Aenean nec eros. Vestibulum ante ipsum primis in faucibus orci luctus et ultrices posuere cubilia curae. Suspendisse sollicitudin velit sed leo.

Chuyên mục
  • Bài giảng
  • Các loại khác
  • Chia sẻ
  • Chưa phân loại
  • GH Hoàn Vũ
  • GH Việt Nam
  • Giáo dục
  • Hạnh các Thánh
  • HĐGM Việt Nam
  • Kinh Thánh
  • Phim giáo dục
  • Phụng vụ
  • Sách
  • Suy niệm Chúa nhật
  • Suy niệm hàng ngày
  • Tài liệu giáo dục
  • Tài liệu phụng vụ
  • Thần học
  • Thánh ca
  • Thánh lễ
  • Thánh lễ trực tuyến
  • Thư chung
  • Thư viện
  • Tin tức
  • Triết học
  • Tư liệu
  • UBGD Công giáo
  • Video
From Gallery
Stay Connected
UyBanGiaoDucHDGM.net
  • Trang chủ
  • Thư chung
    • HĐGM Việt Nam
    • UBGD Công giáo
  • Tin tức
    • GH Việt Nam
    • GH Hoàn Vũ
  • Phụng vụ
    • Thánh lễ
    • Thánh lễ trực tuyến
    • Suy niệm hàng ngày
    • Suy niệm Chúa nhật
    • Tài liệu phụng vụ
  • Giáo dục
    • Chia sẻ
    • Tài liệu giáo dục
  • Thư viện
    • Sách
      • Kinh Thánh
      • Triết học
      • Thần học
      • Các loại khác
    • Video
      • Bài giảng
      • Thánh ca
      • Phim giáo dục
      • Hạnh các Thánh
      • Tư liệu
  • Liên hệ
Give Online

Tác giả: Anmai

Home / Anmai
23Tháng Bảy
2023

Đức Hồng y Jean-Claude Hollerich: Thượng Hội đồng không phải là Vatican III

23/07/2023
Anmai
GH Hoàn Vũ, Tin tức
0

Đức Hồng y Jean-Claude Hollerich: Thượng Hội đồng không phải là Vatican III

 

ĐỨC HỒNG Y JEAN-CLAUDE HOLLERICH:
THƯỢNG HỘI ĐỒNG KHÔNG PHẢI LÀ VATICAN III

Gerard O’Connell

– Hôm 30.06 vừa qua, cùng với Đưc Hồng y Mario Grech, Tổng thư ký, Đức Hồng y Jean-Claude Hollerich, Tổng Tường trình viên của Thượng Hội đồng, đã gặp và nhận từ Đức Thánh Cha Phanxicô bản danh sách tên của 363 tham dự viên Đại hội Thượng Hội đồng sẽ khai mạc tại Roma vào ngày mồng 4. 10 tới đây.

Với tư cách là Tổng Tường trình viên, Đức Hồng y Jean-Claude Hollerich sẽ có vai trò quan trọng đối với Đại hội thường lệ lần thứ XVI của Thượng Hội đồng Giám mục về hiệp hành. Cụ thể, trong Khoá họp thứ nhất vào tháng 10. 2023, trước hết, Đức Hồng y Hollerich sẽ có bài phát biểu trước Đại hội toàn thể vào ngày mồng 05.10; tiếp đến, ngài sẽ phát biểu khi bắt đầu cuộc thảo luận về từng phần trong Tài liệu làm việc (Instrumentum Laboris). Ngoài ra, ngài cũng sẽ chủ trì việc soạn thảo bản văn tập hợp các thành quả của khoá họp này, và khởi động công việc cho khoá họp thứ hai vào tháng 10.2024.

Nhân dịp này, vào chiều ngày 30.06, phóng viên Gerard O’Connell đã có buổi phỏng vấn độc quyền trong hơn một giờ đồng hồ bằng tiếng Anh với Đức Hồng y Jean-Claude Hollerich (ĐHY) tại trụ sở trung ương của Dòng Tên ở Rôma. Dưới đây là những điểm nổi bật của buổi phỏng vấn này.

Sự quan tâm của Đức Thánh Cha dành cho Thượng Hội đồng về hiệp hành

Khi bắt đầu buổi phỏng vấn, ĐHY cho biết rằng Đức Thánh Cha Phanxicô đang theo dõi sát sao toàn bộ tiến trình Thượng Hội đồng. Ngài nói:

Thật vui biết bao khi thấy Đức Thánh Cha hết sức quan tâm theo dõi Thượng Hội đồng. Đức Thánh Cha đã đọc mọi thứ; ngài tham gia rất nhiều, và biết về tất cả các chi tiết.

ĐHY cũng thừa nhận rằng, đôi khi chính bản thân ngài đã lo ngại rằng tiến trình Thượng Hội đồng có thể không đi đến đâu, “nhưng rồi tôi thấy Chúa Thánh Thần đã hướng dẫn chúng ta ra sao” trong 2 giai đoạn đầu tiên của tiến trình Thượng Hội đồng – giai đoạn lắng nghe ở cấp giáo phận và quốc gia (2021-22) và giai đoạn châu lục (2023).

Thật đáng kinh ngạc với những gì đã được thực hiện trong một thời gian ngắn như vậy, và tất cả những người tham gia vào tiến trình này đều cảm thấy mình là một phần của tiến trình ra sao, và còn hạnh phúc hơn nữa khi, với tư cách là người Công giáo, là Kitô hữu, họ cảm thấy hiệp thông hơn không chỉ với nhau mà còn với Thiên Chúa là Cha chúng ta. Đối với tôi, đây là một dấu chỉ thực sự. Và điều này mạnh mẽ hơn những lo lắng mà tôi có lúc ban đầu.

ĐHY đã tham dự các Đại hội châu lục của Châu Âu ở Praha, của Châu Á ở Bangkok, của Châu Phi ở Addis Ababa, và của Châu Mỹ Latinh ở Bogotá. Ngài không thể tham dự Đại hội của Châu Đại Dương ở Suva, Fiji, vì trùng với Đại hội của Châu Âu. Tuy nhiên, Sơ Nathalie Becquart, X.M.C.J., phó Tổng thư ký Thượng Hội đồng, và Đức Cha người Úc, Timothy Costelloe, người mà ĐHY gọi là “một trong những cộng tác viên thân cận của chúng tôi”, đã tham dự Đại hội và tường thuật cho ngài về những gì đã xảy ra. Theo ĐHY,

Tôi cảm thấy mình phải có mặt tại các Đại hội cấp Châu lục và lắng nghe dân Chúa. Điều quan trọng là phải nghe những tiếng nói khác nhau, để mang lại công lý cho mọi người; nếu không, sẽ có nguy cơ là bạn có khái niệm của riêng mình và bạn cố để thúc đẩy thông qua điều đó. Vì vậy, với tư cách là tường trình viên, bạn phải lắng nghe mọi người, lắng nghe dân Chúa và lắng nghe các châu lục khác nhau.

Suy tư về những Đại hội này, ngài cho biết:

Tôi thấy rất nhiều người trên khắp thế giới đến với nhau, cầu nguyện và bước ra với cùng một cảm nghĩ. Đối với tôi, điều đó thật tuyệt vời. Tôi -chúng tôi – có thể cảm nhận được sự hiện diện của Chúa Thánh Thần, sự hướng dẫn của Thiên Chúa. Vì vậy, tôi tin rằng Thiên Chúa sẽ tiếp tục truyền cảm hứng cho chúng ta trên hành trình hiệp hành này.

ĐHY đã báo cáo mọi việc với Đức Thánh Cha, và từ cuộc trao đổi với Đức Thánh Cha, ĐHY đưa ra kết luận: “Tôi nghĩ Đức Thánh Cha Phanxicô rất tự tin…. Nhưng ngài không tự tin thái quá, có nghĩa là ngài cũng nhìn thấy những khó khăn… mọi sự như đều được khuấy động lên”.

Những bước phát triển mới trong tính hiệp hành Công giáo

ĐHY đồng ý rằng Thượng Hội đồng Giám mục về hiệp hành rất khác so với bất kỳ Thượng Hội đồng Giám mục nào khác kể từ khi Đức Phaolô VI lần đầu tiên thiết lập vào ngày 15. 09.1965, theo yêu cầu của Công đồng Vatican II (1962-1965). ĐHY nhận xét, “Đây thực là một sự phát triển, chính Đức Phaolô VI đã chỉ ra rằng có thể có sự phát triển hơn nữa trong tính hiệp hành”.

Theo ĐHY, kể từ khi Đức Phanxicô trở thành giáo hoàng, “bạn thấy một sự phát triển trong tất cả các Thượng Hội đồng” xét về các cuộc thỉnh vấn trước cuộc họp Thượng Hội đồng. Tại Thượng Hội đồng về Gia đình (2014-15), “có một số vấn đề vẫn còn rất phức tạp để mọi người hiểu được”. Đối với Thượng Hội đồng về Giới trẻ (2018), “Đã có một tiền-Thượng Hội đồng về giới trẻ, và rất nhiều điều những người trẻ nói lên đã được đưa vào tài liệu làm việc của Thượng Hội đồng”. Sau đó, đối với Thượng Hội đồng về lưu vực Amazon (2019), “bạn đã có REPAM [Mạng lưới Giáo hội vùng Amazon] và một mạng lưới chuẩn bị toàn thể”. Và hiện nay, đối với Thượng Hội đồng này, “một bước nữa đã được thực hiện; đã có cả một tiến trình là một phần của Thượng Hội đồng, và Thượng Hội đồng Giám mục sẽ được tổ chức vào tháng 10.2023 và tháng 10.2024 chỉ là bước hoàn tất của toàn bộ tiến trình đó”.

Mặc dù nam nữ giáo dân, tu sĩ, giáo sĩ, “những người không phải là giám mục”, sẽ tham gia Đại hội với tư cách là “thành viên” Thượng Hội đồng và có quyền bỏ phiếu cùng với các Giám mục, thì đó vẫn sẽ được gọi là một “Thượng Hội đồng Giám mục”. ĐHY giải thích rằng giáo dân, tu sĩ và giáo sĩ từ các quốc gia và châu lục khác nhau hiện diện “có một chức năng đặc biệt: Họ là những chứng từ cho tiến trình hiệp hành” đã diễn ra.

“Về phần mình, các giám mục có trọn vẹn trách nhiệm mục vụ của sự phân định cuối cùng, nhưng các ngài không thể phân định rõ ràng về bất cứ điều gì. Có một phương pháp để phân định, và trước hết phải có kinh nghiệm lắng nghe trước khi phân định. Và vì vậy, những chứng từ này thực sự bảo đảm rằng Thượng Hội đồng Giám mục là một tiến trình trong tính liên tục với những gì đã xảy ra trước đó”.

Theo qui định của Đức Thánh Cha, giáo dân, tu sĩ và giáo sĩ tham gia với tư cách là thành viên của Thượng Hội đồng có thể bỏ phiếu cho lần thứ nhất. Tuy nhiên, ĐHY nói  rằng việc bỏ phiếu có thể không phải là một yếu tố chính trong khoá họp này của Thượng Hội đồng.

Tôi không biết liệu việc bỏ phiếu có quá quan trọng hay không, ít nhất là trong Thượng Hội đồng tháng 10 này. Chúng tôi sẽ có các bàn tròn của các nhóm ngôn ngữ nhỏ. Sẽ có nhiều chia sẻ, phân định trong Thánh Thần. Chúng ta đừng bao giờ quên rằng đây là một Thượng Hội đồng trong hai khoá họp. Vì vậy, có lẽ không cần phải biểu quyết bất cứ điều gì trong khoá họp thứ nhất này. Nhưng chúng ta sẽ thấy, vì chúng ta sẵn sàng đón nhận mọi tình huống có thể xảy ra.

ĐHY giải thích rằng Thượng Hội đồng là “một sự kiện tâm linh” bắt đầu bằng việc cầu nguyện. Sẽ có một buổi cầu nguyện đại kết tại Quảng trường Thánh Phêrô vào ngày 30.09, và một cuộc tĩnh tâm 3 ngày, từ ngày mồng 1 đến mồng 3.10. Trong thời gian diễn ra Đại hội từ ngày mồng 4 đến 29. 10, sẽ có một số phiên họp toàn thể và nhiều phiên họp nhóm nhỏ, và mỗi phiên họp sẽ bắt đầu với việc cầu nguyện. “Tiến trình tâm linh phải được thực hiện, bởi vì nếu không, chúng ta rất gần với cái gọi là quốc hội”.

ĐHY nói thêm:

Tôi nghĩ rằng bằng sự trải nghiệm, chúng ta cũng phải nhận thấy sự hiệp hành Công giáo điển hình sẽ khác với sự hiệp hành Chính thống và Tin lành, điều đó không có nghĩa là chúng ta muốn hạ thấp những gì họ đang làm. Sự hiệp hành Công giáo sẽ phải bao hàm tính hiệp đoàn của các giám mục; cũng sẽ phải bao hàm Quyền tối thượng của Phêrô theo truyền thống Công giáo; và dựa trên tiến trình phân định. Vì vậy, hiệp hành Công giáo rất khác, chẳng hạn như, với Giáo hội Luther của Đức, nơi một số người thậm chí còn gọi Thượng Hội đồng của họ là “nghị viện Giáo hội”. Tính hiệp hành Công giáo không phải như vậy.

Đồng thời, ngài cũng nhấn mạnh rằng:

Có những tiến trình cần phải tuân thủ. Mỗi nhóm nhỏ, mỗi bàn tròn sẽ có một điều phối viên hỗ trợ nhóm. Nhưng tôi không thể xác định trước mỗi nhóm sẽ phản ứng như thế nào vì các tham dự viên là tự do. Vì vậy, không phải là chúng tôi đã thiết kế một cách thức cụ thể, mà theo đó, các tham dự viên phải hành xử sao cho phải đưa ra một số kết luận nhất định. KHÔNG! Đó thực sự là một tiến trình mở dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, và đó là những gì cần diễn ra.

Trước đây, đã có một cuộc thỉnh ý rộng rãi trước Thượng Hội đồng về vùng Amazon, nhưng cuối cùng, Đức giáo hoàng Phanxicô cảm thấy rằng chưa có sự phân định đủ về một số vấn đề trong chính Thượng Hội đồng. Là người đã tham dự Thượng Hội đồng Amazon, ĐHY kể lại rằng có một vấn đề “nhận ngay được 2/3 phiếu bầu đa số” và “Đức Thánh Cha xem ra có vẻ không được hài lòng cho lắm”. ĐHY giải thích rằng, tính hiệp hành không phải là vấn đề của “đa số phiếu” hay “sự nhất trí”, đúng hơn, Đức Thánh Cha muốn Đại hội “đạt tới một sự thuyết phục bởi một điều gì đó”.

Ngài cho biết phương pháp sẽ được áp dụng tại Đại hội tháng 10 là yếu tố then chốt giúp các thành viên Thượng Hội đồng phân định. Phương pháp này được gọi là “đối thoại trong Thánh Thần”, và đây là một trong những thành quả thu được từ các giai đoạn lắng nghe và tham gia của Thượng Hội đồng kể từ khi tiến trình bắt đầu vào tháng 10.2021.

ĐHY nhớ lại rằng “thoạt đầu, chúng ta nói về ‘đối thoại tâm linh’, nhưng hiện giờ chúng ta nói về ‘đối thoại trong Thánh Thần”. Trong tất cả các Đại hội cấp châu lục được tổ chức trực tiếp (chỉ có Đại hội cấp châu lục của Hoa Kỳ và Canada được tổ chức trực tuyến), “mọi người đã đề cập đến cách thức đối thoại mới này”. Ví dụ, tại Đại hội châu Á được tổ chức ở Bangkok, “Các đại biểu phải bỏ phiếu về các ưu tiên của bản văn cuối cùng, và họ đã bỏ phiếu theo bàn (nhóm nhỏ) sau khi chia sẻ, chứ không phải bỏ phiếu theo cá nhân”. Như ngài thừa nhận:

Làm việc theo cách này ở Châu Á dễ dàng hơn vì, về phương diện văn hóa, nhóm có tầm quan trọng hơn và các quyết định của nhóm ở đây quan trọng hơn ở châu Âu hoặc Hoa Kỳ. Điều này cho thấy những điều khả thi. Mọi người đều hài lòng với điều đó. Không có ai than phiền. Mọi người đều cảm thấy rằng những gì mỗi người nói lên đều được coi trọng, ngay cả khi không có phiếu bầu cá nhân nào.

ĐHY nói rằng, phương pháp “đối thoại trong Thánh Thần” này là “hoa trái của hiệp hành”.

Đó là kết quả của trải nghiệm mà mọi người đã có được trong tiến trình Thượng Hội đồng ngay từ khi tiến trình này được bắt đầu. Phương pháp này nảy sinh như là một kết quả, như là một phần của kết quả và của việc dân Chúa có thể đi đến một số lập trường chung như thế nào.

Phân tích sâu hơn, ĐHY giải thích rằng Thượng Hội đồng tìm cách phục hồi tính hiệp hành đã tồn tại trong lịch sử trước đây của Giáo hội, nhưng phần lớn đã bị mai một. Do đó, “chúng ta muốn sự toàn vẹn của tính hiệp hành trở lại trong Giáo hội”.

Tài liệu Làm việc cho Khoá họp thứ nhất gồm 3 phiếu làm việc tương ứng liên quan đến Hiệp thông, Sứ vụ và Tham gia. Mỗi phiếu làm việc có 5 câu hỏi chính sẽ đóng vai trò hướng dẫn cuộc thảo luận trong các nhóm nhỏ. Khi mỗi câu hỏi được chia nhỏ thành các câu hỏi phụ, hầu như tất cả các chủ đề chính đã được thảo luận trong các Thượng Hội đồng trước đó trong triều giáo hoàng của Đức Phanxicô đều có trong đó.

ĐHY giải thích rằng những câu hỏi này được đề cập lại “không phải vì chúng tôi đặt chúng ở đó, nhưng vì đó là những vấn đề đã được dân Chúa nêu ra trong các Đại hội”. Tuy nhiên, ngài không quên nhắc lại rằng Thượng Hội đồng lần này không phải là Thượng Hội đồng về những vấn đề đơn lẻ, chẳng hạn như đồng tính luyến ái hoặc phong chức cho phụ nữ; “nhưng đây là một Thượng Hội đồng về tính hiệp hành”, và các đề tài khác “chỉ xuất hiện khi chúng có liên quan đến chủ đề của Thượng Hội đồng”.

Thượng Hội đồng đang thực thi Công đồng Vatican II

Vị Tổng tường trình viên cho thấy rằng:

“Khi nhìn lại các Giáo phụ của Giáo hội, chúng ta biết rằng tính hiệp hành là một phần cốt yếu của Giáo hội. Qua dòng thời gian, tính này đã mai một rất nhiều, nhưng chưa bao giờ biến mất hoàn toàn. Tính hiệp hành luôn tồn tại trong các hội đoàn và dòng tu, v.v. Luôn luôn có các ‘animas’ (tinh thần) hiệp hành. Nhưng giờ đây, chúng ta muốn có lại tính hiệp hành trọn vẹn đó trong Giáo hội để tiếp tục lộ trình mà Đức Giáo hoàng Phaolô VI đã mở ra”.

Với ngài, điều này có nghĩa là chúng ta “đang quay trở lại Công đồng Vatican II, coi trọng Công đồng Vatican II, và cố gắng thực thi Công đồng Vatican II chứ không phải là Vatican III, như một số người vẫn nói”. Thật vậy,

Công đồng Vatican II đã đưa ra tất cả các yếu tố; chúng tôi chẳng đưa ra yếu tố mới nào cả. Tất cả mọi thứ đều đã có trong Công đồng… Đúng là có nhiều sự thật riêng biệt, nhưng tất cả các sự thật đều gắn liền với con người của Đức Kitô. Chẳng hạn, bạn không thể tách rời hoàn toàn một sự thật khỏi sự mạc khải nơi con người Đức Kitô.

Tiếp cận các đề tài gây tranh cãi

ĐHY cho rằng, có lẽ “sẽ có một sự thay đổi trong cách xử lý các đề tài” và tính hiệp hành có thể là một cách thế để vượt thắng sự chia rẽ về các vấn đề gây tranh cãi.

Một tổ chức như Giáo hội Công giáo có thể đưa ra quyết định như thế nào? Chỉ từ bên trên ư, thật là rất khó. Chỉ từ bên dưới ư, hầu như là không thể. Do đó, chúng ta cần một cách thức mới để đưa ra quyết định, và tôi nghĩ rằng chúng ta cần có các khí cụ trong Thượng Hội đồng để làm việc này.

Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là tất cả những khác biệt đều được san bằng. Ý tôi là, sẽ rất ngây thơ khi nghĩ rằng mọi người bước ra và chia sẻ những quan điểm giống nhau về tất cả các đề tài trong Giáo hội. Nhưng bạn có thể chấp nhận rằng anh chị em của bạn có quan điểm khác và bạn có thể thông cảm sâu sắc với họ”.

ĐHY cho biết là ngài đã thấy những ví dụ cụ thể về điều này trong các Đại hội Châu lục.

Theo Tài liệu Làm việc, “những vấn nạn chung” và “những căng thẳng chung” đã nổi lên trên toàn thế giới trong 2 giai đoạn đầu tiên của tiến trình Thượng Hội đồng. ĐHY nhận xét:

“Những căng thẳng có thể mang lại rất nhiều hoa trái. Nếu chúng ta sợ căng thẳng, thì hiện chúng ta chẳng thể di chuyển được nữa, bởi vì bất cứ điều gì bạn nói cũng có thể tạo thêm căng thẳng. Nhưng chúng ta phải cùng nhau bước đi như là Giáo hội. Chúng ta phải đáp lại tiếng gọi của Thiên Chúa. Thiên Chúa muốn Giáo hội đi về đâu? Và nếu Giáo hội di chuyển, điều đó sẽ giống như một cuộc xuất hành. Sẽ có một số khoảnh khắc rất thảm khốc, tất nhiên sẽ có những căng thẳng. Nhưng đó là một phần của con đường”.

Khi được hỏi về việc Tài liệu Làm việc nói rằng, sau khoá họp thứ nhất này, liệu có thể sẽ có nhu cầu về những suy tư thần học và thảo luận về những thay đổi trong giáo luật chăng, ĐHY nói rằng, với vị thế của ngài, ngài ngần ngại đưa ra các đề xuất về những thay đổi có thể xảy ra. Dù thế, ĐHY đã đưa ra một ví dụ về vấn đề này qua việc viện dẫn vai trò của giáo xứ và các Hội đồng mục vụ, hiện không bắt buộc theo giáo luật nhưng có thể là sẽ cần thiết trong tương lai.

“Hiện nay, trong giáo luật, đó là một kỳ vọng nhưng tôi nghĩ nó không chỉ là một kỳ vọng. Bởi vì làm sao bạn có thể là một giám mục, là mục tử của Giáo hội mà lại không có cách nào để biết người ta nghĩ gì và cảm thấy như thế nào về Giáo hội?”.

ĐHY giải thích rằng các hội đồng là một cách thế tốt để một Giám mục tiếp xúc với những viễn cảnh mà ngài có thể chưa từng nghĩ tới.

Cho đến nay, tôi là Giám mục được 12 năm. Và xung quanh bạn là một nhóm nhỏ những người ít nhiều có cùng trình độ học vấn với bạn, và ngay cả học cùng trường với bạn, và đó không phải là một cơ sở rộng lớn. Bạn cần một cơ sở rộng lớn hơn; bạn phải tìm hiểu xem mọi người nghĩ gì, ước muốn sâu xa của họ là gì.

Đồng thời, “Điều đó không nhất thiết có nghĩa là bạn phải hoàn thành mọi ước muốn. Đây không phải là một loại Thượng Hội đồng cổ tích”. ĐHY lưu ý rằng điều quan trọng là một giám mục phải có thể giải thích các quyết định của mình cho dân chúng.

“Bạn không thể chỉ nói rằng, tôi là ông chủ, và bạn hãy làm điều đó. Nếu người ta nói với bạn rằng: tôi không hiểu lời giải thích của bạn – vì đó là điều xảy ra tại nhiều điểm trong Giáo hội – bạn phải có khả năng giải thích theo cách mà mọi người có thể hiểu được. Nếu không, họ chẳng thể thực hiện điều đó”.  

Định nghĩa về từ Hiệp thông, Tham gia và Sứ vụ

Khi được đề nghị giải thích về chủ đề 3 chiều của Thượng hội đồng là Hiệp thông, Tham gia và Sứ vụ, ngài chia sẻ vài nét chính như sau:

Trước hết, về từ Hiệp thông

Hiệp thông là gì, bởi vì khi nghe thấy từ này, người ta thường nghĩ đến việc Rước lễ (holy Communion) hoặc chia sẻ. ĐHY nhìn nhận sự khó khăn, ngài nói rằng đúng là đã có khó khăn trong việc dịch từ “hiệp thông” trong những khoá họp Thượng Hội đồng trước đó.

Ví dụ, trong tiếng Đức, từ Gemeinschaft, nghĩa là “cộng đoàn”. Bây giờ, cộng đoàn liên quan đến sự hiệp thông, nhưng nó không hoàn toàn là cùng một khái niệm. Khi nghĩ về sự hiệp thông, trước hết tôi nghĩ đến sự hiệp thông giữa Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Vì vậy, trong Giáo hội, phải được thực hiện với sự hiệp thông đó. Hiệp thông liên quan đến hiệp thông với Đức Kitô.

Khi chúng ta tham dự Thánh lễ, như bạn nói, nhờ Chúa Thánh Thần, Thiên Chúa Cha đặt chúng ta hiệp thông với cái chết và sự phục sinh của Con của Ngài. Vì vậy, đó không chỉ là một cách giải thích mang tính cá nhân về một bí tích. Chính đó là mầu nhiệm của Giáo hội.

Thứ đến, về từ Sứ vụ, ĐHY nói rõ:

Không có Giáo hội mà không có sứ vụ. Nếu chúng ta không có sứ vụ, thì chúng ta là một câu lạc bộ, nơi chúng ta thực hiện một số hoạt động, chẳng hạn như các hoạt động phụng vụ và hoạt động từ thiện. Nhưng chúng ta không phải là một câu lạc bộ; chúng ta có một sứ mạng từ Đức Kitô. Và chúng ta phải chu toàn sứ mạng đó. Và sứ mạng đó không chỉ được trao cho các giám mục và linh mục; mọi người đã lãnh phép Rửa đều được mời gọi sống sứ mạng của Giáo hội, đó là loan báo Đức Kitô, Đấng đã sống lại từ cõi chết. Đó là kerygma [loan báo Tin Mừng] của Giáo hội sẽ được loan báo theo nhiều cách khác nhau.

Chẳng hạn,

Có một kerygma trực tiếp, có ai đó dấn thân vì người tị nạn và người nghèo, có ai đó dấn thân vì môi trường, vì sáng tạo. Đó là một phần sứ vụ của Giáo hội. Đó là cách chúng ta cho thấy là chúng ta tin vào Đức Kitô đã sống lại từ cõi chết. Và nếu Giáo hội không có sứ vụ, nếu Giáo hội trở thành một câu lạc bộ tiêu thụ mang tính bí tích, thì có điều gì đó không ổn. Và bản chất của các bí tích bị mất đi.

Cuối cùng, về từ Tham gia, ĐHY nói rằng,

Tham gia có nghĩa là sự đồng trách nhiệm của mọi người trong việc thực hiện sứ vụ của Giáo hội nhưng theo những cách thế khác nhau. “Giáo hội là một thân thể, Giáo hội lữ hành, Giáo hội đang di chuyển qua các thời đại. Tôi nghĩ điều này thật là tuyệt vời“.

Kết quả từ Thượng hội đồng sẽ là gì?

Như ĐHY đã nói trên đây rằng, có thể sẽ không có việc bỏ phiếu vào cuối khoá họp tháng 10.2023, nên câu hỏi là liệu ngài có nghĩ rằng Đại hội có thể đưa ra một tài liệu tổng hợp hay không. ĐHY trả lời rằng: “Hoặc chúng ta sẽ có thêm những câu hỏi. Đó cũng là một khả năng”.

Giữa khoá họp 2023 và khoá họp 2024 chúng ta sẽ làm gì ư? Tôi không biết nữa. Điều này sẽ phụ thuộc vào những gì Thượng Hội đồng yêu cầu, bởi vì cho đến nay chúng ta luôn có sự tuần hoàn, luôn quay trở lại các Giáo hội địa phương.

Ngài nói thêm: “Tất nhiên là tôi có nhiều ý tưởng, nhưng đôi khi những ý tưởng thậm chí còn mâu thuẫn với nhau, và với tư cách là tường trình viên, tôi phải rất thận trọng khi phát biểu bất cứ điều gì, bởi vì tôi không muốn bị cho là thao túng Thượng Hội đồng…. Tôi nghĩ rằng chính Thượng Hội đồng phải chỉ ra con đường”.

Khi được hỏi rằng, trở thành Giám mục và đồng thời được Đức Bênêđictô XVI bổ nhiệm làm Tổng giám mục Luxemburg vào năm 2011, thì liệu điều gì đang thay đổi một cách căn bản đối với ĐHY với hành trình Thượng Hội đồng này. ĐHY bộc bạch:

“Chúng ta đang bước đi. Ý tôi là, Công đồng nói rằng hình ảnh của Giáo hội là dân Chúa, bước đi với Đức Kitô. Và tôi cảm thấy điều đó đang xảy ra. Chúng ta đã bắt đầu bước đi và Đức Kitô phải là trung tâm. Nếu Đức Kitô không phải là trung tâm, một số người sẽ bước sang bên phải, những người khác sẽ bước sang bên trái. Chúng ta phải làm việc cùng nhau, với Đức Kitô. Tôi cũng không sợ rằng không phải tất cả các câu hỏi đều sẽ có câu trả lời tại Thượng hội đồng. Bởi vì nếu chúng ta học được trong tiến trình này là làm thế nào để sống với những khác biệt bên trong Giáo hội khi cùng nhau bước đi, thì đó sẽ là một kết quả tuyệt vời”.

Còn với ý kiến về kiểu Giáo hội mà ngài mong đợi sẽ nổi lên trong những năm tới, trước những thay đổi lớn đang diễn ra trong thế giới ngày nay, ĐHY nói lên suy nghĩ của ngài:

“Tôi hy vọng chúng ta sẽ có một Giáo hội không sợ hãi trước những thay đổi của thế giới, một Giáo hội sẽ nhìn thấy sự hiện diện của Thiên Chúa trong thế giới, cũng như có thể phục vụ thế giới và loan báo Tin Mừng theo cách này”.

Nt. Anna Ngọc Diệp, OP
Dòng Đa Minh Thánh Tâm

Read More
23Tháng Bảy
2023

Nguyên tắc Tham Gia

23/07/2023
Anmai
Giáo dục, Tài liệu giáo dục
0

 

Nicolas Masson

Nguyên tắc tham gia có phải là người bà con nghèo nàn với các nguyên tắc của Học thuyết Xã hội (HTXH) của Giáo hội không? Sau những nguyên tắc tượng đài như công ích, liên đới hay bổ trợ, nó có thể mang lại điều gì hơn nữa? Vả lại, so với các nguyên tắc khác, nó chỉ có ba đoạn trong cuốn Tóm lược HTXH của Giáo hội Công giáo. Tuy nhiên, nguyên tắc “nhỏ” này là rất quan trọng. Khi nhắc lại trách nhiệm của mỗi người, nó mang lại tất cả sự năng động cho việc thực hiện HTXH của Giáo hội. Quả thế, liệu một gia đình, một hiệp hội, một doanh nghiệp hay một quốc gia có thể sống và phát triển mà không có sự tham gia của các thành viên của mình? Liệu nó có thể liên đới, tôn trọng công ích và bổ trợ mà không có sự tham gia của họ?

Qua nguyên tắc tham gia, cuốn Tóm lược nhắc nhớ rằng mỗi người phải đóng góp “vào đời sống văn hóa, kinh tế, xã hội và chính trị của cộng đồng dân sự mà họ thuộc về. Tham gia là một bổn phận mà tất cả mọi người đều phải thực hiện một cách có ý thức, một cách có trách nhiệm và vì công ích”[1].

Trước hết, mỗi người được mời gọi đảm trách những lãnh vực mà bản thân mình chịu trách nhiệm (gia đình của mình, công việc của mình). Họ cũng được yêu cầu, càng nhiều càng tốt, tích cực cởi mở với đời sống công cộng[2] và vượt trên vai trò công dân của mình, tham gia vào đời sống xã hội.

Bằng cách tham gia vào công ích như thế, con người đáp lại ơn gọi làm người của mình, được tạo dựng để yêu thương và được yêu thương. Bởi vì nó được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa. “Con người, thụ tạo duy nhất trên trần gian mà Thiên Chúa muốn vì chính nó, chỉ có thể tìm thấy chính mình một cách trọn vẹn qua việc trao ban chính mình cách vô vị lợi”[3].

Việc thực hiện HTXH của Giáo hội ngang qua hành động tự do của con người mà sự dấn thân “tự nguyện và quảng đại”[4] của họ nhằm phục vụ công ích là cần thiết “mỗi người tùy theo đại vị và vai trò của họ”[5]. Sự tham gia là nền tảng của bác ái xã hội và chính trị (FT 173). Khi hiến mình phục vụ anh chị em của mình, con người xây dựng nền văn minh tình yêu (Cv 33; FT 183).

Do đó, theo thứ tự hành động, sự tham gia chẳng phải là hàng đầu hay sao? Khi một cộng đồng được tạo ra hay trải qua một cuộc khủng hoảng to lớn, có lúc đã không có sự tổ chức hữu hiệu. Vì vậy, sự tham gia của ít nhất một số người là cần thiết để tạo ra hoặc tái tạo cộng đồng. Sự tham gia của tất cả mọi người sẽ được yêu cầu để cộng đồng sống cách trọn vẹn.

Nếu con người nhận được “nghĩa vụ” tham gia, thì nghĩa vụ này chỉ có ý nghĩa nếu con người cũng nhận được các phương tiện và quyền lợi tương ứng. Họ nhận được chúng từ những người khác. Sự tham gia phải được hiểu trong một luồng chuyển động. Bài viết này muốn cho thấy tính trung tâm của nguyên tắc “nhỏ” này.

  1. Cội nguồn Thánh Kinh

Trong Thánh Kinh, từ “tham gia” không xuất hiện một cách rõ ràng. Cũng không có truyền thống Thánh Kinh rõ ràng nào về chủ đề này. Tuy nhiên, từ sách Sáng Thế ký, các bản văn thánh mời gọi con người dấn thân phụng sự Thiên Chúa, anh chị em mình và toàn thể công trình tạo dựng. Toàn bộ giao ước giữa Thiên Chúa và con người ngụ ý sự dấn thân và trách nhiệm của tất cả mọi người, vượt trên những khác biệt.

Như thế, từ đầu sách Sáng Thế ký, Thiên Chúa đã trao phó cho người công trình tạo dựng của Ngài và tất cả những ai cư ngụ trong đó. “Đức Chúa là Thiên Chúa đem con người đặt vào vườn Ê-đen, để cày cấy và canh giữ đất đai”[6]. Theo lệnh truyền này, Thiên Chúa trao phó cho con người khu vườn và cư dân của mình. Nó phải hành động sao cho khu vườn đơm hoa kết trái và hữu ích cho mọi người.

Giao ước đòi hỏi sự tham gia chủ động của dân Ngài, nhưng Thiên Chúa không bao giờ đặt. Ngài bảo vệ dân Israel với điều kiện họ giữ giao ước của Ngài. “Môisê lấy cuốn sách Giao ước đọc cho dân nghe. Họ thưa: “Tất cả những gì Đức Chúa đã phán, chúng tôi sẽ thi hành và tuân theo”[7]. Về sau, trong sách Samuel, khi dân tuyên bố muốn có một vị vua, Thiên Chúa đã cảnh báo họ[8] nhưng tôn trọng ý muốn của dân: “Hãy nghe theo tiếng chúng, và hãy đặt một vua cai trị chúng”[9].

Trong Tin Mừng theo thánh Mátthêu, mỗi người được mời gọi tham gia. Chẳng hạn, trong dụ ngôn thợ làm vườn nho[10], tất cả mọi người, bất kể họ được thuê vào giờ nào, đều được mời gọi làm việc trong vườn nho của ông chủ. Không ai bị loại trừ, ngay cả những trẻ nhỏ: “Cứ để trẻ em đến với Thầy, đừng ngăn cấm chúng, vì Nước Trời là của những ai giống như chúng”[11] như những người mong manh nhất.

Mỗi người đều là thừa tác viên của ân sủng của Chúa. Mọi người đều có trách nhiệm với người anh em của mình. Điều này đặc biệt rõ ràng trong dụ ngôn về sự phán xét cuối cùng của Mátthêu: “Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy”[12]. Nơi Luca, người Samaritanô nhân hậu  giúp đỡ người lữ khách bị thương, và nói rộng hơn: “Khi ông đãi tiệc, hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù”[13]. Trong bốn sách Tin Mừng, Chúa Giêsu nói với các môn đệ: “Các con hãy cho họ ăn”[14].

Thư thứ nhất gởi tín hữu Côrintô dạy chúng ta rằng Thiên Chúa “…muốn rằng không có chia rẽ trong thân thể, trái lại các bộ phận đều lo lắng cho nhau”[15]. Việc xây dựng Giáo hội đòi hỏi sự tham gia của tất cả mọi người, mỗi người mang đến những món quà của mình theo cách bổ sung cho việc phục vụ xây dựng cộng đồng. Giáo huấn của thánh Phaolô có thể soi sáng không chỉ cho các Giáo hội mà còn cả xã hội.

  1. Xuất hiện trong học thuyết xã hội

Các dòng tu và đan tu tìm cách sống Tin Mừng một cách triệt để sẽ đẩy nguyên tắc tham gia xa hơn[16]. Mỗi người đều có “quyền tham gia vào các quyết định liên quan đến họ” và vào việc chọn người “được mời gọi quản trị”. Trong Tu Luật của thánh Biển Đức, nếu viện phụ thực thi quyền bính, thì “ngài không bao giờ là nguồn gốc của luật” . Chỉ hội đồng mới có thể lập pháp trong các giới hạn mà tu luật trao cho ngài. Cũng chính hội đồng bầu chọn viện phụ. Các quy luật này sẽ tham gia gián tiếp vào quá trình thử nghiệm các quy luật dân chủ hiện đại[17].

Trong cùng một chuyển động, thánh Catarina Siêna, trong khi mạo muội chất vấn Đức Giáo hoàng, đã không ngần ngại viết trong các cuộc đối thoại của mình: “Cha cũng không cho mỗi người tất cả các nhân đức…Có một số nhân đức mà Cha phân phát theo cách như vậy, đôi khi cho người này, đôi khi cho người kia…Đối với người này, đó là bác ái; đối với người kia, đó là công bằng; với người này là lòng khiêm tốn; với người kia là một đức tin sống động…Đối với của cải vật chất, đối với những thứ cần thiết cho cuộc sống con người, Cha đã phân phát chúng với sự bất bình đẳng lớn[18], và Cha không muốn mỗi người sở hữu tất cả những gì cần thiết cho mình để mọi người có cơ hội, khi cần thiết, thực hành lòng bác ái đối với nhau…Cha muốn họ cần nhau và trở thành thừa tác viên của Cha để phân phát những ân sủng và những món quà hậu hĩ mà họ nhận được từ Cha”[19].

Ngay từ những bản văn đầu tiên của HTXH của Giáo hội, vấn đề tham gia đã hiện diện. Thông điệp Rerum Novarum (Tân Sự) tố giác việc, một mặt, triệt để loại trừ con người khỏi việc chia sẻ của cải và việc phục tùng nô lệ của họ với công việc sản xuất phi nhân. Rerum Novarum đặt nền móng cho nguyên tắc tham gia mà không nêu rõ tên rõ ràng: “Mọi công dân, không có ngoại lệ, phải mang lại phần của mình vào khối lượng của cải chung mà, vả lại, bằng sự hoàn trả tự nhiên, được phân phối lại giữa các cá nhân. Tuy nhiên, những đóng góp của riêng mỗi người không thể giống nhau và cũng không thể ở mức độ ngang nhau”[20].

Trong Rerum Novarum, thuật ngữ “tham gia” được dành riêng cho việc tham gia vào quyền sở hữu. Chỉ trong các thông điệp tiếp theo mà nó sẽ mang một ý nghĩa rộng lớn hơn. Chẳng hạn, sự tham gia liên quan đến tất cả các chiều kích của con trong lao động: bản thân lao động là ”sự tham gia vào công trình của Thiên Chúa”[21], nhưng cũng liên quan đến tất cả những ai làm việc để “phục vụ anh em của mình, một sự đóng góp cá nhân vào việc thực hiện kế hoạch quan phòng trong lịch sử”[22]. Tiếp đến qua “sự tham gia tích cực của tất cả mọi người vào việc quản lý doanh nghiệp”[23] và cuối cùng qua việc tham gia vào những thành quả của lao động và tài sản.

Trong đường hướng của Rerum Novarum, các Đức Giáo hoàng đã đưa ra những định hướng tổng quát hơn về việc tổ chức xã hội bằng cách dựa vào nguyên tắc bổ trợ. Trong Thông điệp Quadragesimo Anno (Tứ Thập Niên), Đức Piô XI đưa ra một định nghĩa tiêu cực đầu tiên, như một điều kiện để mỗi người tham gia. Ngài nhắc lại rằng thật bất công khi lấy đi của “các cá nhân (…) những quyền hạn mà họ có khả năng thực hiện theo sáng kiến của riêng họ và bằng phương tiện riêng của họ”[24]. Đức Bênêđíctô XVI sẽ nêu lên một định nghĩa tích cực: “Nguyên tắc bổ trợ trước hết là sự giúp đỡ nhân vị, thông qua quyền tự quản của các cơ quan trung gian. Sự giúp đỡ này được đề nghị khi nhân vị và các tác nhân xã hội không thể tự mình làm những gì thuộc trách nhiệm của mình và nó luôn ngụ ý rằng chúng ta có một mục tiêu giải phóng vốn thúc đẩy tự do và sự tham gia như là tinh thần trách nhiệm. Nguyên tắc bổ trợ tôn trọng phẩm giá của nhân vị mà nó nhìn thấy nơi nhân vị một chủ thể luôn có khả năng cống hiến điều gì đó cho người khác”[25]. Đức Phanxicô sẽ củng cố vấn đề: “Như thế, nguyên tắc bổ trợ trở thành một thực tại cụ thể bảo đảm sự tham gia và hoạt động của các cộng đồng và các tổ chức cấp dưới bổ sung cho hoạt động của Nhà nước”[26].

Như thế, nguyên tắc tham gia sẽ dần dần được mở rộng sang các lĩnh vực khác của xã hội: đời sống chính trị, văn hóa, tôn giáo, việc thực hiện bổn phận này đòi hỏi nhiều quyền hơn. Liên quan đến lĩnh vực duy nhất của doanh nghiệp, Đức Gioan XXIII trong Thông điệp Mater et Magistra (Mẹ và Thầy), nhấn mạnh đến sự cần thiết phải “giảm bớt hợp đồng lao động bằng các yếu tố vay mượn từ hợp đồng xã hội” , để “công nhân và nhân viên được mời gọi tham gia một cách nào đó vào quyền sở hữu doanh nghiệp, vào việc quản lý nó hay những lợi nhuận mà nó mang lại”[27]. Đức Gioan-Phaolô II nêu rõ rằng mỗi người phải “ (…) ý thức rằng, ngay cả khi mình làm việc trong một sở hữu tập thể, họ cũng đồng thời làm việc vì lợi ích của chính họ”.

Mỗi người đều được mời gọi hành động trong lãnh vực trách nhiệm trực tiếp của mình bởi vì như thánh Gioan-Phaolô II nhắc nhở chung ta về vai trò của giáo dân: “Không có chỗ cho sự thờ ơ, khi có rất nhiều công việc đang chờ đợi tất cả chúng ta trong vườn nho của Chúa”[28]. Quả thế, ngày nay hơn bao giờ hết, tầm quan trọng của các vấn đề xã hội, kinh tế, văn hóa, chính trị và sinh thái chứng tỏ rằng “không ai được phép ngồi yên không làm gì”[29].

  1. Quyền lợi và bổn phận tham gia

Nguyên tắc tham gia, giống như nguyên tắc bổ trợ, thống nhất quyền lợi và bổn phận nhưng theo cách khác nhau. Bởi vì nguyên tắc bổ trợ giả thiết một tổ chức có phẩm trật, nên nó đưa ra một phẩm trật về các quyền lợi và bổn phận và bảo vệ nhân vị khỏi bị tước đoạt quyền lực từ bên trên. Nguyên tắc tham gia, bởi vì nó khởi đi từ nhân vị, nên mang lại một cái nhìn ngang bằng hơn nhưng cũng giả thiết sự cân bằng giữa quyền lợi và bổn phận. Đức Gioan XXIII nhắc nhở chúng ta: “Trong đời sống xã hội, bất kỳ quyền lợi nào được ban cho một người theo bản nhiên đều tạo ra nơi người khác một bổn phận, bổn phận nhìn nhận và tôn trọng quyền lợi này. Quả thế, mọi quyền thiết yếu của con người đều vay mượn sức mạnh bắt buộc của nó từ luật bản nhiên vốn ban nó và áp đặt nghĩa vụ tương ứng. Trong khi đòi hỏi quyền lợi của mình, những ai quên đi bổn phận của họ hay chỉ chu toàn chúng một cách bất toàn đều có nguy cơ phá hủy bằng tay này những gì họ xây dựng bằng tay kia”[30]. S. Weil giúp chúng ta tiến xa hơn khi bà viết: “Khái niệm “nghĩa vụ” vượt trội hơn hơn khái niệm “quyền lợi”, vốn phụ thuộc và liên quan đến nó. (…). Một người đơn độc trong vũ trụ sẽ không có bất kỳ quyền lợi nào, nhưng người đó sẽ có các nghĩa vụ”[31].

Khi hoạt động chính trị được suy nghĩ từ quyền lợi, điều đó dẫn đến các phương thức vận hành chia nhỏ xã hội. “Tôi có quyền. Đâu là những chiến lược để khiến người ta công nhận chúng?” chứ không phải “Tôi có nghĩa vụ. Chúng phải bàn đến đến điều gì? Ai phải được hưởng lợi chúng?”. Những câu hỏi sau cùng này có nhiều hơn trong cuốn sổ tình yêu. Ai yêu thương thì tự cho mình nghĩa vụ phục vụ người mình yêu thương. Trong Thông điệp Fratelli Tutti (Tất cả đều là anh em), khi giải thích dụ ngôn người Samaritanô nhân hậu, Đức Thánh Cha Phanxicô đã hướng sự tham gia vào việc phục vụ tha nhân. “Câu kết luận của Chúa Giêsu là một lời yêu cầu: “Ông hãy đi và làm như thế” (Lc 10, 37). Nói cách khác, Ngài thúc giục chúng ta gạt bỏ mọi khác biệt và, trước nỗi đau khổ, hãy trở nên gần gũi với mọi người. Vì thế, tôi không còn nói rằng tôi có “những người thân cận” mà tôi phải giúp đỡ, nhưng đúng hơn tôi cảm thấy được kêu gọi trở nên người thân cận đối với những người khác”[32].

  1. Mọi người, không trừ ai, đều được mời gọi tham gia

Tất cả mọi người đều được mời gọi tham gia  tích cực vào đời sống xã hội và chính trị. Các phương thức có thể đa dạng nhưng phẩm chất của một xã hội hay một cộng đồng có thể được đánh giá bằng khả năng thu hút sự tham gia của tất cả các thành viên của mình và đặc biệt là những người nghèo khổ nhất. Đối với Hannah Arendt[33], người nghèo là người “không có quyền để có quyền” . Đó là người không thể bằng bất cứ cách nào quyết định cuộc sống của mình và đóng góp vào đời sống của nhóm. Như thế, người nghèo bị tước mất một nhu cầu cốt yếu của tâm hồn: cảm thấy mình hữu ích và thậm chí không thể thiếu.

Vì thế, làm cho người nghèo tham gia, trước hết đó là cho phép họ, càng nhiều càng tốt, xác định và trở thành tác nhân của sự phát triển của chính họ. “Chúng ta không thể đối mặt với tai tiếng về nghèo đói bằng cách thúc đẩy các chiến lược kiểm soát vốn chỉ làm cho yên tâm và biến người nghèo thành những con người thuần hóa và vô hại. Thật buồn biết bao khi thấy rằng, đằng sau những việc làm được cho là vị tha, chúng ta giảm thiểu người khác thành thụ động”[34].

Đó cũng chính là làm sao để họ góp phần vào sự phát triển của xã hội. Từ hơn 50 năm qua, phong trào ATD Quart Monde ( Agir tous pour la dignité Quart Monde / Mọi người hành động vì phẩm giá Thế giới thứ tư)[35] nhắc nhở chúng ta rằng không có người nghèo nào mà không thể cho đi. Mời gọi con người cho đi, trong chừng mực những gì họ đã nhận được, đó là nhìn nhận sự cao cả của họ. Để giải thích lại Hannah Arendt, đó là trao cho họ quyền có bổn phận tham gia vào việc xây dựng thành đô.

Đối với các tổ chức, điều đó có nghĩa là họ không chỉ phải ý thức rằng mọi người đều có giá trị màm còn phải xác tín rằng mỗi người đều có thể mang lại điều gì đó độc đáo. Do đó, phát triển sự tham gia, đó là xây dựng một trong những cơ cấu đổi mới vốn tin tưởng hết sức có thể vào mỗi người và cho phép họ hành động theo tài năng của mình.

  1. Những thể chế chất lượng tạo điều kiện cho sự tham gia

Các thể chế mang lại một khuôn khổ cho sự tham gia của các thành viên của mình: các mục đích theo đuổi; các hình thái chỉ định quyền bính, phân bổ quyền hạn và trách nhiệm, các phương thức quyết định và kiểm soát. Một số thể chế tạo điều kiện cho ý thức trách nhiệm, sáng kiến, thấm chí chấp nhận rủi ro, những tương quan tốt giữa mọi người, sự trợ giúp lẫn nhau… Trái lại, các thể chế khác có xu hương ấu trĩ hóa bằng cách ra lệnh phải làm gì, bằng cách kiểm soát, bằng cách chống đối…[36].

Khả năng dấn thân và hành động cá nhân nhằm phục vụ công ích tùy thuộc vào chất lượng của các thể chế. Trong Thông điệp Caritas in Veritate (Bác ái trong Chân lý), Đức Bênêđíctô XVI rút ra những hệ quả về tầm quan trọng của chúng: “Hành động vì công ích một mặt có nghĩa là chăm sóc, và mặt khác sử dụng toàn thể các thể chế vốn cấu trúc đời sống xã hội, về mặt thể chế, dân sự và văn hóa, một đời sống xã hội mang hình thức của “polis”, của thành đô”[37].

Chăm sóc các thể chế, trước tiên đó là sử dụng chúng. Bằng cách thực hiện quyền biểu quyết của mình khi có quyền này và bằng cách đóng góp vào các cuộc tranh luận. Sự tồn tại của các cuộc tranh luận là thiết yếu đối với đời sống của các thể chế. Chúng có chát lượng khi có sự tôn trọng mỗi người, ý thức về số phận chung và mong muốn chung tiến tới. Không có sự tìm kiếm chung về điều thiện này, các cuộc tranh luận có thể tạo ra ảo tưởng khi chúng  không phải là những mưu mẹo để thông qua một cuộc cải cách hay trở thành một nơi mà mỗi người tìm cách áp đặt cho người khác sự công nhận chỉ những lợi ích cá nhân của mình.

Tiếp đến, đó là dấn thân phục vụ chúng. Bằng cách tham gia vào một đô thị, một phòng ban, một nghiệp đoàn hay một hiệp hội, mỗi người đều có thể, tùy theo khả năng, thời gian và sở thích của mình, tham gia và hành động nhằm phục vụ công ích. Cũng chính trong các cơ quan trung gian mà các quan điểm của các công dân được cấu trúc.

Sau cùng, đó là bảo vệ và chăm lo cho sức khỏe của các thể chế. Đó là bảo vệ sự tham gia thông qua các quy tắc và mục tiêu. Điều đó đặt ra vấn đề về quy mô của các tổ chức và sự gia tăng sức nặng của các quy định vốn hạn chế sáng kiến của các nhóm đến nỗi chúng buộc họ phải khiếu nại lên cấp cao hơn và do đó tìm kiếm sự tuân thủ nhiều hơn là khả năng thực hiện các sáng kiến.

  1. Giáo dục trách nhiệm và phát triển tình yêu đối với công ích

Các thể chế không thể hoạt động mà không có những người thúc đẩy chúng. Các thể chế, bất kể chất lượng của chúng, không thể tồn tại nếu không có những người được thúc đẩy bởi một ý thức sâu xa về trách nhiệm và ý thức về công ích. Một cách hỗ tương, các thể chế chất lượng đào tạo những người có trách nhiệm, những người mà tiếp đến làm cho chúng sống và tiến bộ.

Giáo dục ý thức trách nhiệm và tình yêu đối với công ích bắt đầu từ các gia đình, vốn “tạo nên nơi chốn đầu tiên trong đó các giá trị về tình yêu và tình huynh đệ, về sự chung sống và chia sẻ, về sự quan tâm và chăm sóc tha nhân được sống và truyền lại”[38]. Các trường học, hiệp hội và doanh nghiệp đều có thể là nơi học tập. Việc giáo dục này là cấp bách. Quả thế, xã hội cảu chúng ta thúc đẩy chủ nghĩa cá nhân. Vấn đề này xứng đáng có một bài viết riêng. Không khai triển mọi thứ, chúng ta chỉ cần lưu ý rằng tiến bộ kỹ thuật thúc đẩy ảo tưởng rằng mỗi người đếu có thể tự xoay xở một mình.

  1. Kết luận

Nguyên tắc tham gia kêu gọi những gì tốt nhất của con người, sự tự do và tính sáng  tạo của họ. Nó sẽ luôn là một hành động cá nhân mà chúng ta thực hiện với và cho người khác. “Phẩm giá của nhân vị đòi hỏi mỗi người phải hành động theo một quyết tâm có ý thức và tự do. Trong đời sống xã hội, đặc biệt chính từ các quyết định cá nhân mà chúng ta phải mong đợi sự tôn trọng các quyền lợi, việc thực hiện các bổn phẩn, sự cộng tác vào nhiều hoạt động. Cá nhân sẽ phải trưởng thành ở đó bằng xác tín cá nhân; bằng sáng kiến của mình, bằng ý thức của mình về các trách nhiệm chứ không phải dưới tác động của những cưỡng bức hay áp lực bên ngoài”[39].

Tý Linh
(theo: https://www.doctrine-sociale-catholique.fr/les-principes/216-participation)
Nguồn: xuanbichvietnam.net (22.07.2023)

[1] Tóm lược HTXH của Giáo hội §189.

[2] Sách Giáo lý của Giáo hội Công giáo 1914, 1915, 1916.

[3] Hiến chế Gaudium et spes, GS 24.3

[4] Sách Giáo lý của Giáo hội Công giáo – 1913.

[5] Sách Giáo lý của Giáo hội Công giáo – 1913.

[6] Stk 2, 15.

[7] Xh 24, 7.

[8] 1Sm 8, 11-18.

[9] 1Sm 8, 22.

[10] Mt 20

[11] Mt 19, 14.

[12] Mt 25, 40.

[13] Lc 14, 13.

[14] Lc 9, 13. Chúa Giêsu sẽ sai các môn đệ đi truyền giáo từng hai người một (Lc 10, 1) và trong những lời cuối cùng của mình, Ngài sẽ yêu cầu các ông làm chứng cho Ngài (Lc 24, 48).

[15] 1Cr 12, 25

[16] Cf. Leo Moulin, “le pouvoir dans les ordres religieux” dans “Pouvoir” n°17, 1981.

[17] Leo Moulin khai triển ý tưởng rằng các dòng đan tu cũng như Hy Lạp Cổ đại là mô hình của nền dân chủ phương Tây. “Les origines religieuses des technique électorales et délibératives moderne”,  Politix. Revue des sciences sociales du politique Année 1998 43 pp. 117-162

[18] Khi nói điều đó, thánh Catarina Siêna đặt vấn đề về mục đích phổ quát của của cải và việc sử dụng quyền tư hữu.

[19] S. Catherine de Sienne, Dial. 1, 6

[20] Rerum Novarum, RN 27

[21] Laborem exercens, LE 25

[22] Laborem exercens, LE 25

[23] Gaudium et Spes, GS 68

[24] Quadragesimo Anno, QA 86

[25] Caritas in veritate

[26] Fratelli Tutti, FT 175

[27] Mater et Magistra, MM 32

[28] Christifideles Laici §5

[29] Christifideles Laici §2 dựa vào Mt 20, 6-7. Xem thêm trong Laudato Si: “Đặc biệt, các Kitô hữu biết rằng bổn phận của họ ở trong công trình tạo dựng và bổn phận của họ đối với thiên nhiên và Đấng Tạo Hòa là một phần không thể thiếu trong đức tin của họ”.

[30] Pacem in Terris, PT 30

[31] Simone Weill, L’enracinement, 1943. Trong phần dẫn nhập, bà nhắc nhở chúng ta rằng các quyền lợi không tự tồn tại. “Việc thực hiện hiệu quả một quyền lợi không đến từ người sở hữu nó nhưng từ những người khác, những người nhận ra mình có nghĩa vụ về điều gì đó đối với người ấy. Vì thế, nghĩa vụ có hiệu lực ngay khi nó được nhìn nhận”. Như thế, “khái niệm nghĩa vụ trỗi vượt hơn khái niệm quyền lợi vốn phụ thuộc và liên quan đến nó. Một quyền lợi không có hiệu lực nơi chính nó, nhưng chỉ thông qua nghĩa vụ tương ứng với nó”.

[32] Fratelli tutti, FT 81

[33] Hannah Arendt, les origines du totalitarisme, 1951

[34] Fratelli tutti, FT187

[35] Được thành lập vào năm 1957 bởi Cha Joseph Wresinski, nó đặc biệt dựa vào di sản giáo dục phổ thông do Paulo Freire phát triển.

[36] Cf. Diễn văn của Đức Piô XII nhân kỷ niệm 50 năm Rerum Novarum: “Sự thiện và sự dữ của các linh hồn tùy thuộc và được xâm nhập từ hình thức được trao cho xã hội, hòa hợp hay không với các lề luật của Thiên Chúa”.

[37] Caritas In Veritate, CV 7. Do đó, Đức Thánh Cha Phanxicô sẽ nói về nền sinh thái xã hội. “Nền sinh thái xã hội nhất thiết mang tính thể chế và dần dần đạt đến các chiều kích khác nhau vốn đi từ nhóm xã hội cơ bản là gia đình, ngang qua cộng đồng địa phương và Quốc gia, cho đến đời sống quốc tế. Trong mỗi cấp độ xã hội và giữa chúng, được phát triển các thể chế vốn điều chỉnh các mối tương quan nhân loại. Tất cả những gì gây hại cho chúng đều có tác hại, chẳng hạn như mất tự do, bất công và bạo lực”.(Laudato Si’, § 139)

[38] Fratelli Tutti, FT114

[39] Gioan XXIII, Pacem in terris, PT 34

Read More
23Tháng Bảy
2023

Thánh lễ và bốn bài học quan trọng nhất thời thơ ấu

23/07/2023
Anmai
Phụng vụ, Tài liệu phụng vụ
0

 

 

Michael P. Foley

Bốn mục đích chính của Thánh lễ cũng là bốn điều quan trọng nhất để dạy cho con cái chúng ta và cho cả chính chúng ta.

Một trong những câu hỏi của Sách Giáo lý Baltimore cũ là, “Thánh lễ được dâng lên vì những mục đích gì?” Câu trả lời được đưa ra gồm bốn ý:

– Thứ nhất, để tôn thờ Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa và là Chúa của chúng ta.
– Thứ hai, để tạ ơn Thiên Chúa vì muôn hồng ân của Người.
– Thứ ba, để cầu xin Thiên Chúa ban xuống ơn lành cho mọi người.
– Thứ tư, để đền tạ cho sự công bình của Thiên Chúa vì những tội lỗi đã phạm đến Người[1].

Tôn thờ, tạ ơn, cầu xin và đền tạ – việc đề cập đến bốn mục đích này đã xuất hiện trong nhiều sách lễ cổ xưa và vẫn là một nét đặc trưng quen thuộc của bất kỳ bài giáo lý truyền thống nào về Thánh lễ. Tuy nhiên, điều thường bị bỏ qua là mối quan hệ của các mục đích này với cuộc sống cụ thể của chính chúng ta với tư cách là con người. Chính xác thì bốn điều này liên quan đến lợi ích về mặt tâm lý, cảm xúc và tinh thần của chúng ta như thế nào?

Một cách để tiếp cận câu hỏi này là xem xét bốn điều quan trọng nhất mà chúng ta đã học cách để nói lên khi còn nhỏ: “Tôi yêu bạn”, “Cảm ơn”, “Làm ơn” và “Tôi xin lỗi”. Bốn câu nói đơn sơ này không chỉ có khả năng hướng dẫn cả người trẻ lẫn người già trên con đường hướng tới hạnh phúc của con người; chúng cũng cung cấp một phép loại suy hữu ích cho những gì xảy ra trong mọi Hy tế của Thánh lễ.

Những bài học cho cuộc sống

Ngôn ngữ ở phía đông vườn địa đàng ban đầu vốn là phương tiện được định ra dành để gọi tên chính xác cho các tạo vật (như chúng ta thấy với Ađam và các con thú), nhưng nó đã trở thành một tấn bi kịch khi thường xuyên trở thành phương tiện để thao túng hoặc che khuất thực tại. Việc nói “Tôi yêu bạn”, “Cảm ơn”, “Làm ơn” và “Tôi xin lỗi” đều có thể trở thành những hành động vô cùng thiếu thành thật và thậm chí là lợi dụng, nhưng tôi cho rằng thực tế hiển nhiên là khi mọi bậc cha mẹ tử tế đều truyền đạt những điều này đối với con mình, thì đó không phải là trang bị cho chúng những công cụ để thao túng.

Mặc dù chúng ta nói về tầm quan trọng của việc dạy con cái mình “nói” làm ơn và cảm ơn, nhưng mục tiêu cuối cùng của chúng ta thực sự là để con cái mình tự nói lên những lời đó và nắm bắt được ý nghĩa của chúng. Khi một người mẹ bắt con trai mình xin lỗi cô em gái vì đã giật tóc cô bé ấy, người mẹ đó thường không bằng lòng với một câu “xin lỗi” lạnh lùng và một cái lườm đầy thách thức mà không hề tỏ ra hối hận. Rõ ràng mục tiêu của người mẹ đó là làm cho cậu bé hiểu rằng cậu đã làm sai để cậu có thể cảm thấy thực sự hối hận về hành động của mình và tìm cách sửa chữa sự bất công, chứ không chỉ đơn giản là thốt ra một chuỗi âm thanh nào đó. Và điều này cũng đúng với ba điều khác mà người mẹ đó đã hướng dẫn con mình “nói”.

Do đó, tiềm ẩn trong mục tiêu nuôi dạy những đứa trẻ biết nói “Tôi yêu bạn”, “Cảm ơn”, “Làm ơn” và “Tôi xin lỗi” là một điều gì đó hơn là một thói quen lịch sự tầm thường, hơn là một sự tuân thủ hoặc đồng thuận vô nghĩa theo quy ước xã hội. Bằng cách nào đó, mục đích là để định hình một tâm hồn trẻ thơ thành kiểu người biết yêu thương, biết ơn, tôn trọng và khi cần thiết, quyết tâm sửa đổi một cách đầy hối lỗi. Điều này có lẽ là vì những đức tính như vậy không chỉ tự chúng là sự lựa chọn thích đáng, mà chúng còn dẫn đến việc gặt hái được những nhân đức khác.

Ví dụ, một người biết tầm quan trọng của sự hối lỗi, thì cũng biết tầm quan trọng của việc trao ban sự tha thứ (điều vốn không phải là chuyện đơn giản); và một người thực sự biết ơn sẽ dễ có khuynh hướng bao dung với người khác hơn. Chắc chắn, một trong những lý do tại sao cả người có đức tin và không có đức tin đều nhận thấy rằng, trong dụ ngôn về người đầy tớ mắc nợ không biết thương xót, anh ta thật đáng trách là vì đã vi phạm trắng trợn cả hai nguyên tắc thông thường này[2].

Vì vậy, đằng sau những cách diễn đạt đơn giản như thế là một nền nhân học luân lý đúng đắn, một bản phác thảo bao quát về việc thế nào là sống đẹp. Nói một cách lý tưởng, một người có khả năng nói “Tôi yêu bạn” có nghĩa là người đó có khả năng cam kết, tận tụy và hy sinh bản thân. Một người có khả năng nói “cảm ơn” có nghĩa là người đó nhận ra, như chúng ta sẽ thấy, món quà vô giá về sự hiện hữu của anh ta và món nợ của anh ta đối với một thế giới rộng lớn hơn mà anh ta không tạo ra.

Một người có khả năng nói “làm ơn” có nghĩa là người đó nhìn nhận sự lệ thuộc của anh ta vào một thực tại bên ngoài anh ta và từ chối nguyên tắc cho rằng mình luôn là kẻ mạnh hơn, là vượt thắng chủ nghĩa vị kỷ thấp hèn vốn đang bỏ mặc anh ta, một chủ nghĩa mà theo cách diễn giải của Sr. Walter Scott là một tến khốn nạn hèn hạ chỉ biết quy tất cả về chính mình. Và cuối cùng, một người có khả năng nói “Tôi xin lỗi” (hoặc trong những tầm mức nhỏ hơn là “Xin bỏ qua cho tôi”) có nghĩa là tạo ra bước đột phá khó khăn nhưng quan trọng để đạt đến sự hiểu biết về bản thân một cách vừa không tâng bốc vừa không khoa trương, là lấy hết can đảm để thừa nhận lỗi lầm của mình và quyết tâm khắc phục chúng.

Ngược lại, một người không được giáo dục về bốn câu nói cơ bản này và những khuynh hướng đằng sau chúng sẽ bị coi là một sự bất công nghiêm trọng, vì anh ta sẽ ngã lòng trong việc vượt thắng sự ích kỷ của mình, hoặc dẫn đến hậu quả tương tự như thế vì anh ta đã không nhận thức được sự thật về thân phận con người.

Bốn mục đích của Thánh lễ

Điều thú vị là bốn hướng đi dẫn đến sự phát triển đích thực của con người như trên có một điểm tương đồng đáng chú ý với thần học truyền thống về Thánh lễ. Cụ thể, nói “Tôi yêu bạn” ở nhà cũng tương tự như hành động thờ phượng diễn ra trong Thánh lễ, nói “Cám ơn” cũng giống như việc tạ ơn, nói “làm ơn” cũng tương tự như việc cầu xin và nói “Tôi xin lỗi” cũng giống như việc đền tạ.

Khi Chúa Giêsu hiến dâng chính mình trên thập giá như một của lễ sống động, thì của lễ đó bao gồm một hành động thờ phượng vô tận đối với Chúa Cha, một hành động thờ phượng vô tận của việc tạ ơn Người, của việc cầu xin hoặc khẩn cầu thay cho chúng ta, và của việc đền tạ (hay còn được gọi là việc làm nguôi lòng hay chuộc tội) cho tội lỗi nhân loại. Về phần mình, bốn thành phần của hành vi thờ phượng trọn hảo này lại được Chúa Kitô tái hiện diện qua trung gian là linh mục của Người trong mỗi Thánh lễ. Và chúng ta, những tín hữu, tham dự Thánh lễ để được dự phần và được nuôi dưỡng nhờ những mục đích này. Chắc chắn là những hành động sùng kính của chúng ta không giống với những hành động của Chúa chúng ta. Ví dụ, sự chuộc tội của Chúa Kitô không bao gồm việc “Tôi xin lỗi” theo cách mà chúng ta phải làm, vì Người không có gì để phải tỏ lòng hối tiếc. Nhưng nỗ lực ít ỏi của chúng ta để bù đắp cho những lỗi tội của mình nơi một hành động chuộc tội đã trở nên có hiệu quả nhờ lòng bao dung vô bờ của Đấng đã chịu đóng đinh và phục sinh vì chúng ta, và từ đó sự gắn kết giữa Chúa Giêsu và chúng ta trở nên vô cùng sâu đậm.

Bốn sự khuấy động

Vì vậy, một lý do tại sao phép loại suy này lại có ý nghĩa là vì nó chỉ ra rằng Hy tế Thập giá – và mở rộng ra là Hy tế trên Bàn thờ – góp phần mạnh mẽ vào sự hoàn thiện siêu nhiên đối với tiềm năng tự nhiên hướng về điều thiện nơi chúng ta, cũng như phục hồi bản chất của chúng sau khi nó rời bỏ tình trạng hoàn hảo ban đầu.

Để minh chứng thêm cho điều này, chúng ta chỉ cần xem xét phạm vi cảm xúc cơ bản của con người dưới ánh sáng từ bốn “sự khuấy động” (perturbationes) của linh hồn: niềm vui, ước muốn, sợ hãi và đau buồn. Cách phân loại hữu ích này đã được Cicero sử dụng[3], chính ông đã mượn nó từ các nhà Khắc kỷ, và sau đó được các nhà tư tưởng Kitô giáo như Thánh Augustinô tiếp thu[4]. Bốn cảm xúc mà Cicero nói đến có mối quan hệ đáng chú ý với bốn câu nói mà chúng ta đã thảo luận cùng với bốn mục đích của Thánh lễ – chúng vốn không được sắp xếp ngay ngắn với nhau theo cùng một cách thức, nhưng các hành động thờ lạy, tạ ơn, cầu xin và đền tạ sẽ hoàn thiện những bản năng cơ bản nhất của chúng ta về niềm vui, ước muốn, sợ hãi và đau buồn.

Ước muốn

Ví dụ, ở cấp độ tự nhiên, khát vọng cá nhân thô sơ được nhân bản hóa và thăng hoa bằng hành động nói lời “Làm ơn” cách đơn giản và chân thành. Thay vì giành lấy những gì chúng ta muốn, chúng ta nhận ra được ranh giới của quyền sở hữu và khiêm tốn yêu cầu vẽ lại ranh giới đó; và khi làm như vậy, chúng ta từ bỏ tính bạo tàn của thói áp bức để đổi lấy sự nhã nhặn của phép lịch sự. Vì vậy, cầu xin ở mức tốt nhất là sự thăng hoa của ước muốn, không phải theo nghĩa kìm nén ham muốn tình dục của S. Freud mà theo nghĩa nguyên thủy là làm cho ước muốn trở nên cao thượng hoặc đáng quý.

Chính cảm giác thăng hoa này được thể hiện ở mức độ cao nhất trong Thánh lễ, nơi ước muốn cá nhân được hoàn thiện một cách siêu nhiên qua lời cầu xin đầy lòng vị tha đến mức tột cùng mà chúng ta thực hiện không chỉ cho chính mình mà còn cho tất cả mọi người, như Sách Giáo lý Baltimore nhắc nhở chúng ta. Điều này khác xa rất nhiều so với chủ nghĩa duy vật bịa đặt theo kiểu “Lời cầu nguyện của Jabez”, một tác phẩm của Bruce Wilkinson, trong đó các Kitô hữu được khuyến khích cầu nguyện cho những thứ rẻ tiền của cuộc sống này như thể họ chẳng có khao khát vĩnh cửu nào cả. Ngược lại, Thánh lễ hướng đến việc vừa mở rộng vừa sắp xếp lại các ước muốn của chúng ta để một mặt, những điều tốt đẹp hơn được ưu tiên hơn những điều thấp kém, và sau đó vượt trên cả những điều tốt đẹp đó về phương diện khác.
Điều này đặc biệt rõ ràng trong các Lời Tổng nguyện của Sách lễ Triđentinô dành cho các Chúa nhật sau Lễ Hiện xuống, một mùa trong năm phụng vụ tương ứng với kỷ nguyên của Giáo Hội. Các Lời Tổng nguyện này gợi lại một điểm cốt yếu mang tính định kỳ về việc tái định hình và nâng cao ước muốn của các tín hữu. Chẳng hạn, ngoài việc xin bạn cho những điều ta ước nguyện, các lời Tổng nguyện này còn cầu xin biến đổi điều chúng ta ước muốn: “làm cho chúng con yêu mến điều Chúa truyền dạy” (Chúa nhật XIII), “gắn chặt vào trái tim chúng con lòng yêu mến Danh Chúa” (Chúa nhật VI), “xin chúng con biết cầu xin những điều đẹp lòng Ngài” (Chúa nhật IX),… Và một khi ước muốn của chúng ta đã được biến đổi hoặc chuyển sang những điều tốt đẹp hơn muôn phần như thế, Giáo Hội tiếp tục quả quyết rằng Thiên Chúa là Đấng cao vượt trên hết mọi sự sẽ ban cho chúng ta, như đã được nhắc đến trong Lời Tổng nguyện của Chúa nhật XI, những điều mà “lời chúng con cầu xin chẳng dám kêu lên”. Toàn bộ nền thần học về ước muốn, lời cầu xin và tính siêu việt như thế có lẽ không còn được diễn đạt một cách đẹp đẽ và cô đọng hơn ở nơi đâu khác ngoài Lời Tổng nguyện của Chúa nhật V sau Lễ Hiện Xuống:

Lạy Chúa, Đấng đã chuẩn bị cho kẻ yêu mến Chúa những điều tốt đẹp vượt quá trí hiểu: xin đổ vào lòng chúng con tình yêu của Chúa, để chúng con biết yêu mến Chúa trong mọi sự và trên hết mọi sự, từ đó có thể đạt được những lời hứa của Chúa là những gì vượt trên hết điều chúng con có thể ước mong.

Điều này còn cần đến một nổ lực hơn nữa để mở ra các giả định đầy sắc thái của Lời Tổng nguyện liên quan đến mục đích sau cùng này nơi lòng trí con người và mối liên hệ của nó với trật tự được tạo ra cũng như với Đấng đã tạo ra trật tự đó; bấy nhiêu cũng đủ để nói rằng lời “làm ơn” trong khao khát của con người ở đây đang được chuyển sang một cấp độ hoàn toàn mới.

Sợ hãi và đau buồn

Mặt khác, nỗi sợ hãi và đau buồn đều được đề cập đến trong hành động xin lỗi và sửa đổi, cho dù chỉ khi những hành động đó là chân chính. Một lời xin lỗi không hoàn hảo chỉ bắt nguồn từ động cơ sợ hãi: Tôi xin lỗi bạn không phải vì tôi thực sự xin lỗi mà vì tôi sợ những gì bạn sẽ làm với tôi nếu tôi không xin lỗi. Ngược lại, lời xin lỗi hoàn hảo đi kèm với cảm xúc đau buồn: Tôi thấy rằng tôi đã làm tổn thương bạn theo một cách nào đó và phần tôi, tôi thực sự đau buồn vì sự việc này.

Nhưng một lời xin lỗi hoàn hảo cũng bao hàm nỗi sợ hãi, không phải sợ bị trả thù như trường hợp trước mà là sợ bị người thân xa lánh. Thánh Tôma phân biệt hai loại sợ hãi: một sự sợ hãi kiểu nô lệ, giống như một nô lệ sợ bị chủ trừng phạt; và một sự sợ hãi đáng quý hay khiêm cung[5], như nỗi sợ của một người chồng sợ làm điều gì đó với vợ mình vì sợ rằng cô ấy sẽ không tôn trọng anh ta, chứ không phải vì sợ rằng cô ấy sẽ đánh anh ta vì những gì anh ta đã làm. Trong khi nỗi sợ hãi kiểu nô lệ có vị trí của nó trong cuộc sống này (thậm chí nó đủ để thực hiện một hành động ăn năn sám hối, mặc dù đây là một hành động không hoàn hảo), nhưng rõ ràng nó thấp kém hơn nỗi sợ hãi với lòng khiêm cung vốn được thúc đẩy bởi một tình yêu to lớn hơn là sự tự vệ đơn thuần.

Và với sự thờ phượng Thiên Chúa cũng vậy, điều này giả định trước một sự đau buồn vì những bất công mà chúng ta đã phạm phải và một nỗi sợ hãi rằng chúng ta đã xúc phạm đến Thiên Chúa là Đấng mà chúng ta yêu mến và là Đấng đã làm rất nhiều điều cho chúng ta. Đúng vậy, nỗi sợ hãi đó có khi cũng bao hàm nỗi sợ hãi đơn thuần là phải sa hỏa ngục, linh cảm cho biết nếu tôi ngủ nướng vào ngày Chúa nhật thay vì tham dự Thánh lễ thì tôi đang phạm tội trọng; và nỗi sợ hãi đó, mặc dù có thể là cơ bản, cũng có thể thành công trong việc đưa tôi đến Thánh lễ và thậm chí mở ra cho tôi những ân sủng mà tôi có thể lãnh nhận được ở đó. Nhưng như Thánh Augustinô đã từng nhận xét một cách dí dỏm, “những người sợ phạm tội chỉ vì hỏa ngục, thì không phải là sợ phạm tội, mà là sợ bị thiêu đốt.” Giống như một người trưởng thành về mặt cảm xúc được thúc đẩy bởi nỗi sợ hãi cao quý hơn là nỗi sợ hãi kiểu nô lệ, thì một người trưởng thành về mặt thiêng liêng cũng sợ sức tàn phá nội tại của tội lỗi và ảnh hưởng của nó đối với tình bạn thân thiết giữa anh ta với Đấng Tạo Hóa, hơn là sự phán xét bên ngoài đang chờ đợi anh ta vào cuối cuộc đời mình.

Niềm vui

Cuối cùng, sự khuấy động của niềm vui đi kèm với những hành động chân thành như nói “Tôi yêu bạn” và “Cảm ơn”. Thật vậy, tình yêu không phải lúc nào cũng đi kèm với niềm hân hoan phấn khởi, vì những cam kết của tình yêu thường mang theo nỗi buồn và khó khăn. Tuy nhiên, theo một cách kỳ lạ, ngay cả nỗi đau của tình yêu cũng tốt hơn là sự vắng mặt của tình yêu (giả sử rằng chúng ta đang nói về tình yêu có trật tự và không phù phiếm), và chỉ nhờ tình yêu mà niềm vui đích thực mới được trải nghiệm.

Điều này cũng đúng đối với lòng biết ơn, mặc dù điều này không dễ để chúng ta nhận ra như trước đây. Đối với những nhà tư tưởng như Immanuel Kant, việc phải nói lời cảm ơn là một dịp đáng buồn hơn là đáng vui, vì theo tính toán của ông, lòng biết ơn nghĩa là mắc nợ, và mắc nợ là mối đe dọa đối với quyền tự chủ cá nhân, đối với nền triết học Kant và nền dân chủ tự do hiện đại.

Tuy nhiên, như Cha Paul McNellis S.J. đã chỉ ra rằng, một lối tư duy theo chủ nghĩa pháp chế như vậy đã bỏ qua tác động giải phóng mà các mối quan hệ rộng rãi của con người tạo nên đối với cá nhân[6]. Đối với người xưa, phản ứng thích hợp đối với sự phụ thuộc lẫn nhau của con người là kiền thành (pietas), đó là lòng tận tụy cao quý đối với gia đình, đất nước của một người và cuối cùng là đối với Thiên Chúa của người đó. Đây là một “món nợ” mà người ta rất vui mừng khi có được, vì nó dựa trên sự dư dật của cải mà người ta đã nhận được một cách không cân xứng. Hơn nữa, hành động ghi nhớ những lợi ích như thế chính là nguồn gốc của lòng biết ơn cách vui vẻ. Theo lời của Seneca:

Người vô ơn nhất là người đã quên đi điều thiện ích… không có khả năng trở nên một người biết ơn nếu người đó mất hết trí nhớ[7].

Do đó, lòng biết ơn không chỉ là một thành phần quan trọng trong phẩm chất đạo đức của một người, nó còn là biểu hiệu của khả năng lưu giữ thực tế nơi một người, nghĩa là khả năng ghi nhớ chính xác những lợi ích thực sự mà người đó đã nhận được từ người khác và đáp lại một cách phù hợp.

Và không cần phải nói, tất cả những điều này đều có ý nghĩa sâu sắc đối với việc tạ ơn Thiên Chúa trong Thánh lễ, một hành động tưởng niệm (anamnesis) và ghi nhớ sơ đẳng nhất dành cho Người; và do đó tái hiện lại điều tốt đẹp nhất từng được ban tặng trong lịch sử loài người. Không có gì ngạc nhiên khi Thánh Tôma Aquinô lại xem lòng biết ơn là một nhân đức bắt nguồn từ tình yêu, một nhân đức hoàn toàn hợp lý mà không có giới hạn[8]. Và thật thích hợp và tốt đẹp biết bao khi những lời cuối của Thánh lễ, trong cả nghi thức cũ và mới, đều đơn giản là “Tạ ơn Chúa”.

Kết luận

Sự so sánh của chúng ta giữa mục đích của Thánh lễ và bốn điều tuyệt vời mà chúng ta học được khi còn nhỏ cũng mang lại một sự hiểu biết sâu sắc sau cùng về tầm quan trọng của Hy tế Thánh Thể. Việc nghĩ rằng “tham dự” Thánh lễ là một gánh nặng pháp lý do Giáo Hội áp đặt lên chúng ta là lối suy nghĩ cũng nghèo nàn như việc nghĩ rằng cung cách cư xử chỉ là sự mở rộng quyền lực và sự thất thường của bậc cha mẹ. Dù không mang đầy đủ ý nghĩa, nhưng cách cư xử này lại là công cụ định hướng cho chúng ta theo trật tự đã được định sẵn, và khi được sử dụng đúng cách, chúng sẽ giúp phát huy hết tiềm năng của chúng ta trong tư cách là con người. Cũng vậy, sự tôn thờ, tạ ơn, cầu xin và đền tạ mà chúng ta thực hiện trong Thánh lễ hướng chúng ta đến Đấng tạo dựng nên con người chúng ta, tất cả không chỉ thúc đẩy tiềm năng bẩm sinh của chúng ta mà còn khơi dậy khả năng kết hiệp với chính Thiên Chúa của chúng ta.

Để có thể nói những câu “Tôi xin lỗi,” “Tôi yêu bạn,” “Làm ơn,” và “Cảm ơn” với Thiên Chúa là Cha qua trung gian của Người Con và dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần thì không chỉ là đặc ân duy nhất dành cho một tạo vật thấp hèn; đó còn là một hành động biến đổi đều đặn. Và với điều đó, chúng ta chỉ có thể nói, Deo gratias (Tạ ơn Chúa).

Phil. M. Nguyễn Hoàng Nguyên
(theo: CatholicEducation Resource Center)

 

[1] The New Saint Joseph Baltimore Catechism no. 2, explained by Rev. Bennet Kelly, C.P. (NY: Catholic Book Publishing Co., 1969) no. 361, p. 173.

[2] Mt. 18:23–34.

[3] De finibus 3.10.35; Disputationes Tusculanae 4.6.11.

[4] Confessions 10.13.22.

[5] Cf. Summa Theologiae II-II.19.4f, also I-II.67.4.ad 2; II-II.7.1.

[6] “Rights, Duties, and the Problem of Humility,” in Gladly to Learn and Gladly to Teach: Essays on Religion and Political Philosophy in Honor of Ernest L. Fortin, A.A., eds. Michael P. Foley and Douglas Kries (Lanham, MD: Lexington Books, 2002), pp. 125–143. The following paragraphs on gratitude are deeply indebted to Fr. McNellis’ article.

[7] De beneficiis 3.1, trans. John W. Basore, Loeb Classical Library (Cambridge, MA: Harvard University Press, 1935), pp. 128–9.

[8] Summa Theologiae II-II.106.6.ad 2.

Read More
23Tháng Bảy
2023

Đoàn Việt Nam sẽ hành hương và mừng đón Đức Thánh Cha tông du Mông Cổ

23/07/2023
Anmai
GH Hoàn Vũ, Tin tức
0

Đoàn Việt Nam sẽ hành hương và mừng đón Đức Thánh Cha tông du Mông Cổ

Được biết ngay sau khi Toà Thánh công bố lịch Tông du Mông Cổ của Đức Thánh Cha Phanxicô, Đức Hồng Y Giorgio Marengo, I.M.C. đã gửi thư thông báo và mời Hội đồng Giám mục các quốc gia châu Á cùng mừng đón Đức Thánh Cha đến Mông Cổ. Đức Tổng Giám mục Giuse Nguyễn Năng, Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam (HĐGM) đã gửi thư chúc mừng đến Đức Hồng Y Marengo và nhận lời hành hương đến Mông Cổ. Trang truyền thông HĐGM (WHĐ) hân hoan giới thiệu bài phỏng vấn Linh mục Giuse Đào Nguyên Vũ, Chánh Văn phòng HĐGM về chương trình này.

WHĐ: Cha Chánh Văn phòng có thể chia sẻ cụ thể về chương trình Tông du của Đức Thánh Cha Phanxicô đến Mông Cổ?

Trả lời: Ngày 3 tháng 6 vừa qua, Toà Thánh công bố Đức Thánh Cha sẽ thực hiện chuyến tông du đến Mông Cổ từ ngày 31 tháng 8 đến 4 tháng 9 năm nay theo lời mời chính thức của Tổng thống Ukhnaagiin Khürelsükh và Đức Hồng Y Giorgio Marengo.

Biểu tượng cho chuyến Tông du
Theo chương trình chính thức công bố, chuyến bay của Đức Thánh Cha sẽ đáp xuống sân bay Chinggis Khaan của thủ đô Ulaanbaatar lúc 10 giờ sáng ngày 1 tháng 9. Sáng ngày 2 tháng 9, Đức Thánh Cha sẽ dự nghi thức đón tiếp cấp Nhà nước lúc 9 giờ do Tổng thống Mông Cổ chủ trì tại quảng trường Sukhbaatar, tiếp theo là các cuộc tiếp xúc ngoại giao với lãnh đạo Chính phủ, Cơ quan lập pháp và Ngoại giao đoàn các nước; buổi chiều cùng ngày, Đức Thánh Cha sẽ gặp hàng giáo phẩm các nước đến Mông Cổ, giáo sĩ, tu sĩ và anh chị em thiện nguyện tại Nhà thờ Chính toà Thánh Phêrô và Phaolô lúc 16 giờ. Sáng ngày 3 tháng 9, Đức Thánh Cha sẽ có cuộc gặp Đại kết và các tôn giáo tại “Hun Theatre”; cao điểm của chuyến Tông du là Thánh lễ đại triều tại trung tâm “Steppe Arena”. Ngày 4 tháng 9, Đức Thánh Cha sẽ đến thăm, khánh thành và làm phép mái ấm “House of Mercy” lúc 9 giờ 30 phút trước khi rời Mông Cổ trở về Roma.

WHĐ: Sau khi Cha thực hiện chuyến đi tiền trạm tại Mông Cổ đầu tuần trước, dự định tổ chức đoàn hành hương như thế nào, thưa Cha?

Trả lời: Sau khi nhận lời mời của Đức Hồng y Mông Cổ, Đức Tổng Giám mục Giuse Nguyễn Năng đã gửi thư chúc mừng và xác định Giáo hội Việt Nam sẽ tham dự cùng với Giáo hội Công giáo tại Mông Cổ để đón tiếp Đức Thánh Cha như dấu chỉ của tình hiệp thông và để chia sẻ sứ mạng loan báo Tin Mừng của Giáo hội hoàn vũ. Chuyến đi tiền trạm của tôi chỉ có vỏn vẹn 19 tiếng tại thủ đô Ulaanbaatra, chủ yếu thăm các địa điểm sẽ tiếp đón Đức Thánh Cha và trao đổi với Ban Tổ chức chuyến Tông du.

Thầy Tổng điều phối chuyến Tông du và Linh mục Chánh Văn phòng
Giáo hội Công giáo tại Mông Cổ hiện nay được “hồi sinh” từ những bước chân truyền giáo năm 1992, khi Nhà nước Mông Cổ và Toà Thánh Vatican thiết lập ngoại giao chính thức; và hiện có khoảng 1300 tín hữu rải rác chung quanh 10 giáo xứ với hơn 60 linh mục và tu sĩ từ các nước đang mục vụ. Với số lượng giáo dân và giáo xứ như thế, rõ ràng, Giáo hội tại Mông Cổ là một Hội Thánh trẻ và nhỏ. Chuyến Tông du của Đức Thánh Cha sẽ là một biến cố lớn và sự hiện diện của đoàn hành hương Việt Nam sẽ mang một ý nghĩa không nhỏ đối với đất nước và anh chị em tại Mông Cổ. Chuyến đi này cũng giúp chúng ta học cách diễn tả và chia sẻ niềm vui được Đức Thánh Cha viếng thăm!

Đoàn hành hương Việt Nam do Đức Tổng Giám mục Giuse Nguyễn Năng dẫn đầu, cùng với Đức Tổng Giám mục Tổng Giáo phận Huế, quý Đức cha giáo phận Thanh Hoá, Đà Nẵng, Hà Tĩnh, Phan Thiết, Bà Rịa và một số linh mục, giáo dân. Theo thông tin từ Thầy Tổng điều phối chuyến Tông du của Đức Thánh Cha, phái đoàn từ Giáo hội tại Việt Nam sẽ tham gia hầu hết các sự kiện tại đây. Quý Đức Cha sẽ cùng với Đức Hồng Y và đại diện Chính quyền Mông Cổ mừng đón Đức Thánh Cha tại sân bay Chinggis Khaan sáng 1 tháng 9, phái đoàn Việt Nam sẽ cùng với 10 giáo xứ của địa phương và các nước hành hương chờ đón Đức Thánh Cha tại khuôn viên giáo xứ Chính toà chiều ngày 2 tháng 9 khi Đức Tổng Giám mục Giuse Nguyễn Năng giới thiệu các thành phần hành hương từ Việt Nam với Đức Thánh Cha, và tham dự diễn nguyện trước Thánh lễ đại triều vào chiều ngày 3 tháng 9.

Nhà thờ Chính toà Thánh Phêrô và Phaolô
WHĐ: Làm cách nào để mọi người có thể đăng ký tham dự đoàn hành hương, thưa Cha?

Trả lời: Tất cả các thành viên của đoàn hành hương này đều phải tự túc chi phí và Văn phòng HĐGM không có điều kiện cũng như pháp nhân tổ chức dịch vụ lữ hành. Hiện nay đã có hai đơn vị có giấy phép tổ chức dịch vụ lữ hành là công ty Vietravel và công ty Du lịch Việt đã liên hệ với Văn phòng Hội đồng Giám mục để hỗ trợ. Vì vậy, anh chị em có thể trực tiếp liên hệ với hai đối tác này để chuẩn bị.

– Công ty Du lịch Việt:

+ Chị Teresa Maria Phương Anh: 0918 293 909
+ Anh Gioan Baotixita Thái Cao Đạt:  0913 142 294

– Công ty Vietravel:

+ Maria Trần Thị Lan: 0933 229 347
+ Catarina Lê Thị Huyền Trâm: 0938 301 242

WHĐ: Cám ơn Cha và cầu chúc đoàn hành hương của Giáo hội Việt Nam được tràn đầy ân sủng và niềm vui hiệp thông.

Read More

Điều hướng bài viết

  • Previous page
  • Page 1
  • …
  • Page 366
  • Page 367
  • Page 368
  • …
  • Page 2.050
  • Next page
Bài viết mới nhất
Phụ nữ Công giáo trẻ mang đức tin vào cuộc sống hàng ngày trực tuyến
09/05/2026
‘Mẹ tôi là Why’ của tôi: Mối liên kết không thể phá vỡ của Fernando Mendoza với mẹ và trận chiến của bà với MS
09/05/2026
Đức Giáo Hoàng Leo XIV Thực Hiện Cuộc Hành Hương Thánh Mẫu Nhân Kỷ Niệm 1 Năm Làm Giáo Hoàng
09/05/2026
Video nổi bật
https://www.youtube.com/watch?v=Td144YDsaGo
Sự kiện sắp tới

There are no upcoming events at this time.

Ủy ban Giáo dục Công giáo – Trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.

Liên hệ

72/12 Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, TP.HCM Get Directions

Phone: +84 931 436 131

Email: [email protected]

Ban chuyên môn
  • Ban Tài liệu và Truyền thông
  • Ban Giáo chức
  • Ban Kỹ năng và Giá trị sống
  • Ban Khuyến học
  • Ban Học viện Thần học
  • Ban Hội Học sinh – Sinh viên
Chuyên mục
  • Tin tức
  • Thư chung
  • Giáo dục
  • Phụng vụ
  • Thư viện
Bản quyền © 2020 thuộc về Ủy Ban Giáo Dục HĐGM VN. Design by JT.