascal” nổi bật vì họ bác bỏ mọi giả định, cũng như vì lập trường khiêm nhường và can đảm của họ. Họ đã nhận ra rằng “đức tin giải thoát lý trí khỏi sự tự phụ”[43]. Chắc chắn, trước đêm 23.11.1654, Pascal “không bao giờ nghi ngờ gì về sự hiện hữu của Thiên Chúa. Ông cũng biết rằng Thiên Chúa là Đấng tối cao… Điều ông thiếu và khao khát không phải là kiến thức mà là sức mạnh; không phải sự thật, mà là sức mạnh”[44]. Sức mạnh đó giờ đây đã được ban cho ông nhờ ân sủng, và ông cảm thấy mình được Chúa Giêsu Kitô thu hút một cách chắc chắn và hân hoan: “Chúng tôi chỉ biết Thiên Chúa qua Chúa Giêsu Kitô. Nếu không có Vị Trung Gian này thì mọi sự thông truyền với Thiên Chúa đều bị cắt đứt”[45]. Khám phá Chúa Giêsu Kitô là khám phá ra Đấng Cứu độ và Đấng giải thoát mà tôi cần: “Vị Thiên Chúa này không ai khác hơn là Đấng cứu chuộc những nỗi khốn khổ của chúng ta. Vì vậy, chúng ta không thể biết rõ Thiên Chúa nếu không biết sự gian ác của mình”[46]. Giống như mọi cuộc hoán cải đích thực, cuộc hoán cải của Blaise Pascal diễn ra trong sự khiêm tốn, điều giải thoát chúng ta “khỏi sự hẹp hòi và khép kín của mình”[47].
Trí thông minh bao la và không ngừng nghỉ của Blaise Pascal, tràn đầy bình an và niềm vui trước sự mặc khải của Chúa Giêsu Kitô, mời gọi chúng ta, theo “trật tự của trái tim”[48], bước đi trong ánh sáng rực rỡ của “những ánh sáng thiên đàng này”[49]. Vì nếu Thiên Chúa của chúng ta là một “vị Thiên Chúa ẩn mình” (x. Is 45, 15), thì đó là bởi vì Ngài “muốn ẩn mình”[50] để cho lý trí của chúng ta, được ân sủng soi sáng, sẽ không bao giờ ngừng tìm Ngài. Vì thế, cũng chính bởi sự soi sáng của ân sủng mà chúng ta biết được Ngài. Nhưng tự do của con người phải được mở ra, và thực sự Chúa Giêsu đã an ủi chúng ta: “Các ngươi sẽ không tìm kiếm Ta, nếu các ngươi đã không tìm thấy Ta”[51].
Trật tự của trái tim và lý do để tin tưởng
Theo lời của Đức Bênêđictô XVI, “truyền thống Công giáo ngay từ đầu đã bác bỏ điều gọi là chủ nghĩa duy tín, tức là ước muốn tin thì chống lại lý trí”[52]. Pascal cũng gắn bó sâu sắc với “tính hợp lý của đức tin vào Thiên Chúa”[53], không chỉ bởi vì “tâm trí không thể bị buộc phải tin vào những gì nó biết là sai”[54], mà còn bởi vì “nếu chúng ta phủ nhận các nguyên tắc của lý trí, thì tôn giáo của chúng ta sẽ trở nên phi lý và nực cười”[55]. Tuy nhiên, nếu đức tin là hợp lý, thì đức tin vẫn là một món quà của Thiên Chúa và không thể bị áp đặt. “Chúng ta không chứng minh rằng chúng ta phải được yêu thương bằng cách nêu ra những lý do tại sao; điều đó thật lố bịch”[56], Pascal nói với chúng ta bằng sự hài hước tinh tế, so sánh sự tương đồng giữa tình yêu của con người với cách mà Thiên Chúa tỏ mình ra cho chúng ta. Giống như tình yêu con người, “đề xuất nhưng không bao giờ áp đặt – tình yêu của Thiên Chúa không bao giờ áp đặt chính mình”[57]. Chúa Giêsu làm chứng cho chân lý (x. Ga 18, 37), nhưng Người “không muốn dùng sức mạnh để ép buộc những kẻ chống đối Người”[58]. Đó là lý do tại sao “có đủ ánh sáng cho những ai chỉ muốn nhìn thấy, và đủ bóng tối cho những ai có ý định ngược lại”[59].
Pascal tiếp tục khẳng định rằng “đức tin khác với bằng chứng. Một đàng là con người, còn đàng kia là quà tặng của Thiên Chúa”[60]. Vì thế, không thể tin “trừ khi Thiên Chúa hướng lòng chúng ta”[61]. Mặc dù đức tin cao hơn lý trí, nhưng không có nghĩa là đức tin đối nghịch với lý trí; đúng hơn, đức tin vượt trên lý trí một cách vô hạn. Khi đọc tác phẩm của Pascal, trước hết chúng ta không bắt gặp một lý trí soi sáng đức tin, mà là bắt gặp một Kitô hữu có tính logic chặt chẽ tuyệt vời đang giải thích cho một trật tự, được Thiên Chúa thiết lập một cách nhân từ, vượt lên trên lý trí: “Khoảng cách vô tận giữa thể xác và tâm trí tượng trưng cho khoảng cách vô cùng vô tận giữa tâm trí và đức ái, vì đức ái là siêu nhiên”[62]. Là một nhà khoa học chuyên gia về hình học, tức là khoa học về các vật thể định vị trong không gian, và một nhà toán học chuyên gia về triết học, tức là khoa học về tâm trí được định vị trong lịch sử, Blaise Pascal, được soi sáng bởi ân sủng của đức tin, nên đã có thể tóm tắt toàn bộ trải nghiệm của mình trong những lời này: “Từ tất cả các thân xác gộp lại, người ta không thể tạo ra một ý nghĩ nhỏ bé. Điều đó là không thể và điều đó thuộc một trật tự khác. Từ tất cả thể xác và tâm trí, người ta không thể rút ra một xung lực của bác ái đích thực. Điều đó là không thể và điều đó thuộc về một trật tự siêu nhiên khác”[63].
Bản thân các hoạt động hình học lẫn lý luận triết học đều không cho phép chúng ta đạt được một “tầm nhìn rõ ràng” về thế giới hoặc về chính mình. Những người bị mắc kẹt trong các tính toán chi tiết của mình thì không thu được ích lợi từ tầm nhìn tổng quan cho phép họ “nhìn thấy tất cả các nguyên tắc”. Đây là nhiệm vụ của “tinh thần khéo léo”, mà Pascal đề cao, bởi vì khi muốn nắm bắt thực tại “người ta phải ngay lập tức nắm bắt mọi thứ chỉ bằng một cái liếc mắt”[64]. Tầm nhìn trực giác này được kết nối với điều mà Pascal gọi là “trái tim”. “Chúng ta nhận biết chân lý không chỉ nhờ lý trí mà hơn thế nữa, còn nhờ trái tim; chính nhờ trái tim mà chúng ta biết được những nguyên tắc đầu tiên, và thật vô ích khi lý luận, vốn không có vai trò gì trong đó, cố gắng bác bỏ những nguyên tắc đó”[65]. Những chân lý được Thiên Chúa mạc khải – chẳng hạn như chân lý về Thiên Chúa, Đấng dựng nên chúng ta là tình yêu, rằng Ngài là Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, và Ngài đã nhập thể nơi Đức Giêsu Kitô, Đấng đã chết và sống lại để cứu độ chúng ta – không thể chứng minh bằng lý trí. Những chân lý này chỉ có thể được nhận biết nhờ sự chắc chắn của đức tin, và sau đó chuyển từ trái tim tâm linh sang lý trí, trí tuệ nhận ra chân lý này, và đến lượt mình, lý trí có thể giải thích về chân lý. “Đây là lý do tại sao những người được Thiên Chúa ban cho đức tin tôn giáo bằng cách đánh động con tim của họ thì thực sự được chúc phúc và được thuyết phục một cách đúng đắn”[66].
Pascal không bao giờ cam chịu thực tế là một số người nam, nữ không những không biết Chúa Giêsu Kitô, mà còn coi thường việc đón nhận Tin Mừng một cách nghiêm túc, do bởi sự lười biếng hoặc vì đam mê của họ. Vì trong Chúa Giêsu Kitô, chính mạng sống của họ còn tùy thuộc vào những gì sẽ xảy ra. “Sự bất tử của linh hồn rất quan trọng đối với chúng ta, đó là điều đánh động chúng ta sâu sắc, nên chúng ta cần loại bỏ mọi cảm giác thờ ơ trong việc hiểu biết những điều sẽ xảy ra… Và đó là lý do tại sao, trong số những người không tin vào điều này, tôi sẽ phân biệt rõ ràng giữa những người nỗ lực hết sức để biết điều đó và những người sống cuộc đời mình mà không quan tâm hay suy nghĩ đến nó”[67]. Chúng ta ý thức được rằng chính mình thường tìm cách chạy trốn cái chết, hoặc chế ngự nó, nghĩ rằng chúng ta có thể “trút bỏ ý nghĩ về sự hữu hạn của mình” hoặc “loại bỏ sức mạnh của cái chết và xua đuổi nỗi sợ hãi. Nhưng đức tin Kitô giáo không phải là một cách để xua đuổi nỗi sợ chết; đúng hơn, đức tin giúp chúng ta đối diện với cái chết. Sớm muộn gì tất cả chúng ta cũng sẽ bước qua cánh cửa này… Ánh sáng đích thực chiếu soi mầu nhiệm sự chết đến từ sự phục sinh của Đức Kitô”[68]. Chỉ có ân sủng của Thiên Chúa mới giúp trái tim con người nhận biết Thiên Chúa và sống đức ái. Điều này khiến một nhà bình luận quan trọng về Pascal trong thời đại của chúng ta đã viết rằng “sự tư duy không trở thành Kitô hữu, trừ khi nó đạt đến điều mà Chúa Giêsu Kitô đã mang lại, đó là đức ái”[69].
Pascal, tranh luận và đức ái
Trước khi kết thúc, tôi phải đề cập đến mối tương quan của Pascal với thuyết Jansen. Một trong những người chị của ông, Jacqueline, đã gia nhập đời sống tu trì ở Port-Royal, trong một dòng tu có nền thần học chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của Cornelius Jansen, người đã viết một chuyên luận về Augustinus, xuất bản năm 1640. Sau “Đêm lửa”, Pascal đã đến tĩnh tâm tại tu viện Port-Royal vào tháng Giêng năm 1655. Trong những tháng tiếp theo, một cuộc tranh luận quan trọng và kéo dài về Augustinus đã nảy sinh tại Sorbonne, Đại học Paris, giữa các tu sĩ Dòng Tên với “những người theo thuyết Jansen”. Cuộc tranh luận chủ yếu xoay quanh vấn đề về ân sủng của Thiên Chúa và mối tương quan giữa ân sủng và bản tính con người, đặc biệt là ý chí tự do. Pascal, dù không phải là thành viên của dòng tu Port-Royal, và cũng không nghiêng về phía nào – như ông đã viết, “Tôi chỉ có một mình …. Tôi hoàn toàn không phải là thành phần của Port-Royal”[70] – với kỹ năng hùng biện xuất sắc, ông bị những người theo thuyết Jansen buộc phải bảo vệ họ. Pascal đã làm điều này vào năm 1656 và 1657, xuất bản một loạt 18 bức thư, được gọi là Những lá thư Tỉnh dòng (The Provincial Letters).
Pascal nhận ra rằng nhiều mệnh đề khác nhau, được gọi là “theo thuyết Jansen“, thực sự trái ngược với đức tin[71], nhưng ông phủ nhận rằng những mệnh đề đó có trong Augustinus, hoặc được những người có liên quan đến Port-Royal theo đuổi. Tuy nhiên, một số tuyên bố của chính Pascal, chẳng hạn như về sự tiền định, được rút ra từ thần học của Thánh Augustinô và được trình bày cách nghiêm ngặt bởi Jansen, dường như không đúng. Tuy nhiên, chúng ta cần phải hiểu rằng, giống như Thánh Augustinô đã cố gắng chống lại những người Pelagia vào thế kỷ thứ V, vốn là những người khẳng định rằng, bằng sức mạnh của chính mình và không cần ân sủng của Thiên Chúa, con người có thể làm điều tốt và được cứu độ, Pascal cũng vậy, ông chân thành tin rằng ông đang tấn công chủ thuyết Pêlagiô hoặc chủ thuyết bán-Pêlagiô ngầm ẩn trong các học thuyết được các tu sĩ Dòng Tên theo đuổi là thuyết Molina, được đặt theo tên của nhà thần học Luis de Molina, qua đời vào năm 1600 nhưng vẫn còn ảnh hưởng rất lớn vào giữa thế kỷ XVII. Về điều này, chúng ta hãy ghi nhận sự thẳng thắn và chân thành trong các ý định của Pascal.
Tông thư này chắc chắn không phải là nơi để mở lại vấn đề. Dù vậy, điều mà Pascal đã cảnh báo một cách đúng đắn vẫn còn giá trị đối với thời đại chúng ta: “Thuyết tân Pelagiô”[72] muốn mọi thứ phụ thuộc vào “nỗ lực của con người được hướng dẫn bởi những luật lệ và cấu trúc Giáo hội”[73] và có thể nhận ra bởi thực tế là nó “đầu độc chúng ta khi cho rằng ơn cứu rỗi là do chúng ta giành được bằng nỗ lực của chính mình”[74]. Cũng cần phải khẳng định rằng lập trường cuối cùng của Pascal về ân sủng, và nhất là về việc Thiên Chúa “muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý” (1Tm 2, 4), đã được phát biểu bằng những thuật ngữ Công giáo hoàn hảo vào cuối đời của ông[75].
Như tôi đã đề cập trên đây, Blaise Pascal, khi kết thúc một cuộc đời ngắn ngủi nhưng vô cùng phong phú và hiệu quả, đã đặt tình yêu thương dành cho anh chị em mình lên hàng đầu. Ông cảm thấy và biết rằng mình là thành viên của một thân thể duy nhất, bởi vì “Thiên Chúa, sau khi đã tạo dựng trời và đất là những thụ tạo không ý thức được hạnh phúc của sự hiện hữu của chúng, đã muốn dựng nên những thụ tạo nhận biết được hạnh phúc đó và đã dựng nên một thân thể gồm các thành viên biết tư duy”[76]. Với tư cách là một Kitô hữu giáo dân, Pascal đã cảm nghiệm được niềm vui của Tin Mừng, một Tin Mừng mà Thần Khí muốn chữa lành và kiện cường “mọi khía cạnh của nhân loại” và đưa “mọi người nam cũng như nữ vào đoàn tụ tại bàn tiệc của Nước Thiên Chúa”[77]. Vào năm 1659, khi viết Lời cầu nguyện tuyệt vời để cầu xin Chúa sử dụng tốt bệnh tật, Pascal là một người bình an, không còn tham gia vào các cuộc luận chiến cũng như biện hộ nữa. Bị bệnh nặng và sắp chết, ông xin được rước lễ, nhưng điều đó không thể thực hiện ngay được. Vì thế, Pascal đã năn nỉ em gái mình: “Vì không thể hiệp thông với đầu [Chúa Giêsu Kitô], anh muốn hiệp thông với các chi thể”[78]. Và ông “rất mong muốn được chết cùng với những người nghèo”[79]. Người ta nói về Pascal, ngay sau khi ông trút hơi thở cuối cùng vào ngày 19.08.1662, rằng “ông đã qua đời với sự đơn sơ của một đứa trẻ”[80]. Sau khi lãnh nhận các bí tích, lời cuối cùng của Pascal là: “Xin Chúa đừng bao giờ bỏ rơi con”[81].
Chớ gì công việc sáng chói của Blaise Pascal và mẫu gương cuộc đời của ông, vốn đắm chìm sâu xa trong Chúa Giêsu Kitô, giúp chúng ta kiên trì trên lộ trình chân lý, hoán cải, và bác ái cho đến cùng. Vì đời người thật ngắn ngủi: “Niềm vui vĩnh cửu đền đáp cho nỗ lực của một ngày trên trần gian”[82].
Rôma, Đền Thánh Gioan Latêranô, ngày 19 tháng 6 năm 2023
PHANXICÔ
Nt. Anna Ngọc Diệp, OP
Dòng Đa Minh Thánh Tâm
Chuyển ngữ từ: vatican.va (19.06.2023)
[1] Pensées, B 72, L 199. Trong các trích dẫn của cuốn Pensées, các mẫu tự B và L được dùng để đánh thứ tự bởi Brunschvicg và Lafuma
[2] G. PERIER, Vie de M. Pascal, in Œuvres complètes, par M. Le Guern, I, Paris, 1998, 91.
[3] Pensées, B 670, L 270.
[4] B 425, L 148.
[5] B 546, L 417.
[6] Entretien avec M. de Sacy, in Œuvres complètes, par M. Le Guern, II, Paris, 2000, 90.
[7] Pensées (Mémorial), L 913.
[8] Pensées (Le Mystère de Jésus), B 582, L 926.
[9] Tông Huấn Gaudete et Exsultate, 65.
[10] Sđd., 167.
[11] Pensées, B 187, L 12.
[12] G. PERIER, op. cit., 64.
[13] X. ibid., 65.
[14] Ibid.
[15] “Pascal”, in: The Glory of the Lord, A Theological Aesthetics III: Lay Styles. San Francisco; New York: Ignatius Press, Crossroads Publications, 1986, p. 182.
[16] Pensées, B 764, L 307.
[17] B 282, L 110.
[18] B 331, L 533.
[19] PASCAL, Entretien avec M. de Sacy, op. cit., 98.
[20] X. Pensées, B 435, L 208.
[21] B 347, L 200.
[22] B 72, L 199.
[23] B 194, L 427.
[24] Tông huấn Evangelii Gaudium, 231.
[25] Pensées, B 358, L 678.
[26] Tông huấn Evangelii Gaudium, 232.
[27] Pensées, B 397, L 114.
[28] B 409, L 117.
[29] B 194, L 427.
[30] B 139, L 136.
[31] B 131, L 622.
[32] B 425, L 148.
[33] B 398, L 116.
[34] B 434, L 131.
[35] B 443, L 613.
[36] B 430, L 149.
[37] H.U. VON BALTHASAR, op. cit., p. 186.
[38] Pensées, B 430, L 149.
[39] Pensées (Mémorial), L 913.
[40] Bài Giáo Lý, ngày mồng 3. 06. 2020.
[41] Pensées (Mémorial), L 913.
[42] L 913.
[43] Thông điệp Fides et Ratio (14. 09. 1998), 76: AAS 91 (1999), 64.
[44] H. GOUHIER, Blaise Pascal. Commentaires, Paris, 1971, 44-45.
[45] Pensées, B 547, L 189.
[46] Ibid.
[47] Tông huấn Evangelii Gaudium, 8.
[48] Cf. Pensées, B 283, L 298.
[49] B 435, L 208.
[50] B 585, L 242.
[51] Pensées (Le Mystère de Jésus), B 553, L 919.
[52] Bài Giáo Lý, ngày 21. 11. 2012.
[53] Sđd.
[54] PASCAL, Entretien avec M. de Sacy, op. cit., p. 87.
[55] Pensées, B 273, L 173.
[56] B 283, L 298.
[57] Bài giảng Lễ Trọng Chúa Giêsu Kitô, Vua Vũ Trụ, ngày 20. 11. 2022.
[58] Công đồng Vatican II, Tuyên ngôn Dignitatis Humanae, 11.
[59] Pensées, B 430, L 149.
[60] B 248, L 7.
[61] B 284, L 380.
[62] B 793, L 308.
[63] B 793, L 308.
[64] B 1, L 512.
[65] B 282, L 110.
[66] Ibid.
[67] B 194, L 427.
[68] Bài Giáo lý, ngày 09. 02. 2022
[69] J.-L. MARION, La Métaphysique et après, Paris, 2023, 356.
[70] Dix-septième lettre provinciale, in Œuvres complètes, par M. Le Guern, II, Paris, 2000, 781.
[71] Cf. B. NEVEU, L’erreur et son juge: remarques sur les censures doctrinales à l’époque moderne, Naples, 1993.
[72] Cf. CONGREGATION FOR THE DOCTRINE OF THE FAITH, Letter Placuit Deo (22 February 2018); Apostolic Exhortation Gaudete et Exsultate, 57-59.
[73] Tông Huấn Gaudete et Exsultate, 59.
[74] Tông Thư Desiderio Desideravi, 20.
[75] Cf. Pensées (Le Mystère de Jésus), B 550, L 931. The initial words – “I love all men as my brothers, because all are redeemed” – are crossed out in the Lafuma edition.
[76] B 482, L 360.
[77] Tông huấn Evangelii Gaudium, 237.
[78] G. PERIER, op. cit., pp. 92-93.
[79] ID., op. cit., p. 93.
[80] ID. op. cit., p. 90.
[81] ID., op. cit., p. 94.
[82] Pensées (Mémorial), L 913.
